NGHIấN CỨU MỐI LIấN QUAN GIỮA ÁP LỰC NỘI SỌ VỚI KALI MÁU Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG NGUYỄN VIẾT QUANG TểM TẮT Đặt vấn đề: Chấn thương sọ nóo gõy nờn những thương tổn nguyờn
Trang 1Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 138
Đặc điểm lâm sàng:
Tuổi trung bình 46, cao nhất 74 tuổi và thấp nhất 28
tuổi, tỷ lệ nam/nữ = 1,2 Đau bụng vùng thượng vị
100%, sụt cân 76,4%, đầy bụng: 41,8%, chán ăn:
40%, u bụng: 21,8% và xuất huyết tiêu hoá: 12,7%
Đặc điểm giải phẫu bệnh:
- Vị trí tổn thương: u ở bờ cong nhỏ: 45,5%, tâm vị:
14,5%, thân vị: 14,5%, tâm vị + thân vị: 5,5%, thân vị +
bờ cong nhỏ: 3,6%
- Kích thước u: 3-5 cm: 40%; 6-10 cm: 47,3% và >
10 cm: 10,9% 94,5% bệnh nhân có u cách tâm vị dưới
6 cm
Phân loại mô bệnh học: 67,3% ung thư biểu mô
tuyến ống nhỏ, 16,4% ung thư biểu mô tuyến nhày,
12,1% ung thư biểu mô tế bào nhẫn, 1,8% ung thư
biểu mô tế bào vẩy và 1,8 % ung thư biểu mô không
biệt hoá
Phân loại giai đoạn bệnh cho thấy hầu hết bệnh
nhân đến điều trị ở giai đoạn muộn (giai đoạn IIIA:
47,3%, giai đoạn IIIB: 12,7% và giai đoạn IV: 34,5%)
đã làm ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh
TàI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Minh Hải (2003), "Lựa chọn phương pháp
phẫu thuật dựa trên thương tổn xâm lấn thành dạ dày và
di căn hạch trong ung thư biểu mô tuyến dạ dày", Luận án
Tiến sĩ Y học, TP Hồ Chí Minh
2 Cao Độc Lập, Đỗ Đức Vân, Đỗ Mai Lâm (1999),
"Đánh giá bước đầu phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày do ung
thư tại Bệnh viện Việt Đức", Tạp chí Thông tin Y dược - Số chuyên đề ung thư, tr 60-62
3 Hà Văn Quyết (1999); “Bệnh học Ngoại khoa”; Tập
I Bộ môn Ngoại, Trường Đại học Y Hà Nội, Tr:56-70
4 Trịnh Hồng Sơn (2001), "Nghiên cứu nạo vét hạch
trong điều trị phẫu thuật ung thư dạ dày", Luận án Tiến sỹ
Y học, Hà Nội
5 Gennari L, Bozzetti F, Bonfanti G (1986), "Subtotal versus total gastrectomy for cancer of the lower two - third
of the stomach: a new approach to and old problem", Br J Surg, 73: 534-538
6 Japanese Research Society for Gastric Cancer (1998), "Japanese Classification of Gastric caninoma",
Kenehara & Co., Ltd, Tokyo, 1-71
7 Sasako M (2001), "Gastric Cancer: surgical
management the Japanese experience", The 2 nd workshop - WHO collaborating centre for gastric cancer, Hanoi, 127-145
8 Smith J, Brennan M (1992), "Surgical treatment of
gastric cancer Proximal, Mild and Distal stomach", Surg Clin north amer, 73: 381 - 399
9 Wanebo H, Kenedy B, Chmiel J, Steele G, Winchester D, Osteen R (1993), "Cancer of the stomach
A patient care study by the American College of
surgeons", Annals of surgery, 218: 583-592
10 Zaitsev VT, Dalavurak VP, Donnets NP, Bokow, et al (1991), "Total gastrectomy in the surgery of malignant
stomach neoplasm", Vestn Khir, 147: 256-259.
