1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm huyện trùng khánh tỉnh cao bằng

75 1,6K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, là hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế từ phát tri

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG TUYẾT PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG SINH KẾ VÀ THU NHẬP

CỦA NGƯỜI DÂN XÃ PHONG NẶM - HUYỆN TRÙNG KHÁNH

TỈNH CAO BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG TUYẾT PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG SINH KẾ VÀ THU NHẬP

CỦA NGƯỜI DÂN XÃ PHONG NẶM - HUYỆN TRÙNG KHÁNH

TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

Để hoàn thành bài khóa luận này ngoài sự cố gắng, sự nỗ lực của bản thân em còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Dương Văn Sơn, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em thực hiện và hoàn thành đề tài này

Em xin cám ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, khoa KT và PTNT đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND xã Phong Nặm đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại địa phương

Với trình độ năng lực còn hạn chế và lần đầu tiên xây dựng một khóa luận tốt nghiệp, mặc dù đã có nhiều cố gắng hết sức song cũng không tránh khỏi nhiều thiếu sót

Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô giáo và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Nông Tuyết Phƣợng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tổng số hộ được lựa chọn phân theo thôn và nhóm hộ 22

Bảng 4.1: Diện tích, năng suất và sản lượng các loại cây trồng chính tại xã Phong Nặm năm 2012 29

Bảng 4.2: Số lượng vật nuôi năm 2012 - 2014 30

Bảng 4.3: Giới tính của chủ hộ phân theo nhóm hộ kinh tế 32

Bảng 4.4: Bình quân tuổi, số nhân khẩu và lao động phân theo nhóm hộ 33

Bảng 4.5: Phân loại nghề nghiệp của các hộ xã Phong Nặm 34

Bảng 4.6: Bình quân diện tích đất canh tác ruộng, rẫy và đất rừng theo nhóm hộ (m2/ hộ) 35

Bảng 4.7: Bình quân diện tích đất canh tác ruộng, rẫy và 36

đất rừng theo thôn (m2/ hộ) 36

Bảng 4.8: Số hộ trồng và bình quân diện tích các cây trồng 37

Bảng 4.9: Số hộ trồng và bình quân diện tích các cây trồng theo thôn (m2/hộ) 38

theo nhóm hộ kinh tế (m2/ hộ) 37

Bảng 4.10: Số hộ nuôi và bình quân số con theo nhóm hộ (con/hộ) 40

Bảng 4.11: Số hộ nuôi và bình quân số con theo thôn (con/ hộ) 41

Bảng 4.12: Tỷ lệ thu nhập về nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ (%) 43

Bảng 4.13: Bình quân thu nhập từ các cây trồng chính ( triệu đồng/ năm) 44

Bảng 4.14: Tỷ lệ thu nhập từ trồng trọt theo thôn và nhóm hộ (%) 45

Bảng 4.15: Tỷ lệ thu nhập từ cây trồng theo thôn (%) 46

Bảng 4.16: Tỷ lệ thu nhập từ cây trồng theo nhóm hộ (%) 47

Bảng 4.17: Tỷ lệ thu nhập về chăn nuôi theo thôn và nhóm hộ (%) 48

Bảng 4.18: Bình quân thu nhập từ vật nuôi theo nhóm hộ ( triệu đồng/ năm) 49 Bảng 4.19: Tỷ lệ thu nhập từ vật nuôi theo thôn (%) 50

Bảng 4.20: Tỷ lệ thu nhập từ vật nuôi theo nhóm hộ (%) 50

Bảng 4.21: Tỷ lệ thu nhập từ phi nông nghiệp phân theo thôn và nhóm hộ (%) 52

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích sinh kế 6

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

KT & PTNT : Kinh tế và phát triển nông thôn

HĐND : Hội đồng nhân dân

KV – CC – BB : Kéo Việng – Canh Cấp – Bài Ban

PRCF : Tổ chức con người tài nguyên và bảo tồn UBND : Ủy ban nhân dân

DFID : Bộ phát triển Quốc tế

KH : Kế hoạch

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3

1.3.1 Ý nghĩa học tập 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

1.4 Yêu cầu của đề tài 4

PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài 5

2.1.1 Cơ sở lí luận về sinh kế 5

2.1.2 Khái niệm các nguồn vốn sinh kế 6

2.1.3 Thu nhập 10

2.2 Cơ sở thực tiễn 12

2.3 Hộ và kinh tế hộ 15

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19

3.2 Phương pháp nghiên cứu 20

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 20

3.2.2 Phương pháp chọn mẫu 21

3.3 Phương pháp phân tích và xử lí thông tin 22

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Phong Nặm 23

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 23

4.1.2 Cơ sở hạ tầng 26

4.1.3 Kinh tế 29

Trang 8

4.1.4 Xã hội 31

4.2 Các hoạt động sinh kế của người dân xã Phong Nặm 32

4.2.1 Các thông tin về hộ điều tra 32

4.2.2 Diện tích đất canh tác của các hộ điều tra 34

4.2.3 Các hoạt động sinh kế của người dân 36

4.3 Thu nhập từ các hoạt động sinh kế của người dân xã Phong Nặm 43

4.3.1 Thu nhập từ nông nghiệp 43

4.3.2 Thu nhập từ phi nông nghiệp 51

4.4 Những khó khăn, trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân 53

4.5 Các giải pháp phát triển sinh kế cải thiện đời sống người dân xã Phong Nặm 55

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, là hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế

từ phát triển nông nghiệp Dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, để phát triển các ngành khác Vì vậy sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lí có hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững Trong bối cảnh hiện nay, với khoảng 70% dân số Việt Nam sống chủ yếu ở nông thôn, để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống cho người dân sẽ rất khó nếu thiếu các yếu tố tác động hỗ trợ từ bên ngoài Các yếu tố đó tạo ra sự thay đổi rất lớn trong nhận thức cũng như cải thiện cuộc sống cho người dân ở các vùng nông thôn Đối với nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng thì các can thiệp, hỗ trợ cần tác động vào trồng trọt và chăn nuôi của người nông dân là chủ yếu

