Sưu tầm thực tế về thực trạng của nghành logistics tại Việt Nam hiện nay. Phân tích tác động của TMĐT tới logistics KD. Mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt Nam cho logistics TMĐT
Trang 1Đề Bài :
Sưu tầm thực tế về thực trạng của nghành logistics tại VN hiện nay Phân tíchtác động của TMĐT tới logistics KD Mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệpViệt Nam cho logistics TMĐT
Đề cương
I Tổng quan về hậu cần TMĐT
1 Khái niệm và bản chất
2 Vị trí và vai trò
3 Phân loại các lĩnh vực hậu cần
II Thực tế về thực trạng của nghành logistics tại VN hiện nay
1 Những việc mà nghành logistics trong nước đã làm được
2 Những hạn chế chưa làm được của nghành logictics ở nước ta
III Phân tích tác động của TMĐT tới logictics KD
IV Mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp VN cho logictics TMĐT
1 Thực tế về mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp VN cho logictics trongTMĐT
2 Đưa ra nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả, mức độ sẵn sàngcủa các doanh nghiệp VN cho logictics TMĐT
Trang 2Bài làm:
I Tổng quan về hậu cần TMĐT
1 Khái niệm và bản chất hậu cần thương mại điện tử
Quản trị hậu cần là một bộ phận của quản trị chuỗi cung ứng, bao gồm quátrình hoạch định, thực thi và kiểm soát một cách quả dòng lưu chuyển và dự trữnguyên vật liệu, bán thành phầm, thành phẩm và dòng thông tin từ điểm xuất
xứ đến điểm tiêu dùng với mục tiêu thỏa mãn đúng yêu cầu và đòi hỏi củakhách hàng
Thông qua định nghĩa về hậu cần thì rõ ràng bản chất của hậu cần là dịch vụkhách hàng là quá trình cung cấp các giá trị gia tăng cho khách hàng trong hệthống kênh cung cấp nguyên vật liệu đầu vào và kênh phân phối hàng hóa vớihiệu quả chi phí cao nhât
Trong bối cảnh của hoạt động Thương mại Điện tử e-logistics có thể đượcđịnh nghĩa là quá trình hoạch định chiến lược, thiết kế và thực thi tất cả các yếu
tố cần thiết của hệ thống, quy trình, cơ cấu tổ chức và tác nghiệp hậu cần đểhiện thực hóa và vật chất hóa cho hoạt động thương mại điện tử
2 Vị trí và vai trò
Nghành hậu cần có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện đại
và có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển kinh tế của các quốc gia và toàn cầu.Phần giá trị gia tăng do ngành hậu cần tạo ra ngày càng lớn và tác động của nóthể hiện rõ ở các khía cạnh mà nó tham gia như:
2.1 Trong chuỗi cung ứng tổng thể
Các hoạt động hậu cần có nhiệm vụ kết nối một cách có hiệu quả các thànhviên trong chuỗi cung ứng từ đó mang lại giá trị cao nhất cho khách hàng vàcác thành viên Nhiệm vụ kết nối của hậu cần được thể hiện qua việc vận hànhtrôi chảy và nhịp nhàng của 3 dòng sau:
- Dòng sản phẩm: con đường dịch chuyển của hàng hóa và dịch vụ từ nhà cungcấp tới khách hàng đảm bảo đúng và đủ về số lượng và chất lượng
- Dòng thông tin: dòng giao và nhận của các đơn đặt hàng, theo dõi quá trìnhdịch chuyển và chứng từ giữa người gửi và người nhận
- Dòng tiền tệ: thể hiện sự thanh toán của khách hàng đối với nhà cung cấp, thểhiện hiệu quả kinh doanh
2.2 Trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp
Trang 3Quản trị hậu cần được ghi nhận là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra lợinhuận và lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp Trong chuỗi giá trị của doanhnghiệp hậu cần đầu vào và hậu cần đầu ra cùng với quản trị tác nghiệp,marketing và dịch vụ là những hoạt động chủ chốt tạo nên giá trị cho kháchhàng và doanh thu cho doanh nghiệp.
