Do đó vấn đề nâng cao kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp, kinh nghiệm quản lý, thông tin thị trường, chuyển giao tiến bộ khoa học…Cho người dân để họ có đủ khả năng phát
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ THỊ MƯƠI
ĐÁNH GIÁ CÁC HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TẠI XÃ YÊN NHUẬN, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 2012 - 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khuyến nông
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với phương châm: “Ho ̣c đi đôi với hành” , “Lý thuyết gắn liền vớ i thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội” Trường đa ̣i ho ̣c Nông Lâm Thái Nguyên hàng năm đã tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tâ ̣p tốt nghiê ̣p Đây là cơ hô ̣i quý báu để sinh viên tiếp câ ̣n và làm quen với công viê ̣c sẽ làm sau khi ra trường Được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn Từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường , Ban chủ nhiê ̣m khoa Kinh tế và Ph át triển nông thôn tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt
nghiê ̣p: “Đánh giá các hoạt động khuyến nông tại xã Yên Nhuận - Huyện Chợ
Đồn - Tỉnh Bắc Kạn”
Đây là lần đầu tiên thực hiê ̣n mô ̣t khóa luâ ̣n Vì vậy, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhâ ̣n được sự góp ý kiến và phê bình từ quý thầy, cô giáo, các bạn sinh viên để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân tro ̣ng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiê ̣u nhà trường , Ban chủ nhiê ̣m Khoa Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn Đặc biệt cảm ơn sự tận tình giúp đỡ
của giảng viên ThS Dương Thị Thu Hoài là người truyền đạt cho tôi những kiến
thức bổ ích trong suốt quá trình thực hiê ̣n khóa luâ ̣n
Tôi xin được bày tỏ lòng b iết ơn đến các cán bộ của khuyến nông xã Yên Nhuận đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt kỳ thực tập tốt nghiệp trong thời gian tôi thực tập tai cơ quan Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ và nhân dân xã Yên Nhuận đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và tìm hiểu thông tin, số liệu tại địa phương
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Lý Thị Mươi
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Vai trò và chức năng của các tổ chức khuyến nông ở Việt Nam 18
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Yên Nhuận giai đoạn năm (2012-2014) 24
Bảng 4.2: Thể hiện năng suất cây trồng chính trong 3 năm (2012-2014) 29
Bảng 4.3: Số lượng vật nuôi của xã qua 3 năm ( 2012-2014) 31
Bảng 4.4: Số lượng cán bộ khuyến nông tại xã Yên Nhuận 33
Bảng 4.6: Các hoạt động khuyến nông trong giai đoạn( 2012-2014 ) 40
Bảng 4.7 Kết quả MHTD qua ba năm (2012 - 2014) 41
Bảng 4.8 Kết quả MHTD về trồng trọt qua 3 năm 42
Bảng 4.9: Bảng thể hiện mô hình trình diễn chăn nuôi 44
Bảng 4.10 Số lượng các lớp tập huấn kỹ thuật tổ chức qua giai đoạn
(2012-2014) 45
Bảng 4.11 Các lớp tập huấn trong giai đoạn (2012-2014) 47
Bảng 4.12 Kết quả hoạt động tham quan khuyến nông (2012-2014) 49
Bảng 4.13: Các hoạt động tham quan trong giai đoạn (2012-2014) 50
Bảng 4.14: Thông tin chung về các hộ điều tra 51
Bảng 4.15 Sự tham gia của người dân vào các hoạt động xây dựng MHTD 53 Bảng 4.16: Sự tham gia của người dân vào các hoạt động đào tạo, tập huấn 54 Bảng 4.17 Sự tham gia của người dân vào hoạt động thông tin tuyên truyền 56
Bảng 4.18 Đánh giá của người dân về CBKN 57
Bảng 4.19 Kiến nghị của người nông dân về hoạt động khuyến nông 58
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Vai trò của khuyến nông trong sự nghiệp phát triển nông thôn 5
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức khuyến nông Việt Nam 14
Hình 4.1 Sơ đồ thể hiện cơ cấu CBKN xã Yên Nhuận 33
Hình 4.2 Chức năng, nhiệm vụ của khuyến nông xã Yên Nhuận 36
Hình 4.3 Sơ đồ thể hiện phương thức chuyển giao tiến bộ KHKT tới người dân thông qua cán bộ khuyến nông 38
Hình 4.4 Sơ đồ thể hiện phương thức chuyển giao tiến bộ KHKT tới người dân thông qua nhóm sở thích và nông dân sản xuất giỏi 39
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
7 CNH-HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa
10 KHCN & MT : Khoa học công nghệ và môi trường
15 MH : Mô hình
16 ĐVT : Đơn vị tính
17 MHTD : Mô hình trình diễn
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 3
1.2.1.Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Các định nghĩa cơ bản về khuyến nông 4
2.1.2 Vai trò của khuyến nông 5
2.1.3 Chức năng của khuyến nông 6
2.1.4 Các nguyên tắc khuyến nông 6
2.1.5 Các phương pháp khuyến nông 7
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động khuyến nông 7
2.1.7 Nội dung hoạt động của KN 8
2.2 Tình hình nghiên cứ trong và ngoài nước 10
2.2.1 Vài nét về tổ chức hoạt động khuyến nông trên thế giới 10
2.2.2 Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam 12
2.2.3 Cơ sở thực tiễn tại huyện Chợ Đồn- tỉnh Bắc kạn 18
Trang 7Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 21
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 21
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 22
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 23
4.1.1.Điều kiện tự nhiên 23
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 23
4.2 Thực trạng hoạt động khuyến nông của xã Yên Nhuận - Huyện Chợ Đồn - Tỉnh Bắc Kạn 32
4.2.1 Căn cứ thành lập Khuyến Nông xã Yên Nhuận 32
4.2.2 Cơ cấu tổ chức CBKN xã 33
4.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của Khuyến Nông xã Yên Nhuận 36
4.2.4 Phương thức chuyển giao KHKT của khuyến nông xã Yên Nhuận 37
4.3 Đánh giá kết quả hoạt động khuyến nông xã Yên Nhuận giai đoạn (2012 - 2014) 40
4.3.1 Đánh giá về mô hình trình diễn 40
4.3.2 Hoạt động đào tạo tập huấn về kỹ thuật 45
4.3.3 Đánh giá kết quả hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến nông 48
4.3.4 Đánh giá kết quả hoạt động của tham quan hội thảo khuyến nông 49
4.3.5 Đánh giá kết quả hoạt động tư vấn dịch vụ 50
4.4 Đánh giá của người dân vào hoạt động Khuyến Nông trong giai đoạn (2012 - 2014) 51
4.4.1 Sự tham gia của người dân vào các hoạt động xây dựng MHTD 52
4.4.2 Sự tham gia của người dân vào hoạt động đào tạo, tập huấn kỹ thuật 53
Trang 84.4.3 Sự tham gia của người dân vào hoạt động thông tin, tuyên truyền khuyến nông 55
4.5 Một số kiến nghị của người nông dân đối với hoạt động khuyến nông xã Yên Nhuận 57
4.6 Một số nhận xét đánh giá chung về thực trạng công tác khuyến nông Xã Yên Nhuận 59
4.6.1 Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm 61
4.6.2 Những tồn tại và hạn chế 62
4.6.3 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến khuyến nông 63
4.7 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông xã Yên Nhuận 65
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
5.2 Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Có thể nói khuyến nông Việt Nam có từ thời Vua Hùng với nông nghiệp nước Văn Lang và nền văn minh lúa nước Trải qua các giai đoạn lịch sử, hoạt động khuyến nông với nhiều nội dung, hình thức khác nhau, đã góp phần rất lớn vào sự nghiệp phát triển sản xuất nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân Tuy nhiên, hoạt động khuyến nông chưa phát huy hết tác dụng do nhiều nguyên nhân mà ở mỗi địa phương cần có những giải pháp cụ thể thích hợp