Nâng cao thu nhập cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân đặc biệt là người dân nông thôn từ lâu vẫn đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và nhà nước ta Vì vậy đã có rất nhiều chính sách, chương trình tháo gỡ khó khăn giúp người dân thoát nghèo Và để thực hiện tốt các chương trình, chính sách có hiệu quả thì việc quan trọng cần làm là nghiên cứu các hoạt động sinh kế, các phương thức sống của người dân, có được cái nhìn toàn diện từ đó giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn tổng quát để có được những biện pháp tác động hợp lí và có hiệu quả Để có thể phát triển sản xuất, phát triển sinh kế, thì cần phải có đầy đủ các thông tin về hiện trạng các hoạt động sinh kế của người dân, phân tích cơ cấu, tỷ lệ thu nhập trong các hoạt động sinh kế của người dân cũng như thời gian mà họ giành cho các hoạt

Trang 10

động sinh kế của mình để có thể tạo ra một thu nhập ổn định trong quá trình sản xuất

Phong Nặm là một xã vùng cao biên giới nơi có các điều kiện kinh tế -

xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí của nguời dân vẫn còn thấp, điều kiện về cơ sở hạ tầng còn yếu, diện tích đất canh tác, vốn, khoa học - kĩ thuật còn yếu kém Hoạt động sinh kế của các hộ trong địa phương chủ yếu vẫn là trồng trọt và chăn nuôi bao gồm trồng lúa, ngô, sắn, đậu tương, nuôi lợn, nuôi gà, vịt, trâu, bò…với những khó khăn về điều kiện tự nhiên cũng như trong sản xuất thì sự can thiệp và hỗ trợ từ bên ngoài là rất cần thiết trong sản xuất của người dân xã Phong Nặm

Xuất phát từ yêu cầu trên, được sự phân công của khoa Kinh tế và PTNT Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em mạnh dạn tiến hành

nghiên cứu đề tài :” Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng“

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài tập chung tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích thực trạng các hoạt động sinh kế và cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh kế của người dân tại xã Phong Nặm Trên cơ sở đó đề xuất được các giải pháp phát triển sinh kế thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tăng thu nhập và ổn định cho người dân tại địa phương

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

- Nghiên cứu được các hoạt động sinh kế của người dân tại địa phương

- Nghiên cứu được cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh kế của người dân địa phương

Trang 11

- Tìm hiểu được những khó khăn trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân

- Đề xuất được các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và tăng thu nhập cho người dân địa phương

1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

1.3.1 Ý nghĩa học tập

- Giúp củng cố lý thuyết cho sinh viên

- Hệ thống hóa được những cơ sở lý luận liên quan đến khung sinh

- Xác định các hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân, đóng góp về

cơ cấu thu nhập của các hoạt động sinh kế nông nghiệp ( trồng trọt, chăn nuôi) và sinh kế phi nông nghiệp từ đó có những giải pháp phù hợp cho từng hoạt động sinh kế

- Thông qua việc thu thập, phân tích số liệu, đề tài đã đánh giá được thực trạng thu nhập của người dân trong địa bàn xã

- Đề tài góp phần làm rõ hơn hiệu quả của các hoạt động sinh kế mang lại cho người dân địa phương

Trang 12

- Là căn cứ giúp cho các cấp chính quyền địa phương có những giải pháp và định hướng cho việc lựa chọn nguồn sinh kế bền vững và tăng thu nhập ổn định cho người dân trên địa bàn nghiên cứu

1.4 Yêu cầu của đề tài

- Tiến hành tìm hiểu điểm nghiên cứu, quan sát và thực hiện phỏng vấn

để thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp về các nội dung của đề tài nghiên cứu

- Tìm ra được các hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân và thực trạng thu nhập của hộ trên địa bàn nghiên cứu

- Tư liệu hóa được các thông tin để hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Trang 13

PHẦN 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lí luận của đề tài

2.1.1 Cơ sở lí luận về sinh kế

Thuật ngữ: “Sinh kế bền vững” đươ ̣c sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của

họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên , dự trữ, và tài sản vô hình như dư nơ ̣ và

cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai

Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này phải hội tụ đủ những nguyê n tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể , thực hiện ở nhiều cấp , trong mối quan hệ với đối tác , bền vững và năng động

Theo DFID (1999), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.[1]

Một sinh kế đươ ̣c xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các thành tố của một sinh kế

có mối quan hệ nhân quả và chiến lươ ̣c sinh kế của con người chịu sự tác động bởi các yếu tố bên ngoài Điều này được thể hiện trong khung phân tích sinh kế dưới đây (DIFID, ) [1]

Trang 14

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích sinh kế

Nguồn: theo DFID (2003)[1]

2.1.2 Khái niệm các nguồn vốn sinh kế

Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng Trong phạm vi đề tài này, các nguồn vốn về sinh kế gồm: Con người,

tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các thể chế chính sách mà xã hội quy

định Các nguồn vốn đó được hiểu như sau:

- Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người

Nói chung, tài sản con người (vốn con người) thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến thức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con người có khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con người bao gồm số lượng và chất lượng của lao động Số lượng và chất lượng của lao động biến

