Trong thực tế, các nhà điều khiển mong muốn thiết kế ra một bộ điều khiển mà nó ít nhạy cảm với nhiễu đo lường và những thay đổi tham số của đối tượng.Nhược điểm của bộ điều khiển PID tr
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGÀNH: TỰ ĐỘNG HÓA
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI
THEO MÔ HÌNH MẪU
TRẦN THỊ THANH THẢO
THÁI NGUYÊN 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI
THEO MÔ HÌNH MẪU
Ngành
Mã số Học viên Người hướng dẫn khoa học
:TỰ ĐỘNG HOÁ
:TRẦN THỊ THANH THẢO :TS NGUYỄN DUY CƯƠNG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Trang 3ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THUYẾT MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI
THEO MÔ HÌNH MẪU
Học viên: Trần Thị Thanh Thảo Lớp: TĐH- K11
Chuyên ngành: Tự động hóa Người HD khoa học: TS Nguyễn Duy Cương Ngày giao đề tài: 01/01/2010
Ngày hoàn thành: 30/7/2010 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC HỌC VIÊN
TS Nguyễn Duy Cương Trần Thị Thanh Thảo
BAN GIÁM HIỆU KHOA SAU ĐẠI HỌC
Trang 4MỞ ĐẦU
Bộ điều khiển PID là một giải pháp hiệu quả cho hầu hết nhiều ứng dụngđiều khiển công nghiệp và thường là lựa chọn đầu tiên cho việc thiết kế một bộ điềukhiển mới Bộ điều khiển PID kết hợp với mạch vòng phản hồi cơ bản được dùng
để thay đổi tín hiệu điều khiển nhằm tác động đến đối tượng Với những tác động tỷ
lệ, tác động tích phân và tác động vi phân nhằm nâng cao chất lượng hệ thống điềukhiển Tuy nhiên, bộ điều khiển này còn tồn tại 2 vấn đề chính sau:
Vấn đề thứ nhất là bộ điều khiển này rất nhạy cảm với nhiễu đo lường
Vấn đề thứ hai là việc thiết lập các hệ số PID cố định chỉ đáp ứng với một hệthống với tham số ít thay đổi Vì vậy, với yêu cầu chất lượng đặt ra cao thì bộ điềukhiển này nói chung chưa đáp ứng được
Trong thực tế, các nhà điều khiển mong muốn thiết kế ra một bộ điều khiển
mà nó ít nhạy cảm với nhiễu đo lường và những thay đổi tham số của đối tượng.Nhược điểm của bộ điều khiển PID truyền thống có thể được giải quyết bằng cách
áp dụng bộ điều khiển thích nghi
Hệ thống điều khiển thích nghi gồm 2 loại: bộ điều khiển thích nghi theo môhình mẫu (MRAC) và bộ điều khiển tự chỉnh (STR)
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu tuynhiên phần lớn các nghiên cứu trước đây hoặc là mới chỉ đưa ra được nhữngphương pháp thiết kế cơ cấu điều khiển mà chưa đưa ra một công thức cụ thể hoặc
có đưa ra cũng rất phức tạp, rất khó thực hiện trong thực tế Vì vậy, việc tìm ra mộtcông thức chính xác, dễ hiểu, dễ thực thi trong thực tế là một vấn đề nghiên cứuđang được nhiều người quan tâm
Căn cứ vào những nhận xét, đánh giá trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu điều
khiển thích nghi theo mô hình mẫu” để làm đề tài nghiên cứu.
Trang 5Nội dung của luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về hệ điều khiển thích nghi
Chương 2: Các phương pháp thiết kế bộ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu cho lớp đối tượng có hàm truyền bậc hai
Chương 3: Thiết kế bộ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu dựa trên
lý thuyết ổn định của LIAPUNOV cho đối tượng có hàm truyền bậc hai
Chương 4: Những vấn đề mắc phải khi thiết kế bộ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu
Trang 6CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HỆ ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI 1.1 Lịch sử phát triển của hệ điều khiển thích nghi
Điều khiển thích nghi (ĐKTN) ra đời năm 1958 để đáp ứng yêu cầu của thực