NGHIấN CỨU MỐI LIấN QUAN GIỮA ÁP LỰC NỘI SỌ VỚI KALI MÁU Ở BỆNH
NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG
NGUYỄN VIẾT QUANG TểM TẮT
Đặt vấn đề: Chấn thương sọ nóo gõy nờn những
thương tổn nguyờn phỏt và thứ phỏt, chớnh những
thương tổn này dẫn đến phự nóo và hậu quả cuối cựng
gõy tăng ỏp lực nội sọ Do nhiều nguyờn nhõn khỏc
nhau cú nhiều bệnh nhõn bị rối loạn kali mỏu sau chấn
thương, do vậy người thầy thuốc phải tỡm cỏch điều
chỉnh để cứu sống bệnh nhõn Mục tiờu: Xỏc định giỏ
trị ỏp lực nội sọ và nồng độ kali mỏu ở bệnh nhõn chấn
thương sọ nóo nặng và tỡm mối tương quan giữa ỏp
lực nội sọ với kali mỏu ở bệnh nhõn chấn thương sọ
nóo nặng.Đối tượng và phương phỏp nghiờn cứu: 120
bệnh nhõn chấn thương sọ nóo nặng điều trị tại Bệnh
viện Trung ương Huế, tuổi ≥ 18 Kết quả: 120 bệnh
nhõn, nam 104, nữ 16, 18-39 tuổi cú 82 bệnh nhõn,
40-60 tuổi cú 31 bệnh nhõn, trờn 60 tuổi cú 7 bệnh
nhõn Nhúm Glasgow 3-6 điểm cú 35 bệnh nhõn,
nhúm bệnh nhõn Glasgow 7-8 điểm cú 85 bệnh nhõn
ỏp lực nội sọ ở nhúm bệnh nhõn Glasgow 3-6 điểm là
32,78±9,63mmHg và nhúm Glasgow 7-8 điểm là
30,06±9,25mmHg Kali nhúm Glasgow 3-6 điểm là
3,78±1,03 mmol/L, nhúm Glasgow 7-8 điểm là
4,05±0,1,22mmol/L Kết luận: ở bệnh nhõn chấn
thương sọ nóo nặng, ỏp lực nội sọ tăng cao, kali mỏu
thay đổi khụng đỏng kể
Từ khúa: Chấn thương sọ nóo, ỏp lực nội sọ, kali
mỏu
SUMMARY
RESEARCH RELATIONSHIP BETWEEN INTRACRANIAL PRESSURE WITH PLASMATIC POTASSIUM LEVEL IN PATIENTS WITH SEVERE TRAUMATIC BRAIN INJURY
Background: Traumatic brain injury causes lesions
of primary and secondary, primary lesions leads to cerebral edema and consequently ultimately causing increased intracranial pressure Many different causes lead to potassium disturbance so that have to regulated to save patients with traumatic brain injury Objectives: Valuation of intracranial pressure and potassium in patients with severe traumatic brain injury and find the correlation between intracranial pressure and potassium in patients with severe traumatic brain injury
Subjects and Methods: 120 severe traumatic brain injury patients treated at Hue Central Hospital, age ≥
18 Results: 120 patients, 104 males, 16 females,
18-39 years old: 82 patients, 31 patients 40-60 years old,
60 years old: 7 patients Group Glasgow 3-6 points: 35 patients, Glasgow 7-8 points: 85 patients Intracranial pressure in patients with Glasgow 3-6 points: 32.78 ± 9.63mmHg, intracranial pressure in patients with Glasgow 7-8 points: 30.06±9.25mmHg Potassium in patients with Glasgow 3-6 points: 3.78±1.03mmol/L
Trang 2Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 139
Potassium in patients with Glasgow 7-8 points:
4.05±1.22mmol/L Conclusion: In patients with severe
traumatic brain injury, intracranial pressure increased,
but potassium unchangeable
Keywords: Traumatic brain injury, intracranial
pressure, potassium
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương sọ não gây nên những thương tổn
nguyên phát và thứ phát và hậu quả cuối cùng gây
phù não, tăng áp lực nội sọ
Khi áp lực nội sọ gia tăng sẽ dẫn đến thiếu máu
nuôi dưỡng não, nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn
đến thương tổn não không hồi phục hoặc tử vong
Ngoài ra có nhiều nguyên nhân làm thay đổi kali
máu của bệnh nhân chấn thương sọ não nặng như
mất kali do tiểu nhiều (hoặc do chấn thương gây nên
hoặc do điều trị chống phù não gây nên)
Do vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm hai
mục tiêu:
Xác định giá trị áp lực nội sọ kali máu ở các bệnh
nhân chấn thương sọ não nặng
Tìm mối tương quan giữa áp lực nội sọ với kali máu
của bệnh nhân chấn thương sọ não nặng
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Tiêu chuẩn chọn bệnh
120 bệnh nhân chấn thương sọ não nặng và điều
trị tại khoa Gây mê Hồi sức A và khoa Hồi sức Cấp
cứu Bệnh viện Trung ương Huế chưa hoặc không có
chỉ định phẫu thuật
Tuổi từ 18 trở lên
Bị chấn thương sọ não nặng (Glasgow ≤8 điểm)
2 Tiêu chuẩn loại trừ
< 18 tuổi
Bị chấn thương sọ não nhưng Glasgow từ 9 điểm
đến 15 điểm
- Có Glasgow ≤8 điểm nhưng không do chấn
thương sọ não (ví dụ tai biến mạch máu não, viêm
não…)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Tuổi, giới
1.1 Đặc điểm về tuổi
Bảng 1 Đặc điểm về tuổi bệnh nhân
<0,05
Nhận xét: Các bệnh nhân chấn thương sọ não
nặng, tuổi < 40 chiếm đa số
1.2 Đặc điểm giới
Bảng 2 Đặc điểm về giới
<0,05
Nhận xét: Bệnh nhân chấn thương sọ não nặng,
nam giới chiếm 86,66%, nhiều hơn hẳn nữ giới Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,05
2 Đặc điểm về thương tổn
Bảng 3 Đặc điểm về thương tổn
Nhận xét: Bệnh nhân CTSN nặng, máu tụ NMC chiếm tỉ lệ cao nhất, 52,50%
3 Nồng độ kali máu lúc nhập viện, giá trị ALNS lần 1
3.1 Kết quả và áp lực nội sọ và kali máu
Bảng 4 Kết quả ALNS và kali máu theo tuổi và giới Tuổi
Kali(mmol/L)
p
ALNS(mmHg)
p Bệnh
nhân
Bình thườn
g
Bệnh nhân
Bình thườn
g Na
m
4,35±1,6
6
3,5-5,5 >0,0
5
28,45±8,4
1
<15
<0,0
5
5
27,68±7,7
2
<0,0
5
18-39
4,22±1,3
4
27,83±8,4
6
<0,0
5
40-60
4,44±1,6
2
28,51±7,3
3
<0,0
5
>60 4,12±1,5
0
25,55±4,2
4
<0,0
5 Nhận xét:
ALNS ở các bệnh nhân CTSN nặng tăng cao so với bình thường, p<0,05
Kali máu bệnh nhân CTSN so với bình thường khác nhau không có ý thống kê, p>0,05
Bảng 5 ALNS và kali máu theo thể chấn thương
sọ não
Nhận xét: ALNS và kali máu theo thể loại CTSN khác nhau không có ý nghĩa thống kê, p<0,05, ALNS ở các bệnh nhân CTSN nặng tăng cao
Bảng 6 áp lực nội sọ và kali theo thang điểm Glasgow
Nhận xét:
ALNS nhóm Glasgow 3-6 điểm cao hơn nhóm 7-8 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05 Kali bệnh nhân CTSN Glasgow 3-6 điểm thấp hơn nhóm 7-8 điểm, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, p>0,05
Trang 3Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 140
3.2 Mối tương quan giữa áp lực nội sọ với kali
máu
Nhận xét: Không có mối tương quan giữa ALNS
với kali máu ở bệnh nhân CTSN, r= 0,11, p>0,05
BÀN LUẬN
1 Sự biến đổi giá trị áp lực nội sọ
Chúng ta biết rằng áp lực nội sọ liên quan đến áp
lực tưới máu não và huyết áp trung bình Với mức áp
lực tưới máu não bình thường ≥65mmHg, huyết áp
trung bình ≥85mmHg để có đựơc áp lực nội sọ bình
thường (ICP bình thường từ 5-10mmHg) [2]
Khi bệnh nhân bị chấn thương sọ não nặng, do
nhiều nguyên nhân não sẽ phù và gây nên tăng áp lực