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu,Việt Nam đã vươn lên để trờ thành một nước có nền nông nghiệp hàng hóa, về cơ bản đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông sản có thứ bậc trên thế giới: Đứng thứ nhất về xuất khẩu hạt tiêu, đứng thứ hai về xuất khẩu gạo, cà phê và hạt điều, Ngoài ra Việt Nam còn xuất khẩu nhiều loại nông sản có giá trị khác như rau quả, thịt lợn… Trong cơ chế mới, người nông dân luôn đứng trước thực trạng thiếu hụt thông tin về thị trường, giá cả để định hướng cho sản xuất Mặt khác trình độ sản xuất của phần lớn người dân còn yếu, thông tin KHKT đối với người dân còn ít Do đó vấn đề nâng cao kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp, kinh nghiệm quản lý, thông tin thị trường, chuyển giao tiến bộ khoa học…Cho người dân để họ có đủ khả năng phát triển sản xuất kinh doanh là một yêu cầu bức thiết trong vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay
Trước yêu cầu đó, công tác khuyến nông đã được củng cố và từng bước cải thiện cho phù hợp với tình hình mới Ngày 02/03/1993, Chính Phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông, Thông Tư Liên Bộ số 02/LB/TT ngày 02/08/1993 hướng dẫn thi hành nghị định 13/CP Từ khi ra đời Nghị định này đã đem lại nhiều kết quả khả quan cho nông nghiệp nông thôn, hệ thống khuyến nông nước ta không ngừng lớn mạnh kể cả về số lượng và chất lượng, với mạng lưới
Trang 10ngày càng hoàn chỉnh từ Trung Ương đến địa phương Tuy vậy sau hơn 10 năm thực hiện Nghị định 13/CP, công tác khuyến nông đó gặp không ít khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất, khoa học công nghệ và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã trình Chính phủ để sửa đổi, bổ sung một số nội dung hoạt động khuyến nông, thay thế cho Nghị định 13/CP Ngày 26/4/2005, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về khuyến nông, khuyến ngư Tiếp đến ngày 08/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông để sửa đổi, bổ sung một số nội dung Trong nghị định này quy định cụ thể hơn về nội dung hoạt động khuyến nông bao gồm: Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo cho người sản xuất và người hoạt động khuyến nông, thông tin tuyên truyền, trình diễn và nhân rộng mô hình, tư vấn và dịch vụ khuyến nông, hợp tác quốc tế về khuyến nông Tổ chức khuyến nông từ Trung ương tới địa phương cũng được quy định rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế quản lý Các chính sách khuyến nông cũng được điều chỉnh trong quy định này
Nằm trong cơ cấu tổ chức của khuyến nông Nhà nước, khuyến nông xã Yên Nhuận - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn trong vài năm trở lại đây đã có nhiều hoạt động tiêu biểu góp phần tích cực vào công cuộc phát triển nông nghiệp nông thôn của huyện, của tỉnh Song trong quá trình hoạt động khuyến nông vẫn còn gặp phải những khó khăn và thách thức cần giải quyết
Xuất phát từ thực tiễn trên và được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ Nhiệm Khoa Kinh tế & PTNT, cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ Trạm khuyến nông xã Yên Nhuận - huyện Chợ Đồn - tỉnh
Bắc Kạn, cô giáo Th.s Dương Thị Thu Hoài, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá các hoạt động khuyến nông tại xã Yên Nhuận - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 - 2014”
Trang 111.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá hoạt động khuyến nông ở xã Yên Nhuận - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn, để từ đó đề xuất một số giải pháp để khắc phục những hạn chế, nhằm nâng cao hiệu quả HĐKN trong thời gian tới
1.2.1.Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên, KT-XH của xã Yên Nhuận
- Đánh giá được thực trạng hoạt động Khuyến nông tại xã Yên Nhuận
- Đánh giá được kết quả hoạt động khuyến nông tại xã
- Phân tích được những đánh giá của người dân vào các HĐKN
- Đánh giá được một số kiến nghị của người dân đối với các HĐKN tại xã
- Phân tích được những yếu tố ảnh hưởng tới HĐKN tại xã Yên Nhuận
- Đưa ra được một số giải pháp nâng cao hiệu quả HĐKN tại xã
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức môn học, áp dụng những kiến thức lý thuyết vào trong
thực tiễn, bổ sung những kiến thức còn thiếu
- Rèn luyện các kỹ năng thu thập xử lý số liệu, viết báo cáo
- Có cái nhìn tổng thể về công tác khuyến nông
- Là tài liệu tham khảo cho trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa
Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn và sinh viên các khóa tiếp theo
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu qua việc đánh giá các hoạt động khuyến nông tại xã ta thấy được những cơ hội và thách thức trong thời gian tới làm cơ sở cho các nhà quản lý, các cán bộ khuyến nông có những căn cứ để lựa chọn phương pháp khuyến nông phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động khuyến nông đồng thời cải thiện đời sống nhân dân trong xã
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Các định nghĩa cơ bản về khuyến nông
Theo nghĩa Hán - Văn: “khuyến” có nghĩa là khuyến khích - khuyên bảo - triển khai, còn “nông” là nông - lâm - ngư nghiệp, nông dân, nông thôn “Khuyến nông” nghĩa là khuyên khích mở mang phát triển trong nông nghiệp
- “Khuyến nông được định nghĩa như thể là một tiến trình của việc lôi kéo quần chúng tham gia vào việc trồng và quản lý cây một cách tự nguyện”
- “Khuyến nông khuyến lâm được xem như một tiến trình của việc hòa nhập các kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại Các quan điểm, kỹ năng để quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để có khả năng vượt qua các trở ngại gặp phải”
- “Khuyến nông khuyến lâm là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn”
- “Khuyến nông khuyến lâm là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, các nhu cầu và giúp họ tự giải quyết lấy vấn đề chính của họ
- “Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường , trong đó có người già và người trẻ học bằng cách thực hành”
Qua rất nhiều khái niệm trên chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu khuyến nông theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Khuyến nông ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết lại với nhau chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn [5]
Trang 13Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là người nông dân Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ [1]
2.1.2 Vai trò của khuyến nông
2.1.2.1 Vai trò trong sự nghiệp phát triển nông thôn
Trong điều kiện nước ta hiện nay, trên 80% dân số sống ở các vùng nông thôn với 70% lao động xã hội để sản xuất ra những nông sản thiết yếu cung cấp cho toàn bộ xã hội như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến…Và sản xuất nông nghiệp chiếm 37 - 40% giá trị sản phẩm xã hội [1]
Hình 2.1 Vai trò của khuyến nông trong sự nghiệp phát triển nông thôn [1]
