Hàng ngày, các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn dẫn các tin tức về sự giảm sút các giá trị văn hóa trong nhà trường; các hành vi lệch chuẩn của những nhà quản lý giáo dục với người
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN HỮU TƯƠI
QUẢN LÝ GIÁO DỤC VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG
Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN VĨNH TƯỜNG -
TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN HỮU TƯƠI
QUẢN LÝ GIÁO DỤC VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG
Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN VĨNH TƯỜNG -
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS MẠC VĂN TRANG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Quản lý giáo dục văn hoá học đường ở trường THPT
huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc” được thực hiện từ tháng 9 năm 2013
đến tháng 8 năm 2014
Tôi xin cam đoan:
Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý và đưa vào luận văn theo đúng quy định
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2014
Tác giả
Phan Hữu Tươi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn đến:
- Tập thể các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Cán bộ, giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
- Ban Giám hiệu, giáo viên, nhân viên và các em học sinh của các trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc: trường THPT Đội Cấn, trường THPT Lê Xoay, trường THPT Vĩnh Tường đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình chuẩn bị tư liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư, tiến sĩ Mạc Văn Trang, người Thầy đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tuy nhiên, do trình độ, sự hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm Tác giả mong nhận được những ý kiến chỉ bảo, góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Phan Hữu Tươi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn gồm 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG THPT 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 7
1.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.2.3 Quản lí nhà trường 15
1.3 Văn hóa, văn hóa học đường và giáo dục VHHĐ 18
1.3.1 Khái niệm văn hóa 18
1.3.2 Khái niệm văn hóa học đường 20
1.3.3 Các biểu hiện đặc trưng VHHĐ ở trường THPT 22
1.3.4 Khái niệm giáo dục văn hóa học đường 25
Trang 61.3.5 Tầm quan trọng của GDVHHĐ cho HS trường THPT 27
1.4 Quản lý giáo dục văn hóa học đường 28
1.4.1 Khái niệm quản lý giáo dục văn hóa học đường cho HS 28
1.4.2 Hoạt động quản lý GD VHHĐ cho HS trường THPT 29
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục văn hóa học đường ở trường THPT 32
Kết luận chương 1 39
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC 40
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 40
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 40
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục bậc THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 41
2.2 Thực trạng giáo dục văn hóa học đường cho học sinh ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 42
2.2.1 Thực trạng các biểu hiện văn hóa học đường của HS ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 42
2.2.2 Thực trạng các hoạt động giáo dục văn hóa học đường cho HS ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 49
2.3 Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa học đường cho học sinh ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 53
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực trạng quản lý giáo dục văn hóa học đường cho học sinh ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 53
2.3.2 Nội dung khảo sát 54
2.3.3 Kết quả khảo sát 54
2.4 Đánh giá chung về quản lý giáo dục văn hóa học đường cho học sinh ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 61
2.4.1 Những mặt ưu điểm đã đạt được về giáo dục văn hoá học đường cho học sinh ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc 61
Trang 72.4.2 Những hạn chế trong GDVHHĐ cho HS ở trường THPT huyện Vĩnh Tường
- tỉnh Vĩnh Phúc 62
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 64
Kết luận chương 2 67
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC 68
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 68
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 68
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 68
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 68
3.2 Các biện pháp đề xuất 69
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, GV, NV, HS và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường về tầm quan trọng của công tác giáo dục văn hóa học đường cho học sinh 69
3.2.2 Xây dựng các quy định văn hóa học đường của trường THPT 70
3.2.3 Kiến tạo và gìn giữ cảnh quan sư phạm xanh - sạch - đẹp trong nhà trường 74
3.2.4 Chỉ đạo thực hiện nền nếp các hoạt động trong nhà trường (dạy - học, sinh hoạt, vệ sinh, trật tự ) 75
3.2.5 Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia giáo dục văn hóa học đường cho HS 76
3.2.6 Kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, kỉ luật nghiêm túc, kịp thời nhằm duy trì những nền nếp văn hóa đã được khẳng định một cách bền vững 77
3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 78
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 8
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BGH : Ban Giám hiệu BQC : Bình quân chung CBGV : Cán bộ giáo viên CMHS : Cha mẹ học sinh CSVC : Cơ sở vật chất
GV, NV : Giáo viên, nhân viên
VHHĐ : Văn hóa học đường XDVHHĐ : Xây dựng văn hóa học đường
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số trường THPT trong huyện Vĩnh Tường năm học 2013 - 2014 41 Bảng 2.2 Kết quả học tập khối THPT huyện Vĩnh Tường năm học 2013-2014 41 Bảng 2.3 Kết quả xếp loại hạnh kiểm và học lực của HS các trường
THPT Đội Cấn, Vĩnh Tường và Lê Xoay 41 Bảng 2.4 Tổng hợp đánh giá biểu hiện VHHĐ của học sinh 42Bảng 2.5 Bảng tổng hợp mức độ biểu hiện của các hành vi vi phạm
chuẩn mực VHHĐ của HS 45 Bảng 2.6 Bảng tổng hợp đánh giá nguyên nhân đẫn đến các hành vi vi
phạm chuẩn mực VHHĐ của HS 48 Bảng 2.7 Bảng tổng hợp đánh giá vai trò của VHHĐ và GDVHHĐ cho HS 49Bảng 2.8 Bảng tổng hợp xác định những người có trách nhiệm GDVHHĐ
cho HS 50Bảng 2.9 Bảng tổng hợp xác định mức độ trách nhiệm của CBQL, GV,
NV trong hoạt động GDVHHĐ cho HS 51 Bảng 2.10 Bảng tổng hợp xác định nguyên nhân dẫn đến những hạn chế
của việc thực hiện GD VHHĐ cho HS 52 Bảng 2.11 Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng quản lý hoạt động cụ
thể hóa mục tiêu GDVHHĐ cho HS 55 Bảng 2.12 Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng quản lý GDVHHĐ cho
HS thông qua dạy học nội khóa 56 Bảng 2.13 Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng quản lý GDVHHĐ cho
HS thông qua thực hiện nội quy, quy chế nhà trường 57 Bảng 2.14 Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng quản lý GDVHHĐ cho
HS thông qua các hoạt động ngoại khóa 58 Bảng 2.15 Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng quản lý GDVHHĐ cho
HS thông qua hoạt động của các tổ chức của nhà trường 59Bảng 2.16 Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng quản lý GDVHHĐ cho
HS thông qua CSVC và cảnh quan trường lớp 60
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các chức năng Quản lý 13
Sơ đồ 1.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa nhà trường 24
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ quản lý GDVHHĐ cho HS trường THPT 38
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoảng một thập niên trở lại đây, vấn đề VHHĐ và GDVHHĐ được nhiều nước trên thế giới chú ý Ở Việt Nam, từ khi chúng ta chính thức trở thành thành viên của WTO, những cơ hội cùng thách thức vô cùng lớn đang đặt
ra trước mắt chúng ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục - đào tạo mà trước hết là giáo dục học đường Tuy tính chất
và mức độ có khác nhau nhưng ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời đại nào, nhà trường cũng đều là một trung tâm văn hoá của xã hội Bởi vậy, vấn đề VHHĐ
và GDVHHĐ được xem là một tiêu chí quan trọng để mỗi nhà trường hướng đến trong quá trình thực hiện chức năng của mình
