1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Rủi ro va quản lý rủi ro tín dụng

21 552 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 78,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hoạtđộng của ngân hàng có thể tóm lược qua các công việc chủ yếu sau: nhận gửi và chi trả hộ, thực hiện tàitrợ, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, cung cấp các dịch vụ… So với các đơn vị k

Trang 1

Rủi ro và quản lý rủi ro trong Ngân hàng thương mại

Mục lục

1 Rủi ro trong kinh doanh của NHTM Việt Nam:

Ngân hàng là một trung gian tài chính Vai trò trung gian của ngân hàng thể hiện qua việc ngânhàng là đầu mối kết nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế Trong đó, một phía là các chủ thể có tiền, cònphía bên kia là những chủ thể cần tiền Trong vai trò trung gian, ngân hàng có thể “hứng chịu” rủi ro đến

từ hai phía Để có thể nhận biết được những rủi ro trong hoạt động của ngân hàng cần quan sát các hoạtđộng mà các ngân hàng đang thực hiện và phân tích những rủi ro trong quá trình hoạt động đó Các hoạtđộng của ngân hàng có thể tóm lược qua các công việc chủ yếu sau: nhận gửi và chi trả hộ, thực hiện tàitrợ, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, cung cấp các dịch vụ…

So với các đơn vị kinh doanh khác, hoạt động của ngân hàng có đặc điểm sau:

* Lượng tiền mà NHTM sử dụng: Đại bộ phận số tiền mà ngân hàng sử dụng để tài trợ cho kháchhàng không phải là vốn của ngân hàng mà được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu

là tiền gửi của các chủ thể trong nền kinh tế Điều này cũng có nghĩa là việc ngân hàng nhận được nhiềuhay ít tiền gửi đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng Rủi ro có thể phát sinh từ sựhình thành các nguồn tiền mà ngân hàng sử dụng

* Về hướng sử dụng tiền của ngân hàng: Tiền ngân hàng chuyển cho khách hàng sử dụng vượtkhỏi tầm quản lý trực tiếp của ngân hàng Khả năng thu hồi vốn của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vàochính bản thân ngân hàng và khách hàng mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan khác tácđộng đến ngân hàng và khách hàng Đặc trưng này liên quan tới khả năng dự liệu những rủi ro có thể xảy

ra của ngân hàng

* Khách hàng của ngân hàng vừa là người cung ứng vừa là những người sử dụng tài nguyên củangân hàng Mối quan hệ đặc biệt giữa ngân hàng với khách hàng là điều kiện quan trọng vừa giúp chongân hàng có thể giảm thiểu rủi ro nhưng đồng thời cũng gây cho ngân hàng những tổn thất không đáng

có nếu như ngân hàng quá tin đến mức thiếu thận trọng đối với những khách hàng quen

* Sự giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước: Không có lĩnh vực kinh doanh nào lại chịu sựgiám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý Nhà nước như lĩnh vực kinh doanh của các ngân hàng Mặc dùmục tiêu giám sát của các cơ quan này nhằm giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế thông qua cơ chế quản lýtài chính đối với các hoạt động của ngân hàng, nhưng cũng có thể điều này gây nên tâm lý thụ động hoặc

ỷ lại của ngân hàng, hoặc “đơn giản hoá”, bỏ qua các vấn đề cần được quan tâm Chính điều này tiềm ẩnrủi ro khó lường cho ngân hàng

1.1 Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Rủi ro trong hoạt động ngân hàng rất đa dạng và được đề cập tới theo nhiều tiêu thức khác nhau,theo những quan điểm và yêu cầu quản lý khác nhau Nhưng có một số loại rủi ro thường được nhắc tớinhiều nhất như:

Trang 2

* Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hang vay khôngtrả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.

* Rủi ro thanh khoản: là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượtquá khả năng thanh khoản dự kiến, làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làmcho ngân hàng mất khả năng thanh toán

* Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố cóliên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập của ngân hàng

* Rủi ro tồn đọng vốn: xảy ra khi vốn bị tồn đọng lớn không cho vay và đầu tư làm thu nhập của Ngânhàng bị giảm sút

Ngoài ra, cũng phải kể đến những loại rủi ro khác như khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn trongthanh toán, hỏa hoạn…

1.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Mỗi loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng xuất phát từ những nguyên nhân riêng, nhưng nhìnchung có thể xem xét nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động ngân hàng dưới 3 giác độ:

- Thứ nhất, từ phía ngân hàng: cơ cấu ngân hàng, phương thức quản lý, trình độ lãnh đạo chưa đạt hiệuquả; đạo đức và trình độ nhân viên yếu kém; uy tín ngân hàng không cao …

- Thứ hai, từ phía khách hàng: làm ăn thua lỗ hoặc yếu kém, cố tình chây ì hoặc lừa đảo… dẫn đến khôngtrả được nợ cho ngân hàng

- Thứ ba, từ phía môi trường bên ngoài: thay đổi bất thường trên thị trường vượt quá khả năng phán đoáncủa ngân hàng như thay đổi lãi suất và tỷ giá, khủng hoảng nợ dây chuyền, những thay đổi trong quyếtđịnh của chính phủ

1.3 Ảnh hưởng của rủi ro đối với hoạt động ngân hàng:

Rủi ro gắn liền với hoạt động NHTM, khi tổn thất xảy ra trước hết thu nhập của ngân hàng giảmsút, dẫn đến tỷ suất lợi tức và thị giá cổ phiếu của ngân hàng giảm Việc cổ phiếu giảm giá nếu khôngđược kịp thời chấn chỉnh, sẽ có thể kéo theo việc bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trường, là điểm mở đầucủa quá trình mua lại, sát nhập hoặc thay thế ban quản lý ngân hàng

Rủi ro tín dụng và lãi suất có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với việc hàng loạt người gửi tiền rúttiền ra khỏi ngân hàng, buộc ngân hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản

Tổn thất ở mức thấp làm giảm quỹ dự phòng, giảm vốn và quỹ của ngân hàng Để đối phó vớitình huống trên ngân hàng có thể phải giảm tiền lương, giảm lao động…

Rủi ro sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng: mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động,giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản; khiến ngân hàng thua lỗ, phá sản, sẽ ảnh hưởng đếnnhững khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng vay tiền,… làm giảm niềm tin của công chúng vào hệthống ngân hàng Từ đó có thể làm nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp, sẽ kéotheo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trong nước, trong khu vực; Ngoài ra rủi ro tín dụng cũng ảnhhưởng đến nền kinh tế thế giới trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay

Trang 3

2 Rủi ro tín dụng:

2.1 Bản chất của rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của ngân hàng thươngmại – hoạt động tín dụng Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích cácyếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất và ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằngrủi ro tín dụng sẽ không xảy ra Tuy nhiên không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dựđoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi donhiều nguyên nhân, cộng thêm vào đó nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân tích tín dụng

thích đáng Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi,

là khách quan.

Nhiều quan điểm nhất trí rằng rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng,hạn chế chứ không thể loại trừ Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạtđộng chung của ngân hàng

2.2 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng:

a, Nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:

- Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn

- Tốc độ tăng giảm của các tỷ lệ trên: tỷ lệ càng cao tốc độ tăng cho thấy rủi ro cao và có xu hườngtăng và ngược lại

b, Nợ có vấn đề ( có khả năng trở thành nợ quá hạn)

Nhiều khoản cho vay tuy chưa xếp vào nợ quá hạn xong ngân hàng nhận thấy rủi ro đang gia tăng (cócác dấu hiệu không tốt như doanh thu sụt giảm, chi phí gia tăng ) Tỷ lệ càng cao, tốc độ tăng chothấy rủi ro cao, có xu hướng tăng và ngược lại

c, Một số ngân hàng dùng phương pháp chấm điểm (xếp hạng tín dụng) để phản ánh rủi ro tín dụng.Đây là phương pháp đo lường rủi ro tín dụng hiện đại, đòi hỏi ngân hàng phải có phần mềm quản lýtập trung Khách hàng vay vốn sẽ được chấm điểm dựa trên các yếu tố tài chính và phi tài chính (tìnhhính tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả dự án, mối quan hệ với ngân hàng và tính sòngphẳng…) sau đó được xếp hạng Hàng càng cao (A) rủi ro càng thấp và ngược lại

o Nợ quá hạn là Nợ đến hạn mà khách hàng không trả được Tuy nhiên đối với món vay được trả làm nhiều lần (trả góp), khi khách hàng không trả được nợ vào 1 kỳ nhất định trong thời gian vay, không có quy định rõ ràng là NH phải chuyển dư nợ chưa trả kỳ đó hay toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn Hơn nữa, NH có thể gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, làm cho món nợ đến hạn trả mà khách hàng không trả được sẽ không bị chuyển nợ quá hạn.→ NQH ko phải là chỉ tiêu đáng tin cậy để đánh giá RRTD.

