Mức độ phát triển và đóng góp của khu vực ngân hàng đối với nền kinh tế a Tổng mức huy động vốn từ nền kinh tế Bảng 1: Huy động vốn từ nền kinh tế Từ bảng biểu trên cho thấy tổng huy độn
Trang 1Chương I: Phân tích kết quả kinh doanh của NHTM
I. Hệ thống ngân hàng Việt Nam
Hiện nay hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm: 1 ngân hàng chính sách 5 NHTM nhà nước, 39 NHTM cổ phần, 47 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài Trong những năm trở lại đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và đáng ghi nhận, góp phần quan trọng với sự phát triển đất nước Để đánh giá sự phát triển sự phát triển của hệ thống ngân hàng, mỗi tổ chức có thể đưa ra những tiêu chí khác nhau Trong bài viết này, chúng em xin lựa chọn 2 tiêu chí phổ biến nhất là: mức độ phát triển và đóng góp của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế;
và năng lực của hệ thống ngân hàng
1. Mức độ phát triển và đóng góp của khu vực ngân hàng đối với nền kinh tế
a) Tổng mức huy động vốn từ nền kinh tế
Bảng 1: Huy động vốn từ nền kinh tế
Từ bảng biểu trên cho thấy tổng huy động vốn của hệ thống ngân hàng liên tục tăng trong những năm gần đây
Năm 2009: Huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng 29,88%, cao hơn so với mức 22,84% của năm 2008.
Trong đó huy động vốn bằng VND tăng 30,07% ( năm 2008 tăng 21,38%), huy động bằng ngoại tệ tăng 22,29% (năm 2008 tăng 27,74%)
Huy động vốn tăng nhanh trong 6 tháng đầu năm, đạt mức bình quân trên 3%/tháng Tuy nhiên trong 6 tháng cuối năm, tốc độ tăng trưởng huy động vốn đã chậm lại, bình quân tăng 1,67% tháng
Năm 2010: Huy động vốn của ngân hàng tăng 27,2% là do Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách
tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng và yêu cầu kiềm chế lạm phát của Chính phủ nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng
b) Tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng
Bảng 2: Tín dụng đối với nền kinh tế
Trang 2Cũng tương tự như tổng mức huy động vốn từ nền kinh tế, tồng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế cũng ngày càng tăng
Năm 2009: Tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng tăng 37,53% cao hơn nhiều so với
mức tăng 23,38% của năm 2008 chủ yếu là do chính sách kích thích nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế của đất nước Trong đó tín dụng bằng VND tăng 43,51%, cao hơn nhiều so với năm 2008 (tăng 25,02%), tín dụng bằng ngoại tệ tăng 15,12% thấp hơn so với năm 2008 (tăng 17,62%)
Trong 2 tháng đầu năm 2009, tăng thấp theo xu hướng từ nửa cuối năm 2008 Từ tháng 3 đến tháng 9/2009, tín dụng đã tăng mạnh trở lại để hưởng ứng và tranh thủ chính sách kích cầu, hỗ trợ lãi suất của chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế Tuy nhiên, mức tăng đã chậm lại trong 3 tháng cuối năm 2009 do mức độ
hỗ trợ lãi suất đã giảm dần
Cơ cấu tín dụng phân theo ngành kinh tế thay đổi không nhiều so với tỷ trọng của năm 2008 Tỷ trọng tín dụng phục vụ phát triển nông thôn chiếm 22.8% (năm 2008: 28,84%), ngành thương nghiệp chiếm 19,2% (năm 2008: 18,67%) Tỷ trọng tín dụng đối với ngành khác như công nghiệp chiếm 26,5%, xây dựng chiếm 12,9%, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc chiếm 5,4%, ít biến động so với năm 2008
Năm 2010: Đến tháng 6/2010 tín dụng tăng khoảng 10,52%, nhưng tín dụng bằng VNĐ chỉ tăng 4,6%, tín
dụng ngoại tệ tăng 27% Tuy nhiên, đến hết năm 2010, tín dụng tăng 27,65%, tín dụng bằng VND tăng 25,34%, bằng ngoại tệ tăng 37,76%
Tốc độ tăng trưởng tín dụng theo các phân vùng đã có những chuyển động hợp lý: khuyến khích tín dụng cho sản xuất kinh doanh, hạn chế tín dụng trong lĩnh vực phi sản xuất: hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán, bất động sản và tín dụng tiêu dùng Và điểm nổi bật trong năm 2010 là sự lên ngôi của tín dụng phục