Về thực trạng vấn đề VHHĐ và GDVHHĐ ở Việt Nam, chúng ta không thể phủ nhận những thành tựu to lớn đã đạt được thể hiện ở nhiều tấm gương nhà trường, nhà giáo với những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giáo dục của đất nước, nhiều tấm gương học sinh với những hành động thể hiện giá trị văn hoá cao quý Song bên cạnh đó còn có những biểu hiện đáng lo ngại của VHHĐ và GDVHHĐ trong thời gian gần đây Hàng ngày, các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn dẫn các tin tức về sự giảm sút các giá trị văn hóa trong nhà trường; các hành vi lệch chuẩn của những nhà quản lý giáo dục với người giảng dạy; của thầy, cô giáo với học sinh (như đánh đập, ngược đãi, xâm hại tình dục, bạo lực tinh thần…) và ở chiều ngược lại (học sinh xúc phạm người dạy dỗ chính quy của mình, bỏ học, đánh nhau, trộm cắp,…); môi trường giáo dục đang bị thương mại hóa; giáo viên đến lớp chỉ để giảng bài và học sinh giống như các cỗ máy thi cử… Đối với một đất nước mà giá trị truyền thống, đạo đức luôn được đặt lên hàng đầu thì những hiện tượng xã hội trên là đáng báo động khẩn cấp Ngoài ra, bản sắc văn hoá riêng của VHHĐ chưa được thể hiện rõ nét trong mỗi nhà trường Việt Nam Đây là điều cần hết sức quan tâm trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay để nhà trường thực
sự là nơi chứa đựng, nuôi dưỡng, phát triển, truyền tải những giá trị văn hoá tinh thần tinh tuý của nhân loại và của dân tộc
Trang 12Ở các trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc, vấn đề VHHĐ và
GD VHHĐ đã được các nhà trường quan tâm ở một số khía cạnh như xây dựng cảnh quan, môi trường, thiết lập các quy tắc ứng xử trong giao tiếp giữa thầy với thầy, thầy với trò; giữa các học sinh… Tuy nhiên, hầu như các nhà trường chưa có
sự quan tâm và đầu tư đầy đủ; chưa thực sự chú trọng và xem GDVHHĐ như một
yếu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
Vấn đề VHHĐ và GDVHHĐ rõ ràng rất cấp thiết Tuy nhiên, về mặt lý luận quản lý mới có một vài công trình nghiên cứu về xây dựng VHHĐ Đã có một số luận văn nghiên cứu về quản lý xây dựng VHHĐ ở các trường phổ thông nhưng nghiên cứu về vấn đề Quản lý GDVHHĐ cho học sinh THPT thì hầu như chưa có
Từ những lí do trên cùng với thực tiễn nhiều năm công tác tại huyện Vĩnh
Tường - tỉnh Vĩnh Phúc, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý giáo dục văn
hoá học đường ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, phân tích các hoạt động quản
lý và đề xuất một số biện pháp quản lý GDVHHĐ cho HS trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc
3 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Văn hóa học đường ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí của Hiệu trưởng đối với việc giáo dục VHHĐ cho HS trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác GDVHHĐ cho HS ở trường THPT huyện Vĩnh Tường
- tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế đó chính là do hiệu trưởng quản lý GDVHHĐ còn chung chung, chưa có những hoạt động, những biện pháp cụ thể và đồngbộ
Trang 13Vì vậy, nếu hiệu trưởng nêu ra được những hoạt động quản lý cụ thể và
đề xuất được hệ thống các biện pháp quản lý đồng bộ, phù hợp thì hoạt động GDVHHĐ cho HS sẽ có kết quả khả quan, góp phần xây dựng VHHĐ ở các trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tiến bộ hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận GDVHHĐ ở trường THPT;
5.2 Đánh giá thực trạng quản lí GDVHHĐ ở trường THPT huyện Vĩnh
Tường - tỉnh Vĩnh Phúc;
5.3 Đề xuất biện pháp quản lí GDVHHĐ cho các trường THPT huyện
Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu tại ba trường THPT của huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc: trường THPT Đội Cấn; trường THPT Lê Xoay và trường THPT Vĩnh Tường
6.2 Giới hạn về khách thể khảo sát
- 12 Hiệu trưởng và cán bộ quản lí 03 trường (THPT Đội Cấn; THPT Lê Xoay và THPT Vĩnh Tường);
- 70 giáo viên 03 trường THPT nói trên;
- 200 học sinh 03 trường THPT nói trên;
- 30 cha mẹ học sinh đang học tại 03 trường nói trên
6.3 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nhữnghoạt động và những biện pháp quản lý
GD VHHĐ cho HS của Hiệu trưởng trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh
Vĩnh Phúc
7 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu, đó là:
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề lý luận trong các công
trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài; các văn kiện của Đảng, pháp
Trang 14luật của Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của ngành Giáo dục, sách, báo, tạp chí… nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trong nghiên cứu này, sử dụng các phương pháp định tính và định lượngnhằm thu thập thông tin và dữ liệu nghiên cứu Do vậy, tôi sẽ vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
7.2.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp này nhằm ghi chép lại về việc tổ chức xây dựng VHHĐ ở các trường THPT, quan sát biểu hiện VHHĐ của HS, CBGV cũng như cảnh quan, môi trường các trường THPT của huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Tác giả trực tiếp phỏng vấn các đối tượng bao gồm: Cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh ở trường THPT và một số CMHS
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Tác giả sử dụng ba bộ phiếu điều tra bằng bảng các câu hỏi cho ba nhóm
đối tượng
- Nhóm 1: Nhóm các cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên nhà trường ;
- Nhóm 2: Nhóm cha mẹ học sinh;
- Nhóm 3: Nhóm các em học sinh
Thông qua phiếu điều tra để khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh
và cha mẹ học sinh về GDVHHĐ cho HS của nhà trường THPT
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Tham khảo các tài liệu báo cáo hằng năm, qua trao đổi, phỏng vấn nhằm thu thập kinh nghiệm của cán bộ quản lý các trường THPT Đội Cấn, Lê Xoay, Vĩnh Tường về biện pháp quản lí GDVHHĐ cho HS mà các trường đã có kinh nghiệm nhất định
7.2.5 Phương pháp khảo nghiệm, thăm dò
Sau khi đề xuất một số biện pháp quản lý GDVHHĐ cho học sinh, đề tài lấy ý kiến của chuyên gia (một số CBQL, giáo viên có kinh nghiệm ) về mức
độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp này
Trang 158 Cấu trúc của luận văn gồm
- Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý giáo dục văn hoá học đường ở trường THPT;
- Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá học đường cho HS ở trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc;
- Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục văn hoá học đường cho HStrường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc;
- Kết luận và khuyến nghị
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Về khái niệm gốc Văn hoá, hiện nay, theo thống kê trên thế giới có tới
hơn 300 quan niệm khác nhau; mỗi quan niệm là chính kiến từ một góc nhìn Tuy nhiên, có thể thấy điểm chung cốt lõi và khá nhất quán thể hiện một cách phổ biến qua hầu hết các khái niệm văn hoá, đó là sự nhấn mạnh tới yếu tố con người Văn hoá là những gì gắn với con người, thuộc con người và đời sống của con người Tôi xin lựa chọn một quan niệm được thừa nhận rộng rãi:
“Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người
sáng tạo ra”[32, tr.177]
Theo Craig Jerald (2006) từ những năm 1930, xã hội học đã công nhận vai trò quan trọng của văn hóa nhà trường nhưng phải đến những năm 1970, các nghiên cứu về giáo dục mới bắt đầu đưa ra những mối liên hệ trực tiếp giữa không khí nhà trường với kết quả giáo dục của nhà trường đó [1, tr.10]
Khái niệm “Văn hóa tổ chức” (organisational culture) xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 và chính thức trở thành một khái niệm trong Khoa học tổ chức - Quản lí, xuất hiện ở Âu Mỹ từ những năm 80 của thế kỷ XX, hiện nay là một khái niệm tiêu biểu và được phổ biến rộng rãi
Thuật ngữ “Văn hóa nhà trường” (School culture) là một khái niệm mới xuất hiện gần đây Nội dung của “Văn hóa học đường” bao hàm nội dung của
“Trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng
từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX
Nghiên cứu của GS Peter Smith trường Đại học Sunderlands, Anh quốc
đã khẳng định văn hóa nhà trường có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng cuộc sống và hiệu quả hoạt động của nhà trường
