1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại

7 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 51,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

RñI RO TRONG HO¹T §éNG CñA NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I Trong quá trình tồn tại, hoạt động các NHTM luôn phải đối phó với rất nhiều vấn đề, mà quan trọng nhất là duy trì được thường xuyên tình t

Trang 1

RñI RO TRONG HO¹T §éNG CñA NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I

Trong quá trình tồn tại, hoạt động các NHTM luôn phải đối phó với rất nhiều vấn đề, mà quan trọng nhất là duy trì được thường xuyên tình trạng cân đối giữa nhu cầu và khả năng có được nguồn vốn trong mọi điều kiện để đảm bảo sự ổn định, vững chắc về tài chính cho ngân hàng và làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Muốn vậy, các nhà quản trị ngân hàng không thể không tập trung vào vấn đề quản trị rủi ro khi muốn tối đa hoá lợi nhuận và đưa ra được các biện pháp giảm thiểu thiệt hại cho ngân hàng Theo quan điểm của các học giả Mỹ, “ rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”, “ rủi ro

là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất” Rủi ro thường được đo lường bằng độ chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế với mức lợi nhuận dự kiến Đối với NH, rủi ro có thể hiểu là mối đe doạ bị tổn thất một phần vốn của mình và không đạt được thu nhập hay đòi hỏi các khoản chi phí bổ sung để thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhất định Trên thực tế, rủi

ro ngân hàng có thể xuất hiện tại tất cả các nghiệp vụ của ngân hàng như: thanh toán, tín dụng, tiền gửi, ngoại tệ, đầu tư Vì vậy, vấn đề rủi ro ngân hàng luôn được các NHTM tại các nước phát triển đặc biệt chú trọng nghiên cứu, phân tích, thậm chí ngay cả khi nền kinh tế đang rất ổn định Do đó, để hội nhập với nền kinh tế thế giới thì các NHTMVN cần phải có các biện pháp khác nhau để xác định mức độ rủi ro dự báo có thể xảy ra trong hoạt động và đưa ra được các giải pháp nhằm giảm thiểu mức độ của từng loại rủi ro Phương pháp xác định và đánh giá rủi ro phải thường xuyên thay đổi cho phù hợp, bởi nó liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có cả những yếu tố phát sinh từ bản thân ngân hàng và cả các yếu tố nằm ngoài khả năng điều chỉnh của ngân hàng

Trước hết, mỗi NHTM phải phân rủi ro thành 3 loại:

- Rủi ro trong cho vay ( rủi ro tín dụng ) đó là các khoản nợ đến hạn không trả được do thông tin không cân xứng, do khách hàng cung cấp thông tin khác sự thật

- Rủi ro thanh toán ( rủi ro trong tiền dự trữ ) là do lượng tiền dự trữ trong NHTM không đủ cho dòng tiền rút ra

- Rủi ro lãi suất là nếu một ngân hàng có nhiều tài sản nợ loại nhạy cảm với lãi suất hơn tài sản có Một sự gia tăng lãi suất sẽ làm giảm lợi

Trang 2

nhuận của ngân hàng, trong khi đó một sự sụt giảm lãi suất sẽ làm tăng lợi nhuận của ngân hàng

Tiếp đó ngân hàng phải đánh giá thực trạng để có thể phân tích rủi ro nhằm đưa ra được phương pháp tránh hoặc giảm thiểu rủi ro tối đa theo từng loại Một trong những nội dung hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) là huy động tiền nhàn rỗi từ những người thừa vốn để cho những người thiếu vốn vay với mục đích thu hồi được tiền gốc và lãi cho vay vào một thời điểm nhất định trong tương lai Tuy nhiên, hoạt động cho vay của các ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro khiến cho ngân hàng có thể không thu hồi được hoặc không thu hồi đủ tiền gốc và lãi khi đến hạn Trong lịch sử hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã từng xảy ra những vụ án lớn bắt nguồn từ rủi ro tín dụng, như vụ Epco-Minh Phụng Chính vì vậy, công tác quản trị rủi ro tín dụng luôn phải đi kèm với hoạt động cho vay của NHTM Cùng với thời gian, tính chất của rủi ro tín dụng cũng thay đổi khi các doanh nghiệp phải cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn trong việc đưa ra những sản phẩm và dịch vụ mới nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế, vì vậy, họ sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro tín dụng nhiều hơn Các NHTM phải đối mặt với mức độ rủi ro tín dụng (hoặc rủi ro đối tác) ngày càng tăng không chỉ