vụ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs)
Năm 2010 đã có sự tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ rất lớn so với các năm trước đó Năm 2010, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ lên tới 37,76%, so với năm 2009 là 15,12%
Trang 3Năm 2011: nhằm thực hiện mục tiêu phát triên nền kinh tế ổn định và kiềm chế lạm phát, NHNN đã định
hướng nhiệm vụ cho ngành ngân hàng năm 2011 là tín dụng đối với nền kinh tế tăng khoảng 23%
c) Độ sâu tài chính
Theo một đánh giá toàn diện của một nghiên cứu thực nghiệm của Demirgü-Kunt và Levine (2008), các bằng chứng được kiểm nghiệm cho thấy độ sâu tài chính, được đo bằng các chỉ số như: tỷ lệ của các khoản nợ có tính thanh khoản trên GDP, tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên GDP có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng Sự gia tăng của độ sâu tài chính, thể hiện qui mô tương đối của hệ thống tài chính so với GDP, thường được xem như là một trong nhiều bằng chứng của sự phát triển của khu vực tài chính trong một quốc gia
Bảng 3: Xu thế tín dụng ngân hàng của Việt Nam (Dư nợ tín dụng/GDP)
Sử dụng chỉ số tín dụng/GDP để so sánh về độ sâu tài chính của Việt Nam, có thể thấy độ sâu tài chính của Việt Nam đã được cải thiện nhanh chóng, từ 35% GDP năm 2000 lên 90%GDP năm 2008 và 107% năm
2009 Năm 2010, dự kiến đạt 115%, ngang mức bình quân của khu vực Đông Nam Á như Thái Lan và Malaysia
d) Khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Trang 4Số lượng các tổ chức tài chính/chi nhánh/phòng giao dịch/điểm giao dịch tính trên một số lượng đầu người nhất định trả lời cho vấn đề về mức độ dễ dàng tiếp cận vào các dịch vụ tài chính trong một quốc gia Điều này có ý nghĩa quan trọng vì: Thứ nhất, nó hỗ trợ cải thiện tình trạng đói nghèo, vì trên thực tế, hạn chế tín dụng ngăn cản những người nghèo hoặc những người không có tài sản thế chấp tham gia vào việc kinh doanh có lợi nhuận Thứ hai, nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có nguồn vốn hạn chế tiếp cận nguồn tài chính để sáng tạo và áp dụng các công nghệ mới, do đó, thúc đẩy sự phát triển của xã hội (Beck, Demirgü-Kunt, và Peria 2007)
Ở Việt Nam, tính đến 2009, hệ thống các tổ chức tín dụng bao gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) với 1.405 chi nhánh, 38 ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần với 1.830 sở giao dịch, chi nhánh và văn phòng giao dịch Như vậy tỷ lệ chi nhánh, phòng giao dịch trên 100.000 người dân trung bình vào khoảng 3,72 Con số này mặc dù khá tương đồng với Philippines (khoảng xấp xỉ 4) nhưng vẫn thấp hơn Thái Lan và Indonesia và là một khoảng cách khá xa so với các nước OECD (xấp xỉ 27)
2. Năng lực của hệ thống ngân hàng
a) Quy mô vốn của các ngân hàng
Bảng 4: Vốn điều lệ của một số ngân hàng Việt Nam
Từ bảng trên, chúng ta có thể thấy được quy mô vốn của ngân hàng đã có sự tăng khá nhanh trong thời gian gần đây
Năm 2010: thực hiện các quy định của NHNN, cũng như chiến lược phát triển kinh doanh, các NHTM ở nước ta đã tăng vốn điều lệ theo lộ trình đến hết năm 2010, tăng quy mô tổng tài sản khá ấn tượng Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, tính đến hết quý I/2010 thì có 10 NHTMCP chưa nâng đủ vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng
Bảng 5: Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM của các quốc gia trong khu vực
Đơn vị: Triệu USD
Bank central Asia 1.304 Commerce Asset - Holding 1,695
Trang 5Bank Rakyat Indonesia 1.070 AMMB Holding 1,476
Bank Danamon Indonesia 807 RHB Bank Berhad 1,179
Bank of Philippine Islands 975 DBS Bank 9,623
Metropolitan Bank Et Trust
Equitable PCI Bank 464
Oversea - Chinese Banking