Trang 17Craig Jerald (2006) khẳng định Văn hóa nhà trường chính là “chương trình đào tạo ẩn”, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của học sinh trong nhà trường, [1, tr.10]
Hai tác giả Julie Heifetz & Richard Hagberg đã đề xuất mô hình xây dựng văn hóa nhà trường dựa trên cơ sở mô hình xây dựng văn hóa tổ chức gồm 11 bước cụ thể trong các nghiên cứu của mình, [1, tr.10]
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Văn hóa đã xuất hiện từ lâu đời trong đời sống của con người Việt Nam Văn hóa là cái không thể nắm bắt, nhận diện nhưng đã và đang hiện hữu trong đời sống hàng ngày, trong phong tục tập quán, trong giao tiếp, ứng xử, trong cung cách làm việc của mỗi tổ chức, trong xã hội Việt Nam Bản chất
và nội dung của văn hóa nhà trường đã được xây dựng và bồi đắp trong các nhà trường ở Việt Nam từ xa xưa và trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta như: “Kính thầy yêu bạn”, “Tôn sư trọng đạo”, “Uống nước nhớ nguồn”, Văn hóa nhà trường là một khái niệm mới xuất hiện trong những năm gần đây ở nước ta và đã được nghiên cứu rộng rãi, tuy nhiên, chỉ là nghiên cứu ở một số khía cạnh cụ thể và đơn lẻ như văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã rất quan tâm đến giáo dục đạo
đức cho thế hệ trẻ để họ trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên”, Bác
mong muốn thế hệ trẻ phải được giáo dục để trở thành những con người mới xã hội chủ nghĩa
Văn hóa nhà trường đang được đề cập đến ngày một nhiều trong các nghiên cứu, các diễn đàn và hội thảo khoa học Trong những năm gần đây, quan điểm về đổi mới, phát triển Giáo dục và Đào tạo đã được Đảng ta đề ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI và ngày càng cụ thể, hoàn thiện để sát hợp với thực tiễn và tiếp tục được khẳng định trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng
Trang 18toàn quốc lần thứ XI (2011) Ngày 14 / 05 / 2011 Bộ Chính trị khóa XI ban hành chỉ thị số 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Một trong những nội dung chủ yếu của Chỉ thị đó
là “Coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ” Phong trào “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được phát động vào đầu năm học
2008 - 2009 của Bộ GD&ĐT (Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT, ngày 22/7/2008) Ban chấp hành trung ương khóa VII đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc,
là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Đây là một trong những bước đi đầu tiên tiếp cận hiện đại trong giáo dục, đó là xây dựng văn hóa nhà trường [1, tr.11]
Các nghiên cứu gần đây về quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường đã đề cập đến Văn hóa nhà trường mang tính trọn vẹn như văn hóa của một tổ chức
Trần Kiểm (ĐHSP Hà Nội) nghiên cứu theo hướng áp dụng các vấn đề
cơ bản của văn hóa tổ chức vào giáo dục và quản lí giáo dục Theo tác giả, ba yếu tố cấu thành nên văn hóa tổ chức đó là Nhận thức - Hành vi - Thái độ và được xem xét trong mối quan hệ bên trong và với môi trường bên ngoài của tổ chức Tác giả chỉ ra 6 nội dung của văn hóa tổ chức mang tính toàn diện để xây dựng văn hóa tổ chức trong giáo dục và quản lí giáo dục [17]
Phạm Quang Huân (Viện nghiên cứu Sư phạm - ĐHSP Hà Nội) trong bài:
Văn hóa tổ chức, hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường khẳng định Văn hóa
nhà trường là văn hóa của một tổ chức Xét về bản chất, mỗi nhà trường là một tổ
chức hành chính - sư phạm Đó là một thế giới thu nhỏ với những cơ cấu, chuẩn
mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng do những con người cụ thể thuộc mọi thế hệ tạo lập Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà
trường đều tồn tại, dù ít hay nhiều, một nền văn hoá nhất định [33, tr.177]
Trang 19Phạm Hồng Quang với cuốn sách “Môi trường giáo dục”, NXB Giáo
dục, năm 2006, đã chỉ ra những vấn đề cơ bản về vun trồng văn hoá nhà trường trên cơ sở các yêu cầu xây dựng môi trường giáo dục
Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Thị Minh Nguyệt khẳng định: “Văn hoá nhà trường là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà trường Văn hoá nhà trường không chỉ là diện mạo riêng của nhà trường này so với nhà trường khác mà còn có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng giáo dục của một
nhà trường (Biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục của hiệu trưởng các trường tiểu học thành phố Hà Nội) [23]
Đề tài khoa học cấp Bộ mã số B2009 - 29.44.TĐ: “Nghiên cứu đề xuất
hệ thống tiêu chí văn hoá học đường của trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay” do Trần Thị Minh Hằng (chủ nhiệm đề tài) đã đưa ra hệ thống tiêu
chí văn hóa học đường ở trường phổ thông và các biện pháp triển khai thực hiện bộ tiêu chí đánh giá VHHĐ ở trường phổ thông [12].
Trường ĐHSP Hà Nội (9/2007) - Viện Nghiên cứu sư phạm, Hội thảo
khoa học: “Xây dựng văn hoá học đường - Giải pháp nâng cao chất lượng giáo
dục nhà trường”, tại Hà Nội [33]
Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam (3/2009) tổ chức Hội thảo
khoa học: “Văn hoá học đường - lý luận và thực tiễn” tại Tiền Giang đã xuất
bản kỉ yếu tập hợp 70 bài báo cáo của các nhà khoa học tham gia
Tóm lại, vấn đề xây dựng văn hóa học đường đã được nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên, hoạt động GDVHHĐ cho HS và quản lý GDVHHĐ sao cho hiệu quả là vấn đề chưa được quan tâm nhiều.Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu này với hy vọng có thể làm sáng tỏ cơ sở lý luận về GDVHHĐ cho HS ở trường THPT, đồng thời đề xuất những biện pháp của Hiệu trưởng trong công tác quản lý hoạt động GDVHHĐ cho HS có hiệu quả, góp phần xây dựng một môi trường công tác, học tập tích cực cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh; trên cơ sở đó góp phần thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục của trường THPT huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn phát triển hiện nay
Trang 201.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
“Quản lý” theo nghĩa thông thường là trông nom, bảo quản đối tượng nào đó theo yêu cầu nhất định: Quản lý nhà kho; quản lý nghĩa trang; quản lý trang trại; quản lý xí nghiệp… Trong nghiên cứu về quản lý xã hội, các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm “quản lý” theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau:
- Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (nhà quản lý) - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.Cũng
theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là quá trình đạt
đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra [6]
- Tác giả Nguyễn Minh Đạo thì cho rằng “Quản lý là sự tác động liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý ( người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng” [9, tr.7]
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [24, tr.24]
- Theo các tác giả Harold Koontz, Cyril odonnell, Heinz weihrich: “Quản
lý là thiết kế một môi trường mà trong đó con người cùng làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành mục tiêu” [13, tr.29]
Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều có điểm chung là trong khái niệm quản lý bao gồm các yếu tố sau:
+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít
nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể
Trang 21quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động có thể chỉ là một lần, cũng có thể là liên tục nhiều lần Chủ thể có thể là một người, một nhóm người hoặc một bộ phận chức năng;
+ Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể
thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động;
+ Phải có đối tượng quản lý, có thể là một hoặc nhóm người, hoặc một
hoạt động, một tổ chức xã hội;
+ Các nguồn lực, môi trường và các điều kiện đảm bảo các tác động quản lý
Quản lý ngày nay được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế xã
hội là: vốn, nguồn nhân lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý
Trong đó, quản lý giữ vai trò quyết định sự thành công
Có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các quyết định, các cơ chế chính sách và sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức trong những điều kiện nhất định.