Bối cảnh tổn thương

- Sốc và khủng hoảng

- Những xu hướng kinh

tế, xã hội và môi trường

- Sự dao động theo thời

vụ

Những thay đổi trong thực trạng tài sản và chiến lược

Thể chế, chính sách

- Chính sách và pháp luật

- Các cấp chính quyền

- Dịch vụ Nhà nước, tư nhân

- Luật tục, tập quán

- Thể chế cộng đồng

Kết quả sinh kế

- Thu nhập tốt hơn

- Đời sống nâng cao

- Khả năng tổn thương giảm

Trang 15

động theo quy mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe, thể chất và tinh thần, năng lực lãnh đạo, v.v Tài sản con người có thể được diễn giải bằng các chỉ báo về giáo dục, kiến thức bản địa, số lượng lao động, kỹ năng của lao

động, tuổi thọ, số trẻ em suy dinh dưỡng, v.v [1]

- Vốn tự nhiên ám chỉ các nguồn lực tự nhiên mà con người có thể sử dụng cho cuộc sống Vốn tự nhiên rất đa dạng, có thể hữu hình hay vô hình, hoặc dưới dạng hàng hóa công như khí hậu, sinh quyển làm nền tảng cho sản xuất Vốn tự nhiên có thể được biểu thị bằng các chỉ báo khác nhau như diện tích đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, độ phì nhiêu của đất đai, khả năng được tưới, khả năng tăng vụ, trữ lượng

cá, trữ lượng tài nguyên rừng,… [1]

- Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và các tài sản vật chất cần thiết cho sinh kế Cơ sở hạ tầng là hệ thống giao thông thuận tiện, nhà ở tốt và được bảo đảm, điều kiện vệ sinh môi trường và cung cấp nước sạch tốt, sử dụng năng lượng sạch và thuận tiện, dễ dàng tiếp cận thông tin truyền thông bằng các phương tiện máy móc thiết bị Ngoài ra hàng hóa vật chất cho sản xuất như công cụ, thiết bị cũng là các chỉ báo quan trọng [1]

- Vốn tài chính ám chỉ đến các nguồn lực tài chính mà hộ gia đình có thể tiếp cận và sử dụng để đạt được mục đích sinh kế của họ Hai nguồn vốn tài chính chủ yếu của hộ gia đình là nguồn lực dự trữ và dòng tiền vốn lưu động Tiền gửi tiết kiệm, dự trữ tiền mặt, tài sản có tính thanh khoản cao như vàng bạc đá quý, lương hưu, hay các khoản tiền hỗ trợ từ nhà nước, và tiền gửi của người thân từ nơi khác là những chỉ báo phù hợp [1]

- Vốn xã hội chính là các quan hệ hay sự kết nối giữa cá nhân hay hộ gia đình và các tổ chức, các mạng lưới xã hội Vốn xã hội có thể được chỉ thị bằng các chỉ báo cụ thể như thành viên của các tổ chức, nhóm, mạng lưới, các đặc quyền có được, vị trí xã hội, v.v.[1]

Trang 16

Cách tiếp cận sinh kế ngày nay đã được áp dụng rộng rãi khi nghiên cứu về đặc điểm kinh tế xã hội của hộ

Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp…) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi với điều kiền tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo.[1]

Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp:

- Hoạt động nông nghiệp bao gồm: (1) Trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, cây ăn quả, rau màu….(2) Chăn nuôi: Trâu, bò, lợn, gà, vịt… (3) Lâm nghiệp: Rừng, trồng keo, bạch đàn, mỡ…

- Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch

vụ, buôn bán, làm thuê và ngành nghề khác

Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội mà mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng

Chiến lươ ̣c sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn , kết hơ ̣p, sử dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như đạt đươ ̣c mục tiêu và ước vọn g của họ Những lựa chọn và quyết định của người dân cụ thể như là: Quyết định đầu tư vào loại nguồn vốn hay tài sản sinh kế; Qui mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi; Cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế; Cách thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống; Họ đối phó như thế nào với

Trang 17

rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau; và

họ sử dụng thời gian, công sức lao động mà họ có như thế nào để làm được những điều trên, [1]

Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế - đó là những điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài, bao gồm:

- Sự hưng thịnh hơn: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn; kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lươ ̣ng tiền của hộ gia đình thu đươ ̣c gia tăng.[1]

- Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua đươ ̣c bằng tiền , người ta còn đánh giá đời sồng bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố, ví dụ như căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình đươ ̣c đ ảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt,

sự an toàn của đời sống vật chất.[1]

- Khả năng tổn thương được giảm : Người nghèo luôn phải luôn sống trong trạng thái dể bị tổn thương Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo vệ gia đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị trường, an toàn sau các thảm họa, khả năng kiểm soạt dịch bệnh gia súc, [1]

- An ninh lương thực được củ ng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi trong sự tổn thương và đói nghèo Việc tăng cường an ninh lương thực có thể đươ ̣c thực hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất , nâng cao và ổn định thu hoạch mùa màng , đa dạng hóa các loại cây lương thực, [1]

- Sử dụng bền vững hơn cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên: Sự bền

Trang 18

vững về môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trơ ̣ cho các kết quả sinh kế khác Sinh kế của con người phụ thuộc vào khối lươ ̣ng và chất lươ ̣ng của những nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận.[1]

2.1.3 Thu nhập

2.1.3.1 Khái niệm về thu nhập

Thu nhập là khoản tiền thu từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản xuất trong 1 thời kỳ nhất định

Cơ cấu thu nhập bao gồm: Thu nhập từ kết quả lao động ( tiền công, tiền lương: bao gồm lương hưu, các khoản trợ cấp và bao gồm cả học bổng )

và thu nhập tài chính ( lãi do gửi tiết kiệm, lãi do mua bán đầu tư chứng khoán, thu từ các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác

Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhận được do đã bỏ ra sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế

Thu nhập từ lao động của người lao động bao gồm:

Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chất như lương: gồm tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp thường xuyên mang tính chất cố định và tiền thưởng trong lương; các khoản phụ cấp và thu nhập khác của người lao động được tính vào chi phí sản xuất, vào giá thành của sản phẩm như: Phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, phụ cấp tiền điện thoại cố định, phụ cấp xăng xe, tiền công tác phí, ăn giữa ca ( trường hợp thuê dịch vụ ăn uống bên ngoài không tính vào yếu tố này), trợ cấp thuê nhà

….và các khoản phụ cấp thường xuyên khác cho người lao động, bao gồm các hình thức trả bằng tiền, bằng hiện vật như: thực phẩm, đồ uống, nhiên liệu, quần áo ( trừ quần áo bảo hộ lao động)

Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:

Là các khoản chi phí trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào

Trang 19

chi phí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác ( quà tặng, thưởng của cấp trên…).[2]

2.1.3.2 Phân loại thu nhập

Phân loại theo hình thức thu nhập có:

 Thu nhập trực tiếp: Là thu nhập của lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm

 Thu nhập gián tiếp từ phân phối lại : Là thu nhập của những lao động làm công việc tiêu thụ sản phẩm như những người đi buôn…những người này không trực tiếp tạo ra sản phẩm

Phân loại theo mức thu nhập thì có :

- Thu nhập cao

- Thu nhập trung bình

- Thu nhập thấp

2.1.3.3 Tầm quan trọng của thu nhập

Trong thực tế cuộc sống thu nhập là một yếu tố rất quan trọng, nó biểu hiện ở số tiền, hay các sản phẩm do quá trình lao động mà chúng ta tạo ra và

nó có giá trị cho cuộc sống Để duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, con người cần phải có thu nhập và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong đời sống hàng ngày thu nhập quan trọng như thế nào Với mỗi người, với các mức thu nhập khác nhau thì có thể nói rằng chất lượng cuộc sống mà họ được hưởng cũng khác nhau, với những mức thu nhập cao thì sẽ có được cuộc sống với chất lượng của các dịch vụ và sự sinh hoạt hàng ngày tốt hơn chẳng hạn như: Bữa ăn hàng ngày sẽ đủ chất dinh dưỡng hơn, các đồ dùng sinh hoạt cũng tốt hơn, con cái được học tập trong những ngôi trường chất lượng tốt hơn, nói tóm lại sẽ có được những thứ gần với sự mong muốn hơn, ngược lại những người có thu nhập thấp, những người nghèo thậm chí là đói thì với thu

Trang 20

nhập thấp đó họ có thể ăn không đủ no, mặc không đủ ấm chứ nói gì đến việc

sử dụng các dịch vụ mà cần đến tiền mới có được

Mặt khác, mức sống của người dân bắt nguồn từ thu nhập Thu nhập

là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức sống của một gia đình nông thôn

Tăng thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải thiện và nâng cao mức sống, là cơ sở để tăng tích lũy và tăng đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo Tăng thu nhập cho mỗi người dân đồng nghĩa với việc thu nhập bình quân đầu người mỗi khu vực tăng lên và từ đó thu nhập bình quân quốc gia tăng lên, điều đó thể hiện sự tăng trưởng của mỗi vùng, mỗi quốc gia

2.2 Cơ sở thực tiễn

Nghiên cứu này được thực hiện ở xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu phương thức sinh kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người, và nguồn vốn tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và những nguồn tài nguyên khác như: Tài nguyên nước, tài nguyên rừng…tác động đến hoạt động sinh kế của người dân Ngoài ra, đề tài cũng vẽ nên một bức tranh về cuộc sống của người dân qua các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chỉ tiêu, tình hình giáo dục y tế, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương

Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm

Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển sinh kế nông hộ của các nước đã có nhiều kinh nghiệm để chúng ta học tập

* Thái Lan: Là một nước trong khu vực Đông Nam Á của châu Á, chính phủ Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa đất nước từ lạc hậu

Trang 21

trở thành nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một số chính sách có liên quan đến việc phát triển sinh kế vùng núi ban hành (Từ 1950 đến năm 1980)

+ Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn Mạng lưới đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập Các vùng ở xa (Bắc, Đông bắc, Nam…), đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng

+ Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc

+ Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu như: Ngô, sắn,… sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản

+ Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân vay tiền với lái suất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá trị định trước,… cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Hàng năm có khoảng 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo thời vụ ngày càng gia tăng.[2

* Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực đầu tư cho nông nghiệp nông thôn Một trong những thành tựu của Trung Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao Nguyên nhân của thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho

Trang 22

sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng, vật nuôi, vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông.[2]

* Malaysia: Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa có giá trị cao Vì thế chính sách nông nghiệp của Malaysia tập trung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng Bên cạnh đó chính phủ nước này cũng chú trọng tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản Nhờ đó một vài năm gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao

và ổn định hơn.[2]

Một số nghiên cứu về sinh kế:

- Sinh kế của các hộ dân tái định cư ở vùng bán ngập huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng, sinh kế của các hộ dân tái định cư vùng bán ngập của công trình thủy điện Sơn La Trên cơ sở đánh giá phân tích, đề xuất một số giải pháp tạo sinh kế nhằm ổn định sản xuất và đời sống của các hộ dân di chuyển đến nơi ở mới

- Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đakrong - Quảng Trị (Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này nghiên cứu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với chiến lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đề tài cũng đưa ra những điểm được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các hoạt động sinh kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế bền vững

để người dân tự xây dựng và phát triển chiến lược sinh kế cho bản thân và gia đình vừa đảm bảo điều kiện sống hiện tại vừa bảo đảm cho sự phát triển vững chắc cho tương lai [12]

- Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững tại xã Phong Mỹ, miền Trung Việt Nam của trường Đại học Khoa học & đời sống Praha - Czech