Như vậy, có thể thấy quy mô vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam còn quá nhỏ so với các ngân hàng trung bình trong khu vực Tính đến thời điểm cuối năm 2009, 4 NHTM có số vốn điều lệ vượt 10.000 tỷ đồng (tương đương hơn 500 triệu USD), 15 ngân hàng có vốn điều lệ đạt 3.000 tỷ đồng (tương đương gần
160 triệu USD), số còn lại thấp nhất là 1.000 tỷ đồng (tương đương hơn 50 triệu USD) đang tiếp tục thực hiện kế hoạch tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng vào 2010
Những ngân hàng có quy mô vốn lớn nhất toàn hệ thống như Agribank, Vietcombank hay BIDV cũng chỉ có khoảng trên 800 triệu USD, thấp xa so với những ngân hàng lớn của một số quốc gia trong khu vực (như Ngân hàng Băng Cốc Thái Lan: hơn 3 tỷ USD, Ngân hàng DBS của Singapore: hơn 9 tỷ USD, Ngân hàng Mandiri của Indonesia hơn 2 tỷ USD, Ngân hàng Maybank của Malaysia hơn 4 tỷ USD và Ngân hàng Philippines hơn 900 triệu USD) Hiện nay, mức vốn bình quân của 10 ngân hàng lớn của Philipines cũng đã vào khoảng hơn 400 triệu USD; Indonesia hơn 800 triệu USD; Malaysia và Thái Lan khoảng hơn
1000 triệu USD
Những con số này phù hợp với nhận định về hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay là số lượng ngân hàng quá lớn, trong khi quy mô của từng ngân hàng là nhỏ, nếu so sánh về quy mô trung bình của nhóm các ngân hàng lớn ở các quốc gia phát triển nhất trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Singapore và Indonesia
b) Chất lượng hoạt động
Sự lớn mạnh về quy mô vốn, tài sản và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn dần đáp ứng được tốc độ tăng trưởng của tài sản đã góp phần cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR) qua từng năm Hiện nay theo thông tư 13, CAR được quy định cho các tổ chức tín dụng được nâng từ 8% lên 9% Đây có thể được coi là mức điều chỉnh để tiến gần hơn đến mức mà các ngân hàng thế giới hiện nay đang áp dụng là 10 – 11% cho giai đoạn đến năm 2019 theo Basel III
Trang 6Tuy nhiên mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam hãn còn thấp nếu so với hệ thống ngân hàng trong khu vực Nếu so sánh mức bình quân 13,1% của các ngân hàng khu vực châu Á Thái Bình Dương (gồm 52 ngân hàng thuộc 10 nước) với tỷ lệ 12,3% của các ngân hàng các nước châu Á mới nổi (14 ngân hàng của Thái Lan, Indonesia, Malaisia, Philipinnes) thì tỷ lệ của các ngân hàng việt nam hiện nay còn thấp hơn nhiều chỉ trên 9%
Bảng 6: Tỷ lệ CAR một số ngân hàng
-c) Hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời
Hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa tương xứng
với mức độ gia tăng rủi ro và quy mô hoạt động, đồng thời ở mức thấp so với các ngân hàng trong khu vực.
Cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lợi nhuận khu vực ngân hàng Việt Nam liên tục tăng Tính đến cuối năm 2009, lợi nhuận toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt 29.241 tỷ VND, tăng khoảng 3,7 lần so với năm 2005 (7.984 tỷ VND) Chi phí hoạt động của khu vực ngân hàng cũng tăng lên tương ứng (hơn 90% năm 2009)
Sự tăng lên tương ứng giữa thu nhập và chi phí phản ánh sự ổn định về lợi nhuận của hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, nếu như tốc độ gia tăng của chi phí vẫn được duy trì trong khi cơ sở hạ tầng hoạt động của khu vực ngân hàng không có những thay đổi lớn thì đây là vấn đề đáng lưu ý bởi nó chứng tỏ năng suất lao động trong khu vực ngân hàng thấp, do đó ảnh hưởng làm giảm thu nhập và giảm năng lực tài chính của khu vực ngân hàng
Về hiệu quả hoạt động, tỷ lệ bình quân lợi nhuận ròng sau thuế so với tổng tài sản (ROA) mặc dù tăng đều qua các năm (lên tới 1,2% cuối 2009), nhưng vẫn còn thấp so với một số nước châu Á mới nổi (Indonesia trung bình khoảng 2%; Malaysia trung bình khoảng 1,5%; Philippines khoảng 1,5% và Singapore khoảng 1,4%)