Như vậy, quản lý là quá trình tác động có ý thức (có mục đích, có tổ
chức) của chủ thể quản lý tới khách thể, thực hiện các chức năng quản lý nhắm đưa hoạt động của tổ chức đạt các mục tiêu đã xác định
1.2.1.2 Các chức năng cơ bản của quản lý
Đề cập các chức năng quản lý, có nhiều cách diễn đạt khác nhau
Ví dụ:
“Chức năng quản lý là dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [24, tr.58]
“Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt mục đích và mục tiêu quản lý đã đề ra” [27, tr.141]
Trong quá trình quản lý đã có nhiều hệ thống phân loại chức năng quản
lý, song có thể khái quát thành các chức năng cơ bản là:
Trang 22- Lập kế hoạch: là chức năng khởi đầu, là tiền đề, là điều kiện của mọi
quá trình quản lý Kế hoạch là bản thiết kế, trong đó xác định con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó
Có ba nội dung chủ yếu của nội dung kế hoạch hoá:
+ Xác định, hình thành các mục tiêu phát triển của tổ chức, của hoạt động và các mục tiêu của quản lý tương thích;
+ Xác định chương trình hành động, các biện pháp cần thiết để đạt được các mục tiêu của quản lý và các mục tiêu phát triển của tổ chức;
+ Xác định và phân phối các nguồn lực, các điều kiện cần thiết
-Tổ chức: là quá trình hình thành các quan hệ và cấu trúc các quan hệ
giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực, các điều kiện cho việc thực hiện thành công kế hoạch, chương trình hành động và nhờ đó mà đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công việc của chúng và sau đó là vấn đề nhân sự, gồm việc xác định
và nhóm gộp các hoạt động, giao phó quyền hành của người quản lý tạo ra sự phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức một cách khoa học, hiệu quả
- Chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập; cơ cấu bộ máy đã hình thành,
nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có quá trình tác động chỉ đạo Chỉ đạo bao hàm cả việc liên kết các thành viên và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ
- Kiểm tra: là chức năng của quản lý nhằm đánh giá, phát hiện và
điều chỉnh kịp thời giúp cho hệ quản lý vận hành tối ưu, đạt được mục tiêu
đề ra Kiểm tra nhằm xác định kết quả thực tế so với yêu cầu tiến bộ và chất lượng vạch ra trong kế hoạch; phát hiện những sai lệch, đề ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh kịp thời Kiểm tra không chỉ là giai đoạn cuối cùng của chu trình quản lý mà luôn cần thiết trong suốt từ đầu đến cuối quá trình thực thi kế hoạch
Trang 23Ngoài bốn chức năng cơ bản, truyền thống nói trên, nghiên cứu quá trình quản lý trong điều kiện xã hội thông tin, gần đây nhiều công trình đã đưa thông tin quản lý như là một chức năng không thể thiếu
Sơ đồ 1.1 Các chức năng Quản lý 1.2.2 Quản lý giáo dục
1.2.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động cơ bản của xã hội Vì vậy, quản lý giáo dục (QLGD) là quản lý một quá trình xã hội QLGD là bộ phận không thể tách rời của hệ thống quản lý xã hội
Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa về QLGD:
- Theo M.I Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và
mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”;
- Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: QLGD được biểu hiện ở hai
cấp độ: Theo nghĩa rộng: QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành,
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu xã hội hiện nay Theo nghĩa hẹp: QLGD, quản lý trường học cụ thể là
một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính
tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên và học sinh; đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động
Trang 24họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào các hoạt động của nhà trường, làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến [10].
Xét khái niệm QLGD trên hai phương diện:
QLGD ở cấp độ vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục) được hiểu là “những tác động tự giác” (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật, ) của chủ thể QLGD đến tất cả các mắt xích của hệ thống gáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát
và điều chỉnh, các nguồn lực (nhân lực, vật lực và thông tin) để hệ thống giáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục [6, tr.9] QLGD hiểu theo
cấp vĩ mô: là những tác động có hệ thống của chủ thể quản lý ở các cấp khác
nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống QLGD (Bộ, Trung ương đến địa phương, tới nhà trường) nhắm dạt tới mục tiêu của quản lý là nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục
QLGD hiểu theo cấp vi mô: Là những tác động có mục đích, kế hoạch có
hệ thống của lãnh đạo nhà trường, đơn vị đến tập thể CBGV, nhân viên, HS, cha mẹ học sinh, các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện
có chất lượng, hiệu quả đến mục tiêu giáo dục của nhà trường
Từ đó, có thểđịnh nghĩa: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức
(có mục đích, có tổ chức) của chủ thể quản lý tới khách thể, thực hiện các chức năng quản lý nhắm đưa hoạt động của tổ chức đạt các mục tiêu GD đã xác định 1.2.2.2 Nội dung quản lý giáo dục
Trong quá trình quản lý giáo dục cũng thể hiện đầy đủ các chức năng quản lý cơ bản, nhưng nội dung QLGD mang những đặc trưng của quản lý hành chính nhà nước của mỗi Quốc gia và cụ thể hoá theo phạm vi của cấp quản lý
Ở Việt Nam, nội dung của quản lý nhà nước về giáo dục được quy định tại Điều 99 - Luật giáo dục Việt Nam 2005 [20]:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục
Trang 252 Ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy hoạch pháp luật giáo dục đào tạo, ban hành điều lệ nhà trường, quy định hoạt động cơ sở giáo dục - đào tạo
3 Quy định mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, cơ sở vật chất thiết bị trường học, biên soạn, in, xuất bản sách giáo khoa, giáo trình, quy chế thi và cấp văn bằng chứng chỉ
4 Tổ chức quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục đào tạo, kiểm định chất lượng Giáo dục - Đào tạo
5 Thực hiện công tác thống kê thông tin về tổ chức hoạt động giáo dục
6 Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục
7 Tổ chức chỉ đạo, bồi dưỡng quản lý nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
8 Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo
9 Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực giáo dục
10 Tổ chức quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo
11 Quy định về việc tặng danh hiệu chi người có nhiều công lao cho sự nghiệp giáo dục
12 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành luật giáo dục, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục đào tạo
1.2.3 Quản lí nhà trường