Trang 23

Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Phong Mỹ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, đề tài này nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt đi sâu tìm hiểu phương thức sinh

kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người và nguồn vốn tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và nguồn tài nguyên khác: nước, rừng,… tác động đến hoạt động sinh kế của người dân Ngoài ra, đề tài cũng vẽ lên một bức tranh về cuộc sống của người dân qua các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chi tiêu, tình hình giáo dục - y tế, tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương

- Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền núi thôn 1 - 5, Cẩm Sơn, Anh Sơn, Nghệ An (Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này phân tích các hoạt động sinh kế của người dân miền núi Qua đó xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao động sản xuất của người dân nhằm tìm ra một số giải pháp khả thi cho chiến lược sinh

kế bền vững phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương

Nhận xét về các công trình nghiên cứu về sinh kế trên đây: Đây là những

công trình nghiên cứu mới tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực, thay đổi nhận thức của người dân trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình Trên cơ sở

đó giúp người dân thay đổi được nhận thức, tư duy, phương thức, tập quán sản xuất Tất cả các nghiên cứu trên đây đều đi từ việc phân tích hiện trạng sinh kế

để từ đó đề xuất các can thiệp và giải pháp nhằm phát triển sinh kế bền vững, cải thiện và nâng cao giá trị sản xuất tại địa phương, giúp người dân ổn định cuộc sống.[12]

2.3 Hộ và kinh tế hộ

a) Một số khái niệm về hộ:

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hộ gia đình Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên

Trang 24

cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những khái niệm khác nhau

Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ “

Tác giả Frank Ellis định nghĩa: "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị

trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.[13]

Tại cuộc thảo luận Quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan

năm 1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”

Theo Raul Ituna, một nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp Lisbon, khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số

nước Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân của họ và cộng đồng”

Theo Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010): Hộ gia đình là khái niệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính

và địa lý Còn gia đình là một nhóm người, một cộng đồng người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng tư của các cá nhân, vừa thoả mãn nhu cầu

xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác lẫn tinh thần Gia đình là một hệ thống phức tạp các vị trí và vai trò xã hội mà các thành viên chiếm giữ

và thực hiện, là những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và

Trang 25

phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục, giữa các thành viên.[5],[6]

b) Hộ nông dân:

Theo ông Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề

cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.[7]

Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.[8]

Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường

và có su hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.[13]

Theo Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp ( làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.[3]

c)Kinh tế hộ nông dân:

Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa: "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình,

sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.[13]

Tác giả T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Á thuộc trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, cho rằng: “Ở các nước Châu Á hầu hết

Trang 26

người ta qua niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”

Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn, của gia đình mình là chính

Trang 27

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hộ nông dân của 5 thôn được chọn trong xã Phong Nặm

- Hoạt động sinh kế của người dân 5 thôn trong xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

- Cơ cấu thu nhập của các lao động nông thôn

Thời gian thực tập tốt nghiệp: Từ 26/2 – 20/5/2015

3.1.2.3 Về nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

+ Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phong Nặm

- Điều kiện tự nhiên;

- Điều kiện kinh tế xã hội;

- Tình hình sản xuất nông nghiệp;

+ Thực trạng các hoạt động sinh kế của người dân xã Phong Nặm

- Thông tin về các hộ điều tra tại xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

- Diện tích đất canh tác, đất rừng

- Số hộ trồng và bình quân diện tích cây trồng

- Số hộ nuôi và bình quân số con nuôi

Trang 28

+ Phân tích cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh kế của người dân xã Phong Nặm

- Thu nhập về nông nghiệp

o Thu nhập về trồng trọt

o Thu nhập về chăn nuôi

- Thu nhập về phi nông nghiệp

+ Phân tích những khó khăn, trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân + Đề xuất một số gia ̉i pháp cải thiê ̣n sinh kế tại địa bàn nghiên cứu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

 Thu thập số liệu thứ cấp

Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập các thông tin số liệu đã

có sẵn từ tất cả các nguồn có thể tiếp cận được Đó là các số liệu, tài liệu thu thập từ văn phòng UBND xã Phong Nặm, từ thư viện của khoa KT và PTNT ( Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), từ các trang mạng khai thác trên internet thông qua công cụ tìm kiếm google Phương pháp thu thập này là hỏi, tìm đọc và sao chép, trích dẫn, lựa chọn trên cơ sở tôn trọng số liệu gốc

 Thu thập số liệu sơ cấp

Thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập thông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất kì tài liệu nào, người thu thập có được thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau như: Tìm hiểu, quan sát thực tế, phỏng vấn Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc thông qua bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước để phỏng vấn các hộ nông dân trên địa bàn xã với những thông tin như: thông tin chung của chủ hộ, tình hình sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề mang lại thu nhập, doanh thu, các khoản chi phí và một số thông tin khác

có liên quan

Trang 29

 Phương pháp quan sát trực tiếp

Để ghi nhận con số, sự kiện và những hành vi của bà con nông dân và lí

giải những kết quả đánh giá liên quan đến đề tài Phương pháp này được sử

dụng để quan sát, ghi chép các hiện tượng, sự kiện thực tế tại hiện trường, đồng thời để có thể giải thích một số vấn đề liên quan có được khi sử dụng

các phương pháp khác

3.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Trong xã Phong Nặm có tổng số 9 thôn, được chia thành 9 địa bàn khác nhau Có sự chênh lệch về điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, bắt đầu từ trung tâm của xã chia thành 2 phía có 2 con đường chính đi vào các thôn Phía bên tay trái có 6 thôn, phía tay phải gồm 3 thôn bao gồm cả trung tâm xã Dựa vào

đó, em sẽ chọn ngẫu nhiên có điều kiện 2 thôn trong tổng số 3 thôn của bên tay phải bắt đầu từ trung tâm xã đó là: Canh Cấp - Bài Ban - Kéo Việng và Giốc Rùng Chọn ngẫu nhiên có điều kiện 3 thôn trong tổng số 6 thôn phía bên tay trái đó là: Pác Đông, Nà Chang - Nà Hâu và Lũng Điêng