3 Phân loại các lĩnh vực hậu cần
- Theo phạm vi và mức độ ảnh hưởng gồm:
+ Hậu cần quân đội
+ Hậu cần kinh doanh
- Theo đối tượng hàng hóa:
+ Hậu cần hàng tiêu dùng ngắn ngày
+ Hậu cần hàng điện tử
+ Hậu cần nghành ô tô
+ Hậu cần nghành hóa chất, ngành dầu khí,
- Theo tầm quan trọng của quyết định hậu cần
+ Các hoạt động cơ bản: - Dịch vụ khách hàng
- Thiết kế mạng lưới cơ sở hạ tầng
- Quản trị dự trữ hàng hóa
- Quản trị vận chuyển hàng hóa
+ Các hoạt động bổ trợ: - Nghiệp vụ mua hàng
- Nghiệp vụ kho hàng
- Nghiệp vụ bao bì
- Quản lý thông tin
II Thực tế về thực trạng của nghành logistics tại VN hiện nay
1 Những việc mà nghành Logistics trong nước đã làm được
Logistics là các hoạt động mang tính dây chuyền, hiệu qủa của chúng cótính quyết định đến sự cạnh tranh của công nghiệp, thương mại của mỗi quốcgia Nó là ngành dịch vụ mang lại nguồn lợi khổng lồ Sự phát triển củaLogistics có vai trò đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch
Trang 4vụ khác về thời gian cũng như chất lượng, tiết giảm chi phí Logistics đã cónhững bước phát triển mạnh mẽ trên thế giới trong thời gian dài song tại
Việt Nam còn khá mới mẻ.
Như đã đề cập ở trên, Logisctics đã theo chân các nhà đầu tư nước ngoàivào Việt Nam trong quá trình hội nhập Thời gian gần đây, Logisctic Việt nam
đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng đáng được ghi nhận TheoHiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) có khoảng hơn 800 doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics và con số này vẫn đang tăng lên Xét
về mức độ phát triển có thể chia Logistics Việt Nam thành các cấp độ sau :
Cấp 1 : Các đại lý giao nhận vận tải truyền thống – các đại lý giao nhận chỉ
thuần tuý cung cấp các dịch vụ do khách hàng yêu cầu Các dịch vụ đó thôngthường là : vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ
Cấp 2 : Các đại lý giao nhận đóng vai trò là người gom hàng và cấp vận đơn
nhà ( Freight forwarding) Nguyên tắc hoạt động của các doanh nghiệp ở cấp
độ này là phải có đại lý tại các cảng lớn để thực hiện việc đóng rút hàng xuấtnhập khẩu Hiện nay có khoảng 10% các tổ hức giao nhận tại Việt Nam có khảnăng cung cấp dịch vụ gom hàng tại CFS của chính họ hoặc đi thuê của nhàthầu Những người này sử dụng HBL như vận đơn của hãng tàu song chỉ cómột số ít mua bảo hiểm trách nhiệm giao nhận vận tải
Cấp 3 : Đại lý giao nhận đóng vai trò là nhà vận tải đa phương thức
( Multimodal Transport Orgnization) Với vai trò này, một số công ty đã phốihợp với công ty nước ngoài tại các cảng dỡ hàng bằng hợp đồng phụ để tựđộng thu xếp vận tải hàng hoá tới điểm cuôi cùng theo vận đơn Tính đến nay
có hơn 50% các đại lý giao nhận tại Việt Nam hoạt động như MTO với mạnglưới đại lý mở rộng trên khắp thé giới
Cấp 4 : Đại lý giao nhận là các nhà cung cấp dịch vụ Logistics Đây là kết quả