1.2.3.1 Khái niệm quản lý nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của XH, thực hiện chức năng
kiến tạo các kinh nghiệm XH cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định, sao cho
việc kiến tạo kinh nghiệm XH đạt được mục tiêu XH đặt ra Quản lý nhà
trường là một loại hình đặc thù của quản lý giáo dục và là cấp độ quản lý giáo dục vi mô
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, kế hoạch
hợp quy luật của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng, các bộ phận chức năng, các cơ
Trang 26quan quản lý nhà nước về giáo dục cấp trên) nhằm làm cho quá trình GD nói chung và các hoạt động GD - dạy học cụ thể được tiến hành trong nhà trường đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu GD của cấp học, bậc học và các mục tiêu phát triển nhà trường[32]
“Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa là hoạt động của chủ thể quản
lý một cơ sở giáo dục (Hiệu trưởng hoặc người có chức vụ tương đương như hiệu trưởng) đối với các hoạt động giáo dục và dạy học của cơ sở giáo dục mà
họ được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý ”[6, tr.20]
Như vậy, quản lý nhà trường là những tác động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) lên khách thể quản lý (đội ngũ cán bộ quản lý cấp dưới, giáo viên hoặc giảng viên, sinh viên, nhân viên và các lực lượng tham gia khác), thực hiện các chức năng quản lý nhắm đưa hoạt động giáo dục của nhà trường đạt tới các mục tiêu đã xác định
Trong nhà trường, Hiệu trưởng quản lý mọi hoạt động của nhà trường
theo chế độ thủ trưởng Hiệu trưởng là người phụ trách cao nhất của nhà trường
và chịu trách nhiệm về các hoạt động trong nhà trường Đồng thời, trong nhà
trường còn có các tổ chuyên môn làm việc theo chế độ tập thể và các hội đồng làm theo chế độ tư vấn, để góp ý kiến, tư vấn, trợ giúp thủ trưởng xem xét,
quyết định và thực thi đối với những vấn đề quản lý nhà trường
1.2.3.2 Nội dung cơ bản của quản lý nhà trường
Ở Việt Nam, nội dung của quản lý nhà trường được quy định tại Điều 58 Luật Giáo dục Việt Nam, 2005 [20]
Nhà trường có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức giảng dạy, hoạ tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền;
2 Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình điều động của cơ quản quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên;
Trang 273 Tuyển sinh và quản lý người học;
4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật;
5 Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá;
6 Phối hợp với gia đình người học tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục;
7 Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội;
8 Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định giáo dục chất lượng;
9 Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.2.3.3 Các biện pháp quản lý nhà trường
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể Trong nghiên
cứu khoa học, biện pháp còn được hiểu là cách thức, con đường để đạt một mục tiêu cụ thể
Biện pháp quản lý là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp
quản lý Vì đối tượng quản lý phức tạp nên đòi hỏi các biện pháp quản lý phải
đa dạng, phong phú, linh hoạt phù hợp với đối tượng quản lý
Các biện pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống các biện pháp của mỗi phương pháp quản lý nhất định Các biện pháp này sẽ giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp quản lý của mình mang lại hiệu quả hoạt động tối ưu của bộ máy
Biện pháp quản lý nhà trường là nội dung, cách thức giải quyết các vấn
đề của nhà trường cùng những lực lượng trong và ngoài nhà trường có liên quan đến tổ chức nhà trường nhằm đưa ra các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường tiến dần đến mục tiêu giáo dục
Có thể chia các biện pháp quản lý nhà trường thành bốn nhóm:
Nhóm biện pháp tổ chức hành chính;
Nhóm biện pháp kinh tế;
Nhóm biện pháp giáo dục;
Trang 28Nhóm biện pháp tâm lý giáo dục
Bốn nhóm biện pháp trên là những biện pháp quản lý cơ bản để chủ thể quản lý đạt được mục tiêu quản lý Tuỳ từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng đối tượng mà vận dụng các biện pháp quản lý phù hợp
1.3 Văn hóa, văn hóa học đường và giáo dục VHHĐ
1.3.1 Khái niệm văn hóa
“Văn hóa” là một khái niệm rộng, đôi khi trừu tượng, thuộc về kiến trúc thượng tầng Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, trong đó người ta thường nhắc tới khái niệm “Văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên hết” Cách định nghĩa này đã nhấn mạnh văn hóa là những gì kết tinh trong quá trình sống của con người với các mối quan hệ phong phú, phức tạp
- Về mặt thuật ngữ khoa học: Trong tiếng Hán cổ, Văn có nghĩa là đẹp;
Hóa có nghĩa là thay đổi, biến hóa Văn hóa có nghĩa là làm biến đổi một cái gì
đó cho đẹp, đẹp hơn Ở đây, Văn hóa là giáo hóa, là giáo dục và cảm hóa cá nhân và xã hội theo cái đẹp Trong ngôn ngữ phương Tây, tiếng Anh, tiếng Pháp từ Văn hóa là Culture, được bắt nguồn từ chữ Latinh “Cultura” có nghĩa gốc là vun trồng
- Các định nghĩa miêu tả: Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett
Tylor (1832 - 1917) cho rằng: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên xã hội”
- Các định nghĩa lịch sử, chuẩn mực: Nhấn mạnh các quá trình kế thừa,
truyền thống Một trong những định nghĩa đó là của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ: “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù những người hoang dã nhất sống trong xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”
Trang 29- Các định nghĩa cấu trúc: Chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn
hóa Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa: “Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên
xã hội; là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa”
Một số định nghĩa khác:
- Văn hóa là “tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏicủa sự sinh tồn” [22, tr.431]
- “Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần con người sáng tạo ra trong lịch sử” [26]
- Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 1998), “Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”
- Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, “Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[30, tr.27]
- Hiện nay, hầu hết các nhà khoa học trên thế giới đều xem định nghĩa
về văn hóa của UNESCO (Tuyên bố về đa dạng văn hóa - Declaration on cultural Diversity ngày 21/02/2002) là đầy đủ và có ý nghĩa thực tiễn nhất: Văn hóa là toàn bộ những đặc điểm đặc trưng về tâm lý, tâm hồn con người, các giá trị vật chất, tri thức và tình cảm, xúc cảm của nhóm người, của toàn