nội sọ Chính do áp lực nội sọ gia tăng làm cho áp lực
tưới máu não hạ, tạo nên vòng xoắn bệnh lý: Chấn
thương sọ não dẫn đến phù não, phù não gây tăng áp
lực nội sọ, tăng áp lực nội sọ làm giảm áp lực tưới
máu não và cuối cùng là phù não-tăng áp lực nội sọ
[4]
Để điều trị có hiệu quả, với thiết bị đo áp lực nội sọ
chúng ta biết được giá trị chính xác của áp lực nội sọ
vào các thời điểm Phải tìm mọi cách để hạ áp lực nội
sọ về mức cho phép như cho ngủ sâu, thuốc giãn cơ,
tư thế đầu cao 30 độ, tăng thông khí hoặc dùng thêm
manitol Trong nghiên cứu của chúng tôi những bệnh
nhân điều trị áp lực nội sọ <20mmHg tri giác hồi phục
rất tốt [1],[7]
Nhóm bệnh nhân có áp lực nội sọ >40mmHg tiên
lượng rất xấu, tỉ lệ tử vong cao
Theo nghiên cứu của Signorini và cộng sự năm
1999, áp lực nội sọ tăng cao dự báo hậu quả rất xấu ở
bệnh nhân chấn thương sọ não Theo Hiler và cộng sự
nghiên cứu năm 2006, nhóm bệnh nhân có áp lực nội
sọ tăng cao sau khi bị chấn thương có tỉ lệ tử vong cao
hơn hẳn nhóm có áp lực nội sọ không thay đổi [5]
Năm 2000, Lane và cộng sự đã công bố kết quả
nghiên cứu tại Bệnh viện Chấn thương Ontario từ
1989-1995 Với 9001 bệnh nhân, 66,80% nam, tuổi
trung bình 34,10 tuổi Kết quả cho thấy rằng các bệnh
nhân được đặt thiết bị đo áp lực nội sọ để hồi sức
giảm đáng kể, tỉ lệ bệnh nhân được cứu sống 71,7%
[5]
Năm 2012, Farahvar và cộng sự đã nghiên cứu ở
khoa Phẫu thuật thần kinh Đại học Rochester ở New
York Tác giả đã cho rằng tất cả những bệnh nhân có
đặt thiết bị theo dõi áp lực nội sọ tỉ lệ tử vong rất thấp
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy áp lực
nội sọ nhóm bệnh nhân có Glasgow 3-6 điểm có áp
lực nội sọ 32,789,63 mmHg cao hơn hẳn nhóm có Glasgow 7-8 điểm là 30,069,25 mmHg Áp lực nội sọ nhóm bệnh nhân tử vong có áp lực nội sọ cao hơn hẳn nhóm bệnh nhân còn sống sót, điều đó cho thấy rằng
áp lực nội sọ là một yếu tố tiên lượng về độ nặng của chấn thương sọ não Khi áp lực nội sọ càng cao, thang điểm Glasgow càng thấp, tiên lượng càng xấu
2 Sự biến đổi kali máu của bệnh nhân chấn thương sọ não nặng khi mới nhập viện
Rối loạn điện giải đồ rất hay gặp ở các bênh nhân
bị chấn thương sọ não Nó có thể là nguyên nhân do thầy thuốc gây ra do sử dụng manitol, corticosteroide, thuốc lợi tiểu hoặc đơn thuần do sự rối loạn trong sọ não gây nên [10]
Theo tác giả Pomeranz Sh và cộng sự, kali là cation nội bào, trong chấn thương sọ não có thể dẫn đến tăng tiết nước tiểu do nhiều cơ chế khác nhau Hơn nữa, vai trò của của sự rối loạn điện giải do thương tổn thần kinh thứ phát đã được mô tả từ lâu Các nhà khoa học cho rằng các bệnh nhân bị chấn thương sọ não có nguy cơ mất điện giải dẫn đến rối loạn điện giải [4],[6]
Chấn thương sọ não còn gây nên tình trạng đái tháo nhạt, đây là nguyên nhân thường gặp nhất gây rối loạn nước và điện giải ở các bệnh nhân chấn thương sọ não Những tình huống này có thể độc lập
và thoáng qua hoặc có thể cùng tồn tại nên người thầy thuốc phải biết phân biệt để có cách điều trị đúng Trên lâm sàng khi kali máu <3,5 mmol/l thì gọi
là hạ kali [5],[8]
Các cơ chế về giảm kali máu ở những bệnh nhân chấn thương sọ não đang được nghiên cứu Người
