1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị

92 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 538,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài đã đi sâu tìm hiểu được thực trạng của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất và các tác động của chúng đến đời sống của người dân tộc thiểu số tại huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị. Đề tài là cơ sở luận chứng khoa học giúp cho các nhà quản lý, nhà lập chính sách có căn cứ trong việc hoạch định chính sách, kế hoạch hành động, giải pháp quản lý hữu hiệu tài nguyên đất rừng, ứng phó với biến đổi khí hậu, mất an ninh lương thực ở Bắc Trung Bộ nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Canh tác trên nương rẫy – một hình thức sản xuất nông nghiệp nguyên thủy của vùng nhiệt đới – giữ vị trí quan trọng trong đời sống vật chất và tâm linh của con người, là biểu hiện của mối quan hệ gắn bó giữa con người và thiên nhiên Canh tác nương rẫy được xem

là hình thức Đao canh hỏa chủng của tổ tiên người Việt và các dân tộc anh em khác sống ở vùng núi nước ta Là một tập quán nhằm giải quyết nhu cầu lương thực có hạt tại chỗ Tuy nhiên, hiện nay việc canh tác nương rẫy của đồng bào chủ yếu theo hình thức tự phát, thiếu định hướng, do áp lực kinh tế và dân số thời gian bỏ hóa gần như không còn nên đất đai bị xói mòn nghiêm trọng, bị thoái hóa càng làm cho diện tích nương rẫy mới tăng lên, chất lượng cây trồng thấp và sản lượng giảm dần, dẫn đến canh tác không bền vững, giá trị ngày công lao động thấp Tình trạng phát rừng làm nương rẫy gây suy giảm khả năng phòng hộ bảo vệ môi trường và là một trong những nguyên nhân lớn gây nên lũ lụt, sạt lở đất vào những tháng mùa mưa, gây cháy rừng vào những tháng mùa khô Đây cũng là một trong những yếu tố hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của cácđịa phương vùng cao [2] Do đó để duy trì phát triển bền vững thì việc cải tiến nương rẫy thành hệ kinh tế sinh thái có tính ổn định và hiệu quả kinh tế cao hơn cũng được thừa nhận như một đòi hỏi tất yếu, phù hợp với xu hướng phát triển và tiến bộ xã hội Một trong nhữngbiện pháp được thực hiện phổ biến là chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất có giá trị cao hơn như Keo, Cao Su, Bời Lời…với những hỗ trợ giúp người dân đảm bảo an ninh lương thực thông qua Chỉ thị số 15/2007/CT-BNN, ngày 13 tháng 02 năm 2007 của Bộtrưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Về việc tăng cường công tác quản lý canh tác nương rẫy; Quyết định số 2945/QĐ-BNN-KL ngày 05/10/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt Đề án Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông nghiệp bền vững trên đất nương rẫy; Công văn số 3595/BNN-KL ngày 28/12/2007 về việc tăng cường tổ chức triển khai thực hiện giao rừng, cho thuê rừng và quản lý nương rẫy,

Để giúp người dân miền núi Quảng Trị thay đổi tập quán canh tác thiếu bền vững và tạođiều kiện về nguồn vốn cho nhân dân chuyển đổi nương rẫy sang trồng rừng Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Trị đã ra Quyết định “Bảng Hướng dẫn tạm thời quy vùng sản xuất nương rẫy” tại Công văn số 505//SNN-KL ngày 28/4/2008, UBND Tỉnh Quảng Trị ra Quyết định số: 612/QĐ-UBND “Hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số canh tác nông- lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2009 - 2012” Trong đó có hỗtrợ lương thực nhằm góp phần đảm bảo đời sống của các hộ gia đình trong thời gian chuyển đổi nương rẫy sang trồng rừng, thúc đẩy phong trào trồng rừng phát triển nhanh và bền vững, đồng thời tạo cơ hội cho người dân có tài sản giá trị trên diện tích nương rẫy đem lại Hướng Hóa là một huyện miền núi nằm phía Tây tỉnh Quảng Trị, với hơn 50% là cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống, địa hình bị chia chắt mạnh với hệ thống núi cao, diện tích

Trang 2

đất ruộng bằng phẳng phân bố nhỏ lẻ, manh mún dọc theo các khe suối Do vậy, phương thức canh tác nương rẫy chủ yếu là quảng canh, tra hạt Năng suất cây trồng phụ thuộc hoàntoàn vào thiên nhiên và đất đai Và hậu quả là làm thoái hóa, xói mòn đất; cạn kiệt nguồn nước, tài nguyên rừng, từ đó có thể dẫn đến các trận lũ quét, sạt lở đất ở vùng núi, lụt lội, gây nhiều thiệt hại về người, kinh tế, môi trường và xã hội.

Kết quả khảo sát tại các xã trên địa bàn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cho thấy kể

từ khi triển khai chính sách chuyển đổi đất nương rẫy sang rừng trồng (năm 2010) đến nay, cuộc sống của người dân đã có nhiều thay đổi Việc thực thi chính sách đã góp phần đem lại

sự thành công về tỷ lệ tăng trưởng rừng, tạo điều kiện cho người dân có cơ hội được tiếp cận với nhiều nguồn sinh kế mới, các dịch vụ xã hội cơ bản… Tuy nhiên, bên cạnh đó, người dân cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới như thiếu đất canh tác và chất lượng đất canh tác ngày càng suy giảm; tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận đất ngày càng gia tăng Việc thiếu đất canh tác, thiếu việc làm và bất bình đẳng trong tiếp cận đất dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng, gia tăng đói nghèo và bất ổn xã hội

ở các cộng đồng dân tộc thiểu số huyện Hướng Hóa; các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng đang bị xói mòn; tệ nạn xã hội nảy sinh gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân và sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

Thực trạng nêu trên cho thấy nhu cầu cấp thiết phải có một nghiên cứu về tác động của việc thực thi chính sách chuyển đổi đất nương rẫy sang rừng trồng liên quan đến sinh kế bềnvững cho người dân ở huyện Hướng Hóa, bởi mục tiêu mà Chính phủ đặt ra đối với chính sách chuyển đổi đất nương rẫy sang rừng trồng là góp phần nâng cao đời sống cho đồng bàodân tộc thiểu số và đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước

ta trong giai đoạn hiện nay Việc nghiên cứu, đánh giá để chỉ ra những ưu điểm và những khiếm khuyết trong quá trình thực thi chính sách là điều hết sức quan trọng để từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn quá trình thực thi chính sách chuyển đổi đấtnương rẫy sang rừng trồng và góp phần nâng cao đời sống cho người dân vùng núi huyện Hướng Hóa nói riêng, và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung Chính

vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện

Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị”

Mục đích của đề tài

Tìm hiểu được thực trạng của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất

và các tác động của chúng đến đời sống của người dân tộc thiểu số tại huyện HướngHóa tỉnh Quảng Trị

Trang 3

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

* Ý nghĩa khoa học

Đề tài là cơ sở luận chứng khoa học giúp cho các nhà quản lý, nhà lập chính sách cócăn cứ trong việc hoạch định chính sách, kế hoạch hành động, giải pháp quản lý hữu hiệu tàinguyên đất rừng, ứng phó với biến đổi khí hậu, mất an ninh lương thực ở Bắc Trung Bộ nóichung và tỉnh Quảng Trị nói riêng

Phần lớn đất để trồng rừng là đất trống, đồi núi trọc, đất nương rẫy nay đã quyhoạch lại sang rừng sản xuất và một số diện tích rừng Keo trồng theo dự án hỗ trợ trồngrừng sản xuất Mặc dù người dân có nhiều đất song họ không có điều kiện sử dụng tốt hơntrong việc tạo ra rừng trồng chất lượng cao, cung cấp cho tiềm năng thị trường nên cuộcsống của họ phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Trong khi đó, thị trường tiêu thụ

gỗ tiềm năng trong tỉnh là rất tốt Nên đề tài có thể có cái nhìn khách quan về tác động củarừng trồng sản xuất đến sinh kế người dân miền núi khi tập quán canh tác thay đổi, đồngthời đưa ra các giải pháp bền vững cho các hộ trồng rừng sản xuất quy mô nhỏ để phát triểnngành Lâm nghiệp

* Ý nghĩa thực tiễn

Đối với huyện Hướng Hóa, diện tích đất dành cho sản xuất cây lương thực ít, đời sốngnhân dân gặp rất nhiều khó khăn, tập quán canh tác còn lạc hậu, tình trạng phát nương làmrẫy, khai thác tài nguyên rừng tuy đã giảm nhiều nhưng vẫn còn xảy ra nên diện tích rừng

và chất lượng rừng bị suy giảm, diện tích đất trống, đồi núi trọc còn nhiều Trước thực trạng

đó cần có các giải pháp tích cực, đánh giá đúng hiệu quả rừng trồng để tuyên truyền vậnđộng nhân dân các dân tộc hưởng ứng chủ trương trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núitrọc, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, đầu tư phát triển rừng góp phần giải quyết việc làm,tăng thu nhập cho đồng bào vùng cao

Kết quả nghiên cứu và các tài liệu, số liệu trong đề tài có thể sử dụng lâu dài cho cácmục đích khác nhau trên địa bàn Hướng Hóa như:

+ Đánh giá hiệu quả rừng trồng ở Hướng Hóa trong giai đoạn thực hiện đề tài

+ Góp phần định hướng xây dựng thị trường lâm sản bền vững ở khu vực miền núiQuảng Trị

+Đề xuất cơ chế quản lý tài nguyên, chính sách hỗ trợ theo hướng bền vững về môitrường và sinh kế người dân vùng gần rừng

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Trang 4

- Rừng trồng kinh tế: Cây bời lời đỏ (Litsea glutinosa) và cây keo lai (acacia auriculiormis ×

a mangium ).

- Sinh kế người dân tại huyện Hướng Hóa

- Những cơ chế, chính sách của hoạt động chuyển đổi đất nương rẫy sang đất trồngrừng

- Mối liên hệ giữa việc chuyển đổi đất nương rẫy sang đất trồng rừng với chiến lượcphát triển bền vững tại địa phương

- Phạm vi thời gian: Các tài liệu phục vụ đánh giá thực trạng được thu thập trong khoảng thời gian từ 2007 - 2014 Số liệu điều tra hộ tập trung vào đầu năm 2014

Quá trình thực hiện đề tài từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 Quan điểm sử dụng đất bền vững

Quan điểm về sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đã được nhiều tác giả ở cácquốc gia khác nhau đề cập tới, các khái niệm đều cho thấy những điểm giống nhau khi nóiđến quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đều được thể hiện ở 3 vấn đề kinh tế,

xã hội và môi trường

Thuật ngữ "bền vững" được sử dụng trong nhiều khái niệm, ví dụ "sự phát triển bền

vững", "kinh tế bền vững", "xã hội bền vững", và "sử dụng bền vững" Theo "Chiến lược cho cuộc sống bền vững", một hoạt động là bền vững nhằm đạt tất cả các mục đích thực tiễn

của nó, là hành động có thể tiếp tục mãi mãi (IUCN, UNEP,WWF 1993) [10] Uỷ ban quốc

tế về môi trường và phát triển (Wcea) đã định nghĩa "Phát triển bền vững là phát triển để

đáp ứng nhu cầu của đời này mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của đời sau"

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩmChiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên

Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) [10] với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại

không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".

Khái niệm phát triển bền vững được đề cập chính thức trong báo cáo "Tương lai của

chúng ta" của Hội đồng thế giới về phát triển bền vững họp ở Brundland (WCED, 1987)

[23] Theo khái niệm này "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn mọi nhu cầu

của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thoả mãn mọi nhu cầu của những thế hệ tiếp theo" Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự

phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạtđược điều này, tất cả các thành phần kinh tế xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội, phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế, xã hội vàmôi trường Thế giới đang đứng trước nguy cơ to lớn về sự xuống cấp và huỷ hoại của môitrường sinh thái Sự gia tăng dân số, phát triển công nghiệp và các hoạt động phát triển kinh

tế ngày càng mạnh mẽ đã tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường Để sửdụng một cách có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bảo vệ môi trường sống và khảnăng tái tạo cần phải có một cách tiếp cận kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội vớibảo vệ môi trường sinh thái

Năm 1993, nhóm công tác Quốc tế [15] đã kiến nghị một khung đánh giá hệ thống

quản lí và sử dụng đất bền vững và định nghĩa như sau: "Quản lý sử dụng đất bền vững" bao

hàm các quy trình công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm hội nhập những nguyên lý kinh

Trang 6

tế xã hội với các mối quan tâm về môi trường sao cho có thể đồng thời: Duy trì nâng caosản xuất và dịch vụ, giảm thiểu sự rủi ro cho sản xuất, bảo vệ tiềm năng của các nguồn lợi

tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hoá chất lượng đất, có khả năng thực thi về kinh tế, có thểchấp nhận được về mặt xã hội

Cùng với nguyên tắc trên, Dumanski [24] cũng đã đề xuất các chỉ tiêu để đánh giá vàgiám sát việc sử dụng đất bền vững Các chỉ tiêu này bao gồm: Năng suất cây trồng, cânbằng dinh dưỡng, sự bảo toàn độ che phủ đất, số lượng đất, số lượng nước, lợi nhuận nôngtrại và sự áp dụng các biện pháp bảo vệ đất Các chỉ tiêu này là cơ sở quan trọng để phântích đánh giá các hệ thống sử dụng đất về tính bền vững, thiết lập nền móng cho chiến lược

sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất

Một mô hình sử dụng đất tổng hợp, bền vững phải đáp ứng một số nội dung sau:

- Giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra cho mọi người ở từng bản làng, buôn sóc, ở từngđịa phương, trong cả nước và trên toàn cầu

- Tổng hợp được các hiểu biết truyền thống với khoa học hiện đại, vận dụng thích hợpcho từng nơi

- Lấy các hệ thống thiên nhiên làm mẫu chuẩn, bắt chước các hành động hoà hợp vớithiên nhiên

- Tạo lập ra các mô hình định canh lâu bền bằng việc xây dựng phù hợp với điều kiệnsinh thái từng nơi Để đảm bảo sử dụng đất mang tính tổng hợp bền vững cần thực hiện theocác nguyên tắc sau:

+ Đa dạng hoá các loại hình sản xuất, các chế độ canh tác, các loại hình sản phẩm, cácdạng hình sinh thái

+ Kết hợp nhiều ngành nghề: Nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản,

+ Ngăn ngừa được những tai biến môi trường, những rủi ro và nạn ô nhiễm, suy thoái.+ Sử dụng được các động thực vật hoang dã, các loài cây bản địa, các loài cây quýhiếm, đa tác dụng

+ Tận dụng các nguồn tài nguyên: Đất, nước, năng lượng, sinh học làm cho nó đượcbảo toàn, tái tạo, tự điều chỉnh và tự tái sinh

+ Sử dụng được đất theo quy mô nhỏ, thâm canh hiệu quả, được quản lý, chăm sóc,bảo vệ và phục hồi đất

Tóm lại, sử dụng đất bền vững là nhu cầu cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới.Những hiện tượng sa mạc hoá, thiên tai, lũ lụt, hạn hán, diện tích đất trống, đồi núi trọcngày càng tăng lên, đây chính là kết quả của việc sử dụng đất đai không hợp lý Khái niệmbền vững được các nhà khoa học trên thế giới chủ yếu hướng vào 3 yêu cầu sau:

Trang 7

- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấpnhận.

