số Dịch tễ học của trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội tại huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương Hệ thống giám sát dân số dịch tễ học Điều tra viên Giáo dục sức khỏe Giám sát viên Hội chứng suy
Trang 1LIA
NC wd
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP BỘ
SỰ GẮN KẾT GIỮA CHA MẸ VỚI VỊ THÀNH NIÊN/
THANH NIÊN VÀ MÔI LIÊN QUAN GIỮA SỰ GẮN
KÉT VỚI HÀNH VI SỨC KHỎE VỊ THÀNH NIÊN/
THANH NIÊN
Chủ nhiệm đề tài: Ts Trần Hữu Bích
Nghiên cứu viên chính: Ths Bùi Thị Tú Quyên
Trang 2DANH SACH THANH VIEN NHOM NGHIEN CUU
Ts Tran Hitu Bich- Phé hiéu trưởng, phụ trách nghiên cứu khoa học- trường Dai
học Y tế công cộng: Chủ nhiệm dé tai
Ths Bùi Thị Tú Quyên- Phó bộ môn Dịch tễ- thống kê Trường Đại học Y tế
công cộng: Nghiên cứu viên chính
Ths Lé Minh Thi- Bộ môn Sức khóe sinh sản Trường Dai hoc Y tế công cộng:
Nghiên cứu viên
Nguyễn Thanh Nga- Bộ môn Dân số Trường Đại học Y tế công cộng: Nghiên cứu viên
CN Chử Việt Anh- Nghiên cứu viên
Cac thành viên hỗ trợ nhóm
- _ Cán bộ văn phòng thực địa ChiHlab
-_ Các giám sát viên, điều tra viên Chililab
Trang 3MỤC LỤC
Mì 80697 t c1 1
M0 y00/98050600007 4
DANH MỤC TỪ VIET TẮT -c-s2+ Ầ{£ 5
"0y v0 631966007 6
2700755200777 8
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2222 tri 9 TONG QUAN a 1 10 210/9) 1699271.0)/6)2i01580900Ẽ0087 31
KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU -ccee th reo 42 790 —.S Ô.ÔÔÔÔÔ,ỎÔ 97 :0ns 0m — 1 119
¡04258608 <5 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO _ cài snhhheheririeiiriirirrerri 123
Trang 4DANH MUC BANG
Bảng 1.1: Thông tin chung về đỗi tượng nghiên CỨA nu ee 42
Bảng 1.2: Thông tìn chúng về hộ gia đình theo địa du
Bảng 1.3: Một số thông tin về vị thành niên, thanh niên theo giới tính 44 Bảng 2.1.1: Sự quan tâm của cha mẹ với vị thành niên, thanh HiÊH” à v.v 4ó Bảng 2.2.1: Qui định và giám sát VTN/TN của Cha HỆ ào nhac 48
Bảng 2.3.1: Sự trao đổi của cha mẹ với VTN/TN à cay $
Bảng 2.3.2: Múc độ trao đổi thông tin giữa cha mẹ và VTN/TN trong một số chủ đà 54 Bảng 2.4.1: Sự tham gia của cha mẹ trong các hoạt động của VTIN/TNY 36 Bảng 3.2.1: Mối liên quan giữa sự gắn kết của cha mẹ VTN/TN với việc có Quan hệ
tình dục trước hôn nhân của VTN/TÌN Đá cv c ng HnHHkHrHnH ntndren 60
Bảng 3.2.2: Mô hình đa biến phân tích mối liên quan giữa một số yếu tố với Quan
hệ TD trước hôn nhân của VỊ thành niên, thanh HÌÊH uc HH Hee 61 Bang 3.2.3: Múi liên quan gia sự gắn kết của cha mẹ VTN/TN với Y dinh tụ tử của
2-4020 Ẽ00ẺẺ58 65
Bang 3.2.8: Mới liên quan giữa sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN và cảm giác buén
2 8G 8/49 0PESnnẼnS 6n 66 Bang 3.2.9: Moi liên quan giữa sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN và tình rạng bút thuôc lá của VTIN/TÌN c cành HH Hà Hà gy 66
Trang 5Bang 3.2.10: Mé hinh da biến phân tích mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng hút thuốc của VTN/TÌN HH HH Hà HH Harry 68 Bảng 3.2.11: Mối liên quan giữa sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN và tình trạng uống
rượu/bia của VTÌŨNTN
Bảng 3.2.12: Mô hình äa biên phân tích môi liên quan giữa một số yếu tô với tình trạng uống rượu/bia của VỊ thành niên/thaHh] nÌỄH àc cành ahee 69 Bảng 3.2 13: Mới liên quan giữa sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN và tình trạng VTN/TN có tình gây thương tích cho người KhÁC chi eeeeiesiee 79 Bảng 3.2 14: Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng Vị thành niên, thanh niên
cố tình gây thương tích cho người khẢG cà ceenehhehthhhaehredree 71
Bảng 3.2.15: Mới liên quan giữa sự sẵn kết của cha mẹ với VTN/TN và việc VTN/TN bị
người khác cô tình gây thương tích
Bang 3.2.16: Mi liên quan giữa một số yêu tô với tình trạng vị thành niên, thanh niên
bị người khác gây thương tích
Bảng 5.1.1 Một số yếu tổ liên quan với sự quan tâm của cha mẹ đến VTN/TN 79 Bảng 5.1.2: Mô hình đa biến phân tích mốt liên quan giữa một số đặc điểm dân số học với sự quan tâm của cha mẹ đến việc học của VTN/TN cookie $7 Bảng 5.1.3: Mô hình đa biến phân tích mỗi liên quan giữa một số đặc điểm dân số học với sự quan tâm đến bạn bè của cha mẹ đối với VTN/TN ác ng 82
Bang 5.1.4: Mé hinh da bién phan tích mỗi liên quan gia một số đặc điểm dân số học với sự quan tâm đến tâm trạng của VTN/TÌN và eehhrrrerermierenrerarerie 83
Bảng 5.1.5: Mô hình đa biển phân tích mối liên quan giữa một số đặc điểm dân số học với sự quan tâm VIN/IN di GGU, Lat Zhe cccceccce ce cree cece ee eee restates ce eeneseeneeeanerinreerntes 34
Bảng 5.2.1 Mối liên quan giữa một số yấu tổ với giám sát của cha mẹ đến VTN/TN .85
Bảng 5.2.2: Mô hình đa biến phân tích mối liên quan giữa một số đặc điểm dân số học
với việc cha mẹ giám sắt hoại động sinh hoạt giải trí của VTN/TN 86
Bang 5.2.3: M6 hinh da bién phan tich mối liên quan giữa một số đặc điểm dân số học với sự giám sát việc học và đồ dùng cá nhân của VTN/TN eo rae $7
Bảng 5.2.4: Mô hình đa biến phân tích mốt liên quan giữa một số đặc điểm dân số học
với việc cha mẹ giám sát hoại động bên ngoài của VTN/TN 88
Bảng 5.3.1 Mối liên quan giữa một số yếu tổ với sự trao đổi của cha mẹ và VTN/TN 89
2
Trang 6Bang 5.3.2: M6 hinh da biến phân tích moi lién quan giita mét số đặc điểm dân số học với sự lắng nghe khi trao đổi giữa cha mẹ và VTN/TN, 90
Bảng 5.3.3: Mô hình äa biến phân tích mối liên quan giữa một số đặc điểm dân số học với sự cởi mở khi trao đổi của cha mẹ với VIN/TN gL
Bảng 5.3.4: M6 hinh da bién phan tich mỗi liên quan giữa một số đặc điểm dân số học với sự bình đẳng khi trao đổi của cha mẹ và V†NTẢN coi neeerrerarrrrererie 92 Bang 5.4.1 Mét số yếu tổ liên quan đến sự tham gia của cha mẹ vào các hoạt động của
0/0118 9
Bảng 5.4.2 Một số đặc điểm dân số học liên quan đến sự tham gia của cha mẹ vào việc
Bảng 5.4.3 Mi liên quan giữa một số đặc điểm dân số học với sự tham gia của cha mẹ
vào công việc, hoạt động ớ nhà với VIN/TN 95
Bang 5.4.4 Mi liên quan giữa một số đặc điểm dân số học với sự tham gia của cha mẹ
vào các hoại động vui chơử giải trí E8 4)//9/0PPPẼAAe— 96
Trang 7Phan bé sie quan tam ctia cha me vOi VINIIN 0 ce 47
Phén bé su gidm sdt etia cha me VOL VIN/TN ccc 49 Cae hénh vi cha me thudng gidim sdt VINITIN ue eee 49
Phén bé sig trao d6i ctia cha me VOL VINITN ececcccec tee eeineitenes 52
Những hạn chế, cản trở sự trao đổi giữa cha mẹ và VIN/IN
Những nội dung cha mẹ khuyến khích VTN/TN trao đi co, 53
Các chủ đề hay được chủ động rao đổi nhất
Biểu đã 2.4.1: Sự tham gia của cha mẹ trong các hoạt động của VTN/TN 57
Biéu dé 3.1.1: Tinh trang VTN/TN có quan hệ tình dục trước hôn nhẬH « se 58
Biểu đề 3.1.2: Sức khỏe tâm thần của VTN/TN ccceeenerrerrrrirrrree 58
Biéu dé 3.1.3: M6ts6 hénh vi nguy co ctia WINITN see tet tits 59
Biểu đồ 4.1.1 Giới tính và sự quan tâm của cha mẹ đến VTN/TN so 75
Biểu đỗ 4.2.1 Giới tính và sự giám sát của cha mẹ với VTN/TẢN cccceceeenree 76
Biểu đã 4.3.1 Giới tính và sự trao đổi của cha mẹ với VTN/TN
Biểu đô 4.4.1: Giới tính và sự tham gia của cha mẹ vào các hoại động của VTN/TN 78
Trang 8Cơ sở thực địa về giám sát Dân số Dịch tễ học của trường Đại học
Y tế công cộng Hà Nội tại huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương
Hệ thống giám sát dân số dịch tễ học
Điều tra viên
Giáo dục sức khỏe
Giám sát viên Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
Kế hoạch hóa gia đình Nghiên cứu
Ty số chênh
Phân tích nhân tố chính
Quan hệ tình dục
Quan hệ tình dục trước hôn nhân
Điều tra quốc gia Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam
Sức khỏe
Tình dục
Vị thành niên/ Thanh niên
Trang 9TOM TAT NGHIEN CUU
Nghiên cứu Sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN là một trong những nghiên cứu thuộc
chùm nghiên cứu về VTN/TN được tiến hành tại 7 xã/phường Thị xã Chí Linh tỉnh Hải
Dương Đây là một nghiên cứu cắt ngang sử đụng phiếu phỏng vấn định lượng cho
2391 cha mẹ VTN/TN lửa tuổi 13- 20 với mục tiêu: 7) Äô #4 sự gắn kết giữa cha mẹ
với vị thành niên/ thanh niên trên các khía cạnh: sự quan lâm gân gũi, sự giám sát,
trao đổi và sự hỗ trợ của cha me với vị thành niên/ thanh niên, 2) Xác định mỗi liên
quan giữa sự gắn kết của cha mẹ và vi thành niên/ thanh niên với sức khỏe/ hành vi sức
khỏe của vị thành niên/ thanh niên, 3) Xác định sự khác biệt của sự gắn kết giữa người
cha với vị thành niên/ thanh niên và người mẹ với vị thành niên/ thanh niên theo giới
tính của vị thònh niên/ thanh niên; 4) Mô tả một số yếu tổ liên quan đến sự gắn kết của
cha mẹ với vị thành niên/ thanh niên
“Thông tin thu thập được từ nghiên cứu đã được kết nối với các thông tin cơ bản về kinh
tế xã hội của các hộ gia đình được thu thập vào năm 2008 và lưu trữ tại cơ sở đữ liệu
của Hệ thống dịch tế đân số học CHILILAB Bên cạnh đó số liệu của nghiên cứu này
cũng được kết nối với số liệu về hành vi nguy cơ của VTN/TN từ nghiên cứu tổng thể
về sức khỏe VTN/TN trên cùng một đối tượng vào nắm 2010 Các kỹ thuật phân tích số
liệu mô tả, phân tích mối liên quan giữa hai biến, phân tích nhân tố (PCA), mô hình hồi
qui đa biến Logistics đã được sử dụng
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự gắn kết của cha mẹ VTN/TN từ 13-20 tuổi ở địa bàn