tế mà các hệ điều khiển truyền thống không thoả mãn được Trong các hệ điềukhiển truyền thống, các xử lý điều khiển thường dùng những mạch phản hồi làchính Vì vậy, chất lượng ra của hệ bị thay đổi khi có nhiễu tác động hoặc tham sốcủa hệ thay đổi Trong hệ ĐKTN cấu trúc và tham số của bộ điều khiển có thể thayđổi được vì vậy chất lượng ra của hệ được đảm bảo theo các chỉ tiêu đã định
Điều khiển thích nghi khởi đầu là do nhu cầu về hoàn thiện các hệ thống điềukhiển máy bay Do đặc điểm của quá trình điều khiển máy bay có nhiều tham sốthay đổi và có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ổn định quỹ đạo bay, tốc độbay Ngay từ năm 1958, trên cơ sở lý thuyết về chuyển động của Boócman, lýthuyết điều khiển tối ưu… hệ thống điều khiển hiện đại đã ra đời Ngay sau khi rađời lý thuyết này đã được hoàn thiện nhưng chưa được thực thi vì số lượng phéptính quá lớn mà chưa có khả năng giải quyết được Ngày nay, nhờ sự phát triểnmạnh mẽ của công nghệ thông tin, điện tử, máy tính… cho phép giải được nhữngbài toán đó một cách thuận lợi nên hệ thống ĐKTN được ứng dụng đáng kể vàothực tế
Hệ ĐKTN có mô hình mẫu MRAC (Model Reference Adaptive Control) đãđược Whitaker đề xuất khi giải quyết vấn đề điều khiển lái tự động máy bay năm
1958 Phương pháp độ nhậy và luật MIT đã được dùng để thiết kế luật thích nghivới mục đích đánh giá các thông số không biết trước trong sơ đồ MRAC
Thời gian đó việc điều khiển các chuyến bay do còn tồn tại nhiều hạn chếnhư: thiếu phương tiện tính toán, xử lý tín hiệu và lý thuyết cũng chưa thật hoànthiện Đồng thời những chuyến bay thí nghiệm bị tai nạn là cho việc nghiên cứu về
lý thuyết điều khiển thích nghi bị lắng xuống vào cuối thập kỷ 50 và đầu năm 1960
Trang 7Thập kỷ 60 là thời kỳ quan trọng nhất trong việc phát triển các lý thuyết tựđộng, đặc biệt là lý thuyết ĐKTN Kỹ thuật không gian trạng thái và lý thuyết ổnđịnh dựa theo luật Liapunov đã được phát triển Một loạt các thuyết như: Điềukhiển đối ngẫu, điều khiển ngẫu nhiên, nhận dạng hệ thống, đánh giá thông số … rađời cho phép tiếp tục (nghiên cứu lại) phát triển và hoàn thiện lý thuyết ĐKTN Vàonăm 1966 Park và các đồng nghiệp đã tìm được phương pháp mới để tính toán lạiluật thích nghi sử dụng luật MIT ứng dụng vào các sơ đồ MRAC của những năm 50bằng cách ứng dụng lý thuyết của Liapunov.
Tiến bộ của các lý thuyết điều khiển những năm 50 cho phép nâng cao hiểubiết về ĐKTN và đóng góp nhiều vào đổi mới lĩnh vực này Những năm 70 nhờ sựphát triển của kỹ thuật điện tử và máy tính đã tạo ra khả năng ứng dụng lý thuyếtnày vào điều khiển các hệ thống phức tạp trong thức tế
Tuy nhiên những thành công của thập kỷ 70 còn gây nhiều tranh luận trongứng dụng ĐKTN Đầu năm 1979 người ta chỉ ra rằng những sơ đồ MRAC của thập
kỷ 70 dễ mất ổn định do nhiễu tác động Tính bền vững trong ĐKTN trở thành mụctiêu tập trung nghiên cứu của các nhà khoa học vào năm 1980 Khi đó người ta xuấtbản nhiều tài liệu về độ không ổn định do các khâu động học không mô hình hoáđược hoặc nhiễu tác động vào hệ thống
Những năm 80 nhiều thiết kế đã được cải tiến, dẫn đến ra đời lý thuyếtĐKTN bền vững Một hệ ĐKTN được gọi là bền vững nếu như nó đảm bảo chấtlượng ra cho một lớp đối tượng trong đó có đối tượng đang xét Nội dung của bàitoán bễn vững trong ĐKTN là điều khiển những đối tượng có thông số không biếttrước và biến đổi theo thời gian Cuối thập kỷ 80 có các công trình nghiên cứu về hệthống ĐKTN bền vững, đặc biệt là MRAC cho các đối tượng có thông số biến thiêntheo thời gian
Các nghiên cứu của những năm 90 đến nay tập trung vào đánh giá kết quảcủa nghiên cứu những năm 80 và nghiên cứu các lớp đối tượng phi tuyến có tham
số bất định Những cố gắng này đã đưa ra một lớp sơ đồ MRAC xuất phát từ lý
Trang 8thuyết hệ thống phi tuyến.