- Bền vững về mặt xã hội - nhân văn: Được xã hội chấp nhận cao, thu hút được laođộng, đảm bảo đời sống xã hội

- Bền vững về mặt môi trường: Bảo vệ được đất đai, ngăn chặn được thoái hoá, xóimòn, rửa trôi, bảo vệ môi trường tự nhiên

Trên đây là một số công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến vấn đề SDĐnông lâm nghiệp, hệ thống quản lý SDĐ, hệ thống canh tác, hệ thống cây trồng cùngphương pháp tiếp cận nông thôn mới đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều quốc gia Điều

đó chứng tỏ rằng vấn đề SDĐ nông lâm nghiệp được các tác giả nhiều nước, nhiều tổ chứctrên thế giới quan tâm chú ý đến Tùy theo cách nhìn nhận về quản lý và SDĐ sao cho hợp

lý đã được nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau Việc đưa ra mộtkhái niệm thống nhất là điều rất khó thực hiện, song các tác giả đều có điểm giống nhau, đó

là dựa trên quan điểm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan đến đất đaiphải được xem xét một cách toàn diện và đồng thời nhằm đảm bảo nó một cách lâu dài vàbền vững Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo vệmôi trường, bảo vệ các hệ sinh thái đa dạng sinh học và các đặc điểm về mặt xã hội và nhânvăn

1.2 Khái niệm, vai trò của an ninh lương thực

1.2.1 Khái niệm an ninh lương thực

An ninh lương thực là khái niệm linh hoạt, được thể hiện khác nhau trong nhiều địnhnghĩa của các nghiên cứu và chính sách Ngay cả một thập kỷ trước thì cũng đã có đếnkhoảng 200 định nghĩa trong các bài viết được xuất bản (Maxwell & Smith, 1992) [26] Vìthế khái niệm này được diễn giải theo nhiều cách khác nhau Maxwell (1996) cho rằng bất

cứ khi nào quan niệm này được đề cập đến trong tiêu đề của một nghiên cứu thì nên đưa racác định nghĩa rõ ràng hoặc ngầm định cho sát với thực tế An ninh lương thực là quan niệmchỉ mới xuất hiện vào giữa những năm 70 trong các thảo luận về tình hình lương thực thếgiới và là phản ứng trước cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vào thời điểm đó Quantâm ban đầu chủ yếu tập trung các vấn đề cung lương thực - đảm bảo nguồn cung cấp và ởmột mức độ nào đó là ổn định giá cả của nguồn thực phẩm chủ yếu ở cấp độ quốc gia vàquốc tế Mối quan ngại về cung của các tổ chức quốc tế bắt nguồn từ việc thay đổi tổ chứccủa nền kinh tế lương thực toàn cầu và điều này đã gây ra khủng hoảng Sau đó đã diễn racác vòng đàm phán quốc tế dẫn đến việc tổ chức Hội nghị lương thực thế giới năm 1974 vàcác hệ thống thể chế mới liên quan đến thông tin, nguồn lực để đảm bảo an toàn lương thực

và các diễn đàn thảo luận chính sách

Trang 8

Là một trong những khái niệm ứng dụng trong chính sách công, quan niệm về an ninhlương thực tiếp tục được phát triển để phản ánh được độ phức tạp của các vấn đề chính sách

và kỹ thuật có liên quan (FAO, 2003) [27] Hội nghị thượng đỉnh lương thực thế giới năm

1974 định nghĩa an ninh lương thực là:

“lúc nào cũng có đủ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cơ bản của thế giới để đảm bảoviệc tiêu dùng lương thực, thực phẩm ngày một nhiều hơn và để bù đắp được những biếnđộng trong sản xuất và giá cả” (UN, 1975)

Năm 1983, FAO mở rộng quan niệm này để tính thêm cả việc đảm bảo cho những người dễ

bị tổn thương tiếp cận được với các nguồn cung cấp sẵn có, hàm ý rằng cần phải quan tâmđến sự cân bằng giữa cầu và cung trong phương trình an ninh lương thực: “đảm bảo tất cảmọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực mà

họ cần”

Sau đó, Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) năm 1986 với tiêu đề “Đói nghèo” đã tậptrung vào tính linh hoạt theo thời gian của mất an ninh lương thực Báo cáo này đã đưa ra sựphân biệt giữa mất an ninh lương thực kinh niên, gắn liền với các vấn đề về nghèo khổ lâunăm hoặc nghèo khổ cơ cấu và thu nhập thấp và mất an ninh lương thực đang chuyển đổiliên quan đến các giai đoạn khi thảm hoạ thiên nhiên, kinh tế sụp đổ hoặc xung đột gây racác sức ép lớn; và điều này đã được chấp thuận rộng rãi Quan niệm về an ninh lương thựcđược cụ thể hoá hơn theo nghĩa:

“tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được với đủ lương thực, thực phẩm để đảm bảo mộtcuộc sống khoẻ mạnh và năng động.”

Đến giữa những năm 1990, an ninh lương thực được xem là mối quan ngại nghiêmtrọng, trải nhiều cấp độ từ cấp cá nhân lên đến cấp toàn cầu Tuy nhiên, vấn đề “tiếp cận”trong an ninh lương thực hiện nay còn bao gồm cả vấn đề có đủ lương thực và điều này chothấy người ta vẫn lo ngại về suy dinh dưỡng prôtêin Việc mở rộng quan niệm bao gồm cáckhía cạnh an toàn lương thực, cân bằng dinh dưỡng cũng cho thấy quan ngại về thành phầnlương thực, thực phẩm gồm các điều kiện về dinh dưỡng vi mô và vĩ mô cần thiết cho mộtcuộc sống năng động và khoẻ mạnh Người ta cũng khuyến cáo các hộ gia đình để đảm bảocho con em mình có cân bằng dinh dưỡng và thực phẩm, đặc biệt trong giai đoạn phát triểnban đầu Các tổ chức quốc tế liên quan đến các vấn đề về lương thực và y tế như Tổ chứcnông lương thế giới (FAO), Tổ chức y tế thế giới (WHO), Chương trình lương thực thế giới(WFP), Viện nghiên cứu và chính sách lương thực thế giới (IFPRI) và nhiều tổ chức kháckêu gọi phát triển nguồn lương thực, thực phẩm cân bằng và đời sống khoẻ mạnh Người tacũng quan tâm nhiều hơn đến sở thích đối với lương thực, thực phẩm theo truyền thống vănhoá hoặc xã hội Mức độ phức tạp và cụ thể theo từng hoàn cảnh của an ninh lương thực chothấy rằng quan niệm này không còn đơn giản và tự nó không phải là mục đích mà nó là mộtloạt các hành động trung gian nhằm đạt được một đời sống năng động và khoẻ mạnh Báo

Trang 9

cáo phát triển con người của UNDP năm 1994 cổ vũ cho quan niệm về an ninh con người,bao gồm một loạt khía cạnh trong đó có an ninh lương thực Quan niệm này cũng lien quanchặt chẽ đến quan điểm về quyền con người trong phát triển đã có ảnh hưởng đến đến cácthảo luận về an ninh lương thực.

Hội nghị lương thực thế giới năm 1996 sử dụng một khái niệm thậm chí còn phức tạphơn: “an ninh lương thực ở các cấp độ cá nhân, gia đình, khu vực và toàn cầu [đạt được] khitất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lươngthực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng, để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối vớithức ăn, nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh” (FAO, 1996)

Báo cáo về tình hình mất an ninh lương thực năm 2001 đã chỉnh sửa lại quan niệm nàynhư sau: “An ninh lương thực là tình trạng khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được

về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinhdưỡng để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sốngnăng động và khoẻ mạnh”

Đặc biệt, an ninh lương thực có thể được xem là một hiện tượng liên quan đến các cánhân Đây là tình trạng dinh dưỡng của các thành viên trong gia đình (mục tiêu cuối cùng)

và rủi ro không đạt được tình trạng này thoả đáng hoặc tình trạng thoả đáng này bị suy yếu.Rủi ro thứ hai phản ánh sự tổn thương của các cá nhân trong bối cảnh này Các tổn thương

có thể xuất hiện như là các hiện tượng kinh niên hoặc tạm thời Người ta ít quan tâm đếntình trạng mất an ninh lương thực tạm thời và rủi ro khủng hoảng lương thực.Theo WB năm

1986 [28] “nguyên nhân chính của mất an ninh lương thực tạm thời là thay đổi hàng nămcủa giá nông sản quốc tế, nguồn ngoại tệ thu được, sản xuất lương thực trong nước và thunhập của các hộ gia đình Các yếu tố này thường liên quan với nhau Khả năng của ngườidân sản xuất hoặc mua lương thực hoặc các nhu yếu phẩm khác tạm thời giảm sút sẽ làmsuy yếu sự phát triển dài hạn và gây tổn thất về nguồn vốn con người mà phải mất nhiềunăm mới phục hồi được (FAO, 2003)

Trong các định nghĩa về an ninh lương thực có ba biến số riêng biệt ảnh hưởng đến an ninhlương thực: sẵn có, tiếp cận được và sử dụng Các biến số này được định nghĩa trên thực tếnhư sau:

Sẵn có lương thực: đảm bảo có đủ khối lượng lương thực ở một mức độ chất lượng phù

hợp từ các nguồn sản xuất hoặc đầu vào khác ở trong nước

Tiếp cận lương thực: khía cạnh tiếp cận lương thực của an ninh lương thực liên quan đến

khả năng của các cá nhân tiếp cận được với nguồn tài nguyên và các tài sản sở hữu khác để

có được một lượng lương thực thích hợp với chế độ ăn uống dinh dưỡng “Tài sản sở hữu”

là một loạt hàng hoá mà một người có thể thiết lập được quyền kiểm soát đối với chúngtrong bối cảnh luật pháp, chính trị, kinh tế và xã hội của cộng đồng nơi người đó đang sinhsống (bao gồm cả các quyền truyền thống như sử dụng các nguồn tài nguyên chung) Ở cấp

Trang 10

độ quốc gia, tiếp cận đối với lương thực được tính dựa trên mức giá của lương thực nhậpkhẩu và tỷ lệ nguồn chi cho lương thực nhập khẩu so với nguồn thu được từ xuất khẩulương thực.