xã hội; văn hóa chứa đựng trong văn học nghệ thuật, trong hệ thống giá trị, trong phong cách sống của từng cá nhân, trong phương thức chung sống của các thành viên, trong truyền thống, phong tục tập quán và đức tin của từng
cá nhân và nhóm xã hội [21]
Theo những ý nghĩa đó, văn hoá là một hiện tượng xã hội đặc thù mà nét trội cơ bản của hiện tượng này là ở chỗ chúng là một hệ thống những giá trị
Trang 30chung nhất cả về vật chất và tinh thần cho một cộng đồng, một dân tộc, một thời đại hay một giái đoạn lịch sử nào đó, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người trong môi trường tự nhiên và trong các mối quan hệ xã hội
1.3.2 Khái niệm văn hóa học đường
Trường phổ thông là một tổ chức được quy định ràng buộc về tính chất mối quan hệ giữa các bộ phận Nói khác đi, mỗi trường phổ thông là một cộng đồng có những đặc điểm riêng Mỗi trường có hệ thống giá trị riêng bên cạnh
hệ thống giá trị chung của ngành giáo dục, của cộng đồng xã hội nơi trường đóng và rộng hơn nữa là của các cộng đồng người Việt Vì thế, phải tiếp cận văn hóa học đường (hay văn hóa nhà trường) theo góc độ văn hóa tổ chức
Hiểu một cách chung nhất, Văn hóa tổ chức là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và các hành vi ứng xử của các thành viên tạo nên những đặc điểm riêng của một tổ chức, làm cho tổ chức này khác biệt với tổ chức khác Mỗi tổ chức là một cộng đồng có những đặc điểm riêng về vị trí, chức năng, về con người, về hệ thống giá trị mà tổ chức theo đuổi Những đặc điểm đó quy định nên cách ứng xử giữa con người với con người, tạo nên nét độc đáo của một tổ chức
- Kent.D.Peterson cho rằng: “Văn hoá nhà trường là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các lễ nghi và nghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” của nhà trường” [33]
- Stephen Stolp cho rằng: Văn hoá nhà trường như là “một cấu trúc, một quá trình và bầu không khí của các giá trị và chuẩn mực dẫn dắt giáo viên và học sinh đến việc giảng dạy và học tập có hiệu quả”
- Elizabeth R.Hinde cho rằng văn hoá nhà trường không phải là một thực thể tĩnh Nó luôn được hình thành và định hình thông qua các tương tác với người khác và thông qua những hành động đáp lại trong cuộc sống nói chung (Finnanm 2000) Văn hoá nhà trường phát triển ngay khi các thành viên tương tác với nhau, với học sinh và với cộng đồng Nó trở thành chỉ dẫn cho hành vi
Trang 31giữa các thành viên của nhà trường Văn hoá được định hình bởi những tương tác với con người và hành động của họ được chỉ đạo bởi văn hoá Đó là một vòng tròn tự lặp đi lặp lại [33]
- Theo Phạm Minh Hạc: “Văn hoá học đường là hệ thống các chuẩn mực, giá trị giúp các cán bộ quản lý nhà trường, các thầy cô, các vị phụ huynh
và các em học sinh, sinh viên có các cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp” [11]
- Tác giả Vũ Thị Sơn trong nghiên cứu của mình đã cho rằng: “Văn hóa học đường là tổng thể các giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà cộng đồng nhà trường (bao gồm giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các thành viên khác) cùng thừa nhận, chia sẻ và xây dựng trong quá trình lịch sử để thúc đẩy chất lượng dạy và học”[26].Với cách định nghĩa này đã nhấn mạnh:
+ VHHĐ bao gồm cả những giá trị vật chất và giá trị tinh thần Những tồn tại vật lý bao gồm cấu trúc, trang trí của các phòng ốc, khung cảnh nhà trường,… các nội quy, đồng phục nhà trường, các hoạt động văn hóa, học tập của nhà trường; những giá trị xã hội - tinh thần bao gồm ý thức, truyền thống, bản sắc riêng, lòng tin, tình cảm - tồn tại ở dạng phi vật thể Ở đây, những giá trị vật chất là những vật liệu, chất liệu mang các giá trị tinh thần, để các thành viên cảm nhận, suy nghĩ, tưởng tượng về những giá trị chung của nhà trường (như những biểu trưng chung) Như vậy, giá trị vật chất và tinh thần của VHHĐ vừa tồn tại riêng biệt vừa hòa quyện và được thể hiện trong nhau
+ VHHĐ là những giá trị được các thành viên của nó thừa nhận VHHĐ
là tài sản chung của mọi thành viên Đây là giá trị quan trọng nhất trong VHHĐ, là linh hồn của VHHĐ Điều này tạo ra tinh thần tập thể, ý thức về bổn
phận và sự trực thuộc của bản thân vào trong tập thể đó
- Tác giả lấy định nghĩa của Trần Quốc Thành làm khái niệm công cụ của
luận văn: Văn hóa học đường là tổng thể các chuẩn mực, các giá trị và các
hành vi ứng xử giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục tạo nên những đặc điểm riêng của một nhà trường[29]
Trang 321.3.3 Các biểu hiện đặc trưng VHHĐ ở trường THPT
Khi nói đến văn hóa trường học, người ta thường chia văn hóa trường học thành hai phần: phần nổi đễ thấy và phần chìm nằm sâu trong các con người cụ thể của nhà trường
a) Phần nổi dễ thấy khi được tiếp xúc với một nhà trường là các vấn đề định hướng phát triển của nhà trường, những hoạt động bề nổi được thể hiện bởi:
+ Mục tiêu phát triển của nhà trường, các giá trị mà nhà trường theo đuổi, các chính sách nhằm thực hiện mục tiêu;
+ Khung cảnh chung của nhà trường như: quang cảnh từ cổng trường tới sân trường, tới các lớp học, các phòng làm việc; cách trang trí phòng làm việc, lớp học
+ Biểu trưng của nhà trường, khẩu hiệu hành động của nhà trường + Các nghi lễ của nhà trường, đồng phục của giáo viên (nếu có), đồng phục của học sinh
+ Các hoạt động bề nổi của nhà trường như không khí học tập, các sinh hoạt đầu tuần, các phong trào thi đua, các hoạt động chính trị xã hội
b) Phần thứ hai này bao gồm:
+ Các nhu cầu, trạng thái cảm xúc và nguyện vọng của mỗi cá nhân trong nhà trường Mỗi cá nhân trong nhà trường có trạng thái cảm xúc tích cực hay tiêu cực, có nhu cầu, nguyện vọng gắn bó hay muốn tách ra khỏi nhà trường là biểu hiện quan trọng của văn hóa trường học;
+ Bầu không khí tâm lý do phong cách lãnh đạo tạo ra cũng là một biểu hiện của văn hóa trường học Nếu lãnh đạo nhà trường có phong cách lãnh đạo phù hợp với đặc điểm nhà trường, mọi người sẽ thấy thoải mái và không khí tâm lý sẽ tích cực;
+ Thương hiệu của nhà trường và ý thức của giáo viên, học sinh về thương hiệu đó Một nhà trường có văn hóa trường học lành mạnh sẽ tạo nên một sức hút với các thành viên và tạo nên thương hiệu của nhà trường Đến lượt nó, thương hiệu lại là một giá trị tạo nên văn hóa trường học;
Trang 33+ Sự thừa nhận các giá trị mà nhà trường theo đuổi cũng là một biểu hiện của văn hóa trường học Vì nhà trường theo đuổi giá trị nào thì sẽ có cách ứng
xử với các thành viên như vậy Nếu các ứng xử của nhà trường được giáo viên
và học sinh chấp nhận nghĩa là họ chấp nhận những giá trị của nhà trường
Cũng có thể nêu ra một số biểu hiện cụ thể của VHHĐ như sau:
Biểu hiện tích cực (có văn hóa):