Thông qua các hoạt động khuyến nông, nông dân và những người bên ngoài cộng đồng có cơ hội trao đổi thông tin, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm lẫn nhau để phát triển sản xuất và nâng cao đời sống kinh tế xã hội Đặc biệt khuyến nông còn tạo
Phát triển nông thôn
Khuyến nông
Giao thông
Giáo dục
Chính sách
Tài chính
Công nghệ
Thị trường
Tín dụng
Trang 14ra cơ hội cho nông dân trong cộng đồng cùng chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm, truyền bá thông tin kiến thức và giúp đỡ nhau cùng phát triển
2.1.2.2 Vai trò trong chuyển giao khoa học công nghệ
Khuyến nông đóng vai trò là cầu nối giữa nông dân với các Viện, các Trường Đại học Nhờ vậy các tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng được triển khai, áp dụng trong sản xuất và đời sống của người dân [1]
2.1.2.3 Vai trò đối với nhà nước
Khuyến nông là một trong những tổ chức giúp nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển nông lâm nghiệp, nông thôn và nông dân
Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông nghiệp Trực tiếp góp phần cung cấp những thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến các cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định, cải tiến đề ra được chính sách phù hợp [1]
2.1.3 Chức năng của khuyến nông
- Đào tạo, tập huấn nông dân
- Thúc đẩy, tạo điều kiện cho nông dân đề xuất các ý tưởng, sáng kiến và thực hiện thành công các ý tưởng sáng kiến của họ
- Trao đổi truyền bá thông tin
- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương
- Giám sát và đánh giá các hoạt động khuyến nông
- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật mới, hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng
- Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển sản xuất quy mô nông trại
- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm [1]
2.1.4 Các nguyên tắc khuyến nông
Hoạt động khuyến nông phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
(1) Nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt, mệnh lệnh
Trang 15(2) Nguyên tắc không làm thay
(3) Nguyên tắc không bao cấp
(4) Nguyên tắc khuyến nông là nhịp cầu thông tin hai chiều
(5) Nguyên tắc khuyến nông không hoạt động đơn độc
(6) Nguyên tắc công bằng [1]
2.1.5 Các phương pháp khuyến nông
- Phương pháp cá nhân: Là phương pháp khuyến nông mà thông tin được
chuyển giao trực tiếp cho từng cá nhân hay hộ nông dân Phương pháp này được thực hiện bằng cách: Thăm và gặp gỡ, gửi thư hoặc điện thoại [1]
- Phương pháp nhóm: Là phương pháp khuyến nông mà thông tin được
truyền đạt cho một nhóm người có chung một mối quan tâm và nhằm mục đích giúp nhau phát triển Phương pháp này được thực hiện bằng cách: trình diễn, họp nhóm và thăm quan [1]
- Phương pháp thông tin đại chúng: Là phương pháp được thực hiện bằng
phương tiện nghe (đài), phương tiện đọc (sách, báo, tạp chí), phương tiện nhìn (tranh ảnh, mẫu vật), phương tiện nghe nhìn (phim video, phim nhựa, tivi) [1]
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động khuyến nông
- Về điều kiện tự nhiên: khuyến nông hoạt động trong môi trường nông thôn
Các điều kiện đất đai, khí hậu thủy văn quyết định cơ cấu cây trồng của một địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả công việc vì vậy CBKN cần nghiên cứu kỹ để đưa ra lời khuyên phù hợp cho người dân
- Điều kiện kinh tế xã hội
* Dân cư: Dân số nông nghiệp nước ta chiêm 74% trong đó lao động trẻ em
chiếm một tỷ trọng lớn Điều này rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên cũng đặt ra yêu cầu rất lớn đối với hoạt động khuyến nông đặc biệt là cán bộ khuyến nông khi mà sồ lượng cán bộ khuyến nông còn ít
* Trình độ văn hóa: Phân loại trình độ văn hóa trong cộng đồng dân cư, đặc
biệt là trình độ văn hóa của lao động nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc tiếp thu KHCN
Trang 16* Cơ sở vật chất kỹ thuật: Hệ thống thủy nông, điện, đường, trường, trạm,
công cụ máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới việc đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Người dân có điều kiện làm quen với máy móc thiết bị nên suy nghĩ cách làm đòi hỏi cao hơn yêu cầu những tiến bộ kỹ thuật mới hơn, hiệu quả hơn
* Chính sách cán bộ: Con người là chủ thể của mọi hoạt động, là nhân tố quyết
định trong quá trình phát triển xã hội, nhưng con người chỉ phát huy được những sáng tạo và nhiệt tình khi có một chính sách cán bộ đúng đắn, chế độ thù lao phù hợp
* Chính sách đào tạo và đào tạo lại cán bộ: Đây là vấn đề cấp bách trong
điều kiện chúng ta là thanh viên của chính thức của WTO, khi mà toàn câu hóa đã và đang đem lại những cơ hội rất lớn trong đó có thành tựu về KHCN, đồng thời cũng đặt ra thách thức lớn về vấn đề trình độ đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ KHKT nông ng hiệp nói riêng Thách thức đó đòi hỏi phải có chính sách, kế hoạch đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực để vươn lên theo kịp yêu cầu mới
2.1.7 Nội dung hoạt động của KN
Theo Nghị định 02 của Chính Phủ về khuyến nông, khuyến ngư, nội dung hoạt động khuyến nông, khuyến ngư gồm [8]:
Điều 4: Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo
3 Hình thức
a) Thông qua mô hình trình diễn
Trang 17b) Tổ chức các lớp học ngắn hạn gắn lý thuyết với thực hành
c) Thông qua các phương tiện truyền thông: Báo, đài, tờ rơi, tài liệu
(sách, đĩa CD - DVD)
d) Qua chương trình đào tạo từ xa trên kênh truyền thanh, truyền hình, xây dựng kênh truyền hình dành riêng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ưu tiên là đào tạo nông dân trên truyền hình
đ) Qua trang thông tin điện tử khuyến nông trên internet
e) Tổ chức khảo sát, học tập trong và ngoài nước
Điều 5: Thông tin tuyên truyền
1 Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua hệ thống truyền thông đại chúng và các tổ chức chính trị xã hội
2 Phổ biến tiến bộ khoa học và công nghệ, các điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, tạp chí khuyến nông, tài liệu khuyến nông, hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ, triển lãm, diễn đàn và các hình thức thông tin tuyên truyền khác, xuất bản và phát hành ấn phẩm khuyến nông
3 Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin của hệ thống thông tin khuyến nông
Điều 6: Trình diễn và nhân rộng mô hình
1 Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định hướng của ngành, các
mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm
2 Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp
Trang 183 Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh nông nghiệp hiệu quả và bền vững
4 Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình diễn, điển hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng
Điều 7: Tư vấn và dịch vụ khuyến nông
1 Tư vấn và dịch vụ trong các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này về:
a) Chính sách và pháp luật liên quan đến phát triển nông nghiệp nông thôn
b) Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tổ chức, quản lý để nâng cao năng suất, chất lương, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
c) Khởi nghiệp cho chủ trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ về lập dự án đầu
tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạo lao động, lựa chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường
d) Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bảo hiểm sản xuất kinh doanh đ) Cung ứng vật tư nông nghiệp
2 Tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến phát triển nông nghiệp nông thôn
Điều 8: Hợp tác quốc tế về khuyến nông
1 Tham gia thực hiện hoạt động khuyến nông trong các chương trình hợp tác quốc tế
2 Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông với các tổ chức, cá nhân nước ngoài và
tổ chức quốc tế theo quy định của Pháp luật Việt Nam
3 Nâng cao năng lực, trình độ ngoại ngữ cho người làm công tác khuyến nông thông qua các chương trình hợp tác quốc tế và chương trình học tập khảo sát trong và ngoài nước
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Vài nét về tổ chức hoạt động khuyến nông trên thế giới
Trên thế giới khuyến nông ra đời từ rất sớm và ở hầu khắp các nước Các nước có nền nông nghiệp phát triển (như Anh, Pháp, Mỹ) một phần cũng là nhờ tác
Trang 19động tích cực của hoạt động khuyến nông Vì vậy các nước nông nghiệp đang phát triển hiện nay (Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan) cũng đang cố gắng xây dựng và hoàn thiện hệ thống khuyến nông của nước mình
Khởi đầu là giáo sư người Pháp Rabelais, từ năm 1530 ông đã cải tiến
phương pháp giảng dạy, đưa quan điểm giáo dục nông nghiệp “Học đi đôi với
hành” vào giảng dạy Ngoài việc giảng dạy lý thuyết ở lớp ông đã cho học trò tiếp
xúc với sản xuất và tự nhiên Ông đã chỉ cho họ biết cách phân biệt giống cây và giống con, kỹ thuật nuôi cừu, bò, gà…
Đến năm 1777 giáo sư người Thụy Sĩ là Heirich Dastalozzi thấy rằng muốn
mở mang nhanh nền nông nghiệp giúp nông dân nghèo cải thiện được cuộc sống thì phải đào tạo chính con em họ có trình độ và nắm được KTTB, biết làm thành thạo mốt số công việc như quay sợi bông, dệt vải, cày bừa
Tuy nhiên phải đến năm 1843 hoạt động khuyến nông mới có tính phổ rộng và biểu hiện rõ rệt Đó là hoạt động của Uỷ ban nông nghiệp của hội đồng thành phố NewYork (Mỹ)
Hoạt động khuyến nông ở Châu Âu và Bắc Mỹ đã sớm đi vào chính quy và chuyên nghiệp Năm 1907 ở Mỹ có 42 trường đại học đã hăng hái thực hiện công tác khuyến nông, nhiều trường đã tổ chức bộ môn khuyến nông, có khoa khuyến nông Đến năm 1910 có khoảng 35 trường đã có bộ môn khuyến nông, sau đó nhiều chương trình khuyến nông đã phát triển nhanh chóng và hiệu quả Cùng thời gian đó ở hầu khắp các nước Châu Âu (Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha…) đều có các trường đại học nông nghiệp, có khoa khuyến nông và thực hiện công tác khuyến nông rất thành công Ở các nước này dịch vụ khuyến nông thường bắt đầu từ các hội nông dân, nhóm SXNN Ở Châu Âu và Bắc Mỹ, nông dân địa phương hoặc các nhóm SXNN tham gia rất tích cực vào các chương trình khuyến nông, kể cả việc thuê mướn những nhân viên khuyến nông, những kỹ sư nông nghiệp giúp họ phát triển sản xuất Ngày nay mặc dù các nước này tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế còn rất nhỏ nhưng vẫn còn cơ quan khuyến nông, vẫn còn CBKN
Trang 20Ở Châu Á, ngay sau khi có hội nghị đầu tiên về khuyến nông họp tại Philippin (năm 1955), hoạt động khuyến nông đã có bước phát triển mạnh mẽ Tổ chức khuyến nông các nước lần lượt được thành lập như ở Inđônêxia (1955), Ấn Độ (1960), Thái Lan (1967), Trung Quốc (1970) [4]
2.2.2 Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam
2.2.2.1 Sự hình thành và phát triển khuyến nông ở Việt Nam
Khuyến nông Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã trực tiếp dạy dân cách làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi để các Hoàng tử, Công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn từ các nông sản tại chỗ Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa [1]
Vua Lê Đại Hành (979 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnh điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Nam Hà ngày nay [1]
Các vua Lý (1009 -1056) rất coi trọng nghề nông và đã ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp
Triều vua Lê Thái Tông (1492) Triều đình đặt chức Hà Đê Sứ và Khuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1492 mỗi xã có một xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều Triều đình ban bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền, và lần đầu tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong bộ luật Hồng Đức [1]
Thời vua Quang Trung (1807 - 1792): Từ năm 1789 sau khi thắng giặc ngoại xâm, Quang Trung ban bố ngay “chiếu khuyến nông” nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, sau 3 năm những đất đai hoang hóa đã được phục hồi, sản xuất phát triển [1]
Đến thời kỳ nhà Nguyễn (1807 - 1884) đã định ra chức đinh điền sứ Nguyễn Công Trứ được giao chức vụ này Ông đã có công khai khẩn đất hoang để lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) [1]
Thời kỳ pháp thuộc (1884 - 1945) phát triển nông nghiệp và khuyến nông chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa phong kiến của thực dân pháp Người Pháp tổ chức các Sở canh nông ở Bắc Kỳ, các Ty khuyến nông ở các tỉnh
Trang 21Từ sau cách mạng tháng 8/1945 - 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, người kêu gọi quốc dân “tăng gia sản xuất! tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa! đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc này” [1]
Từ năm 1958 - 1975 nông nghiệp Miền Bắc Việt Nam phát triển trong sự tác động mạnh mẽ của mô hình HTX nông nghiệp Từ đổi công (1956), đến HTX bậc thấp năm 1960, đến HTX cấp cao (1968), đến HTX toàn xã năm 1974 Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở Trung ương, cấp tỉnh, huyện chỉ đạo sản xuất ở cơ
sở Giai đoạn 1976 - 1988 nông nghiệp Việt Nam thống nhất thành một mối hai miền cùng tăng gia phát triển sản xuất Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp,
do sự tác động của quan hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý tập chung, kế hoạch hóa tập chung Nhiều thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống
Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm 80 nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị 100CT/TW của ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán 100) Khoán 100 mặc dù chưa phải là mô hình mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp, mà mới chỉ là cải tiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm,
từ khoán đội sang khoán hộ Đây cũng được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý tập chung, quan liêu, sản xuất tập thể Vì vậy, coi là “Chìa khóa vàng” để mở ra thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam [1]
Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “đổi mới quản lý trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn (gọi tắt là khoán 10) PGS.TS Chanock Jacobsen đã khẳng định: “Trong một thế giới đang chuyển đổi mà sự khởi đầu của cá thể và tư nhân chiếm vị trí cao trong sự phát triển nông nghiệp, khuyến nông đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết”