tất yếu của quá trình hội nhập Một số tập đoàn nôi tiếng trong lĩnh vựcLogistics trên thế giới đã đặt đại diện ở Viêtnam như APL Logistics, MaerskLogistics, NYK Logistics, Kuehn & Nagel, Schenker, Expeditor , UTI, UPS…tại Việt Nam cũng đã hình thành nên môt số liên doanh hoạt động trong lĩnhvực này như : First Logisctics Co, Biển Đông Logistics Ngày càng nhiềudoanh nghiệp đổi tên là Logistics song hoạt động lại chưa đáp ứng được yêucầu của Logistics
Trang 52 Những hạn chế chưa làm được của nghành logictics ở nước ta
Qua nghiên cứu nhận thấy phần lớn các doanh ngiệp kinh doanh dịch vụLogistics tại Việt Nam còn manh mún , tản mạn , nhỏ lẻ, hoạt động chia cắt chỉđáp ứng được một số công đoạn trong logistics (chủ yếu ở câp độ 2) Một vàicông ty nhà nước tương đối lớn như Viconship, Vintrans, Vietrans song vẫnchưa đủ năng lực để tham gia vào hoạt động Logistics toàn cầu (các công tynày chủ yếu làm agent cho các công ty vận tẩi và Logistics nước ngoài) TheoViện Nghiên Cứu Logistics Nhật Bản, Các doanh nghiệp Logistic Việt nam chỉđáp ứng được 25% nhu cầu thị trường của Logistics trong nước Giá cả dịch vụLogistics tại Việt Nam so với một số nước trong khu vực là tương đối rẻ songchất lượng dịch vụ chưa cao và chưa bền vững Theo đánh giá của VIFFAStrình độ công nghệ của Logistics tại Việt Nam còn yếu kếm so vơi thế giới vàcác nước trong khu vực Cụ thể là trong công nghệ vận tải đa phương thức vẫnchưa kết hợp được một cách hiệu quả các phương tiện vận chuyển, chưa tổchức tốt các điểm chuyển tải, trình độ cơ giới hoá trong bốc xếp còn kém, trình
độ lao động thấp, cư sở hạ tầng thiếu và yếu, công nghệ thông tin lạc hậu xa sovới yêu cầu của logistics Các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ yếu song tínhliên kết để tạo ra sức mạnh cạnh tranh lại còn rất kém Nhận thức của cácdoanh nhân hoạt động trong lĩnh vực này thường dừng ở mức kinh nghiệm bảnthân , hiểu biết về luật pháp quốc tế, tài chính , chuyên nghành còn thấp dẫnđến tỷ lệ bị phạt hợp đồng còn cao , lãng phí trong tài chính và hoạt động khaithác Hơn nữa các công ty Logistics Việt nam chủ yếu là làm thuê cho các tậpđoàn Logistics trên thế giới, nên nguồn thu chủ yếu chạy vào túi của các tậpđoàn này Nguyên nhân sâu xa của thực trạng này có thể kể đến một số vấn đềsau:
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam sinh sau đẻ muộn so với rất nhiềudoanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.Tầm phủ của các doanhnghiệp Việt nam còn rất hẹp (nội địa hoặc một vài nước lân cận) Doanh nghiệpViệt nam mới chỉ đáp ứng khai thác được một vài mảng nhỏ trong toàng bộchuỗi cung ứng chủ yếu là giao nhận trong khi đó các doanh nghiệp nước ngoàilại cung cấp một chuỗi các dịch vụ trọn gói với giá trị gia tăng ca.Trong quan
hệ thương mại quốc tế, phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt nam chủ yều làxuât theo điều kiện FOB, theo hình thức gia công là chủ yếu Còn nhập khẩu,chúng ta luôn có tên trong những nước nhập siêu lớn nhât thế giới song miếng
Trang 6bánh logistics vẫn đang nằm trong tay cácdoanh nghiệp logistics nước ngoài.