o Tính đa dạng hóa, Tình hình tài chính và phương án của người vay, TSĐB không phải là chỉ tiêu

đo lường được RRTD do không nói lên được mức độ RRTD của NH, mà chỉ là yếu tố ảnh hưởng đến RR

Trang 4

2.3 Các công cụ quản lý rủi ro tín dụng:

Tín dụng là hoạt động chính yếu của ngân hàng Nếu quản lý tốt, tín dụng sẽ góp phần đáng kểtrong việc tạo ra lợi nhuận và làm tăng giá trị ngân hàng Ngược lại, nếu quản lý kém, tín dụng có thể gây

ra tổn thất lớn và làm giảm giá trị ngân hàng Một trong những mục tiêu quan trọng của quản lý tín dụng

là làm giảm tối đa rủi ro tín dụng Muốn vậy, ngân hàng cần phải lượng hóa và đánh giá được rủi ro tíndụng để từ đó có các biện pháp quản lý hiệu quả

2.3.1 Lượng hóa rủi ro tín dụng

Lượng hóa rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro của kháchhàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như

để trích lập dự phòng rủi ro Sau đây là các mô hình được áp dụng tương đối phổ biến:

* Mô hình chất lượng 6 C:

(1) Tư cách người vay (Character)

Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích xin vay của khách hàng có phùhợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh củakhách hàng hay không, đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàngmới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như từ: trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàngbạn, từ các cơ quan thông tin đại chúng,…

(2) Năng lực của người vay (Capacity)

Tùy thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia Đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự

và năng lực hành vi dân sự

(3) Thu nhập của người đi vay (Cash)

Trước hết, phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thunhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,…

(4) Bảo đảm tiền vay (Collateral)

Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay chongân hàng

(5) Các điều kiện (Conditions)

Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩuvới điều kiện thâu ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ươngtheo từng thời kỳ

(6) Kiểm soát (Control)

Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnhhưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn củangân hàng hay không?

* Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & poor:

Trang 5

Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu vàkhoản cho vay Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó cóMoody và Standard & Poor là những dịch vụ tốt nhất.

Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor thì cao nhất là AAA Việcxếp hạng giảm dần từ Aa (Moody) và AA (Standard & Poor) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro khôngđược hoàn vốn cao Trong đó, chứng khoán (khoản cho vay) trong 4 loại đầu được xem như loại chứngkhoán (cho vay) mà ngân hàng nên đầu tư, còn các loại chứng khoán (khoản cho vay) bên dưới được xếphạng thấp hơn thì ngân hàng không đầu tư (không cho vay) Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ

tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi nhuận nên những chứng khoán (khoản cho vay) tuy được xếp hạng thấp (rủi

ro không hoàn vốn cao) nhưng lại co lợi nhuận cao nên đôi lúc ngân hàng vẫn chấp nhận đầu tư vào cácloại chứng khoán (cho vay) này

2.3.2 Đánh giá rủi ro tín dụng → đây chính là phần các chỉ tiêu phản ánh RRTD

Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng là:

* Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%

Quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của các Ngân hàng thương mạikhông được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉđược phép là 5 đồng Nợ quá hạn (non performing loan – NPL) là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ

nợ gốc và hoặc lãi đã quá hạn

Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép

và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn trong hệthống ngân hàng thương mại Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạnthành các nhóm sau:

+ Nợ quá hạn dưới 90 ngày – Nợ cần chú ý

+ Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn

+ Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ

+ Nợ quá hạn trên 361 ngày – Nợ có khả năng mất vốn

* Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay

Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) là khoản nợ mang cácđặc trưng sau:

+ Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn

+ Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng khôngthu hồi được cả vốn lẫn lãi

+ Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợgốc và lãi

+ Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày

Trang 6

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005, nợ xấu của tổ chức tín dụng bao gồm cácnhóm nợ như sau:

- Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi

nợ gốc và lãi khi đến hạn và có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi Bao gồm: Các khoản nợ quáhạn từ 90 đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã

cơ cấu lại

- Nhóm nợ nghi ngờ: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao Bao gồm:Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngàyđến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

- Nhóm nợ có khả năng mất vốn: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thuhồi, mất vốn Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý;Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại Theo quyđịnh hiện nay, tỷ lệ này không được vượt quá 3%