Với 5 thôn đã chọn có tổng số dân là 187 hộ và được phân loại kinh tế

hộ thành 3 nhóm: Hộ trung bình – khá, cận nghèo và hộ nghèo Căn cứ vào 3 nhóm hộ trên em lựa chọn 60 hộ để điều tra tương ứng với 60 phiếu điều tra Với 60 phiếu cho 3 nhóm hộ em chia đều cho từng nhóm trên tổng số 5 thôn

và được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây:

Trang 30

Bảng 3.1: Tổng số hộ được lựa chọn phân theo thôn và nhóm hộ

hộ

Tỷ lệ (%)

3.3 Phương pháp phân tích và xử lí thông tin

Các thông tin thu thập được qua điều tra phỏng vấn sẽ được tổng hợp vào máy tính trên EXCEL và xử lý bằng phần mềm Pivot Table Tổng hợp thành các bảng, biểu đồ rồi đưa ra các phân tích nhận xét tổng hợp trên trang văn bản Microsft Word

Trang 31

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Phong Nặm

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

4.1.1.1.Vị trí địa lý

Phong Nặm là một xã biên giới, nằm ở phía Bắc của huyện Trùng Khánh, cách thị trấn Trùng Khánh 6 km, cách Thành phố Cao Bằng 71 km, phía Đông giáp xã Ngọc Côn và Ngọc Khê; phía Tây giáp xã Ngọc Chung, phía Nam giáp xã Khâm Thành, phía Bắc giáp Trung Quốc Xã có khu bảo tồn sinh cảnh vượn cao vít

Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng nằm trong địa phận ba xã Phong Nặm, Ngọc Khê và Ngọc Côn thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Là một khu rừng trên núi đá vôi có

tính đa dạng sinh học rất cao, đặc biệt là có loài Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus Kunckel d'Herculais, 1884) là một trong những loài linh trưởng nguy

cấp nhất trên thế giới cần được bảo tồn thì việc quản lý, bảo vệ, sử dụng nguồn tài nguyên rừng tại đây lại càng trở nên cấp thiết hơn

Toàn bộ khu vực rừng của Khu Bảo tồn Vượn Cao Vít trong khoảng tọa độ từ 22053’đến 22056.4’ Vĩ độ Bắc và từ 106030’ đến 106033’ Kinh độ Đông Xã cũng là quê hương của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam La Văn Cầu Toàn xã Có 09 xóm hành chính gồm: Lũng Rì, Lũng Điêng, Đà Bè, Nà Hâu - Nà Chang, Pác Đông, Nà Thông, Bài Ban - Canh Cấp - Kéo Việng, Đà Bút - Nà Đoan, Giốc Rùng Với tổng số dân toàn xã là 1.433 người, 320 hộ, bình quân nhân khẩu toàn xã là 4 người/hộ

4.1.1.2 Khí hậu

Nhiệt độ không khí bình quân trong năm là 19,80C Mùa lạnh thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong đó từ tháng 12 đến tháng 2, nhiệt độ

Trang 32

trung bình thấp hơn 150C Nhiệt độ thấp nhất trong những năm qua là - 30C Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, có nhiệt độ trung bình 24,20C; cao tuyệt đối là 36,30C

Lượng mưa bình quân trong năm là 1665,5 mm; lượng mưa cao nhất đạt 2870,6 mm, lượng mưa thấp nhất là 1188 mm; lượng mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8 hàng năm

Độ ẩm bình quân năm là 81% Từ tháng 11 đến tháng 1 có độ ẩm từ 14% Mùa đông có gió mùa đông bắc (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau) Mùa

9-hè có gió nam và đông nam

4.1.1.3 Địa hình

Do là xã vùng cao biên giới nên địa hình khó khăn, phức tạp, chủ yếu là đồi, núi đá vôi có độ dốc lớn, xen kẽ những thung lũng, đa số đồi núi là đất lâm nghiệp, có thể khoanh nuôi rừng phòng hộ Trên địa bàn xã có các ngọn núi: Bang Nặc, Đa Bê, Keo Tăn, Khan Mín, Lũng En, Lũng Biên, Lũng Cô,

Lũng Lợi, Lũng Mằn, Lũng Páo, Lũng Riên, Lũng Rùng

4.1.1.4 Đất đai

Tổng diện tích đất tự nhiên 2.843,2 ha, trong đó đất nông nghiệp 2.657,91 ha chiếm 93,48 %, đất phi nông nghiệp là 182,4 ha chiếm 6,42 %, đất chưa sử dụng khoảng 2,89 ha, chiếm 0,1 %

4.1.1.5.Tài nguyên nước

Phong Nặm có sông Quây Sơn chảy qua địa phận xã, ngoài ra còn có suối và khe lạch nhỏ Nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân

dân trong xã được khai thác từ hai nguồn nước mặt và nước ngầm, cụ thể:

- Nguồn nước mặt: Phong Nặm có 121,88 ha đất, sông, suối, mặt nước chuyên dùng gồm toàn bộ hệ thống sông, suối, hồ, ao như: Sông Quây Sơn, suối Đà Bè, ngoài ra còn có các đập thủy lợi, các mỏ nước cấp nước sinh hoạt, sản xuất

Trang 33

- Nguồn nước ngầm: Hiện trạng chưa có công trình, dự án nghiên cứu, khảo sát về trữ lượng nước ngầm trên địa bàn xã, song qua điều tra khảo sát

sơ bộ ở một số điểm vực người dân đã đào giếng và sử dụng nước ngầm phục

vụ sinh hoạt, chất lượng khá tốt

Rùng, Pác Đông, Đà Bè Là nơi có quần thể loài vượn Cao Vít (Nomascus nasutus Kunckel d’Herculais, 1884) nguy cấp được biết đến duy nhất chỉ còn

lại ở nơi đây đang sinh sống Chính vì vậy khu vực này được đưa vào diện ưu tiên hàng đầu cấp quốc gia và quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học Năm