ta cho rằng khi bệnh nhân chấn thương sọ não nặng
sẽ gây tăng tiết catecholamine, hậu quả là do sự kích thích của bêta 2 adrenergic đối với bơm natri, kali, kali được huy động vào trong tế bào Mặt khác trong chấn thương sọ não nặng còn phối hợp thêm tình trạng tiểu nhiều sẽ góp phần làm nặng hơn giảm nồng độ kali máu [2],[9]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bệnh nhân hạ kali máu khá cao, giá trị kali máu thấp nhất là 2,74 mmol/L, tuy nhiên không có mối tương quan giữa nồng
độ kali máu với áp lực nội sọ ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng
KẾT LUẬN
- Áp lực nội sọ bệnh nhân chấn thương sọ não nặng áp lực nội sọ tăng cao (30,868,45 mmHg), bệnh nhân có thang điểm Glasgow 3-6 điểm, áp lực nội sọ 32,789,63 mmHg, nhóm bệnh nhân Glasgow 7-8 điểm, áp lực nội sọ là 30,069,25 mmHg
- Kali bệnh nhân CTSN Glasgow 3-6 điểm: 3,781,03 mmol/L thấp hơn nhóm 7-8 điểm: 4,051,22 mmol/L, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống
kê, p>0,05
- Không có mối tương quan giữa ALNS với kali máu ở bệnh nhân CTSN, r= 0,11, p>0,05
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Levin ER, Gardner DG, Samson WK, Natriuretic peptides N Engl J Med 1998; 339:321-8
Trang 4Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 141
2 Rabinstein AA, Wijdicks EF, Hyponatremia in
critically ill neurological patients Neurologist 2003;
9:290-300
3 Tisdall M, Crocker M, Watkiss J, Smith M,
Disturbances of sodium in critically ill neurologic patients
J Neurosurg Anesthesiol 2006; 18:57-63
4 Diringer MN, Zazulia AR, Hyponatremia in
neurologic patients: consequences and approaches to
treatment Neurologist 2006;12:117-26
5 Brunner JE, Redmond JM, Haggar AM, Kruger DF,
Elias SB, Central pontine myelinolysis and pontine lesions
after rapid correction of hyponatremia: a prospective
magnetic resonance imaging study Ann Neurol 1990;
27:61-6
6 Smith D, Moore K, Tormey W, Baylis PH, Thompson CJ, Downward resetting of the osmotic threshold for thirst in patients with SIADH Am J Physiol Endocrinol Metab 2004; 287:E1019-23
7 Cort JH Cerebral salt wasting Lancet 2004; 266:752-4 Medline
8 Betjes MG, Hyponatremia in acute brain disease: the cerebral salt wasting syndrome Eur J Intern Med 2012; 13:9-14
9 Powner DJ, Boccalandro C, Alp MS, Vollmer DG, Endocrine failure after traumatic brain injury Neurocrit Care 2006; 5:61-70
10 Smith M, Physiological changes during brain stem death-lessons for management of the organ donor J Heart Lung Transplant 2004; 23:S217-22
Sự ổN ĐịNH SAU PHẫU THUậT XOAY PHứC HợP HàM TRÊN - HàM DƯớI
CùNG CHIềU KIM ĐồNG Hồ
Lê Tấn Hùng - Bệnh viện Răng Hàm Mặt TPHCM
Tóm tắt
Mục đích: Nghiên cứu này nhằm xem xét sự ổn
định xương sau phẫu thuật Le Fort I với xoay cùng
chiều kim đồng hồ và cắt dọc cành đứng xương hàm
dưới trong điều trị lệch lạc xương hàm loại III
Đối tượng và phương pháp: Mẫu bao gồm 34 bệnh
nhân người Việt bị lệch lạc xương hàm loại III được điều
trị bằng phẫu thuật cắt xương Le Fort I với xoay cùng
chiều kim đồng hồ và đẩy lùi xương hàm dưới bằng
phẫu thuật cắt dọc cành đứng Phim sọ nghiêng được