CHILILAB tương đối cao trên cả 4 khía cạnh bao gồm Sự quan tâm, Sự giám sát, Sự
trao đổi và Sự tham gia của cha mẹ vào các hoạt động của VTN/TN Nhìn chung,
người mẹ có SỰ gắn kết với VTN/TN nhiều hơn người cha cụ thể trên các khía cạnh:
Quan tâm đến học hành, quan tâm đến bạn bè, quan tâm đến tâm trạng Người mẹ cũng
giám sát việc học và đề dùng cá nhân nhiều hơn người cha và tham gia vào việc học
của VTN/TN nhiều hơn Với khía cạnh trao đổi với VTN/TN người mẹ cũng có sự cởi
mớ và bình đẳng khi trao đổi với VTN/TN nhiều hơn người cha Sự gắn kết của cha mẹ
cũng khác nhau giữa VTN/TN nam và VTN/TN nữ trên một số khía cạnh: Với việc
học, cha mẹ quan tâm đến VTN/TN nam nhiều hơn nữ, ngược lại với tam trang thì cha
6
Trang 10
mẹ quan tâm đến VTN/TN nữ nhiều hơn nam Các yếu tố liên quan đến sự gắn kết của
cha mẹ với VTN/TN là: Địa dư, kinh tế hộ gia đình, số con cha mẹ có, quan hệ của cha
mẹ, trình độ học vấn của cha mẹ và nhóm tuổi VTN/TN Sự gắn kết của cha mẹ với
VTN/TN có liên quan đến hành vi QHTDTHN, sức khỏe tâm thần và các hành vi nguy
cơ khác như uống rượu, hút thuốc, gây thương tích và bị gây thương tích
Qua kết quá nghiên cứu, các tác giả đã khuyến nghị các bậc cha mẹ VTN/TN cần quan tâm đến việc học hành, bạn bè, tâm trạng của VTN/TN nhằm giảm thiểu nguy cơ quan
hệ TD trước hên nhân cũng như các nguy cơ sức khỏe khác của VTN/TN Cha mẹ cũng cần phải giám sát các hoạt động bên ngoài của VTN/TN cũng như nên tham gia
vào các hoạt động của VTN/TN Cần triển khai các hoạt động can thiệp có sự tham gia
của cha mẹ VTN/TN dưới vai trò là người (ham gia cũng như là đối tượng đích cấp 2 của chương trình nhằm cải thiện sức khỏe của VIN/IN
Trang 11DAT VAN DE
Với mỗi con người, gia đình chiếm một vị trí rất quan trọng, gia đình và các mỗi quan
hệ trong gia đình ảnh hướng rất nhiều đến tính cách cũng như cuộc sống của các cá
nhân sau này VỊ thành niên là một lứa tuổi đặc biệt, là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con
lên thành người lớn Trong giai đoạn này có rất nhiều những thay đổi ở VTN/TN cần
phải được quan tâm, hướng dẫn và điều chỉnh để VTN có một sự khởi đầu tốt cho cuộc
sống tương lai
CHHJILAB là cơ sở thực địa Giám sát dân số dịch tế “hoc của trường Đại học Y tế công .cộng đặt tại Thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương, được thiết lập từ năm 2003 Đây là địa bàn có nhiều nghiên cứu được triển khai trong thời gian qua Tờ năm 2007, trường Đại
học Y tế công cộng đã tiến hành dự án nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên tại Chí
Linh Đây là một dự án tương, đối tổng thể về vị thành niên, thanh niên với 3 cấu phần nghiên cứu và sau đó sẽ là các cấu phần can thiệp Các cấu phần nghiên cứu bao gồm 1) Nghiên cứu tổng thể về sức khỏe VTN/TN; 2) Các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ VTN/TN và 3) Sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN
Có thể nói, trong giai đoạn vị thành niên, sự quan tâm của cha mẹ, sự gắn kết của cha
mẹ với VTN/TN là một yếu tố rất quan trọng về gia đình và cũng chính là yếu tổ bảo
vệ VTN/TN trước những yếu tố nguy cơ đến hành vi sức khỏe của VTN/TN như hành
vi quan bệ tình dục trước hôn nhân, ý định tự tử, stress Việc xác định sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN trên địa ban CHILUILAB cũng như những yếu tố liên quan đến sự gắn kết này và mối liên quan của sự gắn kết với hành vi sức khỏe của VTN/TN bên cạnh bể sung thêm các thông tỉn, sự hiểu biết về vai trò của gia đình đối với hành vi sức khỏe của vị thành niên nó còn có một vai trò tương đối quan trọng trong việc xây đựng một chương trình can thiệp có hiệu quả nhằm tăng cường sức khóe cho VIN/IN Nhằm trả lời những câu hỏi trên cũng như bổ sung hoàn chỉnh bức tranh về VTN/TN ở CHILILAB chúng tôi tiên hành nghiên cứu: “Sự gắn kết giiữa cha mẹ với vị thành nhiên/ thanh niên và mỗi liên quan giữa sự gắn kết với hành vi sức khỏe vị thành niên/ thanh niên”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2 Xác định mối liên quan giữa sự gắn kết của cha mẹ và vị thành niên/ thanh niên với hành vi sức khóc của vị thành niên/thanh niên
3 Xác định sự khác biệt của sự gắn kết giữa người cha với vị thành niên/thanh
niên và người mẹ với vị thành niên/thanh niên theo giới tính của vị thành niên/thanh niên
4 Mô tả một số yếu tổ liên quan đến sự gắn kết của cha mẹ với vị thành niên/thanh niên
Trang 13TỎNG QUAN
Sự phát triển của một con người không phải là một tập hợp của những sự kiện ngẫu
nhiên Cuộc sống của một người trưởng thành trong bất kỳ một thời điểm nào cũng là
hệ quả của những hành vị, lựa chọn trước đó cũng như chịu ảnh hướng của môi trường
sống, sinh hoạt (Michael R Pergamit 2001) Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới
(1998), VTN là những người trong độ tuổi 10-19 tuổi; thanh niên là những người trong
độ tuổi 15-24 tuổi Nghiên cứu này sử dụng thuật ngữ chung vị thành niên/thanh niên
để chỉ những người trong độ tuổi 10-24 Tuổi vị thành niên là một giai đoạn mà mỗi cá
nhân đều muốn thử nghiệm và thể hiện những thái độ, hành VI, Vai trò mới Trong giai
đoạn này, vai trò của gia đình, cụ thể ở đây là cha mẹ rất quan trọng với những hanh vi
của VTN thể hiện ở sự gần gũi, sự gắn kết giữa cha mẹ và trẻ “Sự gan gũi” bao gồm cả
những tình cảm yêu mến và sự ấm áp trong gia đình Sự gắn kết giữa cha mẹ và vị
thành niên được biết đến như “một quan hệ tình cảm giữa cha mẹ và trẻ có đặc trưng là
yêu môn lẫn nhau và cỗ gắng đuy trì mãi” (Lezin Net al 2004), quan niệm này được
các nhà nghiê¡ cứu cũng như các nhà chính trị và cộng, đồng đân cư nói chung chấp
nhận Sự gắn kết với cha mẹ được lượng giá qua sự kết hợp của rất nhiều khía cạnh như
sự kỳ vọng, mức độ gần gũi, sự quan tâm của các thành viên, sự hài lòng với mối quan
hệ cba mẹ và con cái nói chung, hai lòng về sự trao đổi giữa cha mẹ với con cái, những
câm nhận/ nhận thức về sự chăm sóc, tình thương yêu và sự mong muốỗn/tự bảo là một
thành viên trong gia đình của trẻ, sự giám sát của cha mẹ với VTN/TN và sự tham gia
trong các hoạt động của VTN/TN (Resnick MD et al 1997; Whitaker DI et al 1999;
Sieving RW 2002)
Khi VTN cảm thấy sự gắn kết với gia đình, trường học không tốt họ có thể có những
hành vị, hành động được coi là nguy cơ của các vẫn đề sức khỏe Ngược lại khi cha mẹ
khẳng định, nhìn nhận giá trị của con mình thì VTN/ TN thường có xu hướng có thái
độ và hành vi mang tính tích cực với sức khỏe của bản thân
Trang 14
1 Sự gắn kết của cha mẹ với VIN/TN va hanh vi strc khée của VTN/TN
Trong một số nghiên cứu, sự gan kết của cha mẹ với VTN/TN được đánh giá tương đối
cao cho dù là VIN/TN đánh giá hay cha mẹ đánh giá (Resnick MD et al 1997;
Whitaker DI et ai 1999) Sự gắn kết này cũng thể hiện ở nhiều nội đung, nhiều khía
cạnh khác nhau Nghiên cứu của Purcell và cộng sự (Pureell 2005) có đo lường sự gắn kết của cha mẹ và VTN/TN nữ dưới 18 tuổi đến khám và nhận địch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 79 phòng khám ở Mỹ, các tác giả sử dụng đo lường tương đối đơn giản về sự trao đổi và mối quan hệ của cha mẹ và VTN nói chung chỉ với 2 câu hỏi
“Nhin chung VIN va cha mẹ hài lòng khi trao đổi với nhau” và “Nhìn chung, VTN hài
lòng với mỗi quan hệ với cha mẹ” Các tác giả tổng hợp kết quả thành 3 nhóm:L) Hải
lòng với cả trao đổi và mối quan hệ với cha mẹ; 2) Hài lòng với một trong hai khía cạnh và 3) Không hài lòng với cả hai khía cạnh Đây là hai khía cạnh đơn giản nhất so với các nghiên cứu về sự gắn kết trước đó nhưng các tác giá cho rằng hai nội dung này
là hai nội dung quan trọng nhất của sự kết nối cha me voi VIN/TN (Purcell 2005) Kết quá nghiên cứu cho thấy, nhìn chung có 68% nữ vị thành niên trong nghiên cứu này có mối quan hệ tốt với cha mẹ, có 14% là không hài lòng với cả hai khía cạnh được quan
tâm (trao đổi, mối quan hệ với cha me)
2 Thang đo về sự gắn két gilta cha me va VIN/TIN
Không có nhiều nghiên cứu đưa ra các thang đo về quan hệ của cha mẹ vả VIN/TN, tác giả Wintre và cộng sự (Wintre Maxine Gallander; Yaffe Marvin 1991) đã tiến hành
một nghiên cứu phát triển và chuẩn hóa bộ công cụ đo lường quan hệ của cha mẹ và
VTN/TN Nghiên cứu được tiến hành trên 132 sinh viên chưa lập gia đình, với 51 câu
hỏi ban đầu các tác giả đã rút xuống còn 43 câu trong đó phần lớn là các khía cạnh về
trao đổi với cha và với mẹ Trong nghiên cứu của tác giả Jaccard va c6ng sw (James Taccard et ai 2000), các tác giả cũng đánh giá sự hai long của VTN/TN trong mối quan
hệ với mẹ qua 11 câu hỏi, các đáp án trả lời cũng được chia theo thang đo Likert với 5
mức độ Các câu hỏi đề cập đến sự trao đổi (“tôi hài lòng với cách mẹ trao đổi với
mình”) hay mối quan hệ nói chung (“nhìn chung, tôi hài lòng với mỗi quan hệ với
Trang 15mẹ”) Sự hài lòng chung được đánh giá thông qua giá trị trung bình cộng của 11 câu trả lời, đây cũng là cách tính điểm được cho là phù hợp trong nghiên cứu trước
Nghiên cứu của Scott và cộng sự (Scott A Cottrell 2007) đã phát triển và chuẩn hóa thang đo về sự giám sát của cha mẹ với VTN, các tác giả đã đưa ra 49 câu hỏi về giám sát và chia vào 7 nội dung giám sát chính: 1) Giám sát gián tiếp; 2) Giám sát trực tiếp;