1.2 Khái quát về hệ điều khiển thích nghi
Trong luận văn này một vài dạng của hệ thống thích nghi mô hình thamchiếu đã được bàn tới Chúng ta bắt đầu với một phương pháp trực quan, phươngpháp này chỉ ra rằng ý tưởng phản hồi cơ bản giúp tìm ra các thuật toán cho việcchỉnh định tham số Ta thấy phát sinh hai câu hỏi : Đầu tiên là có cách nào để tìm ranhững tín hiệu phù hợp mà chỉnh định đúng tham số tại đúng thời điểm thích hợp ;Điều thứ hai là làm cách nào đảm bảo ổn định cho hệ thống thích nghi mà bản thân
nó vốn là phi tuyến do sự đa dạng có mặt trong hệ thống Cái nhìn rõ nét trong câuhỏi đầu tiên đạt được bởi việc xem xét phương pháp mô hình độ nhậy Trạng thái ổnđịnh có thể được đảm bảo bằng việc sử dụng lý thuyết ổn định của Liapunov choviệc thiết kế hệ thống thích nghi
* Mục đích của việc nghiên cứu
Sau khi hoàn tất những điều vừa lưu ý trên dự kiến ta sẽ biết được:
+ Những tín hiệu phù hợp nào đóng vai trò trong hệ thống thích nghi.+ Bằng cách nào mà hệ thống thích nghi có thể được thiết kế dựa trênphương pháp độ nhậy
+ Bằng cách nào mà hệ thống thích nghi có thể được thiết kế dựa trênphương pháp (trạng thái ổn định) Liapunov
* Giới thiệu:
Có một vài cấu trúc mà có thể đưa ra một hệ thống điều khiển có khả năngphản ứng với sự biến đổi những tham số của bản thân nó hoặc phản ứng với nhữngbiến đổi đặc tính của nhiễu (hệ thống) Một hệ thống phản hồi thông thường mặc
dù có mục đích là giảm nhỏ sự nhạy cảm đối với những loại thay đổi này Tuynhiên, khi những biến đổi thậm chí với cả một hệ thống có phản hồi mà hệ sốkhuếch đại tốt vẫn không thỏa mãn Lúc đó một cấu trúc điều khiển phức tạp hơn
Trang 9được cần đến và tính chất thích nghi chắc chắn phải được đưa vào (giới thiệu) Một
hệ thống thích nghi có thể được định nghĩa như sau
“Một hệ thống thích nghi là một hệ thống mà trong bản thân nó đã bổ sungvào cấu trúc (phản hồi) cơ bản, kết quả đo chính xác được đưa vào để bù lại mộtcách tự động đối với những thay đổi trong mọi điều kiện hoạt động, với những thayđổi trong những quá trình động học, hoặc với những biến đổi do nhiễu hệ thống,nhằm để duy trì một quá trình thực hiện tối ưu cho hệ thống”
Nhiều định nghĩa khác đã được đưa ra trong lĩnh vực điều khiển Hầu hếttrong số đó chỉ miêu tả một vài phân loại tiêu biểu của hệ thống thích nghi
Định nghĩa đưa ra ở đây giả sử như là một chuẩn cấu trúc phản hồi thôngthường cho phản ứng cơ bản đối với những thay đổi của nhiễu (hệ thống) và tham
số Cấp thứ hai là một cơ cấu thích nghi hiệu chỉnh hệ số khuyếch đại của bộ điềukhiển gốc, thay đổi cấu trúc bản thân cơ cấu thích nghi và tạo ra các tín hiệu bổsung và v.v Trong một hệ thống thích nghi, việc thiết lập như vậy được chỉnh địnhbởi người sử dụng ở cấp thứ 2
* Lịch trình hệ số, các dạng chuyển đổi.
Theo định nghĩa quá trình biến đổi tự động từ một chế độ làm việc này tớimột chế độ làm việc khác được xem xét như một tính chất (đặc điểm) thích nghi.Dùng kiến thức về ảnh hưởng của biến ngoài tác động đến hành vi của hệ thốngcũng được hiểu là một đặc điểm thích nghi Loại thích nghi này có thể được thựchiện theo hai cách khác nhau: hoặc bằng cách đo từng nhiễu và tạo ra các tín hiệu
để bù lại cho chúng (điều khiển feedforward) Hoặc là hiệu chỉnh hệ số bộ điềukhiển phản hồi theo một lịch trình lập sẵn dựa trên sự hiểu biết về ảnh hưởng củanhững thay đổi tham số của hệ thống (lịch trình hệ số) Khả năng khác là sử dụngmột ngân hàng của bộ điều khiển và chọn bộ điều khiển tốt nhất gần như tương tựvới phương pháp lịch trình hệ số Cách làm này được gọi là mô hình chuyển mạch
Sự thay đổi có dựa trên ý tưởng này là phương pháp mô hình đa chiều Các kết quảđầu ra trong mô hình mẫu được so sánh với đầu ra của đối tượng để đưa vào điều
Trang 10khiển Bộ điều khiển có thể được thiết kế và cài đặt dựa trên mô hình mẫu khi đầu
ra của mô hình có sự giống nhất với đầu ra của đối tượng
Trong thực tế không thể áp dụng “lịch trình hệ số” hoặc áp dụng bộ điều