Hạ tầng cơ sở vật chất logistics còn nghèo nàn, quy mô nhỏ, bố trí bất hợp lý
Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của Việt nam bao gồm trên 17.000 kmđường nhựa, 3.200 km đường sắt, 42.00 km đường thuỷ, 20 cảng biển và 20sân bay Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này không đồng đều, phân bốkhông hợp lý, nhiều chỗ chưa đảm bảo được kỹ thuật Các cảng biển còn nôngchỉ tiếp nhận được tàu có trọng tải nhỏ, đang trong qua trình container hóa,chưa có quy hoạch dài hạn Đối với các cảng hàng không vẫn chưa có ga hànghoá, khu vực gom hàng và làm các dịch vụ logistics khác
Có thể nói một cách chính xác là hiện nay nguồn nhân lực chuyênnghiệp cho ngành Logistics đang thiếu trầm trọng cả về chất lẫn về lượng Hiệnnay hầu hết nhân sự trong ngành logistics được chuyển từ các công ty vận tảibiển và giao nhận sang , được sử dụng theo kiểu biết đâu làm đó Sự đào tạochính quy từ các trường đại học cũng như các khoá đào tạo nghiệp vụ chưa đầy
đủ và phổ biến Kiến thức đào tạo đi sau thế giới khá xa Nhân viên trongngành logistics hiện nay còn yếu về trình độ ngoại ngữ, tin học cùng các kỹnăng nghề nghiệp
Hạ tầng về cơ sở thông tin Mặc dù các doanh nghiệp Việt nam trongnhững năm gần đây đã có những cố gắng đưa công nghệ thông tin vào hoạtđộng song so với các các công ty lớn trong ngành thì công nghệ thông tin còn
có khoảng cách quá xa về các tiện ích mà khách hàng mong muốn Để cải thiệnđược điều này đòi hỏi có giải pháp đầu tư tổng thể, chi tiết, dài hạn
Tính liên kết : Các doanh nghiệp Việt Nam thiếu hẳn sự liên kết cầnthiết Trong xu hướng thuê ngoài, outshorting như hiện nay mỗi doanh ngiệpcần phát huy thế mạnh của mình và sẽ thuê ngoài cá dịch vụ mà mình còn yếu
để tạo thành One- stop shop cho khách hàng
Vai trò của nhà nước : Vai trò định hướng và hỗ trợ của nhà nước là cực
kỳ quan trọng Hiện nay vai trò của Nhà nước trong ngành logistics còn chưa
rõ nét, rời rạc Bản thân các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam chưa có mộthiệp hội đúng nghĩa với sự tham gia của nhà nước
Thương hiệu Logistics : do thực trạng ngành logistics Việt Nam còn nontrẻ chưa có các thưong hiệu lớn về logistics nên chúng ta không có ưu thế hay
cơ hội khi tham gia vào các dự an Logistics của các tập đoàn lớn
Trang 7Nhận thức của các chủ hàng về logistics Ngành Logistics tại Việt namcòn gặp khó khăn do các chủ hàng vẫn chưa nhận thức đựoc vai trò của dịch vụLogistics đối với hoạt động của mình Việc sử dụng dich vụ Logistics thuêngoài đòi hỏi chỉ có hiệu qủa cao khi có sự chia sẻ thông tin đúng lúc, chínhxác từ phía chủ hàng Văn hóa và nhận thức kinh doanh tại Việt nam có nhữngđiểm khác biệt trên thế giới nên việc vận dụng logistics cần có sự uyển chuyển.Chưa có chủ hàng nào tại Việt Nam sẵn sàng chia sẻ thông tin cho các đối tác
vì điều này với họ đồng nghĩa với việc mất kiểm soát.thông tin và vì chưa hoàntoàn hiểu rõ về logistics
III Phân tích tác động của TMĐT tới logictics KD
1 Tính thông tin
- Tiếp cận: Thông tin trong môi trường tmdt được cập nhập tự động, thường
xuyên, liên tục chính xác do đó hoạt động logistics găn liền với tmdt cũng phảiđảm bảo tính thường xuyên, liên tục, chính xác, số xóa, dễ dàng truy cập sử lý
để đảm bảo chúng có thể ăn khớp với nhau
- Chất lượng: Chất lượng thông tin giúp nhà quản trị kiểm soát hàng hóa,
dịch vụ của mình trong quá trình vận chuyển, giao nhận và có kế hoạch cho sảnxuất, cung ứng, đặt hàng Hoạt động tmdt có tính biến động thông tin liên tục