ở các khoản cho vay mà còn ở những công cụ tài chính khác như giao dịch liên ngân hàng, tài trợ thương mại, giao dịch ngoại hối, swaps, trái phiếu, cổ phiếu, quyền lựa chọn, bảo lãnh…

Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD), theo Điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để

xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết Mục đích của quản trị rủi ro tín dụng là nhằm tối đa hoá lợi nhuận và duy trì rủi ro tín dụng trong phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận được

Hiện nay, hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 60%) trong danh mục tài sản có, do đó, song song với việc tăng trưởng tín dụng, nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thống ngân hàng là phải chú trọng hơn nữa đến việc áp dụng và hoàn thiện các giải pháp nâng cao quản

Trang 3

trị rủi ro tín dụng, như: xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, chính sách dự phòng rủi ro, xác định giới hạn tín dụng đối với khách hàng, ban hành sổ tay tín dụng, trong đó quy định chính sách tín dụng của ngân hàng, chiến lược tăng trưởng tín dụng phân theo đối tượng khách hàng, khu vực, ngành và phát triển các chính sách khách hàng dựa vào việc đánh giá và phân loại khách hàng, quản trị lãi suất và quản trị thanh khoản nhằm đảm bảo tính hiệu quả và phát triển bền vững trong hoạt động tín dụng

Trong những năm qua, hoạt động tín dụng ngân hàng đã đạt được những thành tựu không nhỏ đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh

tế đất nước Các NHTM đã quan tâm hơn tới việc kiểm soát tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, tập trung vào hiệu quả của các hoạt động tín dụng Quy trình tín dụng được thực hiện gần hơn với chuẩn mực quốc tế Danh mục cho vay theo nhóm khách hàng của các NHTM tiếp tục thay đổi tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp nhà nước, tăng dần tỷ trọng cho vay đối với thành phần kinh tế phi nhà nước (tỷ trọng dư nợ tín dụng khu vực nhà nước chiếm khoảng 39%/tổng dư nợ vào 12/2002 và giảm xuống còn 34% vào 12/2004) Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển kinh tế Việt Nam và thế giới vì khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế năng động, phát triển nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu nhập quốc dân

Nhờ những biện pháp quản trị rủi ro tín dụng hiện đại nên trong nhiều năm qua tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại (NHTM) tính theo tiêu chuẩn Việt Nam đã giảm liên tục, từ 8,5% năm 2001 xuống 4,74% năm 2003 và đến cuối tháng 11/2004 xuống còn 4,4% Xu hướng giảm dần nợ xấu là một cố gắng lớn của các NHTM trong việc nâng cao chất lượng tín dụng và ngăn ngừa nợ xấu Tuy nhiên, nếu hạch toán theo tiêu chuẩn quốc tế thì nợ xấu trong các NHTM Việt Nam vẫn còn khá lớn Bên cạnh đó, hệ số an toàn vốn của toàn hệ thống NHTM chưa đạt tới thông lệ quốc tế (³ 8%), rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá lớn (chỉ có 28% nguồn vốn huy động là vốn trung, dài hạn và 29% trong tổng nguồn vốn huy động là bằng ngoại tệ) và khả năng sinh lời, hiệu quả sử dụng tài sản có còn thấp chưa tương xứng với mức độ rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu §ång thêi, công tác cung cấp, khai thác và sử dụng thông tin tín dụng tại nhiều NHTM vẫn còn yếu, còn có tình trạng một khách hàng vay vốn tại nhiều NHTM