Trang 22Ngày 02/3/1993 Chính phủ ra nghị định 13CP về công tác khuyến nông Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương Năm 1993 Cục khuyến nông Khuyến lâm được thành lập: vừa quản lý nhà nước vừa làm công tác khuyến nông Năm 2001 Trung tâm Khuyến nông Trung ương ra đời (trực thuộc cục khuyến nông) Tới năm 2003 Trung tâm khuyến nông Quốc gia được thành lập [1]
Ngày 26/4/2005 Chính phủ đã ban hành nghị định 56/2005/CP thay thế cho Nghị định 13CP Trong nghị định này quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến nông Bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông; mở rộng đối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác khuyến nông
2.2.2.2 Hệ thống tổ chức khuyến nông Nhà nước ở Việt Nam
Ngay sau khi có Nghị định 13/CP của Chỉnh phủ và Thông tư 02/LB/TT, tổ chức khuyến nông ở Việt Nam chính thức được thành lập Hệ thống này được phân thành 4 cấp thể hiện qua sơ đồ 2.1 như sau:
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức khuyến nông Việt Nam
* Cấp Trung ương có trung tâm khuyến nông quốc gia
Trung tâm khuyến nông quốc gia là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ NN&PTNT là cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác khuyến nông, về SXNN trên phạm vi cả nước Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Trụ sở chính của Trung tâm đặt tại số 02 Ngọc
Hà - Ba Đình - Hà Nội và một văn phòng đại diện đặt tại thành phố Hồ Chí Minh
Phòng, trạm khuyến nông huyện, thị
xã
Trung tâm khuyến nông quốc gia
Trung tâm khuyến nông tỉnh
Khuyến nông cơ sở
Cấp tỉnh
Cấp huyện, thị xã
Cấp xã Cấp TW
Trang 23Trung tâm có nhiệm vụ: (1) Xây dựng, chỉ đạo các chương trình khuyến nông về trồng trọt, chăn nuôi, BVTV, thú y, bảo quản chế biến nông sản theo từng lĩnh vực chuyên môn, từng vùng sinh thái trong phạm vi cả nước; (2) Theo dõi, đôn đốc, điều phối hoạt đông khuyến nông và giám đánh giá việc thực hiện các chương trình dự án khuyên nông; (3) Tham gia thẩm định các chương trình, dự án khuyến nông theo quy định của Bộ NN&PTNT; (4) Quan hệ với các tổ chức KTXH trong và ngoài nước để thu hút vốn hoặc tham gia trực tiếp vào các hoạt động khuyến nông; (5) Tổ chức chỉ đạo thục hiện phổ biến và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, những kinh nghiệm về điển hình sản xuất giỏi, bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức và quản lý kinh tế thông tin thị trường cho nông dân; (6) Xây dựng và hướng dẫn thực hiện các quy trình, quy phạm
kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp ; (7) Theo dõi, đánh giá và thực hiên các chương trình dự án khuyến nông để tổng hợp tình hình báo cáo Chính phủ [1]
* Cấp tỉnh có TTKN tỉnh
TTKN tỉnh trực thuộc Sở NN&PTNT, mỗi trung tâm thường có từ 3 - 5 phòng ban với số cán bộ biên chế từ 15 - 20 người Nhiệm vụ của TTKN tỉnh bao gồm: (1) Xây dựng và hướng dẫn thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông trong tỉnh, từng tiểu vùng sinh thái, từng lĩnh vực SXNN tại địa phương; (2) Phổ biến và chuyển giao kỹ thuật tiến bộ về nông - lâm - ngư nghiệp và những kinh nghiệm điển hình trong sản xuất cho nông dân; (3) Bồi dưỡng kỹ thuật, rèn luyện tay nghề và quản lý kinh tế cho CBKN cơ sở, cung cấp cho nông dân các thông tin thị trường, giá cả nông - lâm - thuỷ sản; (4) Quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước để thu hút nguồn vốn hoặc tham gia trực tiếp vào các hoạt động khuyến nông
ở địa phương; (5) Tham gia xây dựng và phổ biến cho nông dân thực hiện các quy trình kỹ thuật sản xuất thâm canh cây trồng, vật nuôi, lâm sinh, thuỷ sản; (6) Tổng kết đánh giá việc thực hiện các chương trình dự án khuyến nông cấp tỉnh [1]
* Cấp huyện, thị xã có Trạm khuyến nông huyện, thị xã
Trạm khuyến nông huyện trực thuộc phòng nông nghiệp (hoặc phòng kinh tế) huyện, mỗi trạm có từ 5 - 7 nhân viên làm việc theo phòng ban hoặc theo ngành sản xuất được phân công Trạm khuyến nông huyện có nhiệm vụ sau: (1) Đưa những kỹ thuật tiến bộ theo các chương trình dự án khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư vào
Trang 24sản xuất đại trà trện địa bàn huyện; (2) Xây dựng các mô hình trình diễn phục vụ cho các chương trình dự án khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; (3) Hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho nông - lâm - ngư dân theo mùa vụ hoặc theo yêu cầu của sản xuất; (4) Tổ chức tham quan học tập các điển hình tiên tiến ở trong và ngoài huyện; (5) Bồi dưỡng kỹ thuật và tập huấn nghiệp vụ cho khuyến nông viên cơ sở và cho nông dân; (6) Xây dựng CLBKN, nhóm nông dân sản xuất giỏi, nhóm hộ nông dân cùng sở thích; (7) Hợp tác với các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động khuyến nông [1]
* Cấp xã thôn thành lập mạng lưới khuyến nông cơ sở
CBKN ở cơ sở không thuộc biên chế nhà nước, làm việc theo chế độ hợp đồng dài hạn hoặc ngắn hạn CBKN cơ sở thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng cơ bản gồm: (1) Phát hiện những nông dân sản xuất giỏi, những kinh nghiệm và kiến thức sản xuất trong địa bàn để báo cáo cho trạm và phổ biến điển hình này cho những nông dân khác; (2) Giúp thành lập những ban quản lí thôn bản để quản lí các chương trình khuyến nông ở địa phương Phát hiện những nông dân có năng lực và nhiệt tình để bồi dưỡng họ trở thành khuyến nông viên thôn bản Thực hiên đào tạo khuyến nông
và kỹ thuậ cho họ để họ phổ cập cho nông dân; (3) Thực thi các dự án khyến nông trên địa bàn phụ trách; (4) Thực hiện, tổ chức và theo dõi các mô hình sản xuất tiên tiến; (5) Điều tra thu thập thông tin làm cơ sở cho xây dựng và triển khai dự án khuyến nông; (6) Hàng tháng tổng hợp tình hình hoạt động khuyến nông viết và trình bày báo cáo tại các kỳ họp giao ban thường niên; (7) Giúp thành lập những nhóm nông dân có cùng hoàn cảnh hoặc cùng lợi ích để tiến hành khuyên nông cho họ [1]
Như vậy hệ thống tổ chức khuyến nông Nhà nước ở Việt Nam được tổ chức theo kiểu hình tháp, thống nhất chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở Hệ thống này có nhiệm vụ vừa kết hợp vừa tạo điều kiện cho hệ thống khuyến nông ngoài Nhà nước hoạt động vì một mục tiêu chung là khuyến khích mở rộng sản xuất ngành nông nghiệp trên phạm vi cả nước
2.2.2.3 Tổ chức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư ngoài Nhà nước
Qua hình 2.1 ta thấy công tác khuyến nông ở Việt Nam đã và đang được xã hội hoá, đa dạng hoá Ngoài lực lượng của khuyến nông Nhà nước còn có các tổ chức khuyến nông tự nguyện: (1) Khuyến nông của các viện nghiên cứu, các trường chuyên
Trang 25nghiệp, các trung tâm phát triển; (2) Khuyến nông của các tổ chức xã hội (hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội làm vườn, hội cựu chiến binh); (3) Khuyến nông của các công ty (thuốc BVTV, thuốc thú y, phân bón); (4) Khuyến nông của tư nhân; và (5) Khuyến nông của các tổ chức quốc tế (tổ chức Chính phủ và phi chính phủ) Lực lượng khuyến nông này hoạt động nhờ nguồn kinh phí tự tạo, thu từ các hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khuyến nông hoặc từ nguồn tài trợ của các tổ chức KTXH trong và ngoài nước Mỗi tổ chức lại hoạt động vì một mục tiêu riêng của mình (như bán sản phẩm, mở rộng tầm ảnh hưởng, nhân đạo…) nhưng tất cả họ đều hướng đến một mục đích chung đó là phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, đem lại lợi ích cho dân, cho mình và cho xã hội Vài năm trở lại đây lực lượng khuyến nông ngoài Nhà nước đã dần khẳng định vai trò và chỗ đứng quan trọng của mình trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn của đất nước Trong đó đặc biệt phải kể đến những đóng góp của các tổ chức quốc tế trong các dự án khuyến nông ở các tỉnh nghèo, của các công ty thức ăn gia súc (TAGS), công ty thuốc thú y, thuốc BVTV, công ty phân bón trong các chương trình phát triển theo ngành (trồng trọt và chăn nuôi)