Ổn định lương thực: khía cạnh ổn định lương thực hàm ý một dân tộc hoặc một hộ gia

đình hoặc một cá nhân lúc nào cũng phải tiếp cận được với nguồn lương thực phù hợp.Những người này không gặp phải rủi ro không tiếp cận được với lương thực do các cú sốcbất thường (như khủng hoảng khí hậu hoặc kinh tế) hoặc các hiện tượng chu kỳ (như mất anninh lương thực theo mùa) Bên cạnh các cuộc tranh cãi về khả năng của môi trường có thểđảm bảo được nhu cầu lương thực toàn cầu thì cũng có các yếu tố mới tác động đến độ ổnđịnh của nguồn cung lương thực, bao gồm:

• Thay đổi khí hậu và các biến động hàng năm và các tác động không thuận đối với ổn địnhsản lượng và tăng khả năng mất an ninh lương thực;

• Tình trạng suy thoái ở mức độ báo động về môi trường cũng như là tính tự túc của hệthống sinh thái và nông-sinh thái toàn cầu;

• Tác động của cải cách thương mại đối với giá cả và sản lượng (có thể do thay đổi mùa vụ),đặc biệt là tác động tiêu cực đến an ninh lương thực ở nông thôn nếu như điều này làm giảmgiá cả thực tế theo hướng bất lợi cho nông dân trong nước

Tiêu dùng lương thực: tiêu dùng lương thực thông qua các chế độ ăn uống hợp lý, nướcsạch, đảm bảo vệ sinh và y tế để đảm bảo dinh dưỡng khi tất cả các nhu cầu tâm sinh lýđược đáp ứng Điều này khiến cho các yếu tố phi lương thực cũng có vai trò quan trọng đốivới an ninh lương thực

Tóm lại, an ninh lương thực là khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặtvật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng

để đáp ứng nhu cầu ăn uống và khẩu vị thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động vàkhoẻ mạnh Mặc dù trong nhiều năm an ninh lương thực được xem là vấn đề của một sốnước đang phát triển song gần đây nó đã trở thành mối quan tâm toàn cầu Thay đổi khí hậunhanh chóng, nguy cơ khủng hoảng nguồn nước và nhu cầu ngày càng lớn đối với nguồnthịt gia súc, gia cầm và năng lượng sinh học đang tạo ra những bất ổn mới đối với đảm bảonguồn lương thực cho nền kinh tế toàn cầu (AusAid, 2008)

Trang 11

1.2.2 Vai trò của an ninh lương thực đối với đời sống xã hội

Theo các tài liệu chính thức của Liên Hợp Quốc, an ninh lương thực là một trong 7 nhân

tố cấu thành an ninh con người cùng với các nhân tố khác đó là: an ninh kinh tế, an ninh sứckhỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị An ninhlương thực đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cũng như trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của con người An ninh lương thực đảm bảo cho người dân có đủ lương thực đểdùng trong một thời gian dài Một nền kinh tế có an ninh lương thực tốt nghĩa là người dânsống trong đó không còn phải lo về việc thiếu lương thực hay không đủ khả năng để mualương thực khi cần thiết Đặc biệt trong quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh ở cácnước đang phát triển cùng với việc sử dụng lúa gạo vào những mục đích khác nhau thì vấn

đề an ninh lương thực ngày càng được quan tâm hơn bao giờ hết Theo ông Jean Ziegler[29] , một đại diện của Liên Hợp Quốc nhận xét: “ việc dùng cây lương thực để sản xuấtkhối lượng lớn nhiên liệu sinh học là một tội ác vì nó tác động trực tiếp tới giá lương thựctrên toàn cầu, đe doạ cuộc sống của hàng triệu người” Hầu hết các quốc gia trên thế giớiđều sử dụng gạo làm lương thực để dự trữ Số lượng gạo dự trữ này hàng năm đều tăng dovấn đề tăng dân số Khi gặp sự cố bất ngờ như thiên tai bão lũ mùa màng thất bát thìChính Phủ các nước sẽ sử dụng đến lượng lương thực dự trữ nàycứu trợ nhằm đảm bảocuộc sống khỏe mạnh và đáp ứng yêu cầu hoạt động thể chất bình thường, kể cả hoạt độnglao động của con người ” Song thực tế thì khả năng này ngày nay đang dần bị đe dọa mộtcách nghiêm trọng Bằng chứng xác thực nhất là cuộc khủng hoảng lương thực trong năm

2008 vừa xảy ra Hàng loạt những tín hiệu về việc thiếu lương thực trên thế giới đã đượcphát đi Kết quả là cuộc chạy đua tăng giá lúa gạo trên thị trường thế giới Vì vấn đề này mà

ở một số nước những biến động về chính trị, xã hội đã gây ảnh hưởng đến đời sống ngườidân Tại Thái Lan, chính phủ đã phải triển khai quân đội để ngăn chặn tình trạng cướplương thực trên cánh đồng và các nhà kho Trong tháng qua, nhiều vụ bạo động đã xảy ra tạicác nước như Ai Cập, Indonesia, Philippines, Bangladesh, do cuộc khủng hoảng lươngthực Tình trạng bất ổn vì thiếu lương thực cũng đã xảy ra tại nhiều nơi thuộc châu Á

Sự cảnh báo về một " thời kỳ xung đột kéo dài" và sẽ xuất hiện các dạng xung đột mới bắtnguồn từ việc thiếu lương thực và giá cả tăng

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực

- Sản lượng lương thực: Về lương thực, chủ yếu có ba loại ngũ cốc: lúa gạo, lúa mì, ngô vớiquá nửa diện tích đất đai trồng trọt trên hành tinh Chỉ riêng lúa gạo và lúa mì cung cấpchừng 40% năng lượng về thức ăn của loài người

Lúa gạo là cây lương thực quan trọng hơn cả do nú thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu

và sinh thái rất khác nhau: nhiệt đới, ôn đới, vùng cao, khô, vùng thấp có nước

Trang 12

Lúa mì đứng hàng thứ hai sau lúa gạo về cây lương thực chủ yếu Lúa mì thích nghi vớikhí hậu ôn đới, mùa đông lạnh ẩm, năng suất bình quân khoảng 20 tạ/ ha trên diện tích 210triệu ha và tổng sản lượng thế giới là 355 triệu tấn.

327 Kcal/ 100g và 7,6% Tuy nhiên, lúa gạo có khá đầy đủ các loại axit amin cần thiết,trong khi đó, ngô thiếu hẳn hai loại quan trọng mà cơ thể không thể tổng hợp được là lizin

và priptophan

Tuy nhiên, hiện nay an ninh lương thực đang đối diện với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng

mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu lương thực Con người không có đủ lương thực để sống vìsản lượng lương thực đang giảm sút đến mức báo động Chính vì vậy, sản lượng lương thực

là nhân tố tiên quyết đến vấn đề an ninh lương thực không chỉ cho mỗi quốc gia mà còn chotoàn cầu Muốn giải quyết được cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay thì trước hết cần cóchiến lược tăng sản lượng lương thực, đảm bảo lương thực cho cả những vùng khó khănnhất trên thế giới

- Khí hậu:

Khí hậu là một trong những yếu tố tác động đến sản lượng lương thực bởi từ xưa tới nayviệc sản xuất gieo trồng các cây lương thực phần lớn phụ thuộc vào thời tiết cụ thể là nguồnnước mưa và nhiệt độ Hiện nay 2/ 3 dân số trên thế giới đang sống ở các khu vực nôngthôn, đa số tại cỏc nước đang phát triển

Biến đổi khí hậu sẽ gây ra tình trạng mất cân bằng về khí hậu, mưa nhiều ở các khu vực khíhậu ôn hòa nhưng lại gây ra hạn hán ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Hạn hán sẽ tácđộng tiêu cực đến hoạt động nông nghiệp làm giảm sản lượng lương thực Châu Phi là châulục dễ bị ảnh hưởng nhất khi lượng mưa giảm Sản lượng nông nghiệp đang giảm sút, gây ranạn đói kém Theo TTXVN, Ủy ban Liên chính phủ về khí hậu thay đổi của LHQ dự kiếnvào cuối thế kỷ này, mực nước biển sẽ dâng cao từ 18 đến 59 cm và các đảo quốc nhỏ thuộcvùng châu thổ Mega ở châu Á nằm trong số những nơi bị đe dọa nghiêm trọng nhất Diệntích đất sử dụng cho nông nghiệp sẽ ít nhiều bị giảm đi do phải nhường cho đất sinh hoạt.Khi cung về lương thực không kịp đáp ứng cầu lương thực sẽ dẫn đến khủng hoảng lươngthực( thiếu lương thực, giá lương thực tăng…)

- Diện tích đất Nông nghiệp:

Cùng với dân số thế giới ngày càng tăng, các đô thị, trung tâm công nghiệp ngày càngnhiều thì tỉ lệ nghịch với nó là diện tích đất nông nghiệp ngày càng ít đi vì phải chuyển đổimục đích sử dụng Chưa kể đến những tàn phá của con người gây ô nhiễm môi trường, đất

bị xói mòn, bạc màu hiệu quả sử dụng không cao Đây là những tín hiệu không vui cho thếgiới về vấn đề tăng năng suất lương thực

Sự phát triển là tất yếu, nhưng điều đáng nói là sự phát triển lộn xộn, thiếu quy hoạch đãlàm cho nhiều quốc gia trên thế giới rơi vào tình trạng mất đất đai dành cho trồng trọt Vì

Trang 13

vậy, mỗi quốc gia cần có những hành động rõ ràng, cụ thể hơn để bảo vệ đất nông nghiệpnhằm đảm bảo an ninh lương thực một cách bền vững.

- Tình hình kinh tế - xã hội trên thế giới:

Đây là một trong những nhân tố có tác động gián tiếp đến tình hình an ninh lươngthực Nếu tình hình kinh tế - xã hội trên thế giới ổn định thì sẽ là môi trường tốt để cácngành nông nghiệp phát triển và lương thực sẽ được đảm bảo Ngược lại, nếu có chiếntranh, bạo động, dịch bệnh…tàn phá thì chắc chắn an ninh lương thực sẽ bất ổn

1.3 Lâm nghiệp Việt Nam

Năm 1943 diện tích rừng Việt Nam lần đầu tiên được công bố là 14,3 triệu ha(P.Mau-rant), Khi đó toàn bộ diện tích rừng là rừng tự nhiên và đa số là rừng nguyên sinh.Qua hai cuộc chiến tranh 1945-1954 và 1965-1975 diện tích rừng Việt Nam đã giảm xuốngcòn 11,2 triệu ha Tốc độ giảm diện tích rừng nhanh nhất là 15 năm sau khi đất nước thốngnhất (1975) và đến năm 1990 diện tích rừng đạt mức thấp nhất là 9,17 triệu ha, chiếm khoản64% diện tích rừng thống kê năm 1943 Từ năm 1990 trở đi, thông qua các chương trình

327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và điều kiện giảm thiểu sức ép lương thực, củi đốt, nêndiện tích rừng đã tăng lên 11,3 triệu ha vào năm 2000 và 13,3 triệu ha năm 2009, đạt xấp xỉ93% diện tích rừng ban đầu Tuy nhiên diện tích rừng tăng chủ yếu là gần 3 triệu ha rừngtrồng, còn rừng tự nhiên phục hồi chậm hơn, các hệ sinh thái nguyên sinh chỉ còn lại trongvùng lõi của các khu bảo tồn hoặc các vườn quốc gia Bảng 1.1 và Biểu đồ 1.1 chỉ rõ xu thế

thay đổi diện tích rừng của Việt Nam trong 60 năm qua [16].

Bảng 1.1 Sự thay đổi diện tích rừng Việt Nam

Năm

Diện tích rừng (1000 ha)

Tỷ lệ che (%)

Trang 14

2000 9.444 1.471 10.915 33,2 0,14 +1.740 +5,4

(Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp, 2012)

(Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp, 2012)

Biểu đồ 1.1 Sự thay đổi diện tích rừng Việt Nam

1.4 Rừng trồng sản xuất

1.4.1 Phát triển TRSX bền vững ở trên thế giới

Diện tích rừng trồng đã tăng lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu và cung cấpkhoảng 50% tổng sản lượng gỗ trên toàn thế giới.Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thếgiới (FAO) ước tính rằng tổng diện tích rừng trồng đến năm 2005 khoảng 140 triệu ha (FAO2006), bình quân mỗi năm tăng khoảng 3 triệu ha

Cho đến nay cơ sở khoa học cho việc phát triển TRSX ở các nước phát triển đã đượchoàn thiện nhưng đang trong giai đoạn thử nghiệm, nghiên cứu, từng bước hoàn thiện và ổnđịnh đi vào sản xuất phục vụ PTLN ở các nước đang phát triển[11] Theo kinh nghiệm pháttriển RTSX của một số nước trên thế giới, để có thể phát triển RTSX có hiệu quả thì:

Thứ nhất, Nhà nước và các cấp, ban, ngành có liên quan cần rà soát lại diện tích đất

lâm nghiệp, quy hoạch cụ thể diện tích TRSX một cách khoa học RSX phải được quyhoạch tập trung, không phân tán, chia lô nhỏ lẻ RSX phải được quy hoạch trên đất có thổnhưỡng phù hợp nhằm nâng cao HQKT RTSX

Thứ hai, công tác giống là khâu quan trọng nhất, mang tính đột phá và đã thu được

nhiều thành tựu đáng kể Nhờ những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống mới, chotới nay trên nhiều nước đã có những giống cây trồng cho năng suất rất cao, cao gấp 2-3 lần

so với bình thường Thí dụ như ở Brazil đã tạo được những khu rừng có năng suất trữ lượng70-80m3/ha/năm; Tại Công Gô năng suất rừng đạt 40-50m3/ha/năm Theo Swoatdi vàChamlong (1990), tại Thái Lan rừng Tếch cũng đạt đến sản lượng 15-20m3/ha/năm Bêncạnh công tác giống cây trồng, các biện pháp trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng cũng đãđược quan tâm nghiên cứu MH nghiên cứu trồng rừng nhiều tầng hỗn loài giữa cây gỗ và

Trang 15

cây họ đậu ở Malaysia trên 3 đối tượng: RTN, rừng Keo TT và rừng Tếch đã được đánh giá

là có hiệu quả cao[11] Tài nguyên rừng của Ôxtrâylia bao gồm 43,2 triệu ha rừng tự nhiên

và 1,1 triệu ha rừng trồng Để đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp, diện tích rừng trồngcủa nước này phải đạt 3 triệu ha vào năm 2020 và do vậy diện tích rừng trồng hàng nămphải lên tới 80.000 ha Đóng góp của rừng và công nghiệp rừng đã đạt 6 tỷ đô la Ôxtrâyliatrong năm tài khóa1994-1995, trong khi mức đóng góp của cả ngành nông nghiệp lâmnghiệp và ngư nghiệp là 13 tỷ đô la Ôxtrâylia