* Tỷ lệ xóa nợ

Tỷ lệ xóa nợ = x 100%

 Sau khi lượng hóa NH sẽ trích lập dự phòng để bù đắp rủi ro nếu có

a, Dự phòng cụ thể:

Cho dù được phân loại theo phương pháp nào, tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ 1,

2, 3, 4, và 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100% Quyết Định 493 đưa ra cách tính số tiền dự

phòng bằng công thức hoàn toàn mới khác với cách tính dự phòng quy định tại các quy định trước

đây.Quyết Định 493 đưa ra công thức tính số tiền dự phòng như sau:

R = max {0, (A-C)} x r

trong đó, R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: giá trị khoản nợ (số dư nợ gốc của khoản nợ)

C: giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm (giá trị định giá tạo thời điểm định giá x tỷ lệ khấu trừ qui định tại khoản 3, điều 8 QĐ493)

r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể

Như vậy, số tiền dự phòng cụ thể không chỉ phụ thuộc vào giá trị khoản nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng,

mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản bảo đảm Nếu giá trị tài sản bảo đảm sau khi được tính theo tỷ lệphần trăm lớn hơn giá trị khoản nợ, thì số tiền dự phòng cũng bằng không có nghĩa là tổ chức tín

dụng trên thực tế không phải lập dự phòng cho khoản nợ đó

b, Dự phòng chung:

số tiền dự phòng = 0,75% tổng dư nợ gốc từ nhóm 1- 4 theo QĐ 493

Trang 7

3 Rủi ro lãi suất:

3.1 Khái niệm:

.Ví dụ: Giả sử ngân hàng A đang có nhu cầu cho vay:

- 100 triệu có thời hạn 1 năm với lãi suất cố định là 10%/năm, (thời gian đặt lại lãi suất là 1 năm)

- 100 triệu thời hạn 2 năm với lãi suất cố định là 11%/năm, (thời gian đặt lại lãi suất là 2 năm)

Ngân hàng A tìm kiếm nguồn cho vay bằng cách vay trên thị trường liên ngân hàng 200 triệu với lãi suất

cố định là 6%/năm, nếu vay 1 năm và 7%/năm, nếu vay hai năm

Tình trạng tái tài trợ:

Giả sử ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 1 năm Sau 1 năm, 100 triệu cho vayđược trả và 200 triệu tiền đi vay phải trả: khoản gốc thu được chỉ đủ trang trải 50% nhu cầu chi trả (ảnhhưởng của lãi coi như bằng không) Đối với khoản cho vay 1 năm ngân hàng thu được:

Chênh lệchlãi suất = 10%-6%=4%

Để có tiền trả 100 triệu còn lại, NH cần vay thêm 100 triệu trên thị trường liên ngân hàng Nhưvậy, ngân hàng phải tài trợ khoản cho vay 2 năm bằng một khoản vay vào năm thứ 2 Cách tài trợ như

trên được gọi là tái tài trợ: Là tình trạng trong đó kì hạn của tài sản dài hơn kì hạn của nguồn tiền.

Chênh lệch lãi suất mà ngân hàng thu được phụ thuộc vào lãi suất mà ngân hàng phải trả khi tái tài trợ.Nếu lãi suất trên thị trường liên ngân hàng không đổi, chênh lệch lãi suất thu được của khoản cho vay 2năm là :

Chênh lệch lãi suất =11%-6%=5%

Ngân hàng sẽ thu được 5%/năm, trong cả hai năm Khi lãi suất trên thị trường liên ngân hànggiảm, chênh lệch lãi thu được năm thứ hai sẽ lớn hơn 5% và khi lãi suất tăng, chênh lếch lãi suất thu được

Chênh lệch lãi suất = 11% -5% = 6%

Bình quân mỗi năm ngân hàng thu được chênh lệch :

Trang 8

Tại sao ngân hàng lại dùng nguồn có kì hạn ngắn để cho vay với kì hạn dài hơn? Một lí dolà ngânhàng kì vọng sẽ thu được chênh lệch lãi suất cao hơn Nếu ngân hàng cho vay với kì hạn như huy động,chênh lệch lãi suất thu được là: 10%-6% = 4%.