Như vậy hệ thống Việt Nam trong thời gian qua đã có sự phát triển nhanh chóng, nhưng so với các quốc gia Đông Nam Á thì vẫn còn một khoảng cách mà hệ thống ngân hàng Việt Nam cần cố gắng để theo kịp
Thứ nhất, tốc độ phát triển hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính của Việt Nam là tương đối
nhanh, qua đó cải thiện đáng kể của độ sâu tài chính
Trang 7Thứ hai, số lượng ngân hàng lớn, nhưng quy mô của hầu hết các NHTM Việt Nam là nhỏ hơn so với
các ngân hàng có quy mô trung bình của khu vực Hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời của
hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện là thấp hơn so với mức bình quân của khu vực ngân hàng các quốc gia dẫn đầu của khu vực
Thứ ba, mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn thấp so với hệ thống ngân hàng trong
khu vực, xét trên 2 chỉ số: Tỷ lệ an toàn vốn thấp
II. Tổng quan về kết quả kinh doanh
1. Khái niệm và đối tượng của hoạt động phân tích hoạt động kinh doanh
a) Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nhà quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu hạch toán và các thông tin liên quan khác, bằng những phương pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế nhằm làm rõ chất lượng của hoạt động kinh doanh, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho ngân hàng, làm cơ sở cho các quyết định hiện tại, những dự báo và hoạch định chính sách cho tương lai b) Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh
Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh suy đến cùng là kết quả hoạt động kinh doanh với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó
Phân tích kết quả kinh doanh đi vào những kết quả đã đạt được, những hoạt động hiện hành và dựa trên kết quả phân tích đó để đưa ra các quyết định quản trị kịp thời trước mắt – ngắn hạn hoặc xây dựng chiến lược dài hạn - lâu dài cho tất cả các mặt hoạt động của ngân hàng
2. Mục tiêu và phương pháp phân tích
a) Mục tiêu
Phân tích hoạt động kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của một ngân hàng Đó là công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả mà các ngân hàng đã sử dụng từ trước đến nay Như chúng ta đã biết, mọi hoạt động kinh doanh của một ngân hàng đều nằm trong thế tác động liên hoàn với nhau Do đó, chỉ có thế phân tích hoạt động kinh doanh một cách toàn diện mới có thể giúp cho ngân hàng đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái của chúng Và phân tích kết quả nhằm:
- Làm rõ thực trạng hoạt động của ngân hàng, những nhân tố tác động trực tiếp đến thực trạng đó; so sánh với các tổ chức tín dụng khác nhằm thúc đẩy cạnh tranh
- Làm rõ mục tiêu kết quả mà ngân hàng cần đạt đến,
- Chuẩn đoán nguyên nhân gây ra hoạt động kém hiệu quả để cải tiến và thay đổi
- Tính toán dự trù các yếu tố hình thành nên kết quả, từ đó đưa ra quyết định phương hướng hoạt động
cụ thể
b) Phương pháp phân tích
• Phân tích theo thời gian: là phân tích các yếu tố theo như yếu tố: tiền gửi theo thời gian để thấy mức
độ biến thiên về quy mô của tiền gửi qua các năm và ảnh hưởng của sự thay đổi đó đến kết qua kinh doanh
Trang 8Ví dụ:
(Nguồn: Báo cáo tài chính Eximbank các năm)
• Phân tích theo tỷ trọng: là phân tích các tỷ trọng của các khoản mục trong tổng số ví dụ như trong khoản mục tổng tài sản: tiền gửi và tiền vay chiếm tỷ trọng bao nhiêu để tìm ra các khoản mục có giá trị lớn, hoặc khoản mục cần quan tâm: thấy được sự thay đổi cấu trong tổng tài sản và ảnh hưởng của chúng tới kết quả kinh doanh
• Phương pháp so sánh: là so sánh các chỉ tiêu kết quả thực hiện với kế hoạch ví dụ như: so sánh kế hoạch đầu năm và kết quả thực hiện vào cuối năm của chỉ tiêu cho vay khách hàng để nhằm thấy rõ các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dự kiến
Ví dụ:
Trang 9(Nguồn: báo cáo tài chính Vietin bank năm 2010)
3. Tài liệu phân tích