và cần độ chính xác,đầy đủ, đúng lúc do đó chất lượng thông tin trong logisticstmdt cũng cần đáp ứng các yêu cầu này để hoạt động tmdt được diễn ra thôngsuốt và đảm bảo sự vận hành ổn định
- Linh hoạt: Thông tin cần được cập nhập và truy xuất, sử lý mọi lúc mọi nơi
và có sự liên kết , tương tác với các bộ phận liên quan đến quá trình của hoạtđộng logistics để chúng co thể vận hành bởi đó là một tổng thể trong quá trìnhhoạt động của hoạt động logistics như thông tin hành trình của xe hàng cầnđược cập nhập chính xác để có kế hoạch kho bãi và bốc dỡ hay đảm bảo sự antoàn của hàng hóa
2 Tính tương tác
2.1 Giao tiếp đa chiếu: Một hệ thống logistics hiện đại trong môi trường tmdt
là cần thiết và là đòi hỏi tất yếu của thời đại hiện nay Hệ thống logistic hiệnđại bao gồm khả năng giao tiếp đa chiều và liên kết với các tác nhân bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp thực hiện các chức của mình Hoạt động logisticgắn liền với hoạt động kho vận, sản xuất, phân phối, tiếp nhận hàng hóa, bốc
dỡ do đó các bộ phận liên quan đến các trình trên đều có sự tương tác với nhau
Trang 8sao cho quá trình được diễn ra liên tục và thông suốt Xét ở tầm vi mô, trướcđây các công ty thường coi logistics như một bộ phận hợp thành các chức năng
marketing và sản xuất Marketing coi logistics là việc phân phối vật lý hàng
hóa Cơ sở cho quan niệm này là hoạt động dự trữ thành phẩm hoặc cung cấpcác yếu tố đầu vào do logistics đảm nhiệm cũng là nhiệm vụ của biến số phânphối (Place) trong marketing - mix và được gọi là phân phối vận động vật lýcòn với sản xuất coi logistics là việc lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy,chọn nguồn cung ứng tốt và phân phối hàng hóa thuận tiện…Bởi lẽ các hoạtđộng này ảnh hưởng và liên quan chặt chẽ đến thời gian điều hành sản xuất, kếhọach sản xuất, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, tính thời vụ của sản xuất,chi phí sản xuất, thậm chí ngay cả vấn đề bao bì đóng gói sản phẩm trong sảnxuất công nghiệp hiện đại
2.2 Khả năng hợp tác
Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàncầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thịtrường và các dịch vụ gia tăng khác Hệ thống logistics hiện đại đã giúp cáchãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết hợptác giữa các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chínhxác Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàncầu Do đó hợp tác giữa nhà sản xuất, cung ứng, doanh nghiệp thương mại vàcông ty logistics là yêu tố quyết định dẫn đến thành công của doanh nghiệp
2.3 Tính cá nhân hóa
- Nhu cầu khách hàng: cần có một sự phân biệt rõ ràng giữa khách hàng và
những người tiêu dùng các dịch vụ và sản phẩm của công ty Người tiêu dùng
(consummer) là người tham gia cuối cùng trong chuỗi hoạt động của ngành
logistics, họ sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích tiêu dùng lần cuối sản
phẩm Khách hàng (customer) là người trực tiếp mua sản phẩm từ các công ty,
do đó có thể không phải là người tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi hoạt độngcủa ngành Doanh nghiệp logistics có thể không cần biết ai là người tiêu dùngcuối cùng, nhưng cần phải luôn giữ mối quan hệ tốt với khách hàng mua sảnphẩm của mình bởi họ chính là người trực tiếp sử dụng dịch vụ logistics màdoanh nghiệp cung cấp Như vậy, đối với một nhà sản xuất thì khách hàng cóthể là nhà sản xuất khác; là một đại lý bán buôn, một nhà phân phối, một đại lýbán lẻ hoặc một công ty bán hàng qua mạng, thậm chí là người tiêu dùng cuối