3) Giám sát việc học; 4) Giám sát sức khỏe; 5) Giám sát việc sử dụng máy tính; 6)
Giám sát sử dụng điện thoại và 7) Những qui định giới hạn (dựa trên phân tích nhân tố) Tuy nhiên các tác giả cũng đề cập đến những hạn chế của nghiên cứu này như mẫu
không đại điện cho quần thể do giáo viên tự chọn, ngoài ra các đối tượng tham gia
nghiên cứu chủ yếu là VTN nữ Một nghiên cứu khác của tác giả MeBride và cộng sự
có đề cập đến mối quan hệ của VTN và cha mẹ nhưng chỉ sử dụng một câu hỏi chung chung duy nhất để đánh giá mối liên quan này đó là “Bạn diễn tả thế nào về mối quan
hệ của mình và cha mẹ?” với các lựa chọn Rất tốt- Tốt - Rất không tốt (MeBride D.C June 2005) Két qua cho thấy có khoảng 18% VTN có quan hệ rất tốt với cả cha và mẹ,
tỷ lệ VTN có quan hệ tốt với cha mẹ cũng tương đối cao (gần 50%)
Nghiên cứu của Christine và cộng Sự tiến hành trên 976 học sinh trung học phổ thông ở Houston, My (Christine M Markham; Susan R Tortolero et al August 2003) đo lường mối liên quan giữa sự kết nối với gia đình của VTN và những hành vi tình đục nguy cơ Trong nghiên cứu này, sự kết nối giữa VTN và gia đình được đo lường qua 14 câu hỏi
với 4 thang điểm khác nhau (từ 0- rất đồng ý cho đến 3- Rất không đồng ý) Các câu
hỏi cũng mang tính chung chung như “Các thành viên trong gia đình tôi cảm thấy rất là gần gũi, gắn bó với nhau”; “Tôi thích ở cùng bạn bè hơn là ở cùng gia đình mình” hay
“Cha mẹ thường không quan tâm đến những gì tôi nói hoặc tôi làm” Các tác giả đã cộng số điểm có được của 14 câu hỏi để có được số điểm cho sự kết nối, số điểm càng cao thì sự kết nối càng cao giữa VTN với cha mẹ càng cao Các tác giả đã sử dụng biến
đo lường sự kết nếi chung như một biến định lượng trong các phân tích
Trong nghiên cứu dọc về các hành vi tinh duc nguy cơ trong nhóm VTN Canada và VTN Italia (Marie-Aude Boislard P 2009), các tác giả do lường sự theo đõi VI/TN của cha mẹ dựa trên 4 câu hỏi với thang đo Likert, câu hỏi dạng “Mức độ thường xuyên
Trang 16mà cha hoặc mẹ bạn biết bạn ở đâu sau giờ học như thể nào?” Về việc cha mẹ giám
sát/ kiểm soát VTN cũng được đo lường bằng thang đo Likert với 5 mức độ, câu hỏi có đạng “Khi về muộn, VTN có cần sự cho phép của cha mẹ không” Ngoài ra các tác giả cũng dùng các câu hỏi như “Cha mẹ đưa ra những qui định rõ rằng để VTN làm theo”
để đo lường mức độ qui định của cha mẹ với VTN Như vậy có thể thấy các nghiên cứu
đơn lẻ đã có sự đề cập đến mối quan hệ, sự gắn kết giữa cha mẹ với VTN/TN tuy nhiên
các nội dung được để cập thường khác nhau cả về mức độ bao phủ của sự gắn kết cũng
như các khía cạnh của sự gắn kết
Trong nghiên cứu SAVY- Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam
(BệY té; Téng cuc thống kê 2005; Bộ Y tế; Tổng cục thống kê; Ngân hàng phát triển
Chau A 2010) có đánh giá mức độ gắn bó giữa các thành viên trong gia đình dựa trên 8
nhận định về mức độ gắn kết Trong 8 nhận định này có 5 nhận định theo chiều hướng
tích cực và 3 nhận định theo chiều hướng tiêu cực Các câu hỏi không đề cập đến mối
quan hệ cụ thể của cha mẹ và VTN mà đề cập đến sự gắn kết chung của gia đình Các câu hỏi như: Các thành viên trong gia đình giúp đỡ lẫn nhau; Các thành viên trong gia đình biết bạn thân của những thành viên khác; Trong gia đình bạn được hỏi ý kiến và ý kiến được tôn trọng Kết quả cho thấy về co ban VIN sống trong các gia đình có sự gắn kết của các thành viên rất cao (Bộ Y tế; Tổng cục thống kê; Ngân hàng phát triển Châu Á 2010) Trong nghiên cứu này các tác giả cũng đã đưa ra thang đo tổng hợp cho
sự gắn kết với thang điểm dao động từ 8-24 điểm và từ đó phân thành biến số chỉ gồm
2 phương án là mức “gin kết gia đình mạnh” và mức “gắn kết gia đình yếu” Với cách
xây dựng thang đo như trên thì 73% trong mẫu nghiên cứu của SÂ VY 2 có sự gắn kết
gia đình mạnh Sự gắn kết này không có sự khác biệt giữa VTN nam và VTN nữ, mức gắn kết của gia đình ở nông thôn cũng mạnh hơn gia đình ở thành thị
3 Các khía cạnh khác nhau của sự gắn kết và mối liên quan với hành vi sức khỏe vị thành niên/ thanh niên
3.1 Sy trao dỗi giữa cha mẹ và vị thành niên/ thanh niên
Sự trao đổi thông tin giữa cha mẹ và VTN/TN rất quan trọng Một nghiên cứu đã chỉ ra
rằng, mẹ không trao đổi thông tin với VTN có tương quan với sự không tin tưởng của
Trang 17VIN/TN vào người mẹ của mình và thấy rằng sự hỗ trợ của mẹ với mình là rất ít
Những cảm nhận này cũng có tác động đến những hành vì xã hội mang tính chất tiêu
cực của VTN/TN, ngoài ra cũng liên quan đến việc những người bạn cùng trang lửa
không chấp nhận VTN Kết quả tương tự cũng xảy ra khi người cha phân đối việc trao đổi thông tin với VTN (Paley B et al 2000)
“Trong vòng 2 thập ký trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu nhiều về
sự trao đổi giữa cha mẹ với VTN/TN đặc biệt là trao đổi về chủ đề tỉnh dục Nghiên
cứu quốc gia năm 2002 về phát triển gia đình (NSFG) (Abma JC et al 2002) tai My trên một mẫu nghiên cứu đại điện cho thấy phần lớn những VTN nữ lứa tuổi 15-17 đã
từng trao đối với cha mẹ về những vấn để liên quan đến tình dục như làm thế nào để nói “Không” với quan hệ tình dục (62%), các phương pháp tránh thai (52%) và các
bệnh lây truyền qua đường tỉnh dục (57%), có 30% VTN đã từng trao đổi với cha mẹ
về cách sử dụng bao cao su: Tuy nhiên trong nghiên cứu Add health, chỉ có khoảng 21% những người mẹ trong nghiên cứu trả lời rằng họ đã từng trao đổi với con gái của
họ về các biện pháp tránh thai (Resnick MD et al 1997)
Purcell, Alison (Purcell 2005) nghién ctru trén những VTN nỡ dưới 18 tuổi đến cơ sở y
tế nhận dịch vụ sức khỏe sinh sản (loại trừ nạo/ hút thai, chăm sóc trước sinh, chăm sóc
sau sinh) từ tháng 5/2003 đến tháng 2/2004 tại các cơ sở y tế của Mỹ Tác giả quan tâm
đến sự trao đổi, sự kết nối giữa VTN với cha mẹ; sự cảm nhận về những hành vị của
cha mẹ ở những VTN nỡ này Ngoài ra các tác gia con kiểm chứng mối liên quan giữa
mức độ gần gũi trong mỗi quan hệ với cha mẹ và việc cha mẹ biết VTN đến cơ sở y tế
nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Số liệu được thu thập tại 79 cơ sở y tế khác nhau từ 33 bang/ thành phố trên toàn nước Mỹ với 1526 VTN nữ Kết quả nghiên cứu cho thấy, 42% đối tượng nghiên cứu đã từng trao đổi với cha mẹ về vấn dé lam thế nào
nói KHÔNG với quan hệ tình dục, 32% VTN trao đổi về vấn đề phòng tránh bệnh lây
nhiễm qua đường tình dục, lây nhiễm HIV/AIDS và 33% trao đổi về vấn đề các biện
pháp tránh thai Có đến 50% trẻ nữ dưới 18 tuổi chưa bao giờ trao đổi với cha mẹ về
cách dùng bao cao su, có 7% trẻ chưa từng bao giờ trao đổi với cha mẹ về bất cứ vấn
đề gì liên quan đến sức khỏe sinh sản Tuy nhiên, chỉ có 29% trẻ được hỏi cho rằng
Trang 18những cuộc trao đổi với chả mẹ là có ích cho trẻ và có đến 22% trẻ thấy những cuộc trao đổi với cha mẹ họ đã không giúp gì cho trẻ Nhìn chung, hầu hết các đối tượng nghiên cứu đều cho rằng mình có mối quan hệ nói chung và sự giao tiếp là tốt với Ít nhất cha hoặc mẹ, có tới 3⁄4 trẻ thấy rằng sự giao tiếp và mối quan hệ của họ với mẹ là
rất tốt, ngược lại, tý lệ này trong mối quan hệ với cha lại thấp hơn (dưới 50%) Có tới
14% trẻ không còn giữ mỗi liên hệ với cha mẹ mình
Một số nghiên cứu khác (Miler K§ et al 1998; Miller 2001; MeNeely C et al 2002)
cũng cho thấy có khoảng 1⁄2 vị thành niên đã từng trao đổi với cha mẹ về tình đục và
các biện pháp tránh thai nhưng những thông tin VTN nhận được chưa thực sự làm VTN
hải lòng, rất nhiều vị thành niên cho rằng họ đã không nhận được nhiều thông tin/
hướng dẫn về tình dục từ cha mẹ như họ mong muốn (National Campaign to Prevent Teen Pregnaney 2003) Tương tự như vậy, một số nghiên cứu thu thập thông tin từ cả cha mẹ và vị thành niên cho thấy tỷ lệ đã từng trao đổi về tình dục giữa cha mẹ và con cái là tương đối cao tuy nhiên những thông tín cha mẹ chuyển tải đã không có hiệu quả
nhiều như họ nghĩ (Jaccard J 1998; Miller KS et al 1998; McNeely C et al 2002), rat
nhiều cha mẹ đã không cung cấp được những thông tin về tình dục mà VTN/ TN cần Trong nghiên cứu của Henry J (Henry 1; Kaiser 1998) cho thấy chỉ có 38% VTN/ TN nam giới và 25% VTN/ TN là nữ giới đã từng nhận được 1 ý kiến có ích của cha mẹ giúp họ nói về tình dục với bạn tỉnh
Ngoài ra những cuộc trao đổi của cha mẹ với con cái về vấn đề tình đục đều theo dạng thông tin từ trên xuống có nghĩa là cha mẹ chủ động nói với con cái Dạng trao đổi thong tin này không cho phép VTN có cơ hội để nói những gì VTN suy nghĩ, cảm nhận
và không đưa ra được méi liên hệ giữa những gì VTN thực sự nghĩ và những gì cha mẹ VTN muốn (Yowell CM 1997) Tuy nhiên đứng ở khía cạnh người chủ động cung cấp
thông tin thì mẹ của VTN/TN lại cho rằng mình cảm thấy rất thoải mái khi trao đôi với
con về những vấn đề liên quan đến tình đục (DiLorio C et al 1999)
Trong các chủ để trao đổi với VTN/TN như không sử dụng những chất có hại (rượu, thuốc, chất gây nghiện), các biện pháp tránh thai, cách phòng tránh lây nhiễm
HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục thì cha mẹ thường gặp khó khăn