* Nhà trường theo đuổi những giá trị phù hợp, các thành viên (cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh) đều thừa nhận và bảo vệ các giá trị đó
* Luôn tôn trọng con người và vì con người Không có thái độ đố kị mà luôn giúp đỡ lẫn nhau, vui mừng vì sự tiến bộ của nhau
* Tập thể giáo viên có bầu không khí tâm lý lành mạnh; các thành viên
có ý thức hợp tác, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, có ý thức và biết chia sẻ
* Mỗi giáo viên đều hiểu rõ và làm tròn trách nhiệm của mình trong giáo dục học sinh, trong việc bảo vệ uy tín, thương hiệu của nhà trường
* Nhà trường coi trọng sự đổi mới, khuyến khích những giáo viên, học sinh có ý tưởng mới góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
* Lãnh đạo nhà trường có phong cách lãnh đạo phù hợp với đặc điểm của nhà trường và tính chất của tập thể giáo viên, học sinh Biết trao đủ quyền cho cấp dưới và khuyến khích sự tự chịu trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm
cá nhân
* Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, tập hợp được sự ủng hộ rộng rãi của các lực lượng giáo dục để giúp nhà trường hoàn thành mục tiêu giáo dục đề ra
* Tạo lập được môi trường sư phạm có sức giáo dục tốt từ khung cảnh nhà trường sạch đẹp đến quan hệ thân thiện giữa con người với con người, nền nếp sinh hoạt, học tập khoa học, quan tâm đến đời sống giáo viên tạo nên sức hấp dẫn giáo viên và học sinh về công tác, học tập tại trường
Trang 34Giá trị
chính sách
Các mối quan hệ
C¶m xóc
vµ -íc muèn c¸ nh©n
v.v
Nghi thức và hành vi
Đồng phục
Truyền thống
Biểu tượng
Các loại thái độ
Niềm tin
Chuẩn mực
Văn ho¸
NT
Những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh:
* Bầu không khí tâm lý của tập thể giáo viên không lành mạnh: Thiếu gắn bó, thiếu hợp tác, thành công thì tranh công, thất bại thì đỗ lỗi cho nhau
* Lãnh đạo thu vén quyền lực, giáo viên không được thể hiện bản thân Không khuyến khích sáng kiến mà muốn sự ổn định theo ý lãnh đạo
* Thiếu sự bình đẳng và dân chủ với giáo viên và học sinh Làm cho mọi người thiếu tin tưởng và gắn bó với nhau Cá nhân không dám cởi mở trước tập thể
* Mọi người ngại chia sẻ và hợp tác với nhau làm cho tập thể rời rạc, thậm chí ngại tiếp xúc và giữ ý với nhau
* Thầy cô giáo ít quan tâm giúp đỡ học sinh mà lo cho chính mình Học sinh lo sợ thầy cô giáo và không dám bộc bạch những vướng mắc với thầy cô
Sơ đồ 1.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa nhà trường
Trang 351.3.4 Khái niệm giáo dục văn hóa học đường
Nhìn từ góc độ giáo dục học có thể hiểu văn hóa học đường là biểu hiện của tri thức, hành vi, thái độ giao tiếp, ứng xử một cách lành mạnh và có văn hóa của giáo viên với giáo viên, giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh
trong môi trường giáo dục đặc biệt đó chính là môi trường sư phạm
Giáo dục văn hóa học đường cho HS là quá trình tác động có kế hoạch,
có mục đích của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức, tình cảm, hành vi văn hóa đáp ứng mục tiêu xây dựng VHHĐ đã xác định
Quá trình giáo dục văn hóa học đường cho học sinh phải được tiến hành lâu dài, tỉ mỉ, phải phối hợp chặt chẽ với giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật Khi thực hiện các hành vi đạo đức và hành vi pháp luật có độ thẩm mĩ nhất định sẽ tạo ra hành vi văn hóa Việc giáo dục văn hóa học đường cho học sinh không phải thành môn học, thành các hoạt động cụ thể của nhà trường Chúng tôi cho rằng, việc giáo dục văn hóa học đường phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi nơi, mọi lúc Có thể thông qua giờ học trên lớp
để uốn nắn tư thế tác phong cho học sinh đồng thời trang bị những tri thức văn hóa, văn minh… có thể thông qua các hoạt động tập thể, các hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa, văn nghệ để hình thành ở học sinh những tình cảm, nhận thức, những kỹ năng, hành vi văn hóa…
Mục tiêu của GDVHHĐ là làm cho HS có nhận thức, thái độ, hành vi đáp ứng những yêu cầu, tiêu chuẩn của VHHĐ đối với HS
Nội dung cơ bản của GDVHHĐ cho HS là:
+ Cách ứng xử có văn hóa, thể hiện đạo đức học trò với thầy cô, bạn bè trong nhà trường;
+ Tinh thần hợp tác, tôn trọng lẫn nhau, có ý thức và biết chia sẻ;
+ Ý thức tự giác chấp hành những qui định của pháp luật, góp phần vào việc xây dựng văn hóa, văn minh cộng đồng;
+ Thừa nhận và bảo vệ các chuẩn mực, các giá trị thể hiện trong nhận thức, thái độ và hành vi hàng ngày;
Trang 36+ Hiểu biết xã hội, hiểu biết tự nhiên, hiểu biết về mối quan hệ với môi trường sống xung quanh;
+ Khả năng thích ứng với sự biến đổi của cuộc sống xung quanh, nhất là nghị lực, ý chí vượt qua khó khăn, thử thách
Hình thức giáo dục văn hóa học đường:
+ Ban hành nội qui, qui chế trong nhà trường (theo từng cấp, bậc học, thậm chí từng trường cũng có những chế định riêng);
+ Giáo dục thông qua các môn học cụ thể, trong đó có sự tích hợp những nội dung liên quan tới văn hóa học đường;
+ Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các sinh hoạt tập thể, đưa học sinh vào môi trường xã hội;
+ Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục (nhà trường, xã hội, gia đình), trong đó tăng cường vai trò của chính quyền địa phương và phụ huynh;
+ Tăng cường các điều kiện hỗ trợ trình độ, năng lực, nghiệp vụ sư phạm
cho giáo viên; nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị, đầu tư kinh phí cho việc tổ chức thực hiện tốt các nội dung giáo dục văn hóa học đường
Hình thức tổ chức và phương pháp GDVHHĐ phải được thực hiện dựa trên các đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh và sự phù hợp với nội dung GDVHHĐ Nếu hình thức tổ chức và phương pháp GDVHHĐ phù hợp đặc điểm lứa tuổi HS THPT thì các em sẽ thích thú, hăng hái hoạt động, lĩnh hội sâu sắc Ngược lại, các em sẽ thờ ơ, tham gia một cách đối phó, không đem lại
hiệu quả
Như vậy, việc giáo dục văn hóa học đường không chỉ đơn thuần là giảng giải những bài có nội dung về đạo đức, lối sống cho học sinh mà điều quan trọng là đưa các em vào các hoạt động tìm kiếm tri thức, tìm hiểu cuộc sống, tìm hiểu tự nhiên, tham gia vào công tác xã hội, áp dụng những điều được học vào cuộc sống hành ngày Với vai trò là chủ thể của công tác quản lý và giảng dạy trong nhà trường, người cán bộ quản lý và giáo viên phải là hình ảnh mẫu mực về văn hóa, đạo đức, có như thế thì công tác giáo dục văn hóa, đạo đức trong nhà trường mới đạt kết quả tốt
Trang 371.3.5 Tầm quan trọng của GDVHHĐ cho HS trường THPT
GDVHHĐ cho HS trong các trường THPT hiện nay đã trở thành vấn đề cấp thiết, nhất là khi giáo dục đào tạo luôn được coi là quốc sách hàng đầu GDVHHĐ rất quan trọng bởi nó có tác động đến mọi khía cạnh sư phạm của giáo viên, là yếu tố lan tỏa khắp nhà trường và khó xác định Freiberg (1998)