Thứ ba, là giải quyết thu nhập cho người trồng rừng Đa số người dân tham gia trồng

rừng có chất lượng cuộc sống thấp, thu nhập bấp bênh, độ rủi ro cao Vì vậy, TRSX phảiquan tâm trước hết là nâng cao mức sống cho người dân Trong thời gian đầu nhà nước phải

có chính sách ưu đãi, hỗ trợ để đảm bảo ổn định cuộc sống cho họ Đây là vấn đề đã đượcnhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Bradford R Phillíp (2002) ở Fuiji người ta đãnghiên cứu trồng một số loại Tre, Luồng trên đồi vừa để bảo vệ đất và tạo thu nhập pháttriển kinh tế cho 119 hộ gia đình nghèo; Ở Indonesia người ta đã áp dụng phương thức nônglâm kết hợp với cây Tếch[24]… Đây là một trong những hướng đi phù hợp với vùng đồi ởmột số nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Thứ tư, cần phát triển hiệu quả thị trường tiêu thụ Các sản phẩm rừng trồng phải

phục vụ được mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của người dân, phương thức canh tácphải gắn với kiến thức bản địa để người dân dễ áp dụng Vấn đề này nghiên cứu củaIanuskow K (1996) cho biết cần phải giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho cáckhu rừng trồng kinh tế, trong đó cần có kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chếbiến lâm sản với các qui mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách đòn bẩy

để thu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng Theo Thom R Waggener (2000)

để phát triển trồng rừng theo hướng sản xuất hàng hóa với HQKT cao không chỉ đòi hỏiphải có sự đầu tư tập trung về kinh tế kỹ thuật mà còn phải nghiên cứu làm sáng tỏ hàng loạtvấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường Theo quan điểm thị trường, nhà kinh tếlâm nghiệp cho rằng thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì, cho ai? Khi thị trường cónhu cầu và lợi ích của người sản xuất được bảo đảm thì động cơ lợi nhuận và thu nhập sẽthôi thúc họ tăng đầu tư mở rộng qui mô sản xuất và thâm canh cao tạo sản phẩm hàng hóangày càng nhiều cho xã hội[30]

Thứ năm, là cần xã hội hoá TRSX, chẳng hạn ở Trung Quốc đã thực hiện xã hội hóa,

tư nhân hóa về phát triển rừng, có chính sách khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừngbằng cách như tư nhân hóa rừng và đất rừng, cho phép tư nhân được phép ký hợp đồng thuêđất của Nhà nước, giảm thuế đánh vào lâm sản, dầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng, đẩymạnh mối quan hệ hợp tác giữa các Công ty với người dân để phát triển trồng rừng, triểnkhai dịch vụ trao đổi phí thải Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong các ngành xả thảinhiều thì phải mua chứng chỉ phí thải và nguồn thu này một phần được trả cho người trồngrừng

Trang 16

Theo nghiên cứu của một số tác giả ở Thái Lan, Indonesia cho biết hiện nay ở cácnước Đông Nam Á có 3 vấn đề quan trọng cần được xem xét để khuyến khích để người dântham gia trồng rừng là: Qui định rõ ràng về quyền sử dụng đất; qui định rõ ràng về đốitượng hưởng lợi từ rừng trồng; nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân.

Đây cũng là vấn đề cần giải quyết để thu hút nguồn vốn tư nhân và các thành phầnkinh tế tham gia đầu tư phát triển RSX ở các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nóiriêng[31]

1.4.2 Những đặc điểm chủ yếu của RTSX

Ở Việt Nam, diện tích rừng trồng cũng tăng lên rất nhanh từ 1 triệu ha năm 1990 lên2.852 triệu ha năm 2011, nằm trong tốp 10 các nước (đứng thứ 9 thế giới và thứ 3 ĐôngNam Á) có diện tích rừng trồng lớn nhất thế giới[16]. Đây là kết quả của sự đổi mới trongchính sách phát triển lâm nghiệp đã thúc đẩy trồng rừng sản xuất và nâng cao năng lực cạnhtranh trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế so sánh cấp quốc gia Những chính sách quan trọng

có thể kể đến là: Luật đất đai, Luật BV&PTR; các Nghị định 01/CP; 02/CP; 163/CP vềVIỆC giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp Bên cạnh đó là các chính sách đầu tư, tín dụng nhưluật Khuyến khích đầu tư trong nước như: Nghị định 43/1999/NĐ-CP, Nghị định50/1999/NĐ-CP,… Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –2020

1.4.2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội

Trồng và phát triển RSX một mặt ngăn chặn được tình trạng suy thoái của rừng, nângcao năng suất trữ lượng và làm tăng độ che phủ của rừng góp phần bảo vệ môi trườngsinh thái; mặt khác nó cũng gắn với nguy cơ giảm tính đa dạng sinh học của rừng Vìvậy, việc đầu tư phát triển RTSX nhất thiết phải được xem xét, cân nhắc ngay từ khihình thành ý tưởng, định hướng phát triển đến tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm PTBV

về các mặt kinh tế - xã hội - môi trường Không vì lợi ích trước mắt mà để lại nhữnghậu quả nghiêm trọng, khôn lường về sau TRSX có những đặc điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất, trồng rừng sản xuất phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, sinh thái:

Không phải bất kỳ ở đâu cũng có thể TRSX mà chỉ những vùng có diện tích đất trống đồinúi trọc, có điều kiện về đất đai, địa hình, thổ nhưỡng, sinh thái phù hợp mới có thể tiếnhành TRSX Hiện tại, hầu hết các tỉnh có lợi thế về phát triển rừng, lợi nhuận, ngân sáchthu được từ rừng là không đáng kể, bản thân người dân sống ở vùng có rừng không sốngđược bằng nghề rừng lại sống chủ yếu nhờ vào đất nông nghiệp; đất nông nghiệp lại ít, cuộcsống của họ gặp nhiều khó khăn, cố gắng lắm cũng chỉ đủ ăn, nếu gặp thiên tai thì lại bịnghèo đói[13]

Trang 17

- Thứ hai, Trồng rừng sản xuất nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, nâng cao hiệu

quả sử dụng đất, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

- Thứ ba, Trồng rừng sản xuất góp phần nâng cao độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh

thái và PTBV: Trồng rừng sản xuất làm tăng lưu vực nguồn sinh thủy và khả năng phòng hộđầu nguồn các hồ đập, điều tiết dòng chảy chống xói mòn, rữa trôi đất, cải thiện và điều hòakhí hậu trong vùng sinh thái, tạo môi trường sống thuận lợi cho các các loài động vật rừngsinh sống và phát triển Theo kết quả nghiên cứu mới đây về kinh tế môi trường của các nhàkhoa học Việc trồng và phát triển rừng làm tăng giá trị dịch vụ môi trường nhằm phục vụ

và đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống, thúc đẩy PTBV[11]

Việt Nam hiện có khoảng 13,4 triệu ha rừng, chiếm gần 2/3 diện tích tự nhiên, trong

đó gần 11 triệu ha là rừng tự nhiên, hơn 2 triệu ha rừng trồng.; lao động dôi dư nhiều, dân sốmiền núi tăng nhanh, nếu không giải quyết được đời sống cho người dân sống ven rừng vàgần rừng ngang bằng với nhu cầu đời sống của xã hội thì sẽ tạo ra nguy cơ tiềm ẩn gây mất

ổn định chính trị xã hội[13] Vì vậy chỉ có đổi mới tư duy bằng cách giao đất, giao rừng chongười dân, chăm sóc, bảo vệ rừng và sống được nhờ rừng thì mới giải quyết được các vấn

đề trên

1.4.2.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật

Xuất phát từ mục đích, đối tượng RTSX có điểm khác biệt so với các loại rừng khácnên quy trình TRSX cũng có những đặc thù nhất định Tuy nhiên để đảm bảo rừng trồng cónăng suất, hiệu quả cao, việc trồng rừng cần phải tuân thủ các quy định cụ thể cho từng loàicây, từ chọn giống cây trồng, chọn đất, chuẩn bị đất, tiến hành tròng cho đến chăm sóc, bảo

vệ và khai thác Quá trình phát triển RTSX phải đảm bảo các yêu cầu sau:

a) Yêu cầu về đất đai: Việc bố trí cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai sẽ phát huy lợi thế

so sánh của từng vùng Tùy vào từng điều kiện khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng để bố trí cácloại cây trồng phù hợp với đặc điểm sinh học của từng loài cây Vấn đề quan trọng là khiđiều tra khảo sát tìm đất để trồng cây gì thì phải đánh giá thành phần cơ giới của đất, lập bản

đồ thổ nhưỡng tạo điều kiện để sau này có chế độ chăm sóc, bón phân thích hợp đưa lại hiệuquả sản xuất kinh doanh cao Các loại đất được quy hoạch vào TRSX bao gồm[5]:

+ Đối tượng Ia: Đất trống đặc trưng bởi thực bì cỏ, lau lách hoặc chuối rừng

+ Đối tượng Ib: Đồi trọc đặc trưng bởi thực bì cây bụi, sim mua và cũng có thể có ítmột số cây gỗ, tre mọc rãi rác

+ Đối tượng Ic: Rừng phục hồi đặc trưng bởi cây gỗ rải rác và các thân cây gỗ táisinh với mật độ thấp

+ Ngoài ra hiện nay các tỉnh còn có xu hướng chuyển đổi đối tượng rừng nghèo kiệtsang RTSX với kỳ vọng nhanh đưa lại nguồn thu và HQKT cao hơn so với các phương thứctác động khác

Trang 18

Tùy theo phân loại các hạng đất như độ dốc, tầng dày, thành phần cơ giới của đất vàđặc trưng của các loại thực bì trên từng nhóm, mức độ đáp ứng yêu cầu về đất đai của mỗiloại đất hoàn toàn khác nhau:

Trang 19

- Đất hạng I (rất thuận lợi đối với TRSX)

+ Độ dày từng đất > 50 cm,

+ Độ dốc < 150

+ Thành phần cơ giới: đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình; đá mẹ: Rhiolit, Granit

+ Thực bì chỉ thị: Trảng cỏ cây bụi dày, sinh trưởng từ TB đến tốt; Cây bụi hoặc nứatép sinh trưởng trung bình đến tốt; Độ che phủ của cây bụi cỏ cao >70cm

- Đất hạng II (thuận lợi đối với TRSX)

- Đất hạng III ( ít thuận lợi đối với TRSX)

+ Độ dày từng đất <30 cm

+ Độ dốc 26-350

+ Thành phần cơ giới: đất thịt nặng hơi chặt, đất sét pha thịt chặt khô; đất cát pha; đámẹ: Sa phiến thạch

+ Thực bì chỉ thị: Cỏ may, cỏ lông lợn, tế guộc mọc rải rác sinh trưởng xấu; đất trống hoặc

có rất ít thực vật sinh trưởng xấu; độ che phủ của cây bụi cỏ cao từ 30-50 cm

Để RTSX đạt hiệu quả cao nên chọn trồng ở loại đất hạng I và hạng II; một vài dạngđất ở hạng III có thể trồng sau khi làm đất hoặc cải tạo đất mới tiến hành trồng nhưng sẽ tốnkém và HQKT mang lại không cao

b) Yêu cầu về giống

Do đặc điểm cây rừng có thời gian sinh trưởng dài; chu kỳ sản xuất kinh doanh ítnhất cũng từ 5-7 năm ( đối với trồng rừng nguyên liệu giấy, ván dăm); trung bình thì khoảng

từ 20-30 năm, một số loại cây bản địa chu kỳ kinh doanh trên 50 năm Việc chọn giống làkhâu then chốt quyết định chất lượng rừng trồng và hiệu quả sản xuất, nếu sai lầm xảy ratrong quá trình chọn giống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng rừng cây và hiệu quả kinhdoanh sau này[14]

Trang 20

Việc chọn loài cây để phát triển RTSX dựa vào mức độ phù hợp của các yếu tố sau:(i) Có giá trị kinh tế phù hợp với mục đích của người trồng rừng (ii) Có đặc điểm sinhtrưởng phù hợp với điều kiện lập địa của vùng đất quy hoạch trồng rừng (iii) Sản phẩm của

nó có thị trường tiêu thụ ổn định trong và ngoài nước (iv) Có thể rút ngắn được thời giansản xuất kinh doanh, sớm đưa lại HQKT (v) Có khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết bấtlợi và không ảnh hưởng xấu đến môi trường, sâu bệnh và dịch hại Ngoài ra việc chọn giốngcủa từng loài cây cần đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cơ bản về chiều cao vút ngọn ( Hvn); đườngkính cổ rể (Dcr); đặc điểm hình thái cây con

Ngoài các tiêu chí nêu trên, khi chọn cây giống cần xem xét đặc điểm hình thái câycon Một cây giống tốt phải có hình dáng cân đối, thân cây khỏe, hệ thống rễ phát triển, lá

có màu xanh tươi; cây không cong queo, không sâu bệnh, không bị gãy ngọn, không phâncành, không bị vỡ bầu[7]

Bảng 1.2 Chỉ tiêu kỹ thuật cây giống một số loài cây TRSX phổ biến

Tên loài cây

Chiều cao vútngọn (Hvn)(cm)

Đường kính

cổ rể (Dcr)(cm)

Kích thước bầu (cm)Chiều cao Đường kính

* Yêu cầu về biện pháp kỹ thuật trồng rừng sản xuất

- Phát dọn thực bì: Tùy theo đối tượng cây trồng, độ dốc của hiện trường trồng rừng,khí hậu, nguồn lực về lao động mà có thể áp dụng một trong hai phương thức xử lý thực bìsau:

+Xử lý thực bì toàn diện: Thường áp dụng cho những diện tích mà thực địa có dộ dốc

< 150, lượng mưa phân bố tương đối đều trong năm, phù hợp với các loài cây ưa sáng nhưKeo

Trang 21

+Xử lý thực bì không toàn diện: Thường áp dụng đối với những hiện trường trồngrừng có độ dốc cao > 150, vùng có lượng mưa lớn Để tránh xói mòn rữa trôi người ta xử lýthực bì theo hàng, theo băng.