khiển feedforward cho nhiều thay đổi khác nhau Một vài loại hệ thống thích nghi,theo một nghĩa hẹp hơn, đã được phát triển Nó cho phép một hệ thống được tối ưuhoá mà không cần bất kỳ sự hiểu biết gì về nguyên nhân sinh ra những biến đổi quátrình động học Thông thường, khái niệm điều khiển thích nghi bị hạn chế bởi mỗiloại hệ thống thích nghi Không có sự phân biệt rõ giữa điều khiển thích nghi vàđiều khiển học Khái niệm điều khiển học thường được dùng cho nhiều hệ thốngphức tạp hơn, nơi nhiều sự nhớ là phức tạp và có cả những vấn đề không thể đượcgiải quyết bằng bộ điều khiển tiêu chuẩn, dựa trên hàm truyền, bởi vì chúng cần mộtdạng khác biểu diễn sự hiểu biết Ví dụ giống như cấu trúc hệ thống mạng nơron,những điều ghi chú trong luận văn này nói về 1 loại điều khiển thích nghi đặc biệt,
nó được biết đến là bộ điều khiển thích nghi theo mô hình tham chiếu
Hệ thống điều khiển thích nghi có thể được phân loại theo một vài cáchkhác nhau Một khả năng tạo ra sự phân biệt giữa chúng là:
Điều khiển thích nghi trực tiếp và điều khiển thích nghi gián tiếp
+ Hệ thống với sự chỉnh định trực tiếp các tham số điều khiển mà khôngnhận dạng rõ các tham số của đối tượng (điều khiển thích nghi trực tiếp)
+ Hệ thống với sự điều chỉnh gián tiếp các tham số điều khiển với việcnhận dạng rõ các tham số của đối tượng (điều khiển thích nghi gián tiếp)
Hệ thống điều khiển thích nghi mô hình tham chiếu, hầu hết được gọi làMRAC hay MRAS, chủ yếu áp dụng điều khiển thích nghi trực tiếp Tuy nhiên,việc áp dụng MRAS để nhận dạng hệ thống cũng sẽ được minh hoạ ở nhiên cứunày
Triết lý cơ bản đằng sau việc áp dụng MRAC đó là đặc trưng mong muốncủa hệ thống được đưa ra bởi một mô hình toán học, hay còn gọi là mô hình mẫu
Trang 11Khi hành vi của đối tượng khác với hành vi “lý tưởng” mà hành vi này được xácđịnh bởi mô hình mẫu, đối tượng sẽ được sửa đổi theo 2 cách, hoặc bằng cách chỉnhđịnh các thông số của bộ điều khiển (Hình 1a), hoặc bằng cách tạo ra tín hiệu bổxung đầu vào cho đối tượng này (Hình 1b) Điều này có thể được chuyển thành bàitoán tối ưu hoá, ví dụ tối thiểu hoá các tiêu chuẩn:
T 2 0
Tại đó: e = ym - yP (1.2) Ngoài việc tối thiểu hoá sai lệch giữa những tín hiệu đầu ra của đối tượng
và mô hình mẫu, thì tất cả các biến trạng thái của đối tượng và mô hình mẫu cònđược đưa vào tính toán Khi các biến trạng thái của đối tượng được ký hiệu là (xP)
và các biến trạng thái của mô hình mẫu ký hiệu là (xm), véc tơ sai lệch e được địnhnghĩa là:
e = xm – xP (1.3)Trong trường hợp này, bài toán tối ưu hoá có thể được chuyển thành tốithiểu hoá tiêu chuẩn:
T T 0
C = e Pedt (1.4)Trong đó P là một ma trận xác định dương
Đối tượng
Bộ điều khiển Thích nghi
Mô hình mẫu
Bộ điều khiển
+ -
Hình 1.1a: Hệ thích nghi tham số
Trang 12Như chúng ta sẽ thấy sau đây, sự nhân trong bộ điều khiển thích nghi luônluôn dẫn đến một hệ thống phi tuyến Điều này có thể được giải thích rằng việc điềukhiển thích nghi là phản hồi phi tuyến nhiều hơn
Những xem xét sau đây đóng một vai trò nhất định trong việc lựa chọngiữa thích nghi tham số và thích nghi tín hiệu Một tính chất quan trọng của hệthống với việc thích nghi tham số đó là vì hệ thống có nhớ Ngay khi các tham sốcủa đối tượng đã được điều chỉnh đúng với giá trị của chúng và những tham số nàykhông thay đổi nữa, vòng lặp thích nghi trong thực tế không còn cần thiết: đốitượng thực và mô hình mẫu hiển thị các trạng thái như nhau Sự nhớ nói chung làkhông được thể hiện trong hệ thống cùng với thích nghi tín hiệu Do đó, vòng lặpthích nghi vẫn còn cần thiết trong mọi trường hợp, để nhằm liên tục tạo ra những tínhiệu phù hợp ở đầu vào Do vậy, các hệ thống thích nghi tín hiệu cần phải phản ứngnhanh hơn hẳn đối với những thay đổi động học của đối tượng so với các hệ thốngthích nghi tham số vì hệ thích nghi tín hiệu không sử dụng thông tin từ quá khứ.Trong những hệ thống mà các thông số liên tục thay đổi trong một phạm vi rộng, sự
có mặt của tính chất nhớ là rất có lợi Tuy nhiên, trong một môi trường ngẫu nhiên,
ví dụ như trong các hệ thống với rất nhiều nhiễu, điều này lại là bất lợi Hệ số caotrong vòng thích nghi có thể gây nhiễu đưa tới đầu vào của đối tượng
Đối tượng
Bộ điều khiển Thích nghi
Mô hình mẫu
Bộ điều khiển
+ -
+
-Hình 1.1b: Hệ thích nghi tín hiệu
Trang 13Khi các tham số của đối tượng thay đổi chậm hoặc chỉ thời gian ngắn ngaysau đó và ngay lúc đó, những hệ thống với sự thích nghi tham số đưa ra một cáchthực hiện tốt hơn vì chúng có nhớ Cũng có một vài thuật toán thích nghi mà kếthợp những ưu điểm của cả hai phương pháp trên Trong những lưu ý sau chủ yếu sẽđược tập trung vào các hệ thống thích nghi tham số, mặc dù vậy việc kết hợp giữathích nghi tham số và thích nghi tín hiệu cũng sẽ được bàn đến.