mô tả văn hóa học đường "…như không khí mà chúng ta thở Không ai nhận ra
nó cho đến khi nó bị ô nhiễm"
GDVHHĐ giúp cho HS có nhận thức đầy đủ về các giá trị, chuẩn mực, các quy định,… Từ đó, HS có thái độ, hành vi đúng đắn trong hành xử với chính mình, với các mối quan hệ xã hội và với môi trường tự nhiên GDVHHĐ góp phần tạo nên bầu không khí tâm lý tích cực trong nhà trường
Kết quả của GDVHHĐ ảnh hưởng nhiều chiều tới chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục trong nhà trường theo hướng phát triển con người toàn diện Hoạt động GDVHHĐ tạo nên những ảnh hưởng rõ rệt đến cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động của mỗi thành viên trong nhà trường, do đó có thể nâng cao hoặc cản trở động cơ, kết quả dạy, học của người dạy và người học Khi nhà trường có văn hóa học đường tích cực mang tính chuyên môn cao thì ở đó sẽ có sự phát triển đội ngũ có ý nghĩa, cải cách chương trình thành công và sử dụng số liệu về học sinh một cách có hiệu quả Ở những trường học như thế, giáo viên và học sinh đều trưởng thành
Văn hóa học đường lành mạnh giúp các thành viên trong nhà trường chia sẻ với nhau kinh nghiệm và kiến thức, phát triển khả năng hợp tác giữa các thành viên trong mọi lĩnh vực của nhà trường; văn hóa học đường được coi là có tính sống còn đối với từng nhà trường; tạo niềm tin cho xã hội trong việc thực hiện các chức năng giáo dục; GDVHHĐ là một yếu tố đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách toàn diện ở người học đáp ứng yêu cầu xã hội
Trang 381.4 Quản lý giáo dục văn hóa học đường
1.4.1 Khái niệm quản lý giáo dục văn hóa học đường cho HS
Cũng như quản lý giáo dục nói chung, quản lý GDVHHĐ là hoạt động
có ý thức của con người nhằm đạt được những mục đích của mình Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hoá mục đích, nghĩa là biến hình mẫu ý tưởng của đối tượng trong tương lai, mà ta gọi là mục đích thành trạng thái hiện
thực Quản lý GDVHHĐ cho HS được hiểu là quá trình tác động có ý thức (có
mục đích, có tổ chức) của chủ thể quản lý tới khách thể, thực hiện các chức năng quản lý nhắm đưa hoạt động GDVHHĐ cho HS đạt được những mục tiêu
+ Xác định và phân phối các nguồn lực, các điều kiện cần thiết
b) Tổ chức GDVHHĐ cho HS là quá trình hình thành, xây dựng các quan hệ và cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực, các điều kiện cho việc thực hiện thành công kế hoạch GDVHHĐ cho HS
c) Chỉ đạo việc thực hiện theo kế hoạch đã xác định trong hoạt động GDVHHĐ cho HS diễn ra thuận lợi cũng như giải quyết những tình huống bất thường để đảm bảo công việc hoàn thành tốt
d) Kiểm tra - đánh giá hoạt động GDVHHĐ trong nhà trường nhằm đảm bảo thực hiện chương trình, kế hoạch GDVHHĐ, sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục tiêu xác định
Trang 39Xét về mặt hoạt động của hiệu trưởng trong quản lý GDVHHĐ cho HS,
có thể bao gồm các hoạt động sau:
1.4.2 Hoạt động quản lý GD VHHĐ cho HS trường THPT
Quản lý GDVHHĐ cho HS được cụ thể hóa bằng những hoạt động sau:
1.4.2.1 Hoạt động cụ thể hóa mục tiêu GDVHHĐ cho HS trường THPT
Để hoạt động quản lý GDVHHĐ có thể đạt được kết quả mong đợi, nhà quản lý phải chỉ đạo cụ thể hóa mục tiêu GDVHHĐ cho học sinh thành những giá trị, những chuẩn mực, những yêu cầu cụ thể mà học sinh cần đạt được Sự
cụ thể hóa của mục tiêu GDVHHĐ cho HS sẽ giúp cho cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường và HS hướng vào những mục tiêu cụ thể mà thực hiện Đó cũng là căn cứ để nhà quản lý kiểm tra, đánh giá
1.4.2.2 Quản lý GDVHHĐ cho HS thông qua dạy học nội khóa
- Chỉ đạo quán triệt mục tiêu GDVHHĐ trong mục tiêu các môn học Theo đó, với từng môn học cụ thể, mục tiêu GDVHHĐ và mục tiêu chiếm lĩnh tri thức bộ môn phải được quan tâm, thực hiện đồng thời theo phương châm
“tiên học lễ, hậu học văn”, “dạy làm người” đi đôi với “dạy chữ”
- Chỉ đạo lồng ghép, tích hợp nội dung GDVHHĐ vào nội dung các môn học Chẳng hạn, ở bộ môn Giáo dục công dân, nhà quản lý cần chỉ đạo bộ môn này thông qua việc trang bị cho học sinh những kiến thức, hiểu biết về pháp luật, kinh tế, chính trị, xã hội, người dạy phải giúp HS hình thành cho mình những hành vi đạo đức, hành vi pháp luật và hành vi văn hóa trong ứng xử với chính mình, với người khác, với cộng đồng xã hội và với môi trường xung quanh Ở bộ môn Sinh học, thông qua nội dung tích hợp GD môi trường, người dạy phải giúp cho HS có ý thức gìn giữ, bảo vệ môi trường
- Chỉ đạo vận dụng và các hình thức, phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung và đặc điểm tâm lý của lứa tuổi HS phổ thông
1.4.2.3 Quản lý GDVHHĐ cho HS thông qua thực hiện nội quy, quy chế nhà trường
- Xây dựng hệ thống nội quy, quy định cho học sinh đảm bảo phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ GDVHHĐ cho HS
Trang 40- Phổ biến sâu rộng đến học sinh, cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục trong nhà trường
- Tổ chức triển khai thực hiện các nội quy, quy định một cách đồng bộ trên tất cả các hoạt động, các mặt công tác của nhà trường
- Tiến hành giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nội quy, quy định của học sinh
- Chỉ đạo kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nội quy, quy chế của nhà trường theo các tiêu chí của VHHĐ
- Nhà quản lý cần có những biện pháp nhằm giáo dục, uốn nắn những trường hợp vi phạm, xử lý nghiêm khắc với những cá nhân vi phạm một cách
hệ thống Đồng thời, nhà quản lý cũng phải có những điều chỉnh, bổ sung, thay thế những nội dung mới cho phù hợp với thực tiễn
1.4.2.4 Quản lý GDVHHĐ cho HS thông qua các hoạt động ngoại khóa
- Với từng hoạt động ngoại khóa cụ thể, nhà quản lý phải quản lý việc xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung và hình thức, phương pháp tổ chức đảm bảo chuyển tải được nội dung GDVHHĐ cho học sinh, góp phần hình thành ở
họ những nhận thức, tình cảm và hành vi văn hóa
- Để quản lý hiệu quả hoạt động GDVHHĐ cho HS thông qua các hoạt động ngoại khóa, nhà quản lý cần chỉ đạo, giám sát ở tất cả các khâu của quá trình tổ chức hoạt động ngoại khóa: xây dựng kế hoạch, tổ chức các lực lượng, công tác chuẩn bị, quá trình triển khai thực hiện, đánh giá và rút kinh nghiệm trong đó cần quan tâm đến nội dung GDVHHĐ và kết quả thực hiện GDVHHĐ thông qua từng hoạt động ngoại khóa
1.4.2.5 Quản lý GDVHHĐ cho HS thông qua hoạt động của các tổ chức của nhà trường (Hội đồng giáo dục, Hội CMHS, Công Đoàn, Đoàn thanh niên )
Hoạt động của các tổ chức của nhà trường như Hội đồng giáo dục, Hội CMHS, Công Đoàn, Đoàn thanh niên tạo ra sức mạnh tổng hợp giúp nhà trường thực hiện các nhiệm vụ giáo dục nói chung và nhiệm vụ GDVHHĐ nói