Công tác phát dọn và xử lý thực bì thường tiến hành trước khi đào hố ít nhất là 15ngày Trong quá trình xử lý thực bì (thu gom, đốt) cần phải đảm bảo đúng quy trình kỹthuật, tránh lây lan xảy ra cháy rừng

- Đào và lấp hố: Tùy vào đối tượng cây trồng, độ dốc hiện trường, phương thức trồngthuần loài hay hỗn loài để sắp xếp sơ đồ bố trí cây trồng và đào kích thước hố phù hợp

Sau khi đào hố xong, tiến hành lấp hố kết hợp với bón phân trước khi trồng từ 10-15ngày Tác dụng của lấp hố là ủ cho đất xốp và giữ độ ẩm cho đất

+ Trồng cây: Để đảm bảo tỷ lệ cây sống cao và sinh trưởng tốt, cần phải đảm bảođúng các thao tác kỹ thuật trồng theo hướng dẫn: Thời vụ trồng thường vào đầu mùa mưa,

từ giữa tháng 6 đến hết tháng 7 Trước khi trồng nên tưới ẩm cây con, cắt bỏ bịch ni lông,tránh làm vỡ bầu, đặt cây ngay ngắn vào giữa hố, cổ rễ thấp hơn mặt đất khoảng 2cm, nénđất xung quanh chặt vừa phải, giữ cho cây ngay ngắn, ấn chặt đất tạo lổ nhỏ giữ nước, phủphân xanh quanh cây và tưới nước

*Biện pháp kỹ thuật chăm sóc bảo vệ rừng sau khi trồng

Để rừng có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt chúng ta phải đầu tư chăm sóc 3năm đầu bằng luỗng phát thực bì (2 lần/năm); Sau khi trồng 1 tháng kiểm tra thấy cây nàochết phải trồng dặm, sau 3 tháng kiểm tra thấy tỷ lệ cây sống 90% là đạt yêu cầu Một năm

có thể làm cỏ 2 lần kết hợp bón phân (phân chuồng hoai 2kg/hốc hoặc 100g NPK/gốc tùytừng điều kiện cụ thể)

Làm cỏ quanh gốc, xới gốc kết hợp trồng dặm bổ sung những cây bị chết, cây còi cọckhông có khả năng phát triển Trong thời kỳ rừng non chưa khép tán thì công tác bảo vệrừng là hết sức cần thiết, cấm không cho gia súc vào dẫm đạp làm đổ gãy cây Ngoài ratrong quá trình chăm sóc bảo vệ cần theo dõi sâu bệnh hại để có kế hoạch phòng trừ kịp thời

và hiệu quả[1]

Trang 22

1.4.3 Xu h ng v mô hình ch y u v RTSX ướ à ủ ế ề

*Xu hướng phát triển TRSX

Cùng với quá trình phát triển KTXH, mục tiêu trồng và phát triển rừng của nước ta đã cónhững thay đổi để phù hợp với tình hình trong từng giai đoạn, cụ thể như sau:

- Giai đoạn 1992-1998: Trọng tâm của hoạt động trồng rừng giai đoạn này là phủxanh đất trồng đồi núi trọc; ưu tiên bảo vệ RPH xung yếu, nơi còn du canh du cư phá rừnglàm rẫy gắn với thực hiện định canh định cư Tập trung tạo mới RPH, RĐD mà nhiệm vụchủ yếu là trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng ở những nơi xung yếu các hoạtđộng trồng rừng chủ yếu được thực hiện thông quan chương trình 327[7] Trong giai đoạnnày RTSX vẫn chưa được khuyến khích phát triển

- Giai đoạn 1998-2010: Mục tiêu trọng tâm của giai đoạn này là tạo vùng nguyên liệugắn với công nghiệp chế biến Tuy nhiên đến năm 2002 Nhà nước mới có chính sách khuyếnkhích phát triển RSX và sau hơn 2 năm (đến năm 2004) chính sách đó mới được thực thi và tiếnhành triển khai đồng bộ Thông qua phát triển RSX, người trồng rừng đã nhận thức được rừngtrồng sản xuất là của họ chứ không phải là rừng của nhà nước nên đã bắt đầu quan tâm và cótrách nhiệm hơn đối với rừng[14]

Trong giai đoạn này, nhu cầu về RTSX, đặc biệt là phục vụ cho mục tiêu sản xuất giấygia tăng đã làm thay đổi một cách đáng kể thu nhập từ hoạt động trồng rừng Đây chính là yếu

tố quan trong thu hút nhiều gia đình phát triển hoạt động trồng rừng theo hình thức qui mô hộgia đình

*Một số mô hình TRSX

- Mô hình TRSX theo dự án 5 triệu ha rừng: Đây là mô hình trồng rừng dưới sự hỗ

trợ của nhà nước Nhà nước bố trí vốn cho các Ban quản lý dự án cơ sở để tổ chức cho dântrồng Người dân nhận khoán hoặc đăng ký xin cấp đất, nhận đất để trồng rừng Nhà nước

hỗ trợ bình quân khoảng 2 triệu đồng/ha để mua giống và hỗ trợ một phần công lao động,quản lý chỉ đạo Sản phẩm thu được từ rừng do người dân hưởng và sở hữu rừng thuộc vềngười dân, người dân có quyền định đoạt trên diện tích RSX mà mình trồng

- Mô hình hỗ trợ đồng bào dân tộc trồng rừng và canh tác trên đất nương rẫy: Với

MH này chủ yếu là trồng rừng trên đất dốc, trồng cây bản địa và một số vùng có điều kiệngiao thông đi lại thuận lợi thì trồng rừng nguyên liệu Với hình thức Nhà nước hỗ trợ câygiống, công trồng rừng và trợ cấp gạo cho đồng bào ăn trong thời gian chưa có sản phẩmthu hoạch Với MH này chỉ được đánh giá cao về chính sách xã hội; ổn định đời sống đồngbào dân tộc hạn chế du canh du cư chặt phá rừng ảnh hưởng đến môi sinh môi trường Nếuxét về mặt kinh tế thì không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp

- Mô hình trồng rừng theo hinh thức hộ gia đình hay trang trại: Đây là mô hình trồng

rừng mang tính chất chủ động của hộ gia đình hay chủ trang trại Với điều kiện thuận lợi về

Trang 23

đất đai, hộ gia đình hay trang trại tự bỏ vốn để phát triển RTSX trên đất đai họ có hay đượcphép sử dụng hay chuyển đổi một số cây trồng không hiệu quả sang trồng rừng Đây là môhình mang tính phổ biến trong thời gian gần đây.

Tuy nhiên, thường các mô hình trồng rừng có sự đan xen do các nguyên nhân lịch sử, doyếu tố tiếp cận đất đai, do sự hạn chế về các yếu tố nguồn lực khác Tuy nhiên, mô hình TRSXtheo hình thức hộ hay trang trại đang trở thành xu hướng tất yếu khi xem xét hoạt động TRSXnhư một hoạt động kinh doanh Vấn đề quan trọng trong phát triển RTSX là làm sao lựa chọn

mô hình trồng rừng phù hợp với từng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hôi và đặc thù của từngvùng Mục địch cuối cùng của lựa chọn này làm nâng cao hiệu quả RTSX ở mô hình lựa chọn,đơn vị hay địa phương đó

1.4.4 Phát tri n r ng tr ng s n xu t v i phát tri n b n v ng ể ừ ồ ả ấ ớ ể ề ữ

Ngày nay, phát triển luôn gắn với phát triển bền vững, nhất là đối với các nước đangphát triển; PTBV gắn với nhiều ngành nhưng đối với ngành nông nghiệp nói chung vàTRSX nói riêng liên quan nhạy cảm đến PTBV Việc TRSX không chỉ đơn thuần đóng gópvào GDP cao liên tục, khai thác có hiệu quả nguồn lực mà còn bảo vệ môi trường sinh thái

và dự trữ nguồn lực cho thế hệ tương lai Ngày nay và kể cả sau này, cho dù KTXH có pháttriển đến đâu, qui trình công nghệ sản xuất có thay đổi bằng các ứng dụng khoa học kỹ thuậtmới, tiến bộ thì nước và không khí vẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự PTBV củanhân loại Ảnh hưởng của rừng thể hiện rõ nét nhất trong mùa mưa lũ, nếu rừng đầu nguồnđược bảo vệ tốt thì sẽ trở thành lá chắn vững chắc ngăn dòng nước lũ đầu nguồn các sông;hạn chế dòng chảy gây lũ lụt ở vùng đồng bằng, giảm bớt thiệt hại do ngập úng ảnh hưởngđến các ngành sản xuất và đời sống; ngoài ra rừng còn có chức năng giữ ẩm tạo nguồn nướcngầm hạn chế khô hạn trong mùa khô Rừng phát triển tốt có tác dụng điều hòa không khí,hạn chế sự tạo mưa a xít, giảm dần tốc độ nóng lên của trái đất Thực tế trong những nămqua cho thấy, những vùng nào, nước nào, những địa phương nào làm tốt công tác bảo vệrừng đầu nguồn, chăm sóc tốt RTN và rừng trồng thì tình trạng thiệt hại do mưa lũ, nhất là

lũ ống lũ quét ở vùng núi, vùng đất dốc giảm, đất nông nghiệp không bị xói mòn sa mạchóa, cây trồng vật nuôi được bảo vệ[8]

Xác định rõ TRSX vừa là ngành kinh tế quan trọng, vừa có ý nghĩa phòng hộ, trongmấy năm trở lại đây các ngành, các địa phương đều quan tâm đến công tác trồng và pháttriển RSX; thể hiện trong công tác quy hoạch phân chia 3 loại rừng đã chú trọng đến pháttriển RSX cả về qui mô diện tích lẫn nhiệm vụ giải pháp tác động chính là trồng rừng, quihoạch vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu gỗ rừng trồng

1.4.5 Hi u qu kinh t c a r ng tr ng s n xu t ệ ả ế ủ ừ ồ ả ấ

1.4.5.1 Quan ni m v phân lo i hi u qu kinh t tr ng r ng s n xu t ệ à ạ ệ ả ế ồ ừ ả ấ

Trang 24

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu

tư, các nguồn lực tự nhiên và phương thức quản lý Bàn về khái niệm HQKT, các nhà kinh

tế ở nhiều nước, nhiều lĩnh vực có những quan điểm khác nhau

Hiệu quả kinh tế đạt được khi nhà sản xuất đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả

phân bố, có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét sử dụngcác nguồn lực trong sản xuất Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến những đặc tính vật chất củasản xuất; thể hiện trình độ, kỹ năng, tay nghề kỹ thuật của người sản xuất Hiệu quả phân bốphản ánh khả năng phối hợp các yếu tố đầu vào trên thị trường theo giá để tối thiểu hóa chiphí khi sản xuất một lượng sản phẩm nhất định HQKT liên quan đến yếu tố tổ chức quản lý

và phản ánh cả trình độ kỹ thuật tay nghề và khả năng phối hợp đầu vào theo giá để đạtđược lợi nhuận ở mức tối đa[17]

HQKT là sự phối hợp giữa nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sản xuất (tức làlàm giảm đến mức tối đa chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tạo ra - hiệu quả kỹ

thuật) với thị trường sản phẩm (hiệu quả về giá) Nâng cao hiệu quả kinh tế có nghĩa là:

Tăng cường độ lợi dụng các nguồn lực về kinh tế, tự nhiên sẵn có trong hoạt động kinh tế đểphục vụ lợi ích con người, đó là đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội Bản chấtcủa việc tăng HQKT là làm thế nào để kết hợp tối ưu giữa 2 yếu tố đầu vào, đầu ra trongquá trình sản xuất nhằm đưa lại lợi ích cao nhất (nếu có thể)[7]

Tóm lại: HQKT là một phạm trù kinh tế - xã hội, phản ánh mặt chất lượng của hoạtđộng sản xuất kinh doanh, là đặc trưng của mọi nền sản xuất xã hội thể hiện mối tương quan

so sánh cả về tuyệt đối và tương đối giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra.Quan niệm HQKT ở các hình thái kinh tế khác nhau không giống nhau Tùy thuộc vào điềukiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của một nước, một vùng, một ngành sản xuất cụthể mà đánh giá theo những góc độ khác nhau sao cho phù hợp với tình hình thực tế[6]

HQKT sản xuất lâm nghiệp nói chung, HQKT TRSX nói riêng là một vấn đề kháphức tạp bởi vì ngoài hiệu quả về mặt kinh tế thuần túy còn có hiệu quả về mặt xã hội, môitrường sinh thái, khó có thể lượng hóa được một cách đầy đủ

Từ trước đến nay việc trồng rừng thường được đánh giá cao về hiệu quả môi trườngsinh thái và hiệu quả xã hội, HQKT ít được bàn tới Chính vì thế, các cấp, các ngành, cácđịa phương chỉ mới quan tâm đến trồng RPH, đặc dụng nhằm phủ xanh đất trống đồi nóitrọc, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn tính đa dạng sinh học

Trong những năm gần đây thực hiện PTLN theo hướng xã hội hóa, việc TRSX đượcxem như làn gió mới thổi vào ngành kinh tế lâm nghiệp hiện đại Vì vậy, việc đánh giáHQKT TRSX là một đòi hỏi khách quan xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sự phát triển;đây là một vấn đề mới cần nghiên cứu để có giải pháp định hướng đúng trong quá trình chỉđạo sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế của đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 25

Việc đánh giá HQKT TRSX được thực hiện thông qua tổng hợp tính toán các chi phíđầu tư đối với từng loại cây trồng trên từng đơn vị diện tích (từ khi trồng, chăm sóc, quản lýbảo vệ đến lúc khai thác) và kết quả thu được từ việc khai thác diện tích rừng trồng nói trên.Nghiên cứu HQKT không chỉ dừng lại ở việc đánh giá mà thông qua đó tìm ra nhữngphương hướng và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả TRSX đưa lại thu nhập chínhđáng cho người nông dân, đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu,thúc đẩy kinh tế - xã hội môi trường PTBV; tăng GDP cho nền kinh tế.