2003, Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế - FFI Việt Nam đã tiến hành một cuộc đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng tại một số thôn được lựa chọn để xác định các vấn đề nổi cộm trong việc quản lý tài nguyên trong cộng đồng địa phương

Nhận thức rõ sự cần thiết của việc quản lý bền vững tài nguyên đối với công tác bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh kế, FFI Việt Nam được sự ủng

hộ của Tổ chức Con người Tài nguyên và Bảo tồn – PRCF Việt Nam đã tiến hành xây dựng kế hoạch sự dụng tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia của hơn 1300 hộ dân ở tất cả các thôn thuộc 3 xã Ngọc Khê, Ngọc Côn và Phong Nặm Các bên tham gia đã nhận thức được những hạn chế trong việc sử dụng tài nguyên trong tương lai và mong muốn tạo ra một diễn đàn trong đó mọi đối tượng có lợi ích liên quan đều có thể trình bày quan điểm và chia xẻ thông

Trang 34

tin giữa các hộ gia đình kiểu mẫu và có thể hỗ trợ khi cần thiết cho các hộ gia đình này Do vậy, FFI và PRCF đã tiến hành lập đề xuất cho 1 dự án nhằm giúp tăng cường năng lực cho 5 thôn được lựa chọn cải tiến cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên và xây dựng mối liên kết mạnh mẽ hơn nữa giữa cơ quan khuyến nông, khuyến lâm của huyện với các lực lượng bảo vệ rừng cùng với

sự tham gia vào cuộc của cộng đồng

Mục tiêu của dự án là nhằm cải thiện các giải pháp sinh kế bền vững thông qua việc tăng cường năng lực cho người dân trong thôn bản, cho các cán bộ cấp huyện trong quản lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên và kiểm soát các hoạt động chăn thả gia súc, cải tiến các giải pháp nông lâm kết hợp Dự án được đệ trình tới nhà tài trợ là Quỹ McKnight với ngân sách cho dự án là 107.000 USD thực hiện trong thời gian 36 tháng (2007 – 2010)

Nối tiếp các kết quả của dự án trong pha 1, tổ chức FFI đã tiếp tục đệ trình đề xuất cho giai đoạn 2 vào năm 2010 với mục tiêu là tăng cường quản

lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển sinh kế bền vững mà không làm giảm hơn nữa tài nguyên thiên nhiên, xây dựng mô hình nông lâm kết hợp và các hoạt động cận tín dụng nhỏ phù hợp với quy mô kinh tế hộ gia đình Dự án tiếp tục được Quỹ McKnight tài trợ với ngân sách là 80.000 USD trong thời gian 24 tháng (2010 – 2012)

4.1.2 Cơ sở hạ tầng

Giao thông

 Thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra xử lý các vụ vi phạm lẫn chiếm lòng lề đường hành lang an toàn giao thông trong năm đã tháo gỡ được 1 điểm, thực hiện chương trình Chung sức xây dựng Nông Thôn Mới từ đầu năm đã chỉ đạo các ngành, các xóm xây dựng kế hoạch làm đường nông thôn, huy động bà con làm đường bê tông thôn xóm theo nguồn vốn chương trình 120 bảo vệ đường biên cột mốc hỗ trợ xi măng cho 2 xóm Bài Ban -

Trang 35

Canh Cấp, xóm Giốc Rùng tổng số xi măng là 6 tấn làm đường bê tông, chiều dài 100m, rộng 2,2m đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, tiếp tục xin vốn để đầu tư các tuyến còn lại theo kế hoạch

 Đường ra nội đồng nguồn vốn chương trình 120 bảo vệ đường biên cột mốc cho các xóm đã đăng ký hỗ trợ xi măng, đá 4x6, cát bà con tự túc cho đến nay các xóm đã hoàn thành gồm xóm Giốc Rùng làm được 60 m dài, xóm Đà Bè làm được 290m, xóm Bài Ban 50m, xóm Đà Bút- Nà Đoan 16m, xóm Nà Thông 30m, xóm Pác Đông 40m, đã nghiệm thu và đưa vào sử dụng, còn các xóm đăng ký hiện nay đang thi công Tuy nhiên việc tổ chức triển khai còn chậm nguyên nhân là do chuẩn bị vật liệu không kịp, vướng vào vụ mùa, sức đóng góp của nhân dân có hạn do đó một số xóm vẫn chậm tiến độ

 Tuyến đường nội đồng ở xóm Nà Hâu thực hiện từ nguồn vốn 135 công trình thực hiện chậm tiến độ đến nay vẫn chưa được nghiệm thu

Tài nguyên - môi trường - nước sinh hoạt

 Công tác quản lý đất đai đã được chú trọng, tuy nhiên một số hộ gia đình tiến hành xây dựng nhà ở xuống đất nông nghiệp chưa chuyển mục đích

sử dụng đất do đó gây thất thu nguồn phí vào ngân sách nhà nước

 Cơ bản nhân dân trong xã được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 90%

 Vệ sinh môi trường được cải thiện, thường xuyên vận động nhân dân tham gia hưởng ứng phong trào tuần lễ quốc gia, nước sạch vệ sinh môi trường, tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp luật về môi trường, quy ước, hương ước nếp sống văn hóa ở khu dân cư, tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường ở sông suối vẫn còn xảy ra, nguyên nhân là do ý thức của người dân chưa được tốt, còn vứt xác động vật xuống sông, suối