chụp trước phẫu thuật (T1), ngay sau phẫu thuật (T2)
và trung bình 12 tháng sau mổ (T3) Tương quan theo
chiều ngang, chiều đứng của những mốc giải phẫu ở
xương hàm trên, xương hàm dưới đến mặt phẳng tham
chiếu và những thay đổi mô mềm được đánh giá
Kết quả: Trong khoảng T2-T1 có sự di chuyển lên
trên và ra trước của phần phía sau (PNS, UMD); đưa ra
trước và lún ở phần phía trước (ANS, điểm A, UIE)
xương hàm trên Trong khoảng T3- T2, xương hàm trên
có sự tái phát xoay ngược chiều kim đồng hồ Phần
phía sau khá ổn định đặc biệt theo chiều đứng, phần
phía trước có chiều hướng di chuyển ra sau và lên trên
Những mốc giải phẫu ở xương hàm dưới cho thấy sự tái
phát ra trước theo chiều ngang và tái lên trên theo
chiều đứng Theo sau những thay đổi của xương, mô
mềm của tầng mặt dưới nhìn nghiêng được xoay theo
chiều kim đồng hồ
Kết luận: Phẫu thuật hai hàm và xoay cùng chiều
kim đồng hồ mặt phẳng khớp cắn trong điều trị lệch lạc
xương hàm loại III có kết quả ổn định (đặc biệt ở những
điểm mốc phía sau của xương hàm trên), có thể giúp
làm tăng thẩm mỹ mặt ở người Việt
ĐặT VấN Đề
Năm 1994, Larry Wolford đã giới thiệu thiết kế phẫu
thuật thay đổi mặt phẳng khớp cắn bằng cách xoay
phức hợp hàm trên-hàm dưới theo chiều kim đồng hồ
để điều trị cho những bệnh nhân bị lệch lạc xương hàm
loại III có mặt phẳng khớp cắn thấp Năm 2006, Johan
Reyneke đã chứng minh đây là kỹ thuật có độ ổn định cao và kết quả thẩm mỹ tuyệt vời Ngày nay, kỹ thuật này đang được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ trên thế giới, đặt biệt tại các quốc gia Đông á, nơi mà lệch lạc xương hàm loại III chiếm tỷ lệ rất cao như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan
Tuy nhiên, Việt Nam chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào về thiết kế điều trị này Với mong muốn chính thức hóa việc điều trị lệch lạc xương hàm loại III bằng phẫu thuật xoay phức hợp hàm trên-hàm dưới theo chiều kim đồng hồ như là một phương pháp điều trị chọn lựa trong trường hợp điều trị truyền thống sẽ có kết quả không như mong đợi và mang lại một căn bản khoa học cho thiết kế phẫu thuật này tại đất nước ta,
chúng tôi thực hiện đề tài “điều trị lệch lạc xương hàm
loại III bằng phẫu thuật xoay phức hợp hàm trên-hàm dưới” Công trình này nhằm mục tiêu:
1 Đánh giá sự thay đổi vị trí của răng-xương ổ răng, xương nền hàm trên, hàm dưới trong điều trị lệch lạc xương hàm loại III bằng phẫu thuật xoay phức hợp hàm trên-hàm dưới theo chiều kim đồng hồ
2 Đánh giá sự vững ổn của răng-xương ổ răng, xương nền hàm trên, hàm dưới và hiệu quả thẩm mỹ trong loại hình phẫu thuật này
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP Bệnh nhân:
Mẫu bao gồm 34 bệnh nhân người Việt (9 nam 25 nữ, độ tuổi trung bình là 25,6 tuổi) được cùng một phẫu thuật viên (Lê Tấn Hùng) điều trị bằng phẫu thuật Le Fort I với xoay cùng chiều kim đồng hồ và đặt lùi xương hàm dưới bằng kỹ thuật BSSO từ tháng 10/2011-5/2013 tại Bệnh Viện Răng Hàm Mặt TPHCM Cố định cứng chắc bên trong được thực hiện với nẹp mini bằng titan và vít Phim sọ nghiêng được chụp trước phẫu thuật (T1), ngay sau phẫu thuật (T2), và trung bình 11,5 tháng sau phẫu thuật (T3)