Một cách khác để xem xét hệ thống như sau Các vòng điều khiển phản hồitiêu chuẩn được xem như là một hệ thống điều khiển sơ cấp phản ứng nhanh, chínhxác mà nó buộc phải loại ra nhiễu “thông thường” Những biến thiên lớn trong cáctham số hoặc là nhiễu lớn được xử lý bởi hệ thống điều khiển thích nghi (thứ hai)phụ tác động chậm hơn (Hình 1.2)
CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ BỘ ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI
Đối tượng
Bộ điều khiển Thích nghi
Mô hình mẫu
Bộ điều khiển
+ -
Bộ điều khiển thứ nhất của hệ
Bộ điều khiển thứ hai của hệ
Hình 1.2: Điều khiển ở cấp 1 và cấp 2
Trang 14THEO MÔ HÌNH MẪU 2.1 Cơ chế thích nghi – thiết kế bộ điều khiển thích nghi dựa vào luật MIT:
Trong lĩnh vực điều khiển nâng cao này, một vài phương pháp đã được mô
tả để thiết kế hệ thống thích nghi Nhưng chúng ta có thể có được cái nhìn sâu sắchơn với phương pháp này bằng cách tư duy làm cách nào tự tìm đựơc các thuật toáncho mình Điều này giúp ta thực sự hiểu được những gì đang diễn ra Do đó, tronglúc này chúng ta sẽ hoãn lại việc xem xét những hàm toán học và xem xét các ýtưởng cơ bản của MRAS với một ví dụ đơn giản Khi chúng ta cố gắng thiết kế một
bộ điều khiển thích nghi cho hệ thống đơn giản này, chúng ta sẽ gặp phải những vấn
đề mà cần đến nền lý thuyết cơ bản hơn Những tính chất nói chung với nhữngphương pháp thiết kế khác nhau cũng như là sự khác biệt của các phương pháp này
sẽ trở lên rõ ràng Trong Hình 2.1, một sơ đồ khối được đưa ra cho hệ thống mà sẽđược dùng như là một ví dụ xuyên suốt tài liệu này
Tất nhiên việc “điều khiển” với tham số Ka và Kb không phải là một bộđiều khiển thực tế Trong thực tế, chúng tôi giả thiết ở phần này là các thông số đốitượng có thể được chỉnh định trực tiếp
Trong ví dụ này, đối tượng (tuyến tính) được mô tả bằng hàm truyền:
b
s + a s +1 hoặc
2 n
K + b
Trang 15Mô hình tham chiếu (tuyến tính) đã có bậc giống với đối tượng Giá trị tínhtoán sau được lựa chọn:
ω = 1; z = 0,7; a = 1, 4; b = 0,5 (2.3)Trong trường hợp chỉ có (DC – Direct Control) điều khiển thích nghi trựctiếp – hệ số khuếch đại của đối tượng và mô hình mẫu khác nhau bởi hệ số bằnghai Điều này có thể được nhận ra trong các đáp ứng bước nhảy đơn vị của hệ thốngnày (Hình 2.2a và 2.2b)
Hình 2.2a: Sự thay đổi tham số b p dẫn tới sự thay đổi đáp ứng đầu ra.