2.2.2.4 Vai trò và chức năng của các tổ chức khuyến nông
Vai trò và chức năng của các tổ chức khuyến nông có nhiều điểm khác biệt nhưng không mâu thuẫn với nhau thể hiện qua biểu so sánh dưới đây:
Trang 26Bảng 2.1: Vai trò và chức năng của các tổ chức khuyến nông ở Việt Nam
- Các chương trình của chính phủ
- Tổ chức
- Cung cấp
- Kiểm tra
- Hoàn thiện Viện nghiên cứu, trường
chuyên nghiệp
- Triển khai KHKT
- Thu thập thông tin
- Thực hiện dự án phát triển
- Rút kinh nghiệm
- Vì sự sống còn của doanh nghiệp
- Truyền bá
- Thuyết phục
- Làm thử
- Vì bản thân
(Nguồn: Phương pháp khuyến nông, dự án PTNT Cao Bằng - Bắc Kạn, 2004)
Như vậy ngoài hệ thống khuyến nông Nhà nước thì hiện nay ở nước ta việc xã hội hoá công tác khuyến nông đã tạo điều kiện cho các tổ chức, các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động khuyến nông của mình từ đó đem lợi ích cho chính cá nhân và tổ chức đó và cho bà con nông dân Bằng sự thay đổi này cũng tạo ra nhiều hơn những cơ hội việc làm cho đội ngũ sinh viên mới ra trường, cán bộ kỹ thuật được đào tạo bài bản, đặc biệt là hàng nghìn sinh viên các trường nông lâm nghiệp tốt nghiệp mỗi năm [4]
2.2.3 Cơ sở thực tiễn tại huyện Chợ Đồn- tỉnh Bắc kạn
Cùng với sự phát triển của khuyến nông ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, Khuyến nông tỉnh bắc kạn được hình thành và phát triển
Hệ thống tổ chức khuyến nông tại tỉnh theo đúng nghị định 13/CP của chính phủ Dưới sự chỉ đạo của trung tâm khuyến nông quốc gia là trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Kạn sau đó là phòng, trạm khuyến nông huyện, thị xã và thấp nhất đó là khuyến nông cơ sở Lực lượng cán bộ khuyến nông của tỉnh được phân bố đều
Trang 27với 7 huyện, Bắc Kạn được tự nhiên ưu đãi cho nhiều tiềm năng để phát triển kinh
tế xã hội, phát triển về nông nghiệp cũng là một trong số những điều quan trọng mà tỉnh chú trọng trong những năm tới Không ngừng phấn đấu, áp dụng những khoa học hiện đại hơn, tiên tiến hơn vào quá trình sản xuất để đạt hiệu quả cao về cả số lượng cũng như chất lượng
Hòa theo xu thế chung của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung huyện Chợ Đồn trong những năm qua đã từng bước hoàn thiện về cơ cấu tổ chức khuyến nông nguồn nhân lực được huyện phân bố đều tại các xã bao gồm 22 xã trong toàn huyện ngoài ra dưới CBKN cơ sở nằm vùng tại các xã còn có những khuyến nông viên thôn, bản hoặc những cán bộ phát triển nông nghiệp tại các xã, vì vậy mà các hoạt động khuyến nông như: Xây dựng MHTD, tham quan, hội thảo, mở lớp tập huấn… đạt hiệu quả và được người dân áp dụng trong quá trình sản xuất của mình
Trạm khuyến nông huyện Chợ Đồn nói riêng và Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc kạn tạo được lòng tin nơi dân những chính sách, chủ trương của Đảng của nhà nước về quá trình sản xuất hay những giống cây trồng, vật nuôi mới được nhanh chóng truyền đạt thông tin tới người dân, sẵn sàng tư vấn cho người dân những thông tin bổ ích và chia sẽ những kinh nghiệm cho người dân trong quá trình sản xuất, tháo gỡ những vướng mắc trong họ, vừa là người tư vấn, người chuyển giao và cũng là bạn của dân luôn gắn kết 4 nhà : Nhà đầu tư, Nhà khoa học, Nhà nước và nhà nông với nhau, luôn là người trung gian vừa truyền đạt vừ phản hồi những ý kiến của người dân lên các cấp có thẩm quyền
Nhìn chung trong những năm qua trạm khuyến nông huyện Chợ Đồn và trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc kạn đã đạt được nhiều thành công trong các hoạt động khuyến nông và có lòng tin đối với người dân
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hoạt động khuyến nông đang diễn ra tại xã Yên Nhuận - Chợ Đồn -
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ 01/2015 đến 5/2015, số liệu thứ cấp được sử dụng trong phạm vi 3 năm (2012-2014) và một số thông tin từ các năm trước phục vụ cho việc so sánh, đánh giá
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, KT-XH của xã Yên Nhuận - Chợ Đồn - Bắc Kạn
- Đánh giá thực trạng hoạt động khuyến nông xã Yên Nhuận - Chợ Đồn - Bắc Kạn giai đoạn (2012-2014)
- Đánh giá kết quả hoạt động khuyến nông xã Yên Nhuận-Huyện Chợ Tỉnh Bắc Kạn
Đồn Đánh giá của người dân vào hoạt động khuyến nông trong giai đoạn (2012Đồn 2014)
- Một số kiến nghị của người dân đối với hoạt động khuyến nông của xã Yên Nhuận
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động khuyến nông xã Yên Nhuận - Chợ Đồn - Bắc Kạn
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông xã Yên Nhuận
- Chợ Đồn - Bắc Kạn trong những năm tiếp theo
Trang 293.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên dân sinh KT-XH, báo cáo của xã từ Thống kê, khuyến nông Xã Yên Nhuận và một số phòng ban khác có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài như: Địa chính, các thông tin từ các dự án và các doanh nghiệp
Ngoài ra những số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài còn được tìm hiểu thông qua những trang webside, sách, báo, tạp chí… Về thông tin khuyến nông
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu chưa từng công bố ở bất kỳ tài liệu nào Trong qúa trình triển khai điều tra thu thập số liệu sơ cấp và những nội dung phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài tôi đã sử phương pháp như sau:
- Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, đàm thoại với người dân thông qua những câu hỏi trong bảng hỏi được chuẩn bị sẵn với những nội dung có liên quan đến đề ài nghiên cứu, phỏng vấn số hộ đã chọn kiểm tra chéo thông tin để đảm bảo độ chính xác và thực tiễn của thông tin
- Bên cạnh đó còn thu thập số liệu sơ cấp thông qua tham khảo của các giảng viên chuyên môn, các cán bộ quản lý ở xã để rút ra những thông tin có căn cứ khoa học
* Cách chọn mẫu điều tra
- Nghiên cứu này được tiến hành trong địa bàn xã Yên Nhuận Vì vậy, nghiên cứu sử dụng các thông tin và số liệu của cả 12 thôn trong xã, do hạn chế về nguồn lực, thời gian và theo yêu cầu của quá trình thực tập nên tôi chỉ tiến hành khảo sát các hoạt động khuyến nông và các chương trình chuyển giao kỹ thuật tiến bộ điển hình, nghiên cứu tập trung khảo sát chủ yếu tại 3 thôn đại diện cho 3 vùng
- Trong xã chọn 3 thôn, mỗi thôn chọn ngẫu nhiên có điều kiện 20 hộ nông dân đại diện cho các thôn để tiến hành phỏng vấn theo phiếu điều tra (n = 60 hộ) Với điều kiện là hộ nông dân có sản xuất nông nghiệp và hộ nông dân có tham gia vào các hoạt động khuyến nông
Trang 30- Toàn bộ cán bộ khuyến nông xã theo phiếu điều tra với những nội dung có liên quan đến mục đích nghiên cứu của đề tài