Trong đánh HQ của RTSX, ngoài ý nghĩa kinh tế thuần túy đó là lợi ích mà RTSXmang lại cho doanh nghiệp, cho hộ gia đình, cần nhìn nhận hiệu quả môi trường, hiệu quả

xã hội mà RTSX mang lại Mặc dầu những giá trị trên khó có thể lượng hóa, quá trình đánhgiá cần có những nhìn nhận chính xác những giá trị trên [15]

1.4.5.2 H th ng ch tiêu phân tích ánh giá hi u qu kinh t TRSX ệ ố ỉ đ ệ ả ế

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKT TRSX không những phản ánh được mối quan hệgiữa các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất hay giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được

mà còn phản ánh được trình độ quản lý Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKTTRSX phải xuất phát từ bản chất hiệu quả Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuấtlâm nghiệp nói riêng việc nâng cao HQKT là vấn đề hết sức quan trọng Từ các nguồn lực

có hạn, người nông dân phải lựa chọn các phương thức kết hợp như thế nào để đạt hiệu quảcao nhất Đánh giá HQKT của việc TRSX trong điều kiện kinh tế thị trường có những khókhăn nhất định bởi vì trong quá trình sản xuất yếu tố tư liệu sản xuất tác động vào quá trìnhsản xuất trong nhiều năm nhưng không đều; chu kỳ sản xuất dài nên chịu ảnh hưởng củabiến động thị trường, giá cả, điều kiện tự nhiên đến sản xuất và hiệu quả sản xuất[7]

Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về đánh giá HQKT TRSX HQKTtrong TRSX không chỉ xét trong 1 chu kỳ, ngắn hạn mà phải xét qua nhiều chu kỳ, dài hạngắn với PTBV Trong TRSX, HQKT bao gồm cả hiệu quả sinh học, bởi vì quá trình sinhtrưởng và phát triển của cây trồng diễn ra theo chu trình mang đặc tính sinh học riêng củatừng loại cây; việc dùng các biện pháp kỹ thuật tác động nhằm thay đổi chu trình sinh họccủa cây trồng theo hướng có lợi cho con người cũng là giải pháp nâng cao HQKT Ví dụ: rútngắn thời gian sinh trưởng làm tiết kiệm thời gian và chi phí; tác động kỹ thuật làm rút ngắntuổi thành thục công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm rừng trồng Năng suất cây trồngtuân theo quy luật năng suất cận biên giảm dần, sự phản ứng của năng suất cây trồng vớimức đầu tư sẽ bị giảm dần kể từ một điểm nào đó, điểm đó được gọi là điểm tối ưu sinhhọc Kể từ điểm này thì một đơn vị đầu vào tăng lên sẽ cho năng suất cây trồng tăng ít hơn

so với trước đó, nếu tiếp tục tăng mức đầu tư thì hiệu quả sẽ giảm dần[19] Đối với TRSXngoài HQKT đưa lại cho nội bộ ngành còn thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển nhưcông nghiệp chế biến, dịch vụ thương mại, xuất nhập khẩu, tạo môi trường phòng hộ tốt chosản xuất nông nghiệp và các ngành sản xuất khác, bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩyPTBV[9]

Trang 26

1.5 Cây keo lai và cây bời lời

1.5.1 Cây keo lai

Cây keo lai [5].tên khoa học là acacia auriculiormis × a mangium là tên gọi để chỉ giống lai

tự nhiên giữa keo tai tượng và keo lá tràm, được tuyển chọn từ những cây đầu dòng có năngsuất cao Cây keo lai có rễ có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm (rhizobium) nên cókhả năng lớn về cải tạo đất, tán lá keo lai phát triển cân đối, rễ phát triển sâu, cây cao đến30m, đường kính lên đến 60-80cm Cây keo lai thích nghi tốt ở hầu hết các dạng đất, có khảnăng chịu đựng khô hạn , có tác dụng chống xói mòn

Cây keo lai được đánh giá là một loại cây mang lại giá trị kinh tế cao Gỗ keo làm nguyênliệu cho nhà máy sản xuất nguyên liệu giấy, ván dăm, ván nhân tạo, làm hang mỹ nghệ xuấtkhẩu và đang được thị trường ưa chuộng Đặc biệt với cây keo lại có tuổi đời 10-15 năm sẽcho gỗ có giá trị kinh tế cao trong làm mộc, xẻ ván …Cây keo lai ngoài nguồn lợi trực tiếpthu từ sản phẩm xẻ gỗ, còn có giá trị cải thiện môi trường sinh thái, cải tạo đất, nhất vùngđất nhiễm phèn, chống xói mòn Góp phần tạo thêm môi trường xanh , sạch

Tại tỉnh Quảng Trị hiện nay thu mua gỗ keo tại nhà máy hay trạm cân (5.2014) là:

Gỗ nguyên liệu giấy hoặc dăm gỗ yêu cầu đường kính > 3cm Ngoài rừng, thông thường gỗ

1.5.2 Cây bời lời đỏ

Bời lời đỏ (Litsea glutinosa) [5]., còn gọi là bời lời nhớt, bời lời dầu, nhớt mèo, mònhớt, là một loài thực vật thuộc họ Nguyệt quế (Lauraceae) Bời lời đỏ là loài cây gỗ trungbình, có thể cao tới 10m Vỏ thân nâu hoặc xám, mỏng, trong có chất nhớt Cành trưởngthành hình trụ, nhẵn; cành non có cạnh, nhiều lông Lá mọc so le, thường mọc thành cụm ởđầu cành, kích thược rất thay đổi, dài 7 – 20 cm, rộng 4 – 10 cm, hình bầu dục hay thuôndài, phía đáy lá tròn hoặc nhọn, đầu nhọn hay tù; cuống lá có lông; phiến lá dai, khó vò, khógiã nát, khi vò tiết ra chất nhớt Hoa mọc thành cụm, đơn tính cùng gốc, màu vàng nhạt.Quả mọng, hình cầu, màu đen Cây bời lời phân bố ở độ cao 600–700 m (so với mực nướcbiển), mọc nhiều ở nơi thấp trong rừng thứ sinh, thường gặp ở cửa rừng và ven khe suối lớn.Cây ưa sáng mọc nhanh, khả năng tái sinh hạt, chồi mạnh, thích hợp đất sét pha, ẩm, thườngmọc nơi đất có tầng dày, nhiều mùn Bời lời có thể trồng bằng nhiều phương pháp: Trồngbằng chồi rễ của cây mẹ; trồng bằng cây con tái sinh trong rừng; trồng bằng hạt gieo thẳnghoặc trồng bằng cây con ươm trong bầu

Trang 27

Tất cả các bộ phận của bời lời đỏ đều có chất nhầy dính, nhiều nhất ở vỏ thân, thườngdùng để dính bột giấy, làm nhang.Lá được dùng làm thức ăn gia súc Quả được thu hái để

ép dầu làm sáp, chế xà bông Gỗ bời lời có màu nâu vàng, cứng không mối mọt, có thể sửdụng đóng đồ dùng, làm nguyên liệu giấy hoặc làm gỗ củi

Huyện Hướng Hóa hiện nay có khoảng 1000 ha bời lời, là một cây chủ lực trong chiếnlược xóa đói giảm nghèo của huyện Hiện nay thu mua bời lời được thương lái trực tiếp muatại vườn với giá (5.2014) là 20.000 đồng/ kg vỏ khô, một khối gỗ gồm vỏ là 1,2 triệu đồng

1.6 Những văn bản chính sách, cơ sở pháp lý có liên quan đến chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất

- Luật đất đai năm 2003 và luật đất đai sửa đổi năm 2010

- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

- Nghị định số 18/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của chính phủ thi hành luật đất đai

- Nghị quyết số 30a/2008/ NQ-CP ngày 27/12/2008 về chương trình hỗ trợ giảmnghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo

- Quyết định số 07/2006/ QĐ- TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc

và miền núi giai đoạn 2006-2010

- Quyết định số 33/2007/ QĐ-TTg ngày 05/03/2007 của Thủ tướng Chính phủ vềchính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giaiđoạn 2007-2010

- Quyết định số 160/2007/QĐ-TTg ngày 17/10/2007 của Thủ tường Chính phủ vềviệc phê duyệt đề án: “ Phát triển kinh tế-xã hội các xã tuyến biên giới Việt Nam-Lào, ViệtNam-Campuchia đến 2010”

- Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 6/ 7/ 2007 của Thủ tướng Chính phủ sửađổi, bổ sung một số điều của quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/ 7/ 1998 về mục tiêu nhiệm

vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

- Quyết định số 164/ 2008/ QĐ-TTg ngày 11/ 12/ 2008 của Thủ tướng Chính phủ vềsửa đổi, bổ sung Điều 1 của QĐ số 100/2007/ QĐ-TTg ngày 06/07/2007 của Thủ tướngChính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 661/QĐ/TTg ngày29/07/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thựchiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

- Quyết định số 147/ 2007/ QĐ-TTg ngày 10/ 9/ 2007 về một số chính sách phát triểnrừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015

Trang 28

Canh tác nương rẫy

Giới hạn đất đaiTiến sâu vào rừng

Đất có sổ đỏ giao cho Hộ gia đình

Cấm canh tác nương rẫy

Keo, cây NN cấp

Quy chế khai thác rừng tự nhiên

Trồng rừng trên đất nương rẫy

Bời Lời, cây bản địa, được trồng lâu năm

Rừng trồng

Hỗ trợ gạo, giống

Người dân đảm bảo được cuộc sống đến khi thu hoạch?

Giới hạn đất cho cây lương thực

Sinh kế người dân ?

- Thông tư liên bộ số 52/ 2008/TTLT - BNN - BTC ngày

14/ 4/ 2008 về hướng dẫn trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc

thiểu số ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy

05/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT phê

duyệt đề án: "Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm

nghiệp bền vững trên đất nương rẫy giai đoạn 2008

-2012"

- Chỉ thị số 15/ 2007/ CT-BNN ngày 13/2/2007 của

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc

tăng cường công tác quản lý canh tác nương rẫy

- Công văn số 2963/ BNN-KL ngày 26/ 10/ 2007

của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc tăng

cường tổ chức triển khai thực hiện giao rừng, cho thuê rừng

và quản lý nương rẫy

- Văn bản số 23/ BNN- LN ngày 06/01/2006 của Bộ

NN &PTNT về việc xây dựng Dự án hổ trợ người dân vùng

cao canh tác nông lâm nghiệp thay cho nương rẫy truyền thống

- Văn bản số 3165/ BNN-LN ngày 28/11/2006 của Bộ NN&PTNT về việc xây dựng

Dự án hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp thay cho nương rẫy truyền

thống

1.7 Khung nghiên cứu

Trang 29

Sơ đồ 1.1 khung nghiên cứu

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được hiện trạng của việc chuyển đổi đất nương rẫy canh tác kém hiệuquả sang trồng rừng sản xuất trên địa bàn vùng nghiên cứu

- Phân tích các bên liên quan tác động vào quá trình chuyển đổi đất nương rẫy sang đất rừngtrồng

- Phân tích được những tác động của rừng trồng sản xuất đến kinh tế và các vấn đề xãhội, môi trường trên địa bàn huyện

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả rừng trồng tại địa phương và pháttriển trồng rừng một cách bền vững

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

2.2.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Hướng Hóa

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế xã hội

2.2.2.Đánh giá hiện trạng quy hoạch sử dụng và biến động của nương rẫy, rừng trồng ở huyện Hướng Hóa

- Hiện trạng nương rẫy ở huyện Hướng Hóa

Trang 30

- Tình hình việc thực hiện chuyển đổi đất nương rẫy sang đất trồng rừng tại khu vực.