Trang 9cùng Một nhà bán buôn hoặc một nhà phân phối có khách hàng là nhà sảnxuất, người tập hợp hàng hóa từ nhà bán buôn, nhà phân phối khác, đại lý bán
lẻ, hoặc công ty đặt hàng qua mạng Đối với đại lý bán lẻ hoặc công ty bánhàng qua mạng, khách hàng hầu hết luôn là người tiêu dùng cuối cùng Trôngmôi trường tmdt khách hàng đối tượng của các công ty logistics có thể là cánhân hoặc các tổ chức mua hàng qua mạng do đó nhu cầu của khách hàngcũng rất đa dạng và phong phú, phức tạp
- Chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ khách hàng được đánh giá qua các
chỉ tiêu chủ yếu sau
A1 Tần số thiếu hàng (Stockout Frequency) Cho biết số làn thiếu bán
hàng hóa trong một đơn vị thời gian
A2 Tỷ lệ đầy đủ hàng hóa ( Fill Rate): Thể hiện qua tỷ lệ phần trăm
hàng hóa thiếu bán trong một đơn vị thời gian hoặc một đơn hàng
A3 Tỷ lệ hoàn thành các đơn hàng (Orders shipped complete): Cho biết
số đơn hàng hòa thành trên tổng số đơn hàng ký kết trong một đơn vị thờigian, thường là một năm hoặc một quý
A4 Tốc độ cung ứng (Speed): Khỏang thời gian thực hiện một đơn đặt
hàng tính từ khi khách hàng trao đơn đặt hàng đến khi khách hàng nhận
đơn hàng.(Lead time)
A5 Độ ổn định thời gian đặt hàng( Consistency): Dao động thời gian
của khoảng thời gian đặt hàng bình quân
A6 Tính linh hoạt ( Flexibility): Cho biết khả năng thích nghi với các nhu cầu dịch vụ khách hàng đặc biệt và sự thay đổi của khách hàng
A7 Khả năng sửa chữa các sai lệch ( Malfuntion Recovery): Mức độ
tiếp thu và sửa chỉnh những sai sót tác nghiệp với khách hàng một cách
nhanh chóng và hiêu quả
A8 Độ tin cậy dịch vụ ( Reliability): Sự tin tưởng, uy tín của dịch vụ
khách hàng và doanh nghiệp đối với khách hàng
Trong môi trường tmdt thì các yêu tố xác chất lượng dịch trên luôn có yêu cầucao hơn so với hoạt động logistics trong các môi trường khác do tính chất củahoạt động tmdt luôn diễn ra liên tục, thông tin luôn cập nhập, uy tín cần đượcđảm bảo, các đối tượng khách hàng phức tạp và đa dạng với nhiều yêu cầukhác nhau, nhiều mặt hàng khác nhau, phạm vi kinh doanh rộng lớn trên toànquốc hay quốc tế
Trang 103 Tính cá nhân hóa
Yếu tố đầu tiên tác động đến hậu cần kinh doanh là khách hàng Trong môitrường kinh doanh rộng lớn và khắc nghiệt hơn, với những đòi hỏi ngày càngcao của khách hàng về dịch vụ, tốc độ và mức cá nhân hóa, thì khả năng đápứng đơn hàng trở thành một trong những yếu tố tạo sự khác biệt trên thị trường.Hiêu ứng mạng khiến các doanh nghiệp phải chú ý nhiều hơn tới nhu cầukhách hàng, đảm bảo về sự thuận tiện, thời gian và chất lượng dịch vụ kháchhàng
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải mở cửa các lĩnh vực kinh tế của mìnhtheo các lộ trình nhất định Theo cam kết Việt Nam phải mở cửa hoàn toàn dịch
vụ logistics vào năm 2013, tức là còn hơn 3 năm nữa Theo dự báo dịch vụLogistics sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng gópkhoảng 15% GDP của cả nước Sự phát triển kinh tế kéo theo tăng tưởng tronghoạt động xuất nhập khẩu, sản xuất tiêu dùng do đó tiềm năng phát triển củangành là rất lớn Việt Nam cần có một chiến lược phát triển Logistics vàSupply chain cụ thể bền vững để không bị thua trên sân nhà khi hội nhập
IV Mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp VN cho logictics TMĐT
1 Thực tế về mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp VN cho logictics trong TMĐT
Hình 1: Quy mô thị trường tốc độ tăng trưởng Logictics Việt Nam và thế giới năm 2007