Trang 4

nhưng không có sự kiểm tra, đánh giá về mức độ rủi ro Việc phân tích, đánh giá rủi ro khách hàng còn nhiều bất cập, chưa hỗ trợ hiệu quả cho việc ra quyết định cho vay và thu hồi nợ Nguyên nhân của tình trạng này là do công tác quản trị rủi ro tín dụng chưa được tiến hành một cách quy mô, rủi ro tín dụng chưa được xác định, đo lường, đánh giá và kiểm soát một cách chặt chẽ, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập

Để đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả và bền vững, góp phần tăng trưởng kinh tế, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu của

Uỷ ban Basel (Basel II) về quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng, gần đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành một số văn bản liên quan đến công tác quản trị rủi ro tín dụng nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, như:

- Chỉ thị số 02/2005/CT-NHNN ngày 20/4/2005 yêu cầu các NHTM tuân thủ đúng các quy định về cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu, bao thanh toán và bảo đảm tiền vay, bảo đảm tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn, đảm bảo chú trọng đến công tác quản trị rủi ro, kiểm tra, kiểm soát nội bộ;

- Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 của Thống đốc NHNN sửa đổi bổ sung Quy chế cho vay của NHTM đối với khách hàng Các nội dung được sửa đổi quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ là do NHTM tự xem xét, quyết định trên cơ sở khả năng tài chính của mình và kết quả đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng;

- Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 của Thống đốc NHNN ban hành Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của NHTM;

- Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để

xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của NHTM

Các NHTM hiện đang thực hiện xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng nội

bộ phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế, đặc điểm kinh doanh của NHTM theo tinh thần Quyết định số 493 của Thống đốc NHNN Đây là một bước tiến mới trong tiếp cận an toàn vốn, không chỉ nhằm mục đích phân loại nợ, mà nhằm đánh giá rủi ro khoản vay, quản lý chất lượng tín

Trang 5

dụng NHTM phải trỡnh NHNN chớnh sỏch dự phũng rủi ro trờn cơ sở hệ thống xếp hạng tớn dụng nội bộ và chỉ được thực hiện sau khi được sự chấp thuận bằng văn bản của NHNN Hệ thống xếp hạng tớn dụng phải được ỏp dụng thử nghiệm ớt nhất trong vũng một năm trước khi chớnh thức đưa vào thực hiện Do đú, mỗi ngõn hàng cần phải cú biện phỏp quản lý việc xử lý rủi

ro thông qua các hoạt động:

- Đẩy mạnh cụng tỏc kiểm soỏt nội bộ với mục tiờu quan trọng xõy dựng được hệ thống tỡm kiếm những xu hướng tiềm ẩn tiờu cực, bất ổn và thiếu sút trong hoạt động của ngõn hàng để đưa ra biện phỏp chấn chỉnh;

- Khi xõy dựng chiến lược hoạt động cần phõn tớch, tớnh toỏn cỏc điều kiện kinh tế vĩ mụ, xu hướng phỏt triển của thị trường dịch vụ, thị trường vốn, trong đú cú tớnh đến tỡnh hỡnh quốc tế;

- Chỉ chấp nhận cỏc loại rủi ro cho phộp đối với từng nghiệp vụ sau khi

đó phõn tớch chi tiết trờn tất cả cỏc khớa cạnh luật phỏp và kinh tế;

- Tớch cực ỏp dụng cỏc khuyến nghị của ủy ban Basel về giỏm sỏt ngõn hàng;

- Khi quyết định thực hiện cỏc nghiệp vụ cần phõn chia phự hợp nguồn vốn của ngõn hàng với mức độ rủi ro cho phộp;