- Thay đổi diện tích và phương thức canh tác nông nghiệp, rừng trồng tại vùng cóchuyển đổi

2.2.3 Phân tích tác động của chuyển đối đất nương rẫy sang TRSX đến sinh kế người dân

- Phân tích các nhân tố và vai trò của các bên liên quan tác động vào tiến trìnhchuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng

- Đánh giá những tác động việc chuyển đổi đất nương rẫy sang rừng trồng Keo Lai

và Bời Lời đến người dân vùng nghiên cứu:

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.3.1.1 Thu thập tài liệu thứ cấp

Sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu đã có của các cơ quanliên quan như: Ủy ban nhân dân các xã, UBND huyện Hướng Hóa, Phòng nông nghiệp vàPTNT huyện, Phòng tài nguyên và môi trường huyện, Chi cục lâm nghiệp Quảng Trị, Trạmkhí tượng Thủy văn thành phố Đông Hà, được cập nhật qua các thời kỳ và trong năm.Thông tin thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu, bao gồm:

- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý; địa hình; khí hậu, thủy văn; thổ nhưỡng,

- Các tài liệu về điều kiện kinh tế xã hội: Về dân số, lao động và thu nhập; Thực trạng

cơ sở hạ tầng và văn hóa xã hội; phong tục tập quán trên địa bàn huyện,…

- Các tài liệu về thống kê đất đai: Tổng diện tích tự nhiên của huyện; sổ thống kê diện tích;tài liệu về diện tích đất sử dụng có thời hạn; các tài liệu về tình hình thâm canh,

- Các tài liệu điều tra khảo sát đã tiến hành trên địa bàn: Các tài liệu khảo sát về thổnhưỡng, xói mòn đất; tài liệu khảo sát thực vật, tài nguyên rừng; khảo sát về thủy văn vàthủy nông; khảo sát về giao thông,

Trang 31

- Các tài liệu về bản đồ: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ phân bố sử dụng đấtcủa huyện Hướng Hóa,…

2.3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Thông tin sơ cấp được thu thập bằng phương pháp đánh giá có sự tham gia PRA(Participatory Rural Appraisal) như phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

và quan sát thực tế

Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông tin từ những người cóliên quan như Chi cục Lâm Nghiệp Quảng Trị, Phòng Nông Nghiệp huyện Hướng Hóa,lãnh đạo xã, thôn, chuyên gia lâm nghiệp Phỏng vấn sâu và tổ chức thảo luận nhóm tại 3thôn thuộc 3 xã vùng nghiên cứu, có sự tham gia của những già làng, người trung niên, đạidiện Hội phụ nữ, người nghèo và không nghèo Công cụ PRA đã được sử dụng trong thảoluận nhóm là: Lịch hoạt động mùa vụ, bản đồ thôn bản

Sử dụng bảng hỏi phỏng vấn 20/65 chủ hộ thôn Tà Núc xã Hướng Lộc, 22/54 chủ hộthôn Kỳ Rỉ xã A Xing, 18/ 47 chủ hộ thôn Pả Xây xã Thuận huyện Hướng Hóa tỉnh QuảngTrị Thời gian phỏng vấn một bảng hỏi từ 30 – 35 phút Nội dung chính của bảng hỏi làthông tin về rừng trồng keo lai và bời lời cũng như những thay đổi về sinh kế, an ninh lươngthực hộ gia đình trong vài năm lại đây

Thảo luận nhóm hộ, sau khi thu thập đủ bảng hỏi, để có cái nhìn tổng quan cũng như trảlời một số câu hỏi phát sinh như gia đình bạn có vấn đề lương thực, cách đảm bảo lươngthực trong một chu kỳ kinh doanh rừng trồng, các bên liên quan đến rừng trồng

2.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Phương pháp đánh giá tác động kinh tế

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế bao gồm thu nhập hộ, chi tiêu trong hộ gia đình,mức tăng thu nhập cho người dân

Phương pháp phân tích đánh giá tác động xã hội

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội gồm: Mức độ đầu tư, khả năng ứng dụng của các

mô hình, khả năng cho sản phẩm, giải quyết việc làm, mức độ rủi ro của mô hình, Một môhình rừng trồng có mức đầu tư thấp, kỹ thuật xây dựng mô hình đơn giản, nhanh chóng chosản phẩm, sử dụng lao động hiệu quả, mức độ rủi ro thấp nhất sẽ được người dân chấp nhận

Để đánh giá các chỉ tiêu này chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá có sự tham giacủa người dân (PRA) để so sánh mức độ chấp nhận của xã hội với từng mô hình canh tác

Phương pháp phân tích đánh giá tác động về môi trường

Vì thời gian thực hiện đề tài có hạn, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu các yếu tố địnhlượng có ảnh hưởng trực tiếp của rừng đến môi trường, mà chỉ đánh giá hiệu quả môi trường

Trang 32

thông qua việc phỏng vấn người dân trong địa bàn đối với khả năng bảo vệ đất chống xói mòncủa rừng trồng và kế thừa một số công trình nghiên cứu khoa học trong nước đã được côngbố.

Phương pháp phân tích thông tin

- Sử dụng phương pháp phân tích SWOT (Strong, Weakness, Opportunity, Threaten)

để phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để đánh giá phát triển rừngtrồng với dân địa phương

- Sử dụng sơ đồ Venn để phân tích vai trò của các bên liên quan trong phát triển trồngrừng theo cách nhìn của lãnh đạo địa phương và người dân

Trang 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hướng Hóa

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Hướng Hoá là huyện miền núi vùng cao, biên giới nằm về phía Tây của tỉnh QuảngTrị, là một trong mười đơn vị hành chính của tỉnh Quảng Trị:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình

+ Phía Tây và Nam giáp nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

+ Phía Đông giáp huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrông

Bản đồ 3.1 Bản đồ hành chính huyện Hướng Hóa, điểm nghiên cứu mẫu

Toàn huyện có 22 đơn vị hành chính, trong đó có 20 xã và 02 thị trấn ( Khe Sanh vàLao Bảo ) với 13 xã đặc biệt khó khăn, 11 xã giáp với biên giới Lào có cửa khẩu quốc tế

Trang 34

Lao Bảo nằm trên trục đường quốc lộ 9 nối liền với các nước trong khu vực: Lào, Thái Lan,

My An Ma và khu vực miền Trung Việt Nam Có đường biên giới dài 156 km, tiếp giáp với

3 huyện biên giới bạn Lào

Diện tích tự nhiên toàn huyện (2013) là: 115.283,14 ha Dân số đến cuối năm 2013 là79.978 người Có 3 dân tộc sinh sống chủ yếu là Vân Kiều 34.396 người, Pa Kô 4200 người

và dân tộc Kinh 41.266 người và 166 người là một số dân tộc khác [12]

3.1.1.2 Địa hình

Hướng Hoá với tổng diện tích tự nhiên là 115.283,14 ha (2013) Trong đó:

+ Diện tích đất khu dân cư chiếm 0,5 %

+ Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 64,6%

+ Diện tích đất chuyên dùng chiếm 1,1 %

+ Diện tích đất nông nghiệp 17,6 %

+ Còn lại là đất chưa sử dụng

Địa thế núi rừng ở Huyện Hướng Hoá rất đa dạng, núi và sông xen kẻ nhau tạo thành

đị hình chia cắt, sông suối bắt nguồn từ núi cao

3.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

a/ Thời tiết khí hậu

Khí hậu mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đời gió mùa, quanh năm nóng

ẩm Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23.080C Lượng mưa bình quân là 199.9 mm/năm

Khí hậu Huyện Hướng Hoá được chia ra 3 vùng tiểu khí hậu mang những sắc tháikhác nhau

+ Tiểu vùng khí hậu Đông - Trường Sơn: Gồm các xã nằm phía Bắc của huyện ( HướngLập, Hướng Việt, Hướng Linh, Hướng Sơn ) đây là vùng chịu ảnh hưởng rõ nét của nhiệt đới giómùa Đông Bắc Nền nhiệt tăng cao vào mùa nống và chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khônóng, nhiệt độ bình quân cả năm tương đối cao 23.080C

+ Tiểu vùng khí hậu chuyển tiếp giáp các xã Hướng Phùng, Hướng Tân, Tân Hợp,Tân Liên, Tân Lập, Húc và thị trấn Khe Sanh ) là vùng chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậugiao thoa giữa Đông và Tây Trường Sơn Nền khí hậu tương đối ôn hoà trong năm, mangsắc thái Á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm là 23.080C .Đặc biệt thị trấn Khe Sanh nằm ởgiữa đỉnh Trường Sơn nên có khí hậu khá lí tưởng, là lợi thế cho việc phát triển du lịch vànghỉ dưỡng

+ Tiểu vùng khí hậu Tây Trường Sơn: còn lại nằm ở phía Tây Nam của Huyện làvùng chịu ảnh hưởng rõ nét của chế độ khí hậu nhiệt đới với nền nhiệt cao hầu như quanhnăm, nhiệt độ trung bình năm là 23.080C

Trang 35

Các tiểu vùng khí hậu đã tạo cho Huyện Hướng Hoá là vùng có tài nguyên khí hậu đadạng, đây thực sự là một trong những thế mạnh để phát triển nội lực và thu hút đầu tư vàođịa bàn

b/ Chế độ thuỷ văn

Huyện Hướng Hoá có nguồn nước dồi dào từ những con sông: Xê Păng Hiêng, XêPôn, Rào Quán và hệ thống ao hồ, hàng trăm con suối khe nhỏ nước ngầm đáp ứng nhu cầusinh hoạt và sản xuất của nhân dân Đặc biêt, công trình thuỷ lợi-thuỷ điện Quảng Trị, trênsông Rào quán có giá trị đầu tư hơn 2000 tỉ đồng đã hoàn thành cung cấp điện cho QuảngTrị và hoà vào mạng lười điện quốc gia với công suất 64 MW Ngoài ra còn có các côngtrình thuỷ điện Hạ Rào Quán và thuỷ điện La La, tạo điều kiện phát triển điện lưới trên địabàn huyện nói riêng và tỉnh nhà nói chung, đồng thời tưới tiêu phục vụ sản xuất nôngnghiệp cho bà con tại Huyện

3.1.1.4 Tài nguyên đất

Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên 115.283,14 ha, trong đó diện tích đang sửdụng cho các mục đích là 96658.8 ha, chiếm 83,84 % so với tổng diện tích tự nhiên Đất đaihình thành và phát triển trên địa hình phức tạp và nhiều đá mẹ khác nhau, do đặc điểm thổnhưỡng khá đa dạng [12]

Đất đai với nhiều loại đất bao gồm các loại:

+ Đất mùn vàng đỏ trên đá granit và đá granit-nai chiếm 5,26%

+ Đất đỏ vàng trên đá granit, trên đá granit-nai, trên đá gơnai, trên đá phiến sét chiếmtổng là 73,1%

+ Đất thung lũng dốc tụ 0,4%, đất xói mòn trơ sỏi đá 0,83%

+ Đất vàng nhạt trên đá cát 13,61%, đất nâu tím trên đá phiến tím 3,58%

+ Đất nâu đỏ trên đá bazan 2,525, đất vàng nâu trên đá bazan 0,02%

+ Đất phù xa không được bồi đắp 0,4%, đất phù xa suối 0,28%

Với các loại đất như vậy rất thuận tiện cho việc phát nông nghiệp, trồng rất nhiều loạicây đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, cao su và các loại cây ăn quảnhư nhãn, xoài chuối Các loại đất đỏ tập trung chủ yếu các xã đường chính và một số xãphía bắc, còn các loại đất khác chủ yếu các xã phía tây nam sát biên giới Lào

3.1.1.5 Tài nguyên rừng Hướng Hóa

Theo số liệu kiểm kê rừng và kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng năm 2013 thì diệntích đất lâm nghiệp của huyện là 74.663 ha, trong đó: đất ừng phòng hộ 29468,2 ha, đấtrừng đặc dụng 23505,6 đất rừng trồng 21.689,2 ha Tổng diện tích rừng là 49.712,9 ha (diệntích rừng tự nhiên là 42.827,5 ha và rừng trồng là 6.885,4 ha) Rừng ở trên địa bàn đượcphân thành 3 loại: Rừng tự nhiên đặc dụng: 21.247,1 ha; rừng tự nhiên phòng hộ: 18.219,2ha; rừng tự nhiên sản xuất: 10.246,6 ha Rừng tự nhiên phân theo chủ quản lý: Khu Bảo tồn

Trang 36

thiên nhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa chiếm 23.300 ha (rừng tự nhiên 21.477,1 ha) Rừng tựnhiên của Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQL RPH) Hướng Hóa-Đakrông: 4.542,4 ha Rừng

tự nhiên của UBND các xã: 16.808 ha

Rừng ở Hướng Hóa có gía trị đa dạng sinh học cao, đặc biệt ở Khu Bảo tồn thiênnhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa Hệ sinh thái chủ yếu của khu BTTN là rừng kín, mưa ẩmnhiệt đới, có độ cao dưới 600 - 800 m Đặc biệt độ che phủ của rừng lên đến 93,2%; trong

đó rừng nguyên sinh chiếm gần 70%, thuộc nhóm có độ che phủ rừng cao nhất nước Tạikhu BTTN này có 1.009 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 548 chi và 138 họ, trong đó có

39 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới Ngoài ra, khu BTTN còn có tính đadạng sinh học cao về cấp độ loài, thể hiện ở giới hạn phân bổ và số lượng loài lớn trong một

họ Các nghiên cứu cho thấy có nhiều loài thực vật thuộc cả ba luồng di cư, gồm luồng thựcvật Bắc Việt Nam - Trung Hoa, luồng thực vật Vân Nam - Quý Châu, luồng thực vậtMalaysia - Indonesia có biên độ sinh thái ở khu vực này

Về loài thú thì trong 72 loài có 11 loài được ghi nhận trong sách đỏ thế giới Có 7 loài đặchữu như sao la, mang lớn mang Trường Sơn, Vọc Hà Tĩnh, Chà vá chân nâu Khu hệ chim

có 206 loài, trong đó có 3 loài đặc hữu với sự góp mặt của gà lôi lam mào trắng, gà soTrung Bộ, Chích chạch má xám Điều đáng quan tâm là 12 loài thú bị đe dọa ở cấp quốcgia và quốc tế như tê tê Java, chà vá chân nâu, vượn đen má trắng, mang lớn, bò tót, sao la đều có mặt tại khu BTTN này

Trong những năm qua do nạn khai thác tài nguyên rừng bừa bãi, nạn đốt phá rừng làmnương rẫy vẫn còn xảy ra ở một số vùng có đồng bào dân tộc làm cho tài nguyên rừng bịsuy giảm nghiêm trọng, xu thế sản lượng và diện tích rừng giàu giảm, rừng trung bình, rừngnghèo và rừng phục hồi tăng lên Diện tích đất chưa sử dụng của toàn huyện còn lại là20.776,2 ha, chiếm 18% so với tổng diện tích tự nhiên Tình trạng trên đặt ra cần phải cóphương thức khai thác đất đai và tài nguyên rừng một cách hợp lý, gắn công tác bảo vệrừng, chăm sóc rừng với giao đất giao rừng cho hộ gia đình sử dụng để trồng rừng sản xuất,giải quyết việc làm, tạo thu nhập, làm giảm áp lực về đời sống của nhân dân lên rừng tựnhiên [12], [22]

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

3.1.2.1 Dân số, lao động và phân bố dân cư

Dân số toàn huyện năm 2013 là 80.624 người, trong đó dân cư sống ở vùng nông thôn

là 58.637 người, chiếm 72,72% Cơ cấu dân số không có sự biến động đáng kể giữa nam và

nữ Cụ thể nữ chiếm 50,43% tương ứng 40.666 người Mật độ dân số trung bình là 69người/km2

Trang 37

Phân bố lực lượng lao động: tổng số lao động trong độ tuổi hiện có trong toàn huyện là

41076 người, trong đó lao động nữ 20.346 người chiếm tỷ lệ 49,56 % lực lượng laođộng [12]

3.1.2.2 Tình hình sử dụng đất

Hướng Hóa là huyện có quy mô về diện tích và dân số thuộc loại khá của tỉnhQuảng Trị, có lực lượng lao động dồi dào và có điều kiện khả năng để phát triển một nềnkinh tế tương đối toàn diện: nông lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ du lịch, cửa khẩuquốc tế Đất đai là thế mạnh và là tài nguyên có ý nghĩa to lớn trong chiến lược pháttriển kinh tế xã hội của huyện Kết quả thống kê hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất ởhuyện Hướng Hóa được thể hiện ở Bảng 3.1 và Biểu đồ 3.1

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Hướng Hóa năm 2013

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hướng Hóa,2013.)