Trang 19khi nói về tình đục với VTN/TM Đây cũng là một cân trở vì nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những cuộc trao đổi tích cực giữa cha mẹ và con cái về chủ đề tình dục sẽ giúp VTN/ TN củng cô giá trị bản thân và đưa ra những quyết định đúng đắn trong hành vi
tình dục
Sự trao đổi giữa cha mẹ và VTN/TN về những vấn đề TD có sự khác nhau giữa nam và
nữ Trong một nghiên cứu về VTN Mỹ gốc Phi (DiLorio C et al 1999), VTN nữ trao
đổi về các chủ đề liên quan đến tình dục với mẹ nhiều hơn VTN nam Mặc dù VTN
nam ít trao đổi các chủ đề liên quan đến tình dục với cha, mẹ và bạn bè nhưng trong
nhóm có trao đổi, VTN nam thường trao đổi với mẹ hoặc bạn nhiều hơn là trao đỗi với cha (DiLorio C et al 1999)
Việc trao đổi giữa cha mẹ và VTN cũng là một yêu tố thê hiện mối quan hệ của gia
đình Đây cũng là một yếu tố liên quan đến mang thai ở VTN và được thể hiện ở trên
30 nghiên cứu trong lĩnh vực này (Miller 2002) Kết quả chỉ ra từ các nghiên cứu có sự thay đổi và cũng có sự khác nhau Trong hầu hết các nghiên cứu đã được kiểm định về trao đổi giữa cha mẹ và VTN, việc không trao đổi giữa VTN với mẹ có môi liên quan đến nguy cơ mang thai ở VTN nhiều hơn là trao đổi với cha, ngoài ra sự trao đổi này cũng có tác động đến VTN nữ nhiều hơn VTN nam Việc trao đổi giữa cha mẹ và VTN
về tình dục ảnh hưởng đến hành vi TD ở VTN, đặc biệt nếu cha mẹ phản đối việc VTN
có quan hệ TD và cha mẹ có quan hệ gần gũi với VTN/ TN Mặt khác nếu cha mẹ nghỉ ngờ hoặc biết VTN đã có QHTD họ sẽ quan tâm đến việc trao đổi với con về tình dục
và các biện pháp tránh thai Lượng giá về trao đối của cha mẹ với VTN các nghiên cứu không chỉ quan tâm đến nội dung trao đổi mà còn quan tâm đến tần suất trao đổi cũng như chất lượng của cuộc trao đổi (Miller 2002)
Sự trao đổi giữa cha mẹ và con cái cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trì hoãn quan hệ tình đục sớm của vị thành niên đặc biệt ở VTN nữ (Hovell 1994), nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng những VTN nữ được mẹ nói về những van đề tình dục và giới tính thường ít có quan hệ tình dục sớm, tuy nhiên chưa thấy có mối quan hé nay 6 VIN
nam Một nghiên cứu khác của Jaccard và cộng sự (Jaccard J 1996) thấy: rằng sự trao
đổi của mẹ với VTN về các biện pháp tránh thai lại làm tăng hành ví quan hệ tình đục ở
Trang 20cả VIN nam va VTN nữ đặc biệt khi VTN không hài long trong mỗi quan hệ với mẹ
và những quan điểm trái ngược của mẹ trong quan hệ tình dục trước hôn nhân
Miller KS và cộng sự đã chỉ ra rằng khi người mẹ trao đổi với con việc sử đụng bao
cao su trước thời điểm VTN/ TN có quan hệ TD lần đầu thì VTN có xu hướng sử đụng bao cao su khi quan hệ tình dục cao gấp 3 lần những VTN không được mẹ trao đổi về việc sử dụng bao cao su hoặc trao đổi sau khi VTN đã có quan hệ tình dục lần đầu
(Miller K§ et al 1998), Ngoài ra việc trao đổi với cha mẹ cũng ảnh hưởng đến việc VTN trao đổi về các chú đề liên quan đến TD với bạn tình của mình, những VTN/TN
đã từng trao đổi với cha mẹ về tình đục có xu hướng sẵn sàng trao đổi với bạn tình về HIV/AIDS cao hon 7 lần so với những VTN/ TN chưa từng bao giờ trao đổi với cha
mẹ về chủ đề này (Shoop DM; Davidson PM 1994)
Nghiên cứu của Peter (Peter A Karofsky 2000) cho thấy rằng trao đổi với mẹ chính là
yếu tố bảo vệ VTN/TN với hành vi QHTD (OR=0,649; CI95% OR [0,47-0,86])
Nghiên cứu cũng chi ra rằng có mối tương quan giữa mức độ trao đổi thông tin giữa
cha me va VIN với việc trì hoãn QHTD Việc trao đổi thông tín về TD với cha mẹ tốt
(đặc biệt là với người cha) có mối tương quan thuận với việc trì hoãn QHTD ở VTN (p<0,01 trong trao đổi với cha) Việc trao đổi với cha cũng giảm dần khi tuổi của trẻ lớn hơn, việc giảm sự trao đổi thông tin này cũng thấy rất rõ trong nhóm VTN thay đổi
từ chưa có QHTD sang có QHTD trong khoảng thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu của Kathleen M Roche và cộng sự (Kathleen M Roche; Debra Mekos;
Cheryl S Alexander January 2005) cũng đề cập đến sự trao đổi giữa cha mẹ với VTN
về chủ đề TD và việc VTN có quan hệ tình đục lần đầu Kết quả cho thấy rất thú vị, điểm trung bình của sự trao đổi giữa cha mẹ và con cái về chủ đề tình dục ở nhóm VTN
đã có quan hệ tình dục cao hơn ở nhóm VTN chưa có quan hệ tình đục (p<0,001) Mặc
dù sự trao đổi của cha mẹ về chủ đề tình đục, sự kết nối của cha mẹ và con cái cũng như một số loại quyết định của cha mẹ đối với con cái đều có tương quan với hành vi
sinh hoạt tình đục của VTN nhưng trong mô hình phân tích đa biến thì không còn thay
mỗi tương quan giữa sự trao đôi về tình dục với hành vi sinh hoạt tình dục nữa Các tác giá cho rằng sở dĩ không thấy được méi tương quan này có thể là do cách lượng giá sự
=————
Trang 21trao đổi, các tác giả đã lượng giá mức độ trao đổi giữa cha mẹ và con cái về những mặt
tiêu cực khi có quan hệ tình dục sớm chẳng hạn: sự nguy hiểm của những bệnh lây
truyền qua đường tình dục hoặc trẻ mất đi sự tôn trọng của bạn tình/ người thân/ bạn bè
khi có quan hệ tình dục Mặc dù tất cả những nội dung đó đều có trong những cuộc
trao đổi giữa cha mẹ và con cái về tình dục nhưng nó dường như không có hiệu quả trong việc ngăn cản VTN có quan hệ tình dục
3.2 Giám sát của cha mẹ với VỊ thành miên/ thanh niên
Sự giám sát, theo đối hay quyết định của cha mẹ với các hoạt động của con cải được hiểu là những qui tắc, qui định cha mẹ đặt ra để theo đối/ giám sát những hoạt động của VTN tai nhà và cả ở môi trường bên ngoài Giám sát của cha mẹ với VTN thê hiện ở việc cha mẹ VTN biết 1) VIN dang lam gi? 2) VIN dang 6 dau? va 3) VIN dang lam véi ai? (Rodgers KB 1999; Miller 2001) Nghiên cứu của John va céng su (John A Sieverding et al 2005) đã sử dung 8 câu hồi để lượng giá sự giám sát của cha mẹ với VTN/TN, cdc câu hỏi này được đựa trên thang đo giám sát (Strictness/ Supervision Scale) Các nội dung đánh giá bao gồm cha mẹ qui định thời gian VTN/TN về nhà, giám sát những việc VTN/TN làm khi không có nhà Thang đo gồm 5 mức độ, từ 1-
Hoàn toàn không biết cho đến 5- Luôn luôn biết Sự giám sát của cha mẹ và VTN/TN
trong nghiên cứu này được chia thành 2 khía cạnh 1) Mức độ cố gắng tróng giám sát VTN/TN của cha mẹ; 2) Mức độ thành công trong giám sát VTN/TN của cha mẹ và 3) Giám sát thời gian của VTN/TN
Sự giám sát đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ VTN trước những hành vi nguy cơ liên quan đến tinh duc (Rodgers KB 1999; Miller 2001) Một nghiên cứu được tiến hành ở những gia đỉnh Mỹ gốc Phi tại Chicago, Hogan va Kitagawa (1985) cho thấy những VTN nữ ít có quan hệ tình dục sớm khi cha mẹ VTN giám sát trẻ chặt chẽ những cuộc hẹn hò của VTN Tương tự như vậy, trong nghiên cứu trên một mẫu đại diện cho quốc gia những người đa trắng tại Mỹ cho thấy VTN nữ ít có quan hệ tình đục sớm nếu cha mẹ VTN biết tất cả hoặc hầu hết bạn bè của con (Moore) Một số nghiên
cứu cũng chỉ ra rằng khi cha mẹ VTN tạo nên sự cố găng thích hợp để biết những
người bạn của con mình là ai và ở đầu thi VIN cé it bạn tình, ít có QHTD và hay sử
Trang 22dụng BCS hoặc hay dùng những biện pháp tránh thai khác hơn (Jemmoft L5; Jemmott
JB 1992; Rodgers KB 1999)
Có nhiều bằng chứng cho thấy những hành vi giám sát và sự trao đổi của cha mẹ với VTN có mối liên quan chặt chẽ đến tuổi quan hệ tình dục lần đầu của VTN (Miller
2001), bầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng ở những vị thành niên ít tuổi thường trì
hoãn quan hệ tình dục nếu bố mẹ VTN có những qui định và giám sát VIN chat trong
những hoạt động, quan hệ xã hội va trao đổi những vấn để về tình dục với VTN
Upchurch và cộng sự (Upchurch 1999) trong nghiên cứu của mình đã thấy rằng những cha mẹ giám sát con mình sát sao thì VTN càng ít có quan hệ tình dục sớm Tuy nhiên một kết quả rất thú vị cũng được chỉ ra trong nghiên cứu này, đó là những vị thành niên
có cha mẹ giám sát quá chặt chế (overcontrolling) thì lại phản tác dụng, ở những VTN này lại có xu hướng quan hệ tình đục ở lứa tuổi sớm hơn Mối liên quan giữa sự giám
sát của cha mẹ và hành vi quan hệ tình dục của VTN còn phụ thuộc vào tuổi của vị
thành niên Whitbeck và cộng sự (Whitbeck 1999) thấy rằng sự giám sát của cha mẹ
không có ảnh hưởng nhiều đến hành vi quan hệ tình dục của VIN lớp 8, lớp 9 nhưng
voi VIN hoc lớp 10 sự giám sát này có ảnh hưởng rất lớn Có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng việc theo đối, giám sát VTN của cha mẹ cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến hành vi TD của VTN/TN theo chiều hướng là một yếu t6 bao vé (Miller 2001)
Việc theo dõi, giám sát này thể hiện ở những qui định trong gia đình, những sinh hoạt thường ngày, giám sát của cha mẹ về những cuộc hẹn hò của con cái đều liên quan
đến việc VTN trì hoãn QHTD lần đầu, có ít bạn tình Những giám sát, kiểm soát của
cha mẹ cũng có thể gián tiếp làm hạn chế mang thai của VTN thông qua việc giảm mỗi quan hệ của VTN/TN với những người bạn thuộc nhóm có nguy cơ cao, hạn chế việc
sử dụng rượu bia, chất gây nghiện qua đó giảm hành vi QHTD không an toàn ở VTN
Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó thì việc giám sát đa chiều của cha mẹ lại mang tính
tiêu cực nếu như giám sát quá chặt chế và mang tính áp đặt hay cưỡng bức (Barber;