Trang 36

Thủy lợi

 Thực hiện kiên cố hóa kênh mương theo Nghị định của HĐND huyện Từ đầu năm Uỷ ban nhân dân đã có kế hoạch chỉ đạo bà con nông dân trong xã sửa chữa phai, guồng cọn, mương nội đồng đảm bảo đủ nước tưới

tiêu kịp thời cho mùa vụ

 Ban quản lý thủy nông từ đầu năm đã chủ động phân phối, điều tiết

2 kênh nhánh A và B mương thủy lợi Cò Páo Thường xuyên kiểm tra điều tiết nước được duy trì đều, và phát quang 2 bên lòng kênh đảm bảo lưu thông, không ảnh hưởng đến dòng chảy

 Về kênh mương nội đồng hiện nay đang thi công tại xóm Nà Thông

do công ty thủy nông Cao Bằng làm chủ đầu tư Đơn vị thi công là doanh nghiệp Nam Hồng đảm nhiệm

 Chương trình 115 được triển khai từ đầu năm, làm mới kênh mương nội đồng xóm Lũng Rì được 100m, xóm Lũng Điêng, xóm Canh Cấp được 236m, lấp lỗ xoáy tổng chiều dài 5m tại xóm Đà Bè Tổng xi măng hỗ trợ cho các xóm trên là 11,95 tấn, cát hỗ trợ là 46,53 m3 do xã quản lý, hỗ trợ mua máy bơm nước xóm Lũng Rì, tổ chức ký kết hợp đồng với các hộ sử dụng nước tưới tiêu từ đầu vụ, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng vào cuối vụ, lập hồ

sơ thanh quyết toán vốn đầu tư gửi cơ quan chuyên môn cấp trên theo quy định Căn cứ tờ trình của các xóm, Ban quản lý thủy nông đã kết hợp với Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Trùng Khánh khảo sát các tuyến mương guồng cọn cần tu sửa trong năm

Năng lượng điện

100% người dân trong xã được sử dụng điện lưới quốc gia, mạng lưới điện cung cấp đảm bảo đầy đủ cho quá trình sản xuất, tiêu dùng của người dân

Trang 37

4.1.3 Kinh tế

a) Về trồng trọt

Phong Nặm là một xã thuần nông, chủ yếu là người Tày sinh sống Họ dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính Cây lương thực chính ở đây là lúa và ngô Cùng với quá trình tận dụng đất đai kết hợp với điều kiện thời tiết thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô nên người dân ở đây chủ yếu trồng ngô 2 vụ ( vụ đông - xuân, vụ hè - thu) Ngoài lúa và ngô là cây trồng chính và chủ yếu thì còn một số cây khác cũng được trồng trên địa bàn xã như sắn, đậu tương, thuốc lá…

Được sự chỉ đạo và quan tâm sát sao của cán bộ xã đặc biệt là bên khuyến nông trong quá trình phòng chống sâu bệnh hại cây trồng hàng kỳ Cùng với những kinh nghiệm lâu đời trong sản xuất của người dân, đã thúc đẩy năng suất và sản lượng cây trồng trong xã tăng lên đáng kể, phần nào cung cấp đảm bảo đầy đủ về thức ăn sinh hoạt hằng ngày của người dân trong thôn cũng như trong chăn nuôi

Bảng 4.1: Diện tích, năng suất và sản lƣợng các loại cây trồng chính tại

xã Phong Nặm năm 2012

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lƣợng (Tấn)

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích sinh kế - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Sơ đồ 2.1 Khung phân tích sinh kế (Trang 14)
Bảng 3.1: Tổng số hộ đƣợc lựa chọn phân theo thôn và nhóm hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 3.1 Tổng số hộ đƣợc lựa chọn phân theo thôn và nhóm hộ (Trang 30)
Bảng 4.1: Diện tích, năng suất và sản lƣợng các loại cây trồng chính tại - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.1 Diện tích, năng suất và sản lƣợng các loại cây trồng chính tại (Trang 37)
Bảng 4.6: Bình quân diện tích đất canh tác ruộng, rẫy và - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.6 Bình quân diện tích đất canh tác ruộng, rẫy và (Trang 43)
Bảng 4.8: Số hộ trồng và bình quân diện tích các cây trồng - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.8 Số hộ trồng và bình quân diện tích các cây trồng (Trang 45)
Bảng 4.9: Số hộ trồng và bình quân diện tích các cây trồng theo thôn - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.9 Số hộ trồng và bình quân diện tích các cây trồng theo thôn (Trang 46)
Bảng 4.10: Số hộ nuôi và bình quân số con theo nhóm hộ (con/hộ) - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.10 Số hộ nuôi và bình quân số con theo nhóm hộ (con/hộ) (Trang 48)
Bảng 4.11: Số hộ nuôi và bình quân số con theo thôn (con/ hộ) - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.11 Số hộ nuôi và bình quân số con theo thôn (con/ hộ) (Trang 49)
Bảng 4.12: Tỷ lệ thu nhập về nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ (%) - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.12 Tỷ lệ thu nhập về nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ (%) (Trang 51)
Bảng 4.18: Bình quân thu nhập từ vật nuôi theo nhóm hộ ( triệu đồng/ năm) - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.18 Bình quân thu nhập từ vật nuôi theo nhóm hộ ( triệu đồng/ năm) (Trang 57)
Bảng 4.19: Tỷ lệ thu nhập từ vật nuôi theo thôn (%) - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.19 Tỷ lệ thu nhập từ vật nuôi theo thôn (%) (Trang 58)
Bảng 4.21: Tỷ lệ thu nhập từ phi nông nghiệp phân theo thôn và nhóm hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã phong nặm   huyện trùng khánh   tỉnh cao bằng
Bảng 4.21 Tỷ lệ thu nhập từ phi nông nghiệp phân theo thôn và nhóm hộ (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w