Trang 38

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hướng Hóa,2013.)

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu sử dụng đất Hướng Hóa

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Hướng Hóa là 115.283,14 ha Trong đó: Đất sảnxuất nông nghiệp là 15.430,1 ha chiếm 13,4 % tổng diện tích, đất Lâm nghiệp là 74.663,0 ha,chiếm 64,8% tổng diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp là 4.286,5 ha chiếm 3,7 % vàcòn lại đất chưa sử dụng chiếm 18,1%:

+ Đất dùng cho sản xuất nông nghiệp là 15.430,1ha, chiếm 13,4 % bao gồm: Đất bằng

phẳng có độ dày tầng đất tương đối lớn, đây là hàm lượng mùn dùng cho trồng cây hàng nămnhư: Lúa, Lạc, Sắn,…và cây lâu năm như: Cao su, Hồ tiêu, Chuối, Bơ, Xoài

+ Đất dùng cho mục đích lâm nghiệp là 74.663,0 ha, chiếm 64,8 % tổng diện tích tự nhiêncủa huyện Trong đó, đất rừng sản xuất là 21.689,2ha, đất đồi núi có độ dốc lớn

Diện tích đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp là 4.286,5 ha, chiếm 3,7 % tổngdiện tích đất tự nhiên Trong số diện tích này đã được sử dụng ổn định vào mục đích đất ở,đất chuyên dùng, đất tôn giáo, đất sông suối mặt nước chuyên dùng và các loại đất phi nôngnghiệp khác

Đất chưa sử dụng còn lớn là 20.776,2 ha, chiếm 18,1% tổng diện tích đất tự nhiên gồmcác loại đất: Đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng và núi đá không có rừng cây.Phần diện tích đất chưa sử dụng phần lớn là những khu vực khó cải tạo đưa vào canh táchoặc không thể canh tác được còn một phần nhỏ diện tích do canh tác được nhưng hiệu quảkinh tế không cao nên người dân không đầu tư sử dụng Trong những năm tới huyện có kếhoạch đầu tư đưa phần diện tích đất chưa sử dụng do hiệu quả canh tác trước đây chưa caovào sử dụng với một phương thức canh tác hiệu quả hơn Đây là quỹ đất chưa được quyhoạch khai thác sử dụng Do đó cần phải quy hoạch cụ thể đưa vào phục vụ cho sản xuấtnông lâm nghiệp trong những năm tới Việc khai thác, quản lý và sử dụng tốt quỹ đất chưa

sử dụng sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho việc bảo vệ đất đai, khí hậu, nguồn nước, cânbằng sinh thái và hạn chế những thiên tai như hạn hán, lũ lụt

Tại 3 thôn điểm nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi đáng kể về diện tíchcũng như phương thức, tư duy canh tác mới cũng được áp dụng Diện tích đất của 60 hộ giađình nghiên cứu như sau:

( Nguồn: Số liệu điều tra hộ, 2014.)

Trang 39

Biểu đồ 3.2 Diện tích đất hộ gia đình tại 3 thôn điểm nghiên cứu

Theo phiếu điều tra, diện tích đất trung bình của các hộ gia đình nghiên cứu là 2.15ha.Diện tích đất phân bố khá đồng đều giữa các hộ gia đình, 85 % hộ dân có diện tích đất từ1ha – 3 ha Những hộ dân có ít đất từ 0-1ha là 5 hộ tập trung vào những hộ trẻ , mới tách hộhoặc những hộ già, neo đơn trước kia có nhiều đất nhưng nay chia cho con cháu, chỉ giữ lạinhững mảnh đất gần nhà để tiện canh tác Những hộ dân có trên 3 ha là 4 hộ, tập trung vào

hộ đông con, có sức lao động

3.1.2.3 Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp

Trong sản xuất nông nghiệp, Hướng Hoá đẫ tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng vậtnuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất các sảnphẩm có năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, gắn sản xuất nông nghiệp với côngnghiệp chế biến, chăn nuôi phát triển cả số lượng lẫn chủng loại Uỷ ban nhân Huyện đã tậptrung chỉ đạo và tăng cường về các xã, cơ sở hướng dẫn cho bà con sản xuất đúng thời vụ,

áp dụng các biện pháp khoa học kỷ thuật thâm canh tăng năng suất và kết hợp phòng trừ sâubệnh, các địa phương tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi có hiệu quả.Tốc độ tăngtrưởng ngành công nghiệp bình quân hàng năm đạt 10,9 %, giá trị sản xuất nông nghiệpbình quân đạt khoảng 240 tỉ ( giá cố định 1994 ) chiếm tỉ trọng 13,2 % tổng giá trị kinh tế Công tác phát triển và bảo vệ rừng luôn được chú trọng, công tác chăm sóc bảo vệ rừngđầu nguồn, rừng phòng hộ luôn được tăng cường Nhờ đó đã hạn chế được tình trạng đốtrừng làm nương rẫy, phong trào trồng và bảo vệ rừng được phát triển rộng khắp với nhiềuhình thức phong phú và mở rộng đến các xã vùng sâu vùng xa, bình quân hằng năm trồngmới rừng tập trung đạt trên 550 ha và trên 5 vạn cây phân tán bằng nguồn vốn 661 và nguồnđầu tư của các tổ chức hộ gia đình trên địa bàn Công tác xã hội hoá nghề rừng ngày càngphát triền mạnh mẻ, xây dựng và thực hiện đề án giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình, cộngđồng dân cư quản lí, bảo vệ đạt nhiều kết quả đáng kể Các hoạt động về phòng chống cháyrừng, mua bán vận chuyển, khai thác lâm sản trái phép luôn được tăng cường và xử lí triệt

để các trường hợp sai phạm Tổ chức khoanh nuôi bảo vệ được 29.232 ha rừng, nâng độ chephủ rừng đạt 42,8 %

Nhìn chung, việc phát triển cây trồng trong các hệ thống vườn rừng, nông lâm kết hợpcủa các hộ nông dân, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tập thể, trong huyện đã khôngngừng tận dụng diện tích đất chưa sử dụng, thâm canh năng suất cây trồng Nhưng bên cạnh

đó do mức đầu tư thấp, trồng quảng canh, chính những nguyên nhân trên đã làm cho diệntích, năng suất, sản lượng cây trồng của huyện còn thấp, chưa phát huy hết tiềm năng các hệthống cây trồng thế mạnh trên đất đồi Qua đây có thể khẳng định rằng việc sản xuất nônglâm nghiệp của huyện còn mang tính tự cung tự cấp cao Người dân chưa chú trọng tới pháttriển trồng các loài cây (công nghiệp, cây lâm nghiệp) có tình hàng hóa

Trang 40

Mặt khác cơ sở hạ tầng trên địa bàn Huyện chậm phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế

xã hội còn yếu kém tạm bợ, chất lượng nguốn lực và lao động thấp kể cả trình độ năng lực

và quản lí, chuyên môn kỷ thuật và nhiều vấn đề xã hội bức xúc khác chưa thể đáp ứngđược yêu cầu để thu hút các nhà đầu tư.Tuy nhiên chỉ sau 11 năm 1997– 2008 ) bằng nổ lựctranh thủ nhiều nguồn vốn của trung ương, của tỉnh và các dự án của các tổ chức phi chínhphủ, đến nay Huyện đẫ tập trung đầu tư xây dựng cơ sở điện đường trường trạm khôngngững hoàn thiện, nhiều công trình được đầu tư xây dựng và đã đưa vào sử dụng đem lạihiệu quả phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống dân sinh

Đến nay 22/22 xã thị trấn đã có điện lưới quốc gia vào trung tâm xã, đường giao thông vàotrung tâm 20/22 xã, 01 bệnh viện đa khoa với quy mô trên 100 giường bệnh phục vụ chonhu cầu khám chữa bệnh không chỉ cho người dân trong Huyện mà còn giúp đỡ các huyệnbiên giới bạn Lào, sân vận động có sức chứa 15000 chổ ngồi và trung tâm văn hoá - thể dụcthể tha đưa vào sử dụng tháng 4 – 2007 Mạng bưu chính viện thông ngày càng được nângcấp và mở rộng, hiện 100 % các xã thị trấn đều có điện thoại vào trung tâm xã [21]

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc phát triển Trồng rừng sản xuất tại địa phương

* Thuận lợi:

- Đất đai của huyện cũng rất đa dạng và nhiều tiềm năng thích hợp cho nhiều loại câytrồng Với quỹ đất đỏ bazan tương đối nhiều phân bố dọc hai bên Quốc lộ 9 và vùng Lìa tạocho Hướng Hóa có điều kiện thuận lợi để phát triển cây công nghiệp dài ngày như Cao su,

Hồ tiêu và trồng rừng sản xuất

- Điều kiện cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, khả năng cung ứng vật tư và các nhucầu cần thiết cho sản xuất nông - lâm nghiệp có nhiều mặt thuận lợi so với các huyện ởmiền núi Đặc biệt có Quốc Lộ 9 băng qua Huyện và cửa Khẩu quốc tế Lao Bảo giúp giaothương hàng hóa thuận lợi và mở ra cơ hội phát triển kinh tế Huyện

- Tài nguyên khoáng sản đa dạng, tuy trữ lượng không lớn lắm nhưng có ý nghĩa quantrọng trong phát triển kinh tế của huyện, đặc biệt là vật liệu xây dựng

- Người dân Hướng Hóa có truyền thống Cách mạng, một lòng sắc son với Đảng,quyết tâm xây dựng quê hương giàu về kinh tế, ổn định chính trị, phát huy nội lực và tiềm

Ngày đăng: 19/08/2015, 14:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Sự thay đổi diện tích rừng Việt Nam - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 1.1. Sự thay đổi diện tích rừng Việt Nam (Trang 13)
Bảng 1.2. Chỉ tiêu kỹ thuật cây giống một số loài cây TRSX phổ biến - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 1.2. Chỉ tiêu kỹ thuật cây giống một số loài cây TRSX phổ biến (Trang 20)
Sơ đồ 1.1. khung nghiên cứu - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Sơ đồ 1.1. khung nghiên cứu (Trang 29)
Bảng 3.1.  Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Hướng Hóa năm 2013 - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Hướng Hóa năm 2013 (Trang 37)
Bảng 3.2. Hiện trạng và sự thay đổi đất nương rẫy ở huyện Hướng Hóa - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 3.2. Hiện trạng và sự thay đổi đất nương rẫy ở huyện Hướng Hóa (Trang 42)
Sơ đồ 3.1. Chu kỳ canh tác nương rẫy trước năm 2000 và hiện nay tại Hướng Hóa - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Sơ đồ 3.1. Chu kỳ canh tác nương rẫy trước năm 2000 và hiện nay tại Hướng Hóa (Trang 44)
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả trồng rừng thay thế nương rẫy các xã nghiên cứu - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả trồng rừng thay thế nương rẫy các xã nghiên cứu (Trang 49)
Sơ đồ 3.2. Một chu kỳ rừng trồng Keo lai và Bời lời - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Sơ đồ 3.2. Một chu kỳ rừng trồng Keo lai và Bời lời (Trang 55)
Bảng 3.5. Chi phí trồng và chăm sóc 1 ha rừng trồng tại Hướng Hóa - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 3.5. Chi phí trồng và chăm sóc 1 ha rừng trồng tại Hướng Hóa (Trang 56)
Sơ đồ 3.3. Ảnh hưởng các nhân tố tới rừng trồng - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Sơ đồ 3.3. Ảnh hưởng các nhân tố tới rừng trồng (Trang 59)
Bảng 3.6. Phân tích vai trò của các nhân tố - Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị
Bảng 3.6. Phân tích vai trò của các nhân tố (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w