Khi thay đổi kì hạn ngân hàng thấy rằng chênh lệch lãi suất năm 1 chắc chắn sẽ cao hơn, đạt4,5%, tuy nhiên, chênh lệch lãi suất năm 2 lại chưa chắc chắn, tuỳ thuộc vào mức độ và xu hướng thayđổi của lãi suất thị trường

Ngân hàng sẽ thay đổi kì hạn nếu nhà quản lí dự đoán rằng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng

sẽ giảm, hoặc tăng song mức tăng không vượt quá tỷ lệ làm cho chênh lệch lãi suất bình quân 2 năm nhỏhơn 4%

+ Chênh lệch lãi suất năm 2 an toàn cho ngân hàng = (4% x2 – 4,5%) = 3,5%

+ Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng an toàn = 11% n-3,5% =7,5% Nếu lãi suất trên thị trườngliênngân hàng năm thứ 2 tăng tới 7,5%, thì chênh lệch lãi suất năm 2 chỉ còn 3,5%, giảm 1% so vớ năm

1 Kết cục chung, chênh lệch lãi suất bình quân2 năm đạt 4% Nếu lãi suất tăng quá dự tính ( quá 7,5%)

sẽ gây ra tỏn thất cho ngân hàng

Tình trạng tái đầu tư (kì hạn của tài sản nhỏ hơn nguồn tài trợ)

Các giả thiết tương tự như trên song nguồn vay 2 năm với lãi suất cố định 7%/năm Sau 1năm, 100 triệuđược hoàn trả, thu được chênh lệch lãi suất là 3% Ngân hàng có thể cho vay một khoản mới : tái đầu tưkhoản cho vay vừa hoàn trả Nếu lãi suất cho vay không đổi, chênh lệch lãi suất thu được là 3% Khi lãisuất cho vay tăng hoặc giảm, chênh lệch lãi suất sẽ tăng hoặc giảm

Kết luận:

Ở cả hài trường hợp trên đều có sự không phù hợp về kì hạn của tài sản và nguồn vốn trong điều kiệncác hợp đồng huy động và tài trợ với lãi suất cố định Tình trạng này được kết hợp với thay đổi lãi suấtngoài dự kiến trên thị trường làm nảy sinh tổn thất cho ngân hàng Như vậy, rủi ro lãi suất là khả nănggiảm chênh lệch lãi suất khi lãi suất thị trường thay đổi

=> Khái niệm:

Rủi ro lãi suất là khả năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm, khi lãi suất thị trường thay đổingoài dự kiến gắn với thay đổi nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kỳ hạn của tài sản và nguồn, quy mô

và kỳ hạn các hợp đồng kỳ hạn…

3.2 Nguyên nhân rủi ro lãi suất

3.2.1 Sự không phù hợp về kì hạn của nguồn và tài sản được đo bằng khe hở lãi suất

Khe hở lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn nhạy cảm lãi suất

Các tài sản và nguồn nhạy cảm thường là các loại mà số dư nhanh chóng

chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất thay đổi, ví dụ như khoản tiền gửi ngắn hạn , các khoản cho vay và

đi vay trên thi trường liên ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn của chính phủ, các khoản cho vay ngắn hạn.Các loại ít nhạy cảm thuộc về tài sản và nguồn trung và dài hạn với lãi suất cố định

Ví dụ, một khoản tiền gửi tiết kiệm 3 tháng (100 tỷ) với lãi suất 10%/năm Khi lãi suất thị trườngthay dổi ( tăng hoặc giảm) , thì khoản tiền này ( 100tỷ ) sẽ nhanh chóng chuyển sang lãi suất mới Ngượclại, với khoản tiết kiệm 3 năm, khi lãi suất thị trường thay đổi, chỉ một phần nhỏ sắp đến hạn, hoặc mới

Trang 9

gửi có khả năng chuyển sang lãi suất mới Do ngân hàng sử dụng lãi suất cố dịnh đã tạo ra các tài sản vànguồn kém nhạy cảm với lãi suất.