tổng kết của các cán bộ khuyến nông xã Yên Nhuận và các số liệu của bảng hỏi
- Phương pháp tính toán thông thường và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel để xử lý số liệu thu thập được
3.5 phương pháp phân tích số liệu
Để phân tích được số liệu từ những thông tin điều tra sơ cấp và thứ cấp tôi đã
sử dụng một số phương pháp như sau:
- Phương pháp so sánh: Tiến hành so sánh kết quả đã đạt được của năm sau
so với những năm trước để thấy được những kết quả đã đạt đươc, chưa đạt được, những tồn tại và đề xuất những giải pháp khắc phục
- Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp xem xét các sự vật, hiện trường theo đúng trật từ thời gian và không gian như nó đã từng diễn ra trong quá khứ Trong đề tài có sử dụng những kết quả đã đạt được trong quá khứ theo đúng trật tự thời gian, cụ thể hơn là sử dụng những kết quả đạt được như: Các hoạt động khuyến nông được tổ chức, kết quả kinh tế,…Trong ba năm từ 2012 đến năm 2014
- Phương pháp thống kê kinh tế: Các số liệu sau khi thu thập được xử lý, tổng hợp bằng bảng biểu
- Phương pháp nhân - quả: Xác định những nguyên nhân dẫn đến kết quả nào để từ đó tìm ra những giải pháp khắc phục
Trang 31Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
4.1.1.Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Yên Nhuận nằm ở phía Nam của huyện Chợ Đồn, cách trung tâm huyện hơn 30 km
Phía Đông giáp với xã Yên Mỹ
Phía Bắc giáp với xã Phong Huân
Phía Tây giáp với xã Bình Trung
Phía Nam giáp với xã Quy kỳ và xã Linh Thông, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
4.1.1.2 Diện tích tự nhiên
Xã có tổng diện tích tự nhiên là 2.915,32 ha được chia làm 12 thôn gồm Bản Quăng, Đon Mạ, Bản Noỏng, Bản Lẹng, Pác Đá, Bản Lanh, Khuân Tong, Pác Là, Pác Toong, Phiêng Quắc, Khau Tooc, Bản Tắm
4.1.1.3 Đặc điểm địa hình khí hậu
Địa hình: Yên Nhuận có địa hình sông suối chủ yếu chảy từ đông, đông nam sang
Khí hậu: Xã Yên Nhuận nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mùa mưa keo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình trong năm là 21,0oc
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.700mm
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1 Hiện trạng đất đai xã yên nhuận
a Đất đai
Được thể hiện dưới bảng sau:
Trang 32Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Yên Nhuận giai đoạn năm (2012-2014)
DT ( ha ) CC
(%) DT( ha) CC (%) DT ( ha) CC (%) Tổng đất tự nhiên 2.915,32 100 2.915,32 100 2.915,32 100 13/12 14/13 BQ
2 Đất phi nông nghiệp 80,89 2,77 90,05 3,09 91,94 3,15 111,32 102,10 106,71
Trang 33Qua bảng 4.1 có thể thấy tổng đất tự nhiên của xã Yên Nhuận là 2.915,32 ha chủ yếu là đất đồi núi và đất sản xuất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp thay đổi theo từng năm và có chiều hướng giảm từ năm
2012 đến năm 2014 giảm bình quân là 1,23% cụ thể: Với đất trồng lúa nước năm
2012 là 158,4 ha, năm 2013 là 156,3 ha, nhưng cho đến năm 2014 đã giảm xuống còn 155,3 ha bình quân 3 năm giảm 0,98% Đối với các loại đất khác như: Đất trồng CHN, đất trồng CLN, đất thủy sản hay đất rừng sản xuất đều có xu hướng giảm qua các năm
Sở dĩ đất nông nghiệp có xu hướng giảm qua các năm nguyên nhân do chuyển sang đất ở hoặc đất để phát triển cơ sở hạ tầng như các diện tích đất ruộng gần sát đường giải tỏa để xây dựng hoặc nâng cao cơ sở hạ tầng giao thông
- Đất phi nông nghiệp: Năm 2014 có diện tích là 91,94 ha tăng lên 11,05 ha
so với năm 2012, từng loại đất phi nông nghiệp có sự thay đổi như sau: Đất để PT hạ tầng có tỉ lệ tăng nhanh nhất bình quân 3 năm tăng 21,49% với diện tích năm
2012 là 24,2 ha, đến năm 2014 đã tăng lên tới 35,11ha, ngoài ra một số loại đất như đất xây dựng trụ sở, đất nghĩa trang cũng có chiều hướng tăng nhẹ, riêng diện tích đất sông, suối không thay đổi
Có sự thay đổi đất phi nông nghiệp là do quá trình chuyển đổi từ đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sang
- Bên cạnh đó tình hình đất ở cũng thay đổi dần qua các năm
Nhìn chung xã Yên Nhuận có diện tích đất tự nhiên khá rộng so với các xã lân cận nói riêng và trong huyện Chợ Đồn nói chung Có sự biến động về quá trình
sử dụng, đất phi nông nghiệp ngày càng tăng đặc biệt là đất để phát triển về cơ sở hạ tầng, điều này cho thấy xã Yên Nhuận ngày càng hoàn thiện hơn về cơ sở hạ tầng, tuy nhiên một điều đáng lo ngại là diện tích đất nông nghiệp của xã ngày càng giảm vì vậy để phát triển được tiềm năng về đất đai vốn có của xã và khắc phục tình trạng này người dân cũng như chính quyền cần có những biện pháp, kế hoạch cụ thể đồng thời áp dụng những KHKT vào quá trình sản xuất sao cho giảm về diện tích nhưng sản lượng không ngừng tăng
Trang 34 Dân tộc Tày 513 hộ/539 hộ = 95,17%, số nhân khẩu 2.271 chiếm 95,34%
Dân tộc Kinh 26 hộ/539 hộ = 4,28%, số khẩu 90 chiếm 3,78%
Dân tộc Dao 8 khẩu chiếm 0,42%
Dân tộc Nùng 03 khẩu chiếm 0,13%
Đa số trong độ tuổi lao động có trình độ văn hóa từ lớp 9 đến lớp 12 Số lao động được qua đào tạo tay nghề như lớp trồng nấm, nông nghiệp, chăn nuôi khoảng
200 người, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động toàn xã
Về đặc điểm lao động đều có nhận thức về văn hóa, dễ tiếp thu các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, phát triển nghành nghề Nếu được đào tạo tập huấn Tuy nhiên do số lao động chiếm đa số chưa được đào tạo nghề (nếu có chỉ là những lớp đào tạo ngắn hạn), phong tục tập quán canh tác, sản xuất tự cung tự cấp, lạc hậu, manh mún đã ăn sâu vào tiềm thức vì vậy đây là một thách thức lớn đối với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai của địa phương
4.1.2.3 Hạ tầng kinh tế xã hội
a Giao thông
- Đường trục xã có 254B chạy suốt từ đầu xã đến cuối xã, tổng chiều dài đường trục xã là 5km, rộng 3m đã được rải nhựa (loại đường cấp V)
- Đường liên xã: Đã rải cấp phối 4,5km từ năm 2002, nay đã xuống cấp
- Đường trục thôn: 2,1 km/17,827 km đã rải cấp phối, số còn lại là đường đất
vì vậy thường lầy lội vào mùa mưa
Trang 35- Đường trục chính nội đồng chưa có
- Đường trục chính của xã, đường liên xã đã được cứng hóa và nhựa hóa: 5km/9,5km = 52,6%
- Đường xã cơ giới có thể đi lại thuận tiện: 9,5m
- Các trục đường nội thôn, ngõ xóm, trục chính nội đồng chưa được cứng hóa, vẫn còn lầy lội vào mùa mưa chiếm 89,7% tổng số km đường giao thông
b Thủy lợi
- Hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn xã chủ yếu được ngăn từ sông suối và khe nước, các trạm bơm và đê, kè chống sói phòng chống bão lũ chưa được đầu tư, chưa đáp ứng việc phòng chống hạn và bão lũ
- Toàn xã có 45 phai đập đến nay mới đầu tư cứng hóa được 04 phai với 6,1km/23,87km kênh mương đã được cứng hóa Do hệ thống phai đập, kênh mương chưa được xây dựng kiên cố nên chưa đáp ứng được yêu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Trong thời gian tới cần được quan tâm trú trọng đầu tư kiên cố hóa mương, phai và các kè chống xói mòn đảm bảo đáp ứng việc tưới tiêu sản xuất
- Trường mầm non: Diện tích 1.140m2, 3/5 phòng học chưa đạt chuẩn, chưa
có phòng chức năng, diện tích sân chơi bãi tập 180m2
- Trường tiểu học: Gồm 01 trường chính và 02 phân trường có tổng diện tích