• Bảng cân đối tài sản: Bảng cân đối tài sản gồm 2 phần: phần tài sản và phần nguồn vốn
Dựa vào bảng cân đối, nhà quản lí có thể phân tích sự thay đổi về quy mô, cấu trúc của từng nhóm tài sản và nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng và mối liên hệ giữa các khoản mục
• Báo cáo thu nhập: Báo cáo thu nhập trong kỳ phản ánh các khoản thu, chi diễn ra trong kỳ Doanh thu ngân hàng bao gồm thu lãi và thu khác Chi phí ngân hàng bao gồm chi phí trả lãi và chi phí khác Báo cáo thu nhập là phản ánh tập trung nhất kết quả kinh doanh của ngân hàng
4 Nội dung phân tích kết quả kinh doanh
A Phân tích quy mô và kết cấu huy động vốn
Ngân hàng tập trung phân tích tình hình huy động theo các chỉ tiêu sau:
• Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, đặc biệt là tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và vay;
• Cơ cấu nguồn vốn, nhóm nguồn và sự thay đổi cơ cấu;
• Lãi suất bình quân, sự thay đổi trong lãi suất bình quân, lãi suất cận biên;
• Kết quả thực hiện so với kế hoạch, hoặc so với thực hiện kỳ trước, những nhân tố ảnh hưởng;
• Phân tích triển vọng nguồn, nhóm nguồn trong thời gian tới;
B Phân tích quy mô và cơ cấu tài sản
• Phân tích tập trung vào các nội dung sau:
Quy mô và tốc độ tăng trưởng các khoản mục tài sản (so với kế hoạch hoặc kỳ trước);
Quy mô và tốc độ tăng trưởng tài sản sinh lãi, đặc biệt là tín dụng, chứng khoán,
Chất lượng tín dụng;
Cơ cấu tài sản và sự thay đổi cơ cấu tài sản;
Lãi suất bình quân, sự thay đổi trong lãi suất bình quân, lãi suất cận biên;
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự thay đổi của tài sản;
Xu hướng phát triển của từng khoản mục tài sản
Trang 10• Phương pháp tính các chỉ tiêu phản ánh quy mô và cấu trúc tài sản:
Doanh số thu nợ cho vay trong kỳ: Tổng số tiền đã cho vay trong kỳ, tính cho ngày, tháng, quý, năm
Doanh số thu nợ trong kỳ: Tổng các khoản thu nợ phát sinh trong kỳ, tính cho ngày, tháng, quý, năm
Dư nợ: Là chỉ tiêu phản ánh số tiền mà ngân hàng hiện đang cho vay tính đến thời điểm cự thể Dư nợ là chỉ tiêu tích lũy qua các kỳ
Dư nợ cuối kỳ=dư nợ đầu kỳ+ doanh số cho vay trong kỳ- doanh số thu nợ trong kỳ
Dư nợ bình quân trong kỳ
Dư nợ cho vay ròng = dư nợ - Dự phòng tổn thất tín dụng
C Phân tích chi phí và thu nhập
• Nội dung của phân tích chi phí:
Phân tích quy mô và cơ cấu các khoản mục phí;
Phân tích biến động của các khoản phí: Biến động về quy mô, cơ cấu và các nhân tố ảnh hưởng;
Phân tích các khoản mục phí quan trọng hoặc có tốc độ nhanh;
Phân tích các khoản phí hay biến động mạnh (biến phí): đo mối liên hệ giữa loại phí này với một số chỉ tiêu như quy mô và tốc độ nguồn huy động, thu nhập, chênh lệch thu, chi từ lãi…
So sánh với thu nhập để thấy mức tiết kiệm phí
• Các khoản phí:
Chi trả lãi: là khoản chi lớn nhất của ngân hàng và có xu hướng gia tăng Chi trả tiền gửi là bộ phận chủ yếu của chi trả lãi Chi trả lãi phụ thuộc vào quy mô huy động, cấu trúc huy động, lãi suất huy động và hình thức trả lãi trong kỳ
⇒Tổng chi trả lãi=tổng chi trả lãi cho các khoản tiền gửi + tổng chi trả lãi từ các khoản đi vay
⇒Tổng chi trả lãi trong kỳ=∑(số dư tiền gửi phải trả lãi trong kỳ i x Lãi suất chi trả i) + ∑(số dư từ các hợp đồng đi vay phải trả lãi trong kỳ i x lãi suất đi vay i)
Chi khác: gồm chi lương, bảo hiểm, các khoản phí, chi văn phòng, chi khấu hao… Chi lương thường
là khoản chi lớn nhất trong khoản chi khác
Phân tích thu nhập
• Nội dung của phân tích thu nhập
Phân tích quy mô và cơ cấu các khoản mục thu nhập;
Phân tích sự thay đổi của các khoản mục thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng;
• Các khoản thu nhập:
Thu lãi: chiếm bộ phận chủ yếu trong thu nhập và quyết định độ lớn của thu nhập ròng Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới thu lãi là quy mô, cấu trúc, kỳ tính lãi và lãi suất của tài sản sinh lãi