Gray 1999) Trên thực tế, việc kiếm soát của mẹ mang tính chất xâm phạm đến cuộc sống riêng của VTN còn làm cho VTN/TN có QHTD lần đầu sớm hơn (Dorius 1998),
Trang 23những kiểm soát về tâm lý của cha mẹ liên quan đến việc tăng hành vi nguy cơ trong QHTD ở VTN/TN nữ (Rodgers KB 1999)
Ngoài việc quan tâm đến sự trao đổi về chủ đề TD giữa cha mẹ và VTN với việc VTN
có QHTD lần đầu, Kathleen M Roche và cộng sự (Kathleen M Roche; Debra Mekos
et al 2005) cũng phân tích việc giám sát của cha mẹ với VTN và việc VTN có quan hệ tình dục lần đầu Các tác giả đã thấy rằng, trong nhóm những VTN mà cha mẹ để con
tự đo (không đưa ra những qui định bắt buộc) hoặc chỉ đưa ra giờ qui định phải về nhà/ giờ đi ngủ trong những hành vi của VTN/TN có 17% VTN đã có quan hệ tình dục, tỷ lệ này ở nhóm VTN chịu nhiều giám sát của cha mẹ hơn là khoảng 10% (p<0,001)
Ngược lại, điểm trung bình của sự trao đổi giữa cha mẹ và con cái về chủ đề tình đục ở
nhóm VTN đã có quan hệ tình dục cao hơn ở nhóm VTN chưa có quan hệ TD (p<0,001) Nghiên cứu cũng đưa ra gợi ý rằng những gì cha mẹ VTN làm để giám sát VTN quan trọng hơn là những gì cha mẹ VTN nói
3.3.Sự tham gia của cha mẹ trong các hoạt động của VTNTi N
Mặc dù cha mẹ dành ít thời gian cho con hơn khi con bước sang tuổi VTN tuy nhiên sự tham gia, quan tâm của cha mẹ đến các hoạt động của VTN vẫn đóng một vai trò rat
quan trọng với sự phát triển cũng như các hành ví của VTN Sự tham gia của cha mẹ
đặc biệt là cha đẻ có liên quan đến đến sự phát triển tâm lý, xã hội của VTN bao gồm
cả việc tăng khả năng nhận (hức, tăng chức năng xã hội, giảm những niềm tin rập khuôn về tình đục, và tăng khả năng kiểm soát Ngoài ra, sự tham gia của người cha ruột trong những hoạt động của VTN càng có tính tích cực với sự phat trién cla VIN khi VTN sống cùng cha mình
Tuy nhiên, có một điều đáng ngạc nhiên là hầu hết các nghiên cứu đều chỉ Ta rằng mức
độ tham gia của cha mẹ vào các hoạt động của VTN chỉ có tác động trực tiếp ở mức độ
ít đối với hành vi TD của VTN Davis và Eriel (2001) thấy rằng những VTN nữ trả lời
rằng có chia sẻ rất nhiều hoạt động với mẹ trong 4 tuần vừa qua thì cũng có quan hệ
TD nhiều hơn những VTN chia sẻ ít hoạt động với mẹ (Deborah A Cohen 2002) Tuy nhiên nghiên cứu này cũng cho thấy chưa có mối liên quan giữa việc tham gia của cha
Trang 24mẹ trong hoạt động của VTN với việc có QHTD lần đầu ở VTN nữ (Davis và Friel,
2001; (Deborah A Cohen 2002)
Số bữa ăn mà VTN ăn cùng cha mẹ cũng có mối tương quan với việc quan hệ TD lần đầu ở cả nhóm VTN nam và nữ (Mark D Regnerus 2006) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng số bữa ăn cùng gia đình của VTN có tác động tích cực đến sự phát triển của VTN, : có thé sự tác động này thông qua cơ chế trung với với các yếu tố như tăng cường sự giám sát và tăng cường mối quan hệ giữa trẻ và gia đình Hofferth va Sandberg’s (2001) đã nghiên cứu về hành vi đau khổ/ lo âu và tính hung hăng ở VTN đưa ra gợi ý tầng “?hời gian ăn ở nhà cùng gia đình của VTN có môi liên quan với sự bên vững trong tổ chúc/ cấu trúc của gia đình qua đó VTN ít có những hành vi nguy cơ với sức
khỏe, tâm thân vã xã hội” (Hofferth 2001)
3.4.Sự quan tâm, gần gii của cha mẹ với VTN/TN
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy bố mẹ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của VTN
ở lứa tuổi vị thành niên Resnick và cộng sự (Resnick MD et al 1997) đã chỉ ra rằng nếu mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái tốt thì vị thành niên sẽ ít có những hành vi nguy cơ với sức khỏe cũng như ít có QHTĐ và mang thai ở lửa tuổi vị thành niên Những vị thành niên cắm thấy gần gũi, gắn bó với cha mẹ và gia đình thì thường cũng thường trì hoãn việc quan hệ tình dục lần đầu nhiều hơn những VTN khác (Resnick
MD et al 1997)
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa hành vi tinh dục ở VTN và các biến thuộc về gia đình như tỉnh cảm ấm áp, sự hỗ trợ, sự gần gũi, và sự giúp đỡ của cha mẹ với con cái (Miller 2001) Một số nghiên cứu cũng cho thấy sự gần gũi giữa cha mẹ và con cái có liên quan đến việc giảm nguy cơ mang thai ở VTN, trì hoãn QHTD, có ít _ bạn tinh vả sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD
Trong nghiên cứu Add Health, các tác gid Mark D Regnerus va Laura B Luchies
(Mark D Regnerus 2006) đã phân tích riêng trong nhóm VTN tuổi 15-19 và sống với
cả cha và mẹ đẻ, thấy rằng có mỗi liên quan giữa mức độ gần gũi giữa cha và VTN gái
với quan hệ tình dục lần đầu Trong những VTN gái (15-19 tuổi) đánh giá chất lượng
Trang 25mối liên quan của mình và cha dưới mức điểm trung bình thì có khoảng 23% VTN đã
có quan hệ TD lần đầu, tý lệ này trong nhóm đánh giá mức điểm trên trung bình là 18% Mối liên quan này ở nhóm VTN nữ mạnh hơn nhóm VTN nam Khả năng dự
đoán việc QHTD lần đầu ở VTN nữ theo mức độ mỗi quan hệ giữa cha và con gái: mối
quan hệ thấp (lỏng lẻo/ kém), mối quan hệ trung bình, mối quan hệ cao (chặt chế) lần
lượt là 0,28; 0,22 và 0,16 Khả năng này trong mối quan hệ giữa VTN nữ và mẹ theo
chất lượng mỗi quan hệ lần lượt là: 0,19; 0,18; 0,17 Như vậy mới chỉ thấy có mối liên
quan giữa chất lượng mối quan hệ giữa cha và VTN nữ với việc QHTD lần đầu của VIN nit
Nghiên cứu dọc của Peter S.KarofSky và cộng sự (Peter A Karofsky 2000) trong 5 năm trên VTN và phân tích theo hai nhóm đã có QHTD và chưa có QHTD, cho thấy
_rầng 46% những VTN trì hoãn quan hệ tình dục là do niềm tin của cha mẹ Một số
nghiên cứu đã chỉ ra những cơ chế trung gian giải thích mối quan hệ của gia đình và VTN với hành vi TD ở VTN Trên khía cạnh tích cực, sự gần gũi giữa cha mẹ và VTN cũng như sự tham gia của cha mẹ với các hoạt động của VTN giúp làm giảm hành vi
TD ở VTN thông qua việc đề cao việc học tập, tạo cơ hội cho VTIN phát triển kỹ năng
xã hội và giúp VTN có năng lực và giá trị (Miller 2001)
Trong nghiên cứu của Resnick và cộng sự, những VIN cho rằng gia đình họ rất ấm cúng, gắn bó với nhau cũng ít sử dụng cần sa/ chất gây nghiện va it có cảm giác đau khổ/buồn chán hơn những VTN khác (Resniek MD et al 1997) Tương tự như vậy, có nhiều nghiên cứu cho thấy những VTN/TN thiểu vắng tình cảm, tình yêu thương, sự chăm sóc của cha mẹ được ghi nhận là hay có những cảm giác đau khổ, ít yêu mén/ coi trọng bản thân, hay gặp những vấn đề rắc rồi/ khó khăn ở trường học, hay sử dụng chất gây nghiện và thường có những hành vi tình dục không an toàn (Resnick MD et al 1997; Steinberg L 200 1)
Trong một nghiên cứu về thanh niên ở Mỹ, những thanh niên sống trong gia đình có sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái, có sự hiểu nhau thì có sức khỏe về thể chất và tỉnh thần
tốt hơn những thanh niên sống trong gia đình ít sự gắn bó (Cummins JR et al 1999)
Trang 26Dittus va céng sự (Dittus 2000) dựa trên nghiên cứu Add Health đã phân tích tập trung
vào thái độ của mẹ với bảnh vi tình đục ở vị thành niên cho thấy vị thành niên ít có
quan hé tinh duc sớm nếu VTN hài lòng trong mối quan hệ với mẹ và nhận thấy mẹ phân đối việc mình có quan hệ tình duc sém Sieving, Mc Neely va Blum (Sieving RW 2002) cũng tập trung nghiên cứu về thái độ của mẹ VTN và thấy rằng VTN ít có quan
hệ tình đục sớm pếu VTN có kết nối nhiều với mẹ và mẹ có thái độ phản đối việc quan
hệ tình dục sớm Trong phân tích của Mark D Regnerus và cộng sự dựa trên nghiên
cim Add Health (Mark D Regnerus 2006) cũng thấy có mối liên quan giữa thái độ
phan đối của cha mẹ với hành vi tình đục của VTN với việc có quan hệ TD lần đầu,
những VTN mà cha mẹ có thái độ phản đối việc QHTD ở tuổi VTN thường trì hoãn việc QHTD lần đầu Tuy nhiên các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự phản đối của cha mẹ VTN với QHTD ở tuổi VTN chỉ có liên quan đến hành vi TD của VTN khi VTN cảm nhận sự kết nếi của mình với cha mẹ ở mức độ trung bình hoặc cao (Sieving RW 2002) Dittus và Jaccard (Dittus 2000) cũng cho thấy VTN sẽ ít có QHTD sớm và ít có thai hơn nếu VTN cảm nhận được cả sự phan đối của mẹ với QHTD sớm cũng như hài lòng với mối quan hệ với mẹ
Một kết quả phân tích từ Nghiên cứu đọc quốc gia về sức khoẻ vị thành niên (National Longitudinal Study of Adolescent Health - Add Health) tại Mỹ tiến hành trên một mẫu
đại diện những vị thành niên trong các trường học và cha mẹ VTN đã cho thấy sự gắn
kết giữa cha mẹ và VTN có liên quan đến việc giảm quan hệ tình dục sớm cũng như giảm các hành vi nguy cơ ở vị thành niên bao gồm cả việc mang thai (Resnick MD et
al 1997)
4 Một số yếu tố về gia đình và vị thành niên/ thanh niên
Tình trạng kinh tế, xã hội của gia đình cũng ảnh hướng rất lớn đến hành vi sức khóe
của VTN Học vấn của cha mẹ, đặc biệt là người cha được lượng giá như một yếu tố có
ảnh hưởng lớn đến trình độ học vấn của VTN/TN Krohn va céng sy (Krohn 1997) thấy rằng, lớn lên trong gia đình thuộc tầng lớp dưới (kinh tế, xã hội) có liên quan đến
sự phát triển sớm của VTN/TN Trong nghiên cứu này, những VTN/TN sống trong gia
đình nghèo thường bay bỏ học, sống tự lập sớm và cũng sớm phát triển hơn những
Trang 27VTN khác Ngoài ra cũng có mối tương quan nghịch giữa tình trạng kinh tế của gia đình với việc sử dụng rượu ở VTN/TN nữ, những VTN nữ sống trong gia đình có kinh
tế càng kém thì càng hay sử dụng và lạm dụng rượu nhiéu hon (Krobn 1997)