Ngân hàng có khe hở dương nếu tài sản nhạy cảm lớn hơn nguồn nhạy cảm (kì hạn huy động dàihơn sử dụng) và ngược lại

3.2.2 Sự thay đổi của lãi suất thị trường ngoài dự kiến :

Lãi suất thị trường thường xuyên thay đôỉ Ngân hàng luôn nghên cứu và dự báo lãi suất Tuy nhiên,trong nhiều trường hợp ngân hàng không thể dự báo chính xác mức độ thay đổi của lãi suất

Nếu ngân hàng duy trì Khe hở lãi suất dương:

-Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất tăng;

-Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất giảm;

Nếu ngân hàng duy trì Khe hở lãi suất âm:

-Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất giảm;

-Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất tăng;

3.2.3 Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng :

Nếu ngân hàng thả nổi tất cả các hợp đồng huy động và sử dụng vốn, thu lãi và chi lãi sẽ đều tăng hoặcgiảm như nhau khi lãi suất thay đổi và không có rủi ro lãi suất

3.3 Công cụ quản lý rủi ro lãi suất:

3.3.1 Duy trì khe hở lãi suất = 0 (phù hợp về kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn)

(Khe hở lãi suất= Tài sản nhảy cảm với lãi suất- Nguồn vốn nhảy cảm với lãi suất).

 Tài sản nhạy cảm LS là những tài sản sẽ đáo hạn trong thời gian ngắn như tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại

các TCTD khác, các chứng khoán ngắn hạn/thanh khoản, cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn sắp đến hạn trả, cho vay trung dài hạn có lãi suất thả nổi,… và khi tái đầu tư thì sẽ được trả theo lãi suất thị trường

 Tài sản không nhạy cảm LS là những tài sản sẽ đáo hạn trong thời gian dài như các khoản cho vay

trung-dài hạn, đầu tư trung-trung-dài hạn,… có lãi suất cố định hoặc không có lãi suất xác định trước hoặc không sinh lãi.

 Nguồn vốn nhạy cảm LS là những khoản huy động sẽ phải hoàn trả trong thời gian ngắn như tiền gửi

ngắn hạn, tiền vay ngắn hạn, tiền huy động trung dài hạn sắp đến hạn trả,… và khi huy động nguồn vốn bổ sung thì sẽ phải trả theo lãi suất thị trường

 Nguồn vốn không nhạy cảm LS là những khoản mục nguồn vốn có thời gian sử dụng dài như tiền gửi

trung dài hạn, giấy tờ có giá trung dài hạn, vốn chủ sở hữu,… có lãi suất cố định hoặc không phải trả lãi.

=> Phương pháp này rất khó áp dụng trong thực tế vì Ngân hàng thường huy động phần lớn nguồn vốn ngắn

hạn, nhưng lại có nhu cầu cho vay/đầu tư trung dài hạn để đáp ứng yêu cầu của khách hàng hoặc chiến lược đầu tư của ngân hàng, nên Khe hở nhạy cảm LS thường < 0 Hơn nữa, việc điều chỉnh Khe hở nhạy cảm lãi suất thường xuyên theo sự thay đổi của lãi suất không phải lúc nào cũng dễ dàng (ví dụ ngân hàng không thể hoàn trả lãi tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng khi lãi suất giảm, hay thu hồi tiền cho vay ngay khi lãi suất tăng).

3.3.2 Hoán đổi LS (interest rate swap)

Giả sử có 2 tổ chức tín dụng:

Trang 10

-Ngân hàng A, có độ tin cậy tín dụng cao, đang duy trì khe hở lãi suất dương, và có thể vay trung dài hạn với lãi

suất 10%/năm, vay ngắn hạn với lãi suất LIBOR.

-Công ty tài chính B, có độ tin cậy tín dụng thấp hơn, đang duy trì khe hở lãi suất âm, và có thể vay trung dài

hạn với lãi suất 12%/năm, vay ngắn hạn với lãi suất (LIBOR +1%).

Sau đây là Bản cân đối kế toán của 2 tổ chức trước khi hoán đổi lãi suất

A muốn tăng vay ngắn hạn, B muốn tăng vay trung dài hạn để giảm Khe hở lãi suất, nên hai bên ký hợp đồng đổi chéo lãi suất với nội dung: A vay dài hạn (ví dụ 100tỷ) hộ cho B và B trả cho A lãi suất 10% B vay ngắn hạn (cùng số tiền, 100 tỷ) hộ cho A và A trả cho B lãi suất (LIBOR – 0,75%)

Vì A và B vay hộ nhau cùng một số tiền (điều kiện bắt buộc trong hợp đồng trao đổi lãi suất) nên hai bên không cần trao số vốn này cho nhau, mà chỉ cần chuyển phần tiền lãi.

Sau khi hoán đổi, A dùng nguồn vốn ngắn hạn mà B vay hộ thay thế cho nguồn vốn trung và dài hạn, để giảm Khe

hở lãi suất, và có Bảng cân đối kế toán như sau:

Ngày đăng: 19/08/2015, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w