- Nõng cao chất lượng chuyờn nghiệp của cỏn bộ cụng nhõn viờn, đồng thời tập trung xõy dựng thương hiệu cho ngõn hàng với mục tiờu giảm thiểu rủi ro nhõn lực và rủi ro hoạt động;

- Nõng cao “độ mở” thụng tin hoạt động thụng qua cỏc bỏo cỏo tỡnh hỡnh tài chớnh của ngõn hàng với cỏc đối tỏc, khỏch hàng và cỏc tổ chức thanh tra, kiểm toỏn;

- Mở rộng hỡnh thức đồng tài trợ với mục tiờu hợp lý hoỏ sử dụng nguồn vốn và giảm thiểu rủi ro;

- Cần xem xột ưu tiờn quan hệ tớn dụng đối với cỏc ngành sản xuất hàng hoỏ xuõt-nhập khẩu; tham gia vào cỏc dự ỏn đầu tư phỏt triển chuyển giao cụng nghệ; mở rộng tớn dụng bỏn lẻ cho khỏch hàng là cỏc doanh nghiệp nhỏ

và vừa và tớn dụng tiờu dựng

Trang 6

- Chú trọng hơn nữa đến đầu tư công nghệ thông tin nhằm phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, đo lường rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng

- Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát tín dụng trong toàn hệ thống

- Hoạt động quản lý tài sản Nợ - tài sản Có cần được coi trọng trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng Cơ sở của hoạt động quản lý tài sản Nợ- tài sản Có là các báo cáo hàng ngày về hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là tình hình bản cân đối kế toán, được thực hiện trên nền tảng hệ thống thông tin quản lý, hệ thống giao dịch trực tuyến và xử lý giao dịch tập trung của công nghệ

tµi liÖu tham kh¶o.

1 Bùi Kim Ngân - Một số vấn đề về nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng

của các ngân hàng thương mại Việt Nam (Số chuyên đề) Ngày 18/11/2005

-website:www.sbv.gov.vn

2 TS Phí Trọng Hiển - Quản trị rủi ro ngân hàng: Cơ sở lý thuyết, thách thức thực tiễn và giải pháp cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (Số chuyên đề) Ngày 18/11/2005 - website:www.sbv.gov.vn

3 FREDERIC S.MISHKIN - Ch¬ng 9: ng©n hµng vµ qu¶n lý ng©n hµng ( trang 284 ) Gi¸o tr×nh:TiÒn tÖ,Ng©n hµng vµ ThÞ tr¬ng tµi chÝnh -Nhµ xuÊt b¶n Khoa häc vµ Kü thuËt 2001

Bæ xung về giải pháp bổ sung vốn điều lệ và tăng vốn tự có của NHTM nhà nước:

- Bổ sung vốn điều lệ: Trong thời gian tới, Ngân sách Nhà nước cần tiếp tục bổ sung vốn điều lệ cho các NHTM nhà nước để bảo đảm luôn duy trì vốn cấp 1 đạt tối thiểu 4% tổng tài sản có rủi ro đến cuối năm 2007 Sau đó, các NHTM nhà nước có thể thực hiện cổ phần hoá để huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu thu hút vốn từ thị trường Đây là giải pháp khả thi trong điều kiện ngân sách nhà nước còn khó khăn như hiện nay

- Tăng vốn tự có:

+ Đánh giá lại giá trị tài sản cố định và chứng khoán đầu tư, theo đó, phần giá trị tăng thêm của các loại tài sản này sau khi định giá lại có thể đạt giá trị tương đối cao, góp phần tăng cường vốn tự có của NHTM nhà nước

Trang 7

+ Phát hành trái phiếu chuyển đổi và các công cụ nợ khác

+ Trích lập dự phòng chung Đối với ngân hàng khó khăn về tài chính, khi trích lập dự phòng, có thể đề xuất phương án kiến nghị nhà nước hỗ trợ xử lý các khoản nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) của các doanh nghiệp nhà nước, dành nguồn trích dự phòng chung để tăng vốn

Ngày đăng: 19/08/2015, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w