Những hành vi như sử dụng rượu, thuốc gây nghiện của các thành viên trong gia đình
cũng ảnh huéng dén VIN/TN (Kilpatrick 2000), VTN/TN sống trong gia đình có
người nghiện rượu hay dùng chất gây nghiện cũng có nguy cơ dùng rượu và chất gây nghiện cao hơn những VTN khác Dawson, Harford và Grant (Dawson 1992) phân tích
mối liên quan giữa sử dụng rượu và sự phát triển của VTN, sau khi đã hiệu chỉnh theo
tuổi, giới, tình trạng kinh tế, chủng tộc, thấy rằng tỷ lệ VTN/TN đùng rượu và chất gây
nghiện ở những gia đình có họ hàng thuộc 2, 3 thể hệ (ví dụ: ông bà, cô chú ruột, cậu đì
ruột ) cũng dùng những chất này tăng 45% so với những VTN sống trong gia đình không có người sử dụng rượu và chất gây nghiện, và iÿ lệ này tăng 86% ở những gia đình có thành viên thuộc 1 thế hệ (cha mẹ, anh chị em ruột) dùng rượu hay chất gây nghiện
Các yêu tố y sinh học và gen cũng liên quan đến hành vi TD của VTN như nồng độ hormone androgen hay tuổi đậy thì cũng mang tính chất di truyền và cũng ảnh hưởng
đến hành vi TD ở VTN Cả trên lý thuyết và một số nghiên cứu đều chỉ ra rằng phát
triển dậy thì sớm thường dẫn đến tuôi QHTD lần đầu cũng sớm (Miller 2002)
Cấu trúc của gia đình cũng ảnh hưởng đến VTN/TN, trong nghiên cứu tổng hợp của Michael (Michael R Pergamit 2001) chỉ ra một số nghiên cứu phản ánh rằng trẻ sống trong những gia đình có thu nhập thấp, có hàng xóm không tốt (có những hành vi không tốt), cha mẹ ít giám sát trẻ và hành vi của cha mẹ cũng như việc chỉ sống với cha hoặc mẹ thường có những hành vi có hại và thường có QHTD sớm Moore và cộng
sự (Moore) đã cho thấy rằng sự đổ vỡ trong quan hệ hôn nhân của cha mẹ và việc chỉ sống với cha hoặc mẹ có liên quan đến hành vi QHTD sớm ở trẻ Những VTN con của những cha mẹ ly hôn có nguy cơ bỏ học, mang thai ở tuổi VTN, thất nghiệp và trốn học cao gấp bai lần những trẻ khác Nguyên nhân của tình trạng này theo Me Lanahan (McLanahan 1999) là do những trẻ sống trong gia đình chỉ có 1 cha hoặc mẹ phải đổi
mặt với 1) khó khăn về kinh tế 2) thiếu thời gian và sức lực để chăm sóc và theo dõi trẻ
Trang 283) giảm cơ hội tiếp cận với nguồn lực của cộng đồng mà có vai trò như một sự hỗ trợ cha mẹ Tuy nhiên cũng có những nghiên cứu (McLanahan 1999) cho thấy có ít bằng chứng chứng minh rằng mức độ gần gũi trong mối quan hệ cha mẹ và VTN/TN liên
quan đến cấu trúc gia đình, đặc biệt là với những gia đình chỉ có người mẹ thì sự ấm áp
và hỗ trợ của mẹ với VTN/TN là tương đối tốt do người mẹ thường thực hiện cả hai vai
trò, vừa làm cha vừa làm mẹ để bù đắp sự thiệt thời cho con khi thiếu vắng người cha
5 Mật số đặc điểm gia đình Việt Nam hiện nay
Gia đình là một xã hội thu nhỏ nên mọi biến đối của xã hội đều tác động đến gia đình
và ngược lai (Uy ban Dan số gia đình và trẻ em Việt Nam 2004) Gia đình được quan
niệm là một nhóm xã hội nhỏ với đặc trưng cơ bản là được thiết lập trên cơ sở của hôn
nhân từ đó hình thành các quan hệ huyết thống, thân tộc giữa các thành viên
Ong mô gia đồnh: Hình thức khá phô biển của gia đình Việt Nam hiện nay là gia đình
hạt nhân và ít con (Dương Thị Minh 2004; Vũ Tuấn Huy và cộng sự 2004) Gia đình có
hai thế hệ (cha mẹ và con cái) chiếm khoảng 2/3 tổng số gia đình trong toàn quốc, gia đình ba thế hệ trở lên chỉ chiếm khoảng dưới 25% (Dương Thị Minh 2004) Tuy nhiên, cho dù là gia đình hạt nhân thi ở Việt Nam các gia đình vẫn có xu hướng sống quan tụ
bên nhan, các thế hệ có điều kiện thăm nom, giúp đỡ nhau khi cần thiết
Giá trị của con cái trong gia đình: Con cái là một trong những mục đích của việc xây dựng gia đình cũng như củng cố hôn nhân, con cái cũng đem lại niềm vui, là nhân tố
làm tăng giá trị, lòng tự hào của bản thân cha mẹ Giá trị của con cái là cầu nổi giữa tổ
tiên, thế hệ đang sống và các thế hệ trong tương lai; con cái cũng là người chăm sóc
cha mẹ khi tuổi giả; là nguồn lao động giúp đỡ gia đình khi trưởng thành (Vũ Tuấn
Huy và cộng sự 2004)
Vai trò của gia đình trong giáo đục trẻ em: Trong bất kỳ một xã hội nào, gia đình đều
có những chức năng cơ bản như sinh đẻ, xã hội hoá con cái, duy trì đòng họ, an sinh về
tình cảm, kinh tế (Uy ban Dan số gia đình và trẻ em Việt Nam 2004; Vũ Tuấn Huy và
cộng sự 2004) “Gia đình”- thông qua thái độ, tình cảm, tâm lý và mối liên hệ thường xuyên khá bền vững với trẻ em, đã truyền thụ, uốn nắn cho trẻ những khuôn mẫu hành
vi xã hội để ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội Giáo đục thông qua tình cảm, bằng
Trang 29tình cảm trong gia dinh là đặc trưng riêng biệt của xã hội hoá trẻ em trong gia dinh (Uy ban Dân số gia đình và trẻ em Việt Nam 2004) Tuy nhiên, gia đình thường xã hội hoá
trẻ em theo tiêu chuẩn đặc thù vì từ nhận thức đến thái độ, từ tinh câm đến các hành vi
của bố mẹ đối với đứa con đều đặc biệt, không giống như đối xử với những đứa trẻ
khác ngoài gia đình Điều này cho thấy, khi tìm hiểu về vị thành niên, chúng ta phải
gắn với việc nghiên cứu mỗi quan hệ, sự kết nối giữa vị thành niên và cha mẹ (Uỷ ban
Dân số gia đình và trẻ em Việt Nam 2004)
Su gan két giữa cha mẹ và con cải: Ở Việt Nam, trong suốt một thời gian đài, sự kết
nối cha mẹ và con cái chỉ được thừa nhận theo một:chiều: con cái phải phục tùng cha
mẹ Nhưng với sự phát triển của xã hội, mối quan hệ này đã thay đổi, vị trí và vai trò
của cơn cái ngày càng tăng trong gia đình Theo nghiên cứu của Đặng Cảnh Khanh,
phần lớn vị thành niên đã được bố mẹ hỏi ý kiến về các công việc gia đình (81.5%) tuy
mức độ thường xuyên chỉ là 16,8% Nhận thức “cha mẹ là người bạn lớn của con cái” ngày cảng được coi trọng trong gia đình Có 93% bậc cha mẹ thường xuyên theo dõi tìm biểu hoạt động của con cái thông qua thầy cô giáo, hàng xóm và bạn bè của con
cái 70,9% bà mẹ va 51% ông bố luôn chủ động tâm sự với con cái (Đặng Cảnh Khanh 1999) Ngoài thời gian học tập, lao động có 91,6% vị thành niên có tâm sự với bé me, trong đó, có 35,9% vị thành niên tâm sự với bố mẹ ở mức độ “¿hưởng xuyên”, 37,1%
thỉnh thoảng và 18,8% ở mức độ hiếm khi Cha mẹ cũng luôn có các hình thức khen thưởng thích đáng mỗi khi con cái làm việc tốt: 72,4% luôn khen thưởng động viên về mặt tỉnh thần; 49,8% được khen thưởng bằng các hình thức vật chất thiết thực Các gia đình thường sử dụng thời gian rỗi vào việc cùng nhau xem vô tuyến (77,3%); nghỉ ngơi (55,1%) và đi chơi, nói chuyện (54,2%) Hình thức của buổi đi chơi có thể là đến thăm ông/bà nội/ngoại, đi công viên, xem phim hay đã ngoại, nghỉ mát (Đặng Vũ Cảnh Linh 2003) Trong “Tổng quan các nội dung nghiên cứu về sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị
thành niên ở Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2003”, các nghiên cứu đều lấy vị thành
niên làm đối tượng nghiên cứu của mình Tại Việt Nam cũng chưa có đề tài nào nghiên
cứu sự kết nối cha mẹ - con cái có ảnh hưởng như thế nào đến vị thành niên nói chung
và sức khoẻ vị thành niên nói riêng Những nghiên cứu từ trước đến nay chỉ nghiên cứu
về vai trò của cha, mẹ đối với con cái
Trang 306 Nghiên cứu sức khỏe vị thành niên ở Việt Nam
Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu về VTN được tiến hành ở VN tuy
nhiên vẫn chưa để cập đây đủ các khía cạnh liên quan đến sự phát triển và sức khỏe của
'VTN đặc biệt là còn thiếu hẳn một phần về sự kết nối của cha mẹ và VTN, những vấn
đề liên quan giữa cha mẹ và VTN được đề cập rất ít trong các nghiên cứu về gia đình
cũng như về VTN
Kết quả của Cuộc điều tra quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY)
năm 2003 (Bộ Y tế; Tổng cục thống kê 2003) cho thấy có tới 62% thanh thiểu niên xác
nhận có mối quan hệ gắn bó chặt chế với gia đình và cảm thấy có giá trị với gia đình
Khi phân tích sâu về mức độ gắn bó với gia đình và quan hệ tình dục trước hôn nhân,
kết quả cho thấy trong nhóm thanh niên đã lập gia đình và có mức độ gắn bó với gia
đình ít hơn thì có 22,5% đã có quan hệ TD trước hên nhân so với tỷ lệ 13% ở nhóm có
mức độ gắn bó với gia đình nhiều hơn Ngoài ra, tỷ lệ thanh thiếu niên thuộc nhóm ít
gắn bó với gia đình đã từng uống rượu/ bia là 50,3% so với 45,7% ở nhóm gắn bó
nhiều với gia đình Các tác giả cũng phân tính khía cạnh bạo lực liên quan đến mức độ
gắn bó với gia đình, kết quả cho thấy tỷ lệ VTN/TN đã từng bị người trong gia đình
đánh trong nhóm ít gắn bó với gia đình là 3,8%, tỷ lệ này trong nhóm gắn bó nhiều với
gia đình là 0,7% Mức độ gắn bó với gia đình cũng ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần
của VTN/TN thể hiện qua ý định tự tử, nhóm VTN/TN sống trong gia đình ít có sự gắn
bó đã từng có ý định tự tử là 5,4%, tỷ lệ này ở nhóm gắn bó nhiều với gia đình là 1,5%
(tý lệ chung của quốc gia là 3,4%)
7 Thông tin về Chí Linh và CHILILAB
CHILILAB được xây dựng thành điểm thực địa chính thức của trường Đại học y tế
công cộng từ năm 2001, CHILILAB được đặt trên địa bản huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương Hiện tại ở CHILILAB, trường Đại học y tế công cộng đã thành lập một hệ
thống giám sát dân số với những vòng thu thập số liệu theo qui/ năm để theo dõi sự
biến động về đân số cũng như một số thông tin về kinh tế, xã hội của thị xã Chí Linh
Đã có một số nghiên cứu và một số chương trình can thiệp đã và đang được triển khai