Hình 2.2b: Đáp ứng đầu ra của đối tượng (Y p ), đáp ứng mô hình mẫu (Y p1 ) và
sai lệch hai đáp ứng đầu ra (e) khi thay đổi tham số b p
+ _
_ +
Hình 2.1: Mô hình đối tượng và mô hình mẫu
Trang 17là Kb nên được điều chỉnh tăng lên Một sự lựa chọn hợp lý cho việc chỉnh định Kb
ap bp
s + 2 s +
k 2 2
Trang 18Mặc dù kết quả là tốt, nhưng điều này nhanh chóng được nhận thấy rõ ràngrằng vẫn còn một vài vấn đề tồn tại Khi tín hiệu đầu vào u bị đảo dấu việc chỉnhđịnh của Kb sẽ đi sai hướng, vì e mang dấu âm Kết quả là hệ thống lại không ổnđịnh trong trường hợp này Tuy nhiên, giải pháp cho vấn đề này rất đơn giản Khidấu của tín hiệu vào được đưa vào tính toán, ví dụ bằng cách nhân e và u, kết quảcủa việc chỉnh định thông số lại phù hợp với Hình 2.3 Điều này nhận được luậtđiều chỉnh được gọi là luật MIT:
Một vấn đề thứ hai gặp phải khi không chỉ các biến đổi tham số bp của đốitượng phải được bù lại, mà còn cả những thay đổi tham số ap Một lý do tương tựnhư trường hợp hiệu chỉnh cho tham số Kb có thể dẫn tới luật chỉnh định cho tham
số Ka, dựa vào tín hiệu e và hàm dấu của u Nhưng điều này sẽ dẫn đến những luậtchỉnh định giống nhau cho mỗi tham số Rõ ràng không chỉ là việc chỉnh định trựctiếp các tham số phải đóng vai trò quan trọng, mà còn là lượng điều chỉnh mỗi tham
số, quan hệ với những tham số khác Vì “tốc độ động của việc chỉnh định” đượcthực hiện bằng cách hiệu chỉnh từng tham số, và phụ thuộc vào hiệu quả của việchiệu chỉnh này có làm giảm sai lệch Lý do này dẫn đến các luật chỉnh định sau:
Trang 19Tham số Kb được chỉnh định khi u, tín hiệu trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi
Kb, là lớn và tham số Ka được chỉnh định khi x2, là tín hiệu trực tiếp chịu ảnh hưởngbởi Ka, là lớn Kết quả mô phỏng được đưa ra trong Hình 6 Điều này xuất hiện rằngsuy luận bằng trực giác của ta mang lại một hệ thống mà sự thích nghi nhanh diễn ramột cách hợp lý Trong mô phỏng của Hình 2.4 các giá trị của bp và ap được đưa rabằng 0, mà nó được bù bởi các giá trị thích hợp ban đầu của Ka và Kb (tương ứngvới Ka(0) = 1 và Kb(0) = 1) Những tham số hội tụ đến một giá trị chính xác Kb = 1
và Ka = 1.4 Và vì vậy, kết quả là đáp ứng của đối tượng và mô hình mẫu trở nênbằng nhau Tốc độ thích nghi được chọn là 2 và 2
Trong Hình 2.4 tốc độ thích nghi, xác định bởi hệ số thích nghi và ,vẫn còn nhỏ Để tăng tốc độ hệ thống, hệ số thích nghi được tăng lên với 10 và
Trang 20Hệ thống thích nghi đã ổn định với những hệ số thích nghi thấp, trở nênkhông ổn định với những hệ số thích nghi cao hơn Khi sơ đồ khối của hệ thống nàyđược xác định (Hình 2.6) Điều này trở lên rõ ràng là vấn đề ổn định này không thể
dễ dàng được giải quyết, do tính phi tuyến đã được đưa vào hệ thống
Ka Kb
s + 2 s +
k 2 2
Trang 21Cho đến giờ chúng ta vẫn gặp phải 2 vấn đề sau:
1 Loại ‘tốc độ động thích nghi’ là cần thiết để nhận ra là mỗi tham số chỉđược chỉnh định khi kết quả sai lệch là nhạy cảm với sự thay đổi của tham số đó
2 Vấn đề ổn định còn tồn tại khi hệ số thích nghi được tăng lên như là mộtkết quả của sự đòi hỏi tăng tốc độ thích nghi Vấn đề ổn định này không thể dễ dàngđược giải quyết bằng phương pháp phân tích tuyến tính bởi vì sự thích nghi tạo ra
hệ thống phi tuyến
Nguồn gốc rõ ràng của 2 vấn đề của một vài phương pháp cho việc thiết kếMRAS Hai phương pháp sẽ được bàn luận chi tiết hơn trong phần sau:
- Phương pháp độ nhạy: Phương pháp này nhấn mạnh sự xác định ‘tốc độ
động của sự thích nghi’ với sự trợ giúp của hệ số nhạy
- Phương pháp ổn định: Phương pháp này nhấn mạnh đến vấn đề ổn định.
Bởi vì đặc tính phi tuyến của một hệ thích nghi Lý thuyết ổn định của hệ phi tuyếnđược sử dụng là cần thiết Điều này sẽ được chỉ ra rằng, cùng với một chứng minh
về tính ổn định, những luật thích nghi hữu ích có thể được tìm ra
2.2 Phương pháp độ nhạy:
Trang 22Bước đầu tiên trong phương pháp độ nhạy là chuyển vấn đề thích nghi thànhbài toán tối ưu bằng việc đưa ra tiêu chuẩn:
t 2 0
i i
Trang 23pháp mô hình độ nhạy Hệ số độ nhạy được nhận thấy rõ rằng việc hiệu chỉnh Ki chỉđược thực hiện khi sai lệch giữa đối tượng và mô hình mẫu là nhạy cảm với sự thayđổi của những tham số điển hình này.