là 2.754m2 trong đó:
+ Trường chính 1.88m2: Có 7 phòng học chưa đạt chuẩn
Trang 36+ Phân trường Khau Toọc: 560m2, có 02 phòng học
+ Phân trường Bản Noỏng : 305m2, có 02 phòng học
- Số phòng chức năng đã có: 03, số còn thiếu 04
- Trường THCS: Có tổng diện tích 4.800m2
+ Số phòng học đã có: 08 (chưa đạt chuẩn)
+ Số phòng chức năng đã có: 0, còn thiếu 07
+ Số diện tích sân chơi, bãi tập đã có: 1.00m2
e Chợ
Đã được xây dựng từ năm 2002, được quy hoạch 3.000m2 trong đó đạt chuẩn 2.00m2 Theo quy định của Bộ tiêu chí nông thôn mới chợ nông thôn xã đã đạt chuẩn của Bộ xây dựng, hiện tại đáp ứng được nhu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa của nhân dân địa phương và các xã lân cận
g Cơ cấu lao động
- Số lao động trong độ tuổi lao động là 1.531/2.382 người, trong đó lao động nam 750 người, lao động nữ 781 người chiếm 64,27% dân số
- Lao động nông-lâm nghiệp là 1.466 người chiếm 95,7%, số còn lại là phi nông nghiệp (chủ yếu là cán bộ giáo viên và cán bộ xã) Chất lượng lao động chưa cao, hầu hết lao động chưa qua đào tạo hoặc đào tạo ngắn hạn theo trương trình đào tạo tại quyết định 1956 của chính phủ
4.1.2.4 Kết quả sản xuất của xã Yên Nhuận giai đoạn (2012-2014)
Sản xuất nông nghiệp
a Trồng trọt: Một số cây trồng chính tại đia phương được thể hiện dưới
bảng sau
Trang 37Bảng 4.2: Thể hiện năng suất cây trồng chính trong 3 năm (2012-2014)
Lúa Diện tích (ha) 236.81 220.69 212.71 93,19 96,38 94,79
Năng suất (tấn/ha) 5.07 5.14 4.84 101,3 94,16 97,73 Sản lượng (Tấn) 1200,63 1134,35 1029,52 94,48 90,76 92,62
Năng suất (tấn/ha) 4.0 4.15 4.2 103,75 101,20 102,58 Sản lượng (Tấn) 188,8 197,54 196,14 104,63 99,29 101,96 Sắn Diện tích (ha) 40.30 69.37 47.74 172,13 68,82 120,48
Năng suất (tấn/ha) 28.0 30.0 30.0 107,14 100,00 103,57
Sản lượng (Tấn) 1128,4 2081,1 1432,2 184,43 68,82 126,62 Khoai
Năng suất (tấn/ha) 1.9 2.0 2.05 105,26 102,5 103,88
Sản lượng (Tấn) 11,4 14,16 14,64 121,21 103,37 113,79
(Nguồn: Khuyến nông xã Yên Nhuận)
Trang 38Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng cả năm 2014 là 212,71 ha, giảm 7,98 ha
so với năm 2013, năng suất ước tính đạt 4,84 tấn, sản lượng 1029,52 tấn qua bảng cho thấy sản lượng năm 2014 giảm đáng kể so với năm 2012 và 2013 Bình quân qua 3 năm diện tích đã giảm đi 5,21% Tuy nhiên diện tích năm 2013 giảm so với năm 2012 nhưng năng suất lại cao hơn sở dĩ có sự tăng giảm thất thường về năng suất của lúa là do quá trình chăm sóc lúa bị bệnh không phòng, chữa kịp thời bên cạnh đó còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, mưa thuận gió hòa thì năng suất
mới có thể cao
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô cũng có xu hướng giảm theo từng năm tuy nhiên có thể thấy diện tích giảm nhưng sản lượng ngô lại tăng đáng kể, năm
2013 đạt 197,54 tấn cao hơn năm 2012 là 8,9 tấn, qua bảng cũng cho ta thấy năng suất của ngô không ngừng tăng năm 2014 đạt 4,2 tấn/ha tăng 2tạ/ha so với năm
2012 mặc dù diện tích giảm điều này cho thấy nhờ áp dụng những KHKT mới vào sản suất cũng như kết hợp với những kinh nghiệm sẵn có việc sản xuất gặp nhiều kết quả cao
- Một số cây trồng khác: Cây lạc, cây khoai lang, cây sắn cũng đạt những hiệu quả đáng kể mục đích sản xuất chủ yếu dùng để phục vụ nhu cầu của hộ gia
đình và dùng để chăn nuôi là chính, chỉ một số nhỏ được đưa ra thị trường
- Ngoài ra còn có cây dong riềng đã từng được coi là một trong số cây chủ đạo của xã năm 2013 đạt 1390,35 tấn với tổng diện tích lên tới 29,39 nhưng đến năm 2014 diện tích trồng đã giảm mạnh chỉ còn 9,05 ha Người dân địa phương đã phá bỏ nhiều diện tích trồng dong là do dong riềng không có đầu ra, tại địa phương chỉ có một hay hai cơ sở thu mua với sản lượng toàn xã quá nhiều như vậy cơ sở không thể thu mua được hết bên cạnh đó cung nhiều hơn cầu nên giá cả đã giảm mạnh số tiền mà người dân bỏ ra cũng như công chăm sóc của họ không đủ để trả chi phí đã bỏ ra ban đầu vì vậy một số hộ sau khi đã được thu hoạch vì quá nhiều chỉ bán được số ít nên phần còn lại phải bỏ phí hoặc đem về để làm thức ăn cho lợn, chính vì thế mà qua năm 2014 người dân đã không trồng thêm và dần phá bỏ số
dong riềng còn lại để trồng ngô hoặc một số cây khác
Trang 39b Chăn nuôi
Tổng đàn gia súc, gia cầm toàn xã có số lượng khá lớn cụ thể số lượng từng con như sau:
Bảng 4.3: Số lượng vật nuôi của xã qua 3 năm ( 2012-2014)
(Nguồn: Thống kê xã Yên Nhuận)
Qua bảng trên có thể thấy số lượng các vật nuội biến động qua các năm:
- Đàn trâu bò năm 2012 có 233 con đến năm 2013 giảm 26 con còn 207 con tuy nhiên đến năm 2014 đã tăng trở lại số lượng đàn trâu, bò lên đến 234 con, tăng bình quân 3 năm là 0,94%, ngược lại với số lượng ngựa của xã lại giảm đáng kể qua
3 năm, năm 2012 với số lượng 38 con nhưng đến năm 2014 đã giảm xuống còn 25 con giảm 13 con, bình quân giảm 18,83% trong 3 năm, số lượng giảm vậy là do ngựa thường được người dân địa phương dùng để chở đồ, đi nương, rẫy, chở củi… Nhưng càng ngày xã hội càng phát triển đã có nhiều phương tiện thay thế cho ngựa vừa nhanh, đạt hiểu quả cao hơn so với sử dụng ngựa nên người dân địa phương dần thay thế ngựa bằng những phương tiện đó như xe máy, máy kéo…
- Tiếp đến là số lượng lợn trên địa bàn của xã tăng giảm thất thường năm 2012
có 1869 con đến năm 2013 đã tăng lên 2107 tuy nhiên năm 2014 giảm xuống chỉ còn
1408 con, có sự tăng giảm thất thường vậy là do trong năm 2013 trên địa bàn xã Yên Nhuận đã xảy ra nhiều dịch bệnh như: Lở mồm long móng, tai xanh, lepto… đã gây thiệt hại đáng kể về kinh tế của người dân, làm họ hoang mang và lo ngại sợ rằng sang năm 2014 sẽ tiếp tục xảy ra dịch bệnh như vậy nên số lượng lơn đã giảm một cách nhanh chóng Lợn là một trong những con vật chủ đạo trong nghành chăn nuôi
Trang 40của địa phương nó mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho người dân chính vì vậy mà công tác phòng và chữa bệnh cho đàn lợn là rất cần thiết, nên được chú trọng hơn trong những năm tiếp theo
- Gia cầm cũng là yếu tố chủ đạo trong chăn nuôi tại địa phương số lượng đàn gia cầm không ngừng tăng qua các năm đặc biệt trong năm 2014 số gia cầm là
14847 nghìn con chủ yếu áp dụng mô hình gà thả đồi ngoài ra con một số khác nuôi
gà bán công nghiệp dùng thức ăn công nghiệp và tận dụng thức ăn sẵn có nên đạt hiệu quả về cả số lượng và chất lượng, bình quân tăng 24,85% qua 3 năm, con số này cần được duy trì và tiếp tục phát huy trong những năm tới đồng thời áp dụng những KT mới vào chăn nuôi một cách phù hợp
- Về một số lĩnh vực khác như: Xây dựng, công tác quản lý tài nguyên môi trường, thu chi ngân sách, lĩnh vực văn hóa xã hội cũng đạt được kết quả so với kế hoạch ban đầu
4.2 Thực trạng hoạt động khuyến nông của xã Yên Nhuận - Huyện Chợ Đồn - Tỉnh Bắc Kạn
4.2.1 Căn cứ thành lập Khuyến Nông xã Yên Nhuận
- Căn cứ vào những quy định chung trong Nghị định 13 CP của chính phủ ban hành ngày 02/03/1993 về hệ thống khuyến nông từ trung ương đến cơ sở
- Căn cứ vào thỏa thuận giữa sở Nông Nghiệp, UBND các huyện và ban tổ chức chính quyền huyện
- Căn cứ vào quyết định của UBND Huyện Chợ Đồn về việc phân bổ cán bộ khuyến nông xuống xã Yên Nhuận