trên địa bàn thị xã Chí Linh Trong những năm gần đây, một nghiên cứu tổng thể về
Trang 31sức khỏe Vị thành niên, thanh niên được phát triển thành 3 cấu phần có liên quan chặt
chẽ với nhau với nhiều vòng thu thập số liệu và được các cán bộ của trong Dai hoc Y
tế công cộng kết hợp với các chuyên gia về sức khỏe VTN trong và ngoài nước xây dựng và triển khai Cho đến năm 2011 đã có Mô đun 1 (AHI)- hoàn thành vòng 1, đã
xong thu thập số liệu vòng 2 và đang viết báo cáo Mô đun 2 (AH2) đã hoàn thành thu
thập số liệu vòng | va dang viết báo cáo Mô đun 3 (AH3)- vòng 1-chính là nghiên cửu
này, khác với Mô đun 1, 2 đối tượng nghiên cứu là vị thành niên, với Mô đun 3 đối tượng nghiên cứu là cha mẹ của những vị thành niên đã được chọn tham gia vào Mô đun 2 trước đó Mô đun 3 tập trung chủ yếu đến mỗi quan hệ, sự gắn kết giữa cha mẹ
và VTN, sự trao đổi, quan tâm của cha mẹ với VTN qua đó kết nối với các kết quả của Mô đun 1 và thông tin cơ bản về kinh tế xã hội của hộ gia đình để đưa ra mỗi liên quan và mô hình sức khóe VTN với sự gắn kết giữa cha mẹ và VTN Mô đun 3 được triển khai sau Mô đun 2 khoảng 6 tháng, vòng thu thập số liệu của Mô đun 3 đã được
kết hợp cùng vòng thu thập số liệu quí của hệ thống giám sát dân số (DSS) ở
CHILILAB
Một số chỉ số liên quan đến gia dinh & CHILILAB: “Theo số liệu của Báo cáo Kết qủa
điều tra vòng 3 năm 2008 của CHILILAB (Trường đại học y tế công cộng 2007), tổng
số hộ gia đình là 17.560 hộ với 54.541 người, qui mô hộ gia đình bình quân là 3
người/! hộ gia đình Trong tổng dân số CHILILAB, tỷ lệ dân số làm ruộng chiếm
32,11%, dân số làm buôn bán-dịch vụ chiếm 17,8% Tỷ lệ dân số thất nghiệp chí chiếm
0,82% trong tổng dân số Số con trung bình của một phụ nữ (TFR) là 1,85 con/] phụ
nữ Dân số có sự đi biến động đáng kể, tỷ suất chuyển đi cao nhất nỗi bật ở bốn nhóm
tuổi 15-19, 20-24, 25-29 và 30-34
Một số kết quả nghiên cứu chỉnh về sức khỏe VIN/TN tai Chi Linh (Lé Cy Link va
cộng sự 2007) - Mô đun 1
Tổng số đối tượng 10 -24 tuổi đã điều tra bằng phương pháp phát vấn là 12.445 đối
tượng, trong đó tuổi 12-24 khoáng 11.000 người và tỷ lệ VTN/TN đã kết hôn là 8,6%
Tý lệ từ chối không tham gia nghiên cứu khoảng 5% Kết quả nghiên cứu cho thấy đa
số VTN/TN tại CHILILAB có thái độ tương đối truyền thống đối với vấn đề QHTD
Trang 32trước hôn nhân với xu hướng chung vẫn là đề cao trinh tiết ở phụ nữ Có 23,4% nam giới và 13,5% nữ giới đã kết hôn thừa nhận từng có QHTD trước hôn nhân Với thanh
thiếu niên chưa kết hôn, tỷ lệ từng có QHTD là 5,1% ở nam và 1,0% ở nữ và các số
liệu này khá tương, đồng với các nhóm tuổi giới tương tự ở số liệu quốc gia Tuổi trung
bình QHTD lần đầu tại CHILILAB là 20,2 tuổi (20,1 ở nam và 20,2 ở nữ) Chỉ có
23,9% nam và 2,6% nữ dùng bao cao su trong lần QHTD đầu tiên với người không phải vợ chỗng Trong lần quan hệ gần đây nhất, chỉ có 31,1% nam và 12,6% nữ sử dụng bao cao su Tỷ lệ VTN/TN nói rằng mình từng mắc STDs chỉ chiếm 0,8% Trong
số nữ thanh niên từng có thai thì tỷ lệ phải nạo hút thai chiếm khoảng 20% với lí do hàng đầu là chưa muốn có con: 36,0% Trong số những người từng có QHTD, có 11,6% nam và 0,1% nữ thừa nhận có QHTD với người hành nghề mại dâm Tỷ lệ này ở
nhóm chưa kết hôn là 18,4% ở nam và 1,9% ở nữ Tý lệ này cao hơn ở nhóm chưa kết
hôn (17,5% ở nữ và 7,6% ở nam).Có 17,3% thanh thiếu niên từng hút thuốc lá (31,1%
ở nam và 4% ở nữ) Tất cả có 43,8% đối tượng đã từng sử dụng rượu ba (ở nam là
57,4%; nữ là 30,6%) Có 33,4% nam và 10,1% nữ tại CHILILAB đã từng say rượu bìa
Ở những người từng uống rượu bia, tỷ lệ từng say lR 55,6% ở nam và 29,6% ở nữ Tỷ
lệ từng sử dụng rượu bia và say rượu bia tai CHILILAB cao hon ca số liệu chung của quốc gia Tỷ lệ thanh thiếu niên từng sử dụng ma túy là 0,4% (xấp xỉ số liệu quốc gia).Nhìn chung, 8,2% nam và 5,8% nữ từng bị tai nạn thương tích đến mức phải tới cơ
sở y tế khám chữa và / hoặc phải nghỉ học/nghỉ làm ít nhất là 1 ngày Tỷ lệ từng bị tai nạn giao thông ở nam cao hơn nữ (21% và 16,1%) Có 12,4% VTN/TN đã từng bị
người khác cố ý gây thương tích, trong đó nam giới có nguy cơ cao gấp 2 lần so với nữ
giới Về sức khỏe tình thần và các mối quan tâm, 56,2% VTN/TN cho rằng với họ hiện
nay việc học tập là quan trọng nhất, tiếp đến là sức khoẻ (29,6%) và vấn để tìm được việc làm (21,9%) Giá định trong tình trạng tất tuyệt vọng, 42% VTN/TN cho rằng sẽ tìm sự giúp đỡ của người khác, 17% nói sẽ giữ trong, mình và để tự nguôi ngoai, và chỉ
1,1% có tính tới tự tử Trong 12 tháng trước điều tra, có 3% đối tượng có ý định tự tử nhưng chỉ 1 phần 3 số này tìm cách tự tử thực sự Nữ thanh thiếu niên có xu hướng có
ý định tự tử cao hơn nam giới gần 30%, VTN độ tuổi 15-19 có xu hướng có ý định tự
tử nhiều hơn ở các độ tuổi khác.Có 88,5% VTN/TN cho rằng trong gia đình họ các
Trang 33thành viên thường hỗ trợ nhau trong lúc khó khăn, 82,9% cho rằng mọi người biết công
việc của nhau, và 76,9% nhận định rằng con trai, con gái được đối xử bình đẳng với nhau Tỷ lệ VTN/TN tâm sự những điều thâm kín với thành viên trong gia đình cao gần
gdp đôi tâm sự với bạn bè
Nghiên cứu về yẫu 16 nguy co, yếu tô bảo vệ với sức khỏe VTN/TN- Mô đun 2
Mô đun 2 tập trung vào nghiên cứu những yếu tố nguy cơ và yếu tế bảo vệ (risk & protective factor) đối với sức khỏe/ hành vi sức khỏe của VTN/TN Vòng 1 của mô đun
2 được tiến hành tại thực địa trong tháng 11, 12/ 2007 và hiện tại đang trong giai đoạn viết báo cáo Nhóm nghiên cứu của mô đun 2 đã phỏng vấn trực tiếp được 4283
VTN/TN tuổi từ 13-25 tại 7 xã/ thị trấn của CHILILAB
Trang 34
PHUONG PHAP NGHIEN CUU
1 'Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích
2 Đối tượng nghiên cứu
Cha mẹ vị thành niên/ thanh niên tuổi từ 13-20 (tính đến thời điểm tháng 11/2007) tại 7
xã/thị trấn của Chí Linh- Hải Dương ;
Tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu: Cha mẹ của những vị thành niên/thanh niên tuổi
từ 13-20 đã được lựa chọn vào nghiên cứu trong Mô đun 2 (tháng 11/2007), sống cùng
nhà với VTN/TN và không mắc các bệnh như: Tâm thần, hôn mê mà không có khả
năng giao tiếp thông thường
Tiêu chuẩn loại trừ: Cha mẹ của những VTN/TN đã lập gia đình, cha mẹ nuôi của vị
thành niên/thanh niên
3 Dia điểm, thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 7 xã thị trấn thuộc địa bàn CHILILAB- cơ sở thực địa của trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội
tại tỉnh Hải Dương, từ năm 2008- 2010
Thời gian thu thập số liệu trên thực địa của Mô đun 3: tháng 11/2008-3/2009
Thời gian thu thập số liệu trên thực địa của Mô đun 1 (vòng 2): 9-12/2009
4 Mẫu nghiên cứu và chọn mẫu
Do nghiên cứu mô đun 3- sự gắn kết giữa cha mẹ và VTN/TN nằm trong chùm nghiên
cứu về sức khỏe VTN/TN và có sự kết nếi giữa các nghiên cứu với nhau nên mẫu
nghiên cứu đã được tính toán dựa trên mẫu nghiên cứu về những yếu tố nguy cơ và yếu
tố bảo vệ với sức khỏe VTN/TN (được biết đến với tên Mô đun 2)
Mẫu nghiên cứu của Mô đun 2 được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho kiểm định giá
thuyết về sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ quần thể Nhiều phương án tính toán cỡ mẫu dựa trên
các kết quả nghiên cứu Mô đun 1 đã được để cập, công thức được sử dụng cuối cùng là công thức về quan niệm Quan hệ tình dục trước hôn nhân (Quan niệm THOÁNG so
sánh với KHÔNG THOẢNG) sau khi đã cân nhắc nhiều yếu tố (nguồn lực, hiệu lực mẫu ) Cỡ mẫu tính được là 4300 VTN/TN Tiên thực tế, tổng số có 4241 VTN/TN
đã được phỏng vấn trong Mô đun 2
Trang 35Lya chen đổi tượng nghiên cứu: Mỗi hộ gia đình chỉ phỏng vẫn một người, hoặc cha,
hoặc mẹ của VTN/TN Với gia đình có cả cha và mẹ: chúng tôi đã chọn cha hoặc mẹ
của VTN/TN để phỏng vấn thông qua bốc thăm ngẫu nhiên Ở từng hộ gia đình có 02
thăm, một thăm người cha- một thăm người mẹ Nghiên cứu viên xây dựng khung mẫu
đã bốc ngẫu nhiên giữa hai thăm này để lấy cha hoặc mẹ VTN/TN và kết quả bốc thăm
được ghỉ lại vào danh sách mẫu Danh sách đối tượng được lựa chọn phỏng vấn đã
được hoàn thiện trước khi xuống thực địa và được cung cấp cho các điều tra viên, giám sát viên thực địa Với gia đình có cha hoặc mẹ kế: cha mẹ đẻ được chọn phông vấn, Với gia đình chỉ có một người cha hoặc mẹ thì người cha hoặc mẹ này đã được chọn vào nghiên cứu dựa trên tiêu chí chung của nghiên cứu
Dựa trên danh sách mẫu nghiên cứu của Mô đun 2 (bao gồm danh sách VTN/TN và cha mẹ VTN/TN) nhóm nghiên cứu đã xây dựng khung mẫu cho Mô đun 3 dựa trên các tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu Danh sách đối tượng phỏng vẫn của Mô
đun 3 trên từng cụm đã được gửi cho -các điều tra viên, giám sát viên trước khí tiến
hành thu thập số liệu tại thực địa
Do mẫu nghiên cứu của Mô đun 3 là cha mẹ của VTN/TN từ 13-20 tuổi (tính đến tháng
11⁄2007) và chưa lập gia đình, theo các tiêu chí chọn mẫu và điều tra thực địa, tổng số
đã có 2391 cha mẹ VTN/ TN tham gia vào nghiên cứu
5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thực địa: Điều tra viên phòng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu (cha mẹ của VTN/TN) tại hộ gia đình
Công cụ thu thập số liệu: Sử dụng bảng hỏi có cầu trúc (Phụ lục 1)