Phương trình vi phân (2.18) tương đương với phương trình (2.17), ngoại trừ
đối với tín hiệu vào Phương trình (2.18) được gọi là mô hình độ nhạy Khi 1 ước
lượng được tạo ra với giá trị của KV, ví dụ bằng việc lựa chọn nó bằng với giá trịmong muốn am, hệ số độ nhạy y P /K i có thể đo được Từ phương trình (2.14) dẫnđến:
Trang 24Kết quả hệ thống thích nghi được đưa ra trong Hình 2.7
Phương pháp độ nhạy có ưu điểm là đơn giản và không phức tạp Bất lợi
chính đó là sự ổn định có thể chỉ được chứng minh bằng mô phỏng hoặc kiểm
nghiệm thực tế Một chứng minh toán học giải thích về sự ổn định không được đưa
ra
2.3 Phương pháp siêu ổn định.
Dựa trên nghiên cứu của Popov, Landan giới thiệu khái niệm siêu ổn định để
thiết kế hệ điều khiển thích nghi Phương pháp siêu ổn định là phương pháp thứ hai
của hàm liapunov để tăng sự ổn định của hệ phi tuyến Khái niệm siêu ổn định có
liên quan chặt chẽ với khái niệm hệ thụ động của Willems Các phần tử tiêu tán như
tụ điện, điện trở, cuộn kháng không bao giờ lưu trữ nhiều năng lượng hơn năng
lượng trong phần tử đó lưu trữ tại t = 0 cộng với năng lượng nhận được từ môi
trường Vai trò của hệ thống gồm một mạng các phần tử tiêu tán Nếu tất cả các
phần tử trong hệ thống là tuyến tính thì hàm truyền giữa hai loại năng lượng liên
hợp thay đổi tại phần tử tiêu tán là số thực dương Điều này có nghĩa rằng góc dịch
pha trong hệ thống luôn luôn ở giữa +900 và -900
Ví dụ: hãy xem xét một ví dụ, cho một mạng điện tùy ý và đồ thị bond trên
Hình 2.8a và 2.8b
P P
y K
+
+ +
+ __
_
Mô hình độ nhạy
Đ ố
i
t ư ợ n g
Hình 2.7: Hệ thống điều khiển thích nghi dựa trên mô hình độ nhậy K a
được chỉnh định để bù cho sự thay đổi trong a P
Trang 25Chúng ta tính được hàm truyền giữa lực tác động và lưu lượng H(s)=f(s)/e(s)(hay giữa điện áp và dòng điện H(s)= I(s)/U(s) tại các phần tử của hệ tiêu tán đó và
vẽ đồ thị Nyquist và Bode của hàm truyền bậc 4 khi chúng ta quan sát góc dịch pha
φ, chúng ta thấy 900 900(trên Hình 2.8b) Trong hàm truyền gồm số bậc trên
Hình 2.8b: Đồ thị Nyquist của hệ tiêu tán bậc 4
Linear System Bode Plot
Hình 2.8c: Đồ thị bode của hệ tiêu tán bậc 4.
Hình 2.8a: Sơ đồ mạch điện và đồ thị bond trên phần mềm 20-SIM
Trang 26Phát biểu sau dùng cho hệ tiêu tán vô hướng tuyến tính (hay siêu ổn định):
“Tính thụ động của hệ siêu ổn định cho rằng phần thực của đồ thị cực(Nyquist) luôn dương:
Re (H(jω)) ≥ 0ω)) ≥ 0Với những hàm truyền không có tính chất này có thể tạo thêm số bậc phùhợp ở tử số Chúng ta có thể dùng tính chất này để thiết kế một hệ điều khiển thíchnghi Chúng ta xem xét biểu thức đạo hàm sai lệch phương trình (2.21)
Trang 27phụ thuộc bao gồm một hay nhiều thành phần của e Do đó, chúng ta mở rộng hệthống của công thức (2.23) với đầu ra của biểu thức được định nghĩa tín hiệu v.
tử có thể được đưa ra bằng cách chọn ma trận đầu ra C phù hợp Nếu có thể chứngminh rằng số thực dương của hàm truyền có thể được đảm bảo nếu C được chọnbằng P, với P là nghiệm của phương trình Liapunov
AT
Để chứng minh tính thụ động của phần phi tuyến, thời gian thay đổi, chúng
ta không thể dùng phương pháp hàm truyền Chúng ta xem xét khái niệm cơ bản về
hệ thụ động Ví dụ như hệ không bao giờ giải phóng nhiều năng lượng ra bên ngoàihơn số năng lượng (hữu hạn) được lưu trữ trong hệ thống tại t = 0 cộng với lượng
Phần tuyến tính
Phần phi tuyến tính
Hình 2.9: Hệ phi tuyến chia làm hai phần.