Các biến số phụ thuộc: được thu thập qua việc kết nối với số liệu của nghiên cứu AHI
vòng 2 (năm 2010) và số liệu dân số, kinh tế hộ gia đình,được thu thập vào cuối năm
2008 tại hệ thống giám sát đân số địch tế CHILH.AB
Nghiên cứu không kết nối với AH2 như đề cương đã đề cập do trong quá trình thực
biện nghiên cứu và tham khảo AH2 chúng tôi thấy với các mục tiêu nghiên cứu đã đề
ra của AH3 hoàn toàn không cần đến các số liệu từ AH2 Vì vậy chúng tôi không tiến
hành kết nối với số liệu của AH2 mà chỉ kết nỗi với AH1 (vòng 2) và DSS (vòng 3)
Trang 366 Biến số nghiên cứu
Nhóm biển đặc điểm dân số học
Nhóm biến về đặc điểm dân số học của hộ gia đình bao gồm tình trạng kinh tế hộ, các đặc điểm về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu được lấy từ số liệu của của
CHILILAB
Biến kinh tế hộ gia đình được tính toán gián tiếp dựa trên tài sản cố định của hộ gia
đình Kinh tế của các hộ gia đình trong CHILILAB được phân thành 5Š nhóm với tỷ lệ bằng nhau (Q1 đến Q5) Với phân loại Q1 là nhóm Nghèo nhất; Q2: Nhóm cận nghèo; Q3: Nhóm trung bình; Q4; Nhóm khá giả và Q5: Nhóm giàu nhất
Nhóm biến sự gắn kết của cba mẹ với VTN/TN
Sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN được hỏi với nhiều câu hỏi đơn lẻ (đựa trên tổng
quan tài liệu và thử nghiệm) với thang đo Likert 5 mức độ Các câu hỏi đơn lẻ qua phân tích nhân tố (PCA) được tổng hợp thành 4 nhóm của sự gắn kết giữa cha mẹ và
VTN/TN và được đặt tên như sau: L) Sự quan tâm; 2) Sự rao đổi; 3) Sự giám sát và 4)
Sự tham gia của cha mẹ vào các hoạt động của VIN/TN
Với từng nội đụng của sự gắn kết kể trên có các khía cạnh cụ thể hơn được đề cập dưới đây:
-_ Sự quan tâm của cha mẹ đến VTN/TN
o Quan tam đến việc học và hoạt động ở trường
© Quan tâm đến bạn bè của VTN/TN
© Quan tam dén tim trạng của VTN/TN
o_ Quan tâm VTN/TN đi đâu, làm gì
-_ Những qui định và sự giám sát của cha mẹ với VIN/TN
o_ Giám sát sinh hoạt giải trí
©_ Giám sát việc học và đồ dùng cá nhân
o_ Giám sát hoạt động bên ngoài của VTN/TN
- Sự trao đổi của cha mẹ với VTN/TN
o_ Lắng nghe và hiểu nhau khi trao đổi
o_ Sự cởi mở trong trao đổi
Trang 37o_ Sự bình đẳng trong trao đỗi
- Sự tham gia của cha mẹ trong các hoạt động của VTN/TN
©_ Tham gia vào việc học, hoạt động ở trường
o_ Tham gia vào hoạt động, công việc ở nhà
o Tham gia vào hoạt động vui chơi giải trí
Trong nghiên cứu này, các khía cạnh cụ thể của từng nội dung gắn kết được chia thành hai giá trị: Có và Không Ví dụ: Cha mẹ có quan tâm đến việc học ở trường của VTN/TN và Cha mẹ không quan tâm đến việc học ở trường của VTN/TN Sự phân đối tượng vào các nhóm (Có hay Không) dựa trên sự tổng hợp của các câu hỏi đơn lẻ nằm trong các khía cạnh được đánh giá Cụ thể như sau:
- Các câu trả lời Không biết/ không trả lời (điểm 3 trong thang điểm Likert 5 mức độ) được bô ra ngoài, không đưa vào tổng hợp
- Các đối tượng được đánh giá là Có (có quan tâm/ có giám sát ) khi có > 50%
các câu trả lời có mức điểm 4 hoặc 5 (Đồng ý hoặc Rất đồng ý) Các trường hợp
khác được đánh giá là Không (Không quan tâm/ không giám sát )
Sự phân nhóm này được dùng trong các phân tích về mối liên quan cả đơn biến và đa
biến
Nhóm biến về hành vì sức khóe của VTNTN
Nhóm biến về hành vi sức khỏe của VTN/TN gồm các biến số: Quan hệ tình dục trước
hôn nhân, từng có ý định tự tử, luôn có cảm giác cô đơn, stress, hút thuốc lá, uống
rượu/ bia, gây thương tích và bị gây thương tích Đây là các biến số được kết nối với số liệu của Mô đun 1 vòng 2, đây là nhóm biến phụ thuộc trong các phân tích mối liên quan giữa sự gắn kết của cha mẹ với VTN/TN và hành ví sức khỏe của VTN/TN Các
biến được làm sạch và mã hóa lại cho phù hợp với phân tích Tắt cả những VTN/TN từ chối trả lời hay bỏ trống phần trả lời không được đưa vào phân tích
7 Điều tra viên, giám sát viên
Điều tra viên: Là những điều tra viên của CHILILAB, có 50 điều tra viên đã tham gia
quá trình thu thập số liệu thực địa cho Mô đun 3 Các điều tra viên của CHILILAB là những người đã được đảo tạo tốt về kỹ năng điều tra, đã tiếp xúc với các hộ gia đình
trong nghiên cứu (qua thu thập số liệu DSS hàng quí, qua Mô đun 1 và Mô đun 2), đã
Trang 38đến hộ gia đình trong cuộc phỏng vấn VTN/TN trong Mô đun 2 Số lượng mẫu nghiên cứu, điều tra viên cụ thể được trình bay trong Bang 1
Bang 1: Phân bé déi twong nghién cttu va điều tra viên tại địa bàn nghiên cứu
Số cha mẹ SỐ cha mẹ Số điều tra viên
STT | X@thiấn | VTINTN độtmHỗi | VTNTN tại Mô | tham gia thực
8 Qui trình thu thập số liệu
8.1 Chuẩn bị cho nghiên cứu tại địa phương
Nhóm nghiên cứu lập khung mẫu và danh sách mẫu (đối tượng nghiên cứu) trước khi xuống thực địa thu thập số liệu đựa trên số liệu của cơ bản của hệ thống giám sát dân
số, dịch tễ học Chililab và Mô đun 2
Thử nghiệm bộ công cụ: Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu ba lần và chỉnh sửa cho phù hợp
Lần 1: Tại Thanh Miện- Hải Dương-tháng 11/2007
Lần 2: Tại Chí Linh- Hải Dương- tháng 01/2008
Lần 3: Tại Chí Linh- Hải Dương — tháng 8/2008 với cỡ mẫu là 200 đối tượng
Trang 39giám sát viên của địa bàn mình, GSV đã báo cáo lại cho nhóm nghiên cứu trong các
cuộc giao ban tuần để điều chỉnh kịp thời
ĐTV sử đụng phiếu phỏng vấn, gặp và phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu,
không để phiếu tại hộ gia đình ĐTV và GSV báo cáo tiến độ thu thập số liệu, những
khúc mắc trong quá trình thu thập số liệu hàng tuần cho nhóm nghiên cứu và văn phòng thực địa CHILILAB
8.3 Các bước tiễn hành thu thập số liệu chính thức
Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ công cụ đã được chỉnh sửa để dùng cho quá trình thu thập số liệu chính thức Do bộ công cụ không có sự chỉnh sửa nhiều nên 200 phiếu phông vấn trong giai đoạn thử nghiệm lần 3 đã được sử dụng đưa vào phân tích
Trước khi đi đến hộ có đối tượng nghiên cứu, ĐTV xem lại trong the hộ mã hộ và mã
cá nhân của đối tượng đó và điền trước vào 03 phần có các ô trống dong trên cùng của bảng hỏi: (1) là mã cá nhân của đối tượng nghiên cứu; (2) là mã cá nhân của VIN va
(3) là mã hộ gia đình ĐTV kiêm tra lại xem mã cá nhân có đúng là đối tượng xác định
phỏng vấn hay không để tránh sự nhằm lẫn về mã cá nhân giữa các đối tượng trong cùng một hộ gia đình
Bước 1: Các bước tiền hành tiếp cận hộ gia đình, xác định đối trợng cần thu thập số
liệu được thực hiện theo đứng trình tự qui định điều tra của CHILILAB San các bước trên, ĐTV giới thiệu với đối tượng nghiên cứu về mục đích ý nghĩa của nghiên cứu, thu thập thông tin
Bước 2: ĐTV kiểm tra lại mã hộ và mã cá nhân của đối tượng đã ghi, kiểm tra và
ghỉ lại lại mã cá nhân của VTN/TN vào các ô qui định trên phiếu trước khi phỏng
vấn đối tượng
Buéc 3: DTV giai thich cho đổi tượng phỏng vấn về tính bảo mật thông tin, những thông tin mà đối tượng cung cấp được giữ bí mật và chỉ có nhóm nghiên cứu mới được tiếp cận thông tỉn này
Bước 4: ĐTV đưa đối tượng điều tra ký vào giấy đồng ý tham gia NC
Bưc 5: Điều tra viên lần lượt đọc từng câu hỏi trong bảng hỏi cho đối tượng phông
vấn nghe và trả lời, ĐTV ghi nhận lại thông tin trên phiếu một cách phù hợp
Trang 40Bước 6: Kết thúc cuộc phỏng van, DTV giải đáp những thắc mắc của đối tượng, cảm on đối tượng và chào ra về
Các điều tra viên tập hợp phiếu đã phỏng vấn trong ngày và chuyển cho giám sát viên sau mỗi tuần thu thập số liệu thực địa
8.4 Qui trình giảm sát
Trong tuần đầu, các giám sát viên đã xuống địa bản hàng ngày để hỗ trợ điều tra viên trong quá trình phỏng vấn thực địa, qui trình thu thập sé liệu Ba tuần tiếp theo giám sát viên tiến hành hoạt động giám sát 2 ngày/ tuần Giám sát viên là người giám sát, kiểm
tra việc thu thập số liệu của điều tra viên đâm báo sự chính xác, trung thực theo đúng
như quy định, yêu cầu của nghiên cứu và qui định của cơ sở thực địa CHILILAB Giám sát viên cũng là người phỏng vấn lại 10% đối tượng nghiên cứu mà điều tra viên đã phỏng vấn Ngoài ra giám sát viên còn tổng kết hàng tuần số lượng phiếu, tiến độ của
từng DTV, các khó khăn thuận lợi, biện pháp khắc phục, bản giao lại phiếu cho điều
phối viên CHILILAB theo quy trình của CHILILAB
9 Quản lý, phân tích số liệu, sử dụng số liệu
9.1 Nhập sô liệu
Số liệu đã được làm sạch và nhập ngay tại văn phòng thực địa CHILILAB bằng chương trình nhập liệu SQL được tích hợp trong cơ sở đữ liệu DSS và được kết xuất ra chương trình SPSS vs L5 bao gồm cả các biến số phù hợp trong D§SS (kinh tế, dân số)
Số liệu của các biến số phù hợp trong AHI vòng 2 cũng được kết nối thông qua các mã
cá nhân của VTN/TN có cha mẹ tham gia nghiên cứu AH3 %
9.2 Xứ lý số liệu
Số liệu Mô đun 3 được kết nối với các thông tin thích hợp của Mô dun 1 vòng 2 va
DSS vòng 3, số liệu được quản lý và phân tích trên SPSS 15.0 Sự kết nối được dựa
trên mã cá nhân của VTN/TN và mã hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu, các biến kết
nối được dựa trên Khung lý thuyết (Pu lục 2) Nhóm nghiên cứu gửi các mã cá nhân,
mã hộ gia đình và các biến số cần kết nối cho nhóm nghiên cứu Mô đun 1 cũng như nhóm phân tich DSS, dựa trên các mã và thông tin được cung cấp, nhóm nghiên cứu
Mô đun 1 và nhóm phân tích DSS đã kết xuất những thông tin của các đối tượng phù
hợp và gửi lại cho nhóm nghiên cứu