Trang 28năng lượng hệ nhận được khi t > 0 Dòng năng lượng trong các phần tử thụ độngđược coi như dòng năng lượng dương Với yêu cầu rằng, phần tử đó là tiêu tán vàkhông cung cấp năng lượng thực tới môi trường nhiều hơn lượng năng lượng E(0)dương và hữu hạn trong phần tử tại t=0, có thể được biểu diễn bằng toán học:
Ví dụ: chúng ta xem xét một tụ C (có thể phi tuyến)
Năng lượng diễn biến trong tụ C được mô tả như sau:
t 0
e( ).i( ) d
Biểu thức này xác định dương nếu môi trường cung cấp năng lượng cho tụđiện Do đó để hệ thụ động cần thiết phải không được nhận năng lượng từ môitrường nhiều hơn lượng năng lượng tại t = 0 cộng với năng lượng thực được tíchlũy, từ công thức (2.28)
t 2
t
2 0 0
Trang 29Khi chúng ta chia hệ của công thức (3.6) chương 3, thành phần tuyến tính vàphần phi tuyến, chúng ta áp dụng các luật thích nghi (3.34), (3.35), tìm được sơ đồkhối của Hình 2.10 để chứng minh rằng phần phi tuyến là thụ động, chúng ta phảichứng minh rằng với những điều kiện luật thích nghi (2.30) là đảm bảo.
Chứng minh thụ động của phần phi tuyến
Chúng ta muốn kiểm tra điều kiện (2.30)
X X + +
X X +
Trang 30wd
t T
Trang 312
t T p
0
2
t T
Cho hệ thống Hình 3.1a này với sự giúp đỡ của công thức (3.26), (3.27) dẫntới các luật thích nghi (3.28), (3.29)
CHƯƠNG 3
Trang 32ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT ỔN ĐỊNH LIAPUNOV ĐỂ THIẾT KẾ
BỘ ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI 3.1 Phương pháp ổn định của liapunov
Thiết kế hệ thích nghi dựa trên lý thuyết ổn định được bắt đầu bởi vì vấpphải vấn đề ổn định không được chứng minh dựa trên phương pháp độ nhậy.Phương pháp thứ 2 của liapunov là phương pháp phổ biến nhất Phương pháp liênquan khác dựa trên phương pháp siêu ổn định, cả hai phương pháp này đều chocùng kết quả, vì vậy không có khác biệt trực tiếp nào về kết quả thuật toán
Dùng lý thuyết ổn định liapunov để thiết kế hệ thống thích nghi được đưa rabởi Park năm 1966 Nguồn gốc luật thích nghi được thực hiện dễ dàng nhất khi đốitượng và mô hình mẫu được mô tả qua dạng mô hình không gian trang thái Đốitượng được viết lại là:
x A x B u (3.1)Với:
Trang 33V(e) xác định dương (nghĩa là V > 0 với e 0, thậm chí V= 0 khi e=0.
V(e) xác định âm (nghĩa là V<0 với e 0, thậm chí V = 0 khi e = 0)
( )
Khi hàm liapunov V(e) đã được chọn chính xác, luật thích nghi theo hướng
từ điều kiện dưới mà V e( ) xác định âm Vấn đề chủ yếu (lựa chọn hàm toán) đượcchọn phù hợp V(e) Có thể tìm được nhiều hàm liapunov phù hợp, những hàmliapunov khác nhau dẫn đến luật thích nghi khác nhau Việc tìm hàm liapunov phụthuộc vào người thiết kế phải hiểu thuật toán, và là một quá trình khó khăn Tuynhiên trong lĩnh vực điều khiển học có vài “hàm lipunov chuẩn đưa ra những luậtthích nghi hữu ích” Luật thích nghi đơn giản và áp dụng phổ biến được tìm ra khi
sử dụng hàm liapunov sau:
Ở đó:
-P là ma trận đối xứng dương tùy ý
-a, b là những vector gồm những phần tử khác 0 của ma trận A, B
- và là ma trận đường chéo, có những phần tử dương xác định tốc độthích nghi
Trang 34Việc lựa chọn hàm liapunov đưa ra trong công thức (3.9) không quá phứctạp Hàm liapunov biểu diễn một loại năng lượng, năng lượng này được có mặttrong hệ thống và loại năng lượng này khi tiến dần về 0, hệ thống đạt tới điểm cânbằng ổn định Trong nhiều hệ thống động năng lượng này có mặt trong những khâutích phân, năng lượng này cũng có thể được xem xét như là những biến trạng tháicủa hệ thống Các thành phần e, a, b là những biến trạng thái của hệ thống được mô
tả trong công thức (3.6) Các thành phần a, b là những tham số sai lệch và có thểthấy rằng đặt sai điều kiện ban đầu trong tham số điều khiển thích nghi Vì vậy, đòihỏi rằng tất cả các biến trạng thái e, a, b đều tiến về 0
Lựa chọn (P, và , V(e)) là những hàm xác định dương
Kết quả đạo hàm V(e):
Bởi vì ma trận Am phụ thuộc một hệ thống ổn định (mô hình mẫu) Theo định
lý Malkin, Q là ma trận xác định dương, nó bao hàm phần đầu của công thức (3.11):