Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa KT & PTNT trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài “ Đánh giá hiệu q
Trang 1LÝ THỊ PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ SẢN XUẤT CHÈ TRÊN
ĐỊA BÀN XÃ LÙNG VAI, HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG,
TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khuyến nông Khoa : KT&PTNT Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2LÝ THỊ PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ SẢN XUẤT CHÈ TRÊN
ĐỊA BÀN XÃ LÙNG VAI, HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG,
TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : KT&PTNT Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : ThS Bùi Thị Thanh Tâm
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tâ ̣p tốt nghiệp là mô ̣t phần quan tro ̣ng trong chương trình đào ta ̣o Đa ̣i học không th ể thiếu với mỗi sinh viên , giúp sinh viên củng cố kiến thức , tích lũy kinh nghiê ̣m lí thuy ết với thực tiễn sản xuất để nâng cao được chuyên môn từ đó giúp sinh viên sau khi ra trườ ng tr ở thành một cử nhân nắm trắc được lí thuyết và giỏi về thực hành, biết vận dụng nhuần nhuyễn lí thuyết vào thực hành
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa
KT & PTNT trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực tập tốt
nghiệp với đề tài “ Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất Chè trên địa bàn xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai ”
Đến nay khóa luận đã hoàn thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Kinh Tế& PTNT trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên và đặc biệt là cô giáo Bùi Thị Thanh Tâm đã trực tiếp hướng dẫn,
chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Qua đây tôi cũng xin cảm ơn tới ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên UBND xã Lùng Vai cùng đông đảo bà con nhân dân trên địa bàn xã Lùng Vai đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Do trình độ, kinh nghiệm thực tế bản thân có hạn chế, thời gian thực tập không nhiều, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót.Vì vậy, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo, các anh chị cùng với những người quan tâm để nội dung khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lý Thị Phương
Trang 42012 – 2014 41 Bảng 4.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của xã Lùng Vai 46 Bảng 4.5 Số hộ tham gia thực hiện trồng chè trên toàn địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2012-T5/2014 47
Bảng 4.6 Diện tích đất trồng chè của các hộ điều tra năm 2014Error! Bookmark not defined
Bảng 4.7 Tình hình hỗ trợ chi phí cho các hộ nông dânError! Bookmark not defined
Bảng 4.8 Các khoản chi phí cho sản xuất chè Error! Bookmark not defined
Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của hộ nông dântrồng chè trong năm2014 51 Bảng 4.10 Hạch toán kinh tế và so sánh giữa cây chè vàcây ngô 52 Bảng 4.11 Nhu cầu phát triển chè của các hộ nông dân 53
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Top 10 thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2011 29
Trang 5PTNT : Phát triển nông thôn
SXKD : Sản xuất kinh doanh
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Mục tiêu 2
1.4 Yêu cầu của đề tài 3
1.5 Ý nghĩa 3
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.5.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm về đánh giá và các vấn đề liên quan đến đánh giá 4
2.1.2 Quan điểm về hiệu quả và hiệu quả kinh tế 4
2.1.3 Giới thiệu chung về cây chè 9
2.1.4.Đặc điểm, yêu cầu về điều kiện sinh thái, vai trò của cây chè trong cuộc sống và các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 24
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè thế giới 24
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam 28
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở tỉnh Lào Cai 30
2.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở huyện Mường Khương 30
2.2.5.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở xã Lùng Vai 32
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 33
3.2.1 Địa điểm 33
3.2.2 Thời gian 33
3.3 Nội dung nghiên cứu 33
3.4 Phương pháp nghiên cứu 33
Trang 73.4.1.Thu thập số liệu thứ cấp 33
3.4.2.Thu thập số liệu sơ cấp 34
3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 34
3.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 34
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
4.1.1.Điều kiện tự nhiên 36
4.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 38
4.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn của xã Lùng Vai đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất chè 45
4.2 Thực trạng kết quả sản xuất của các hộ sản xuất chè trên địa bàn xã Lùng Vai huyện, Mường Khương, tỉnh Lào Cai 47
4.2.1 Tổng số hộ tham gia thực hiện trồng chè trên địa bàn xã Lùng Vai 47
4.2.2.Tình hình diện tích, năng suất và sản lượng của các hộ điều tra Error! Bookmark not defined 4.2.3 Kết quả sản xuất chè năm 2014 của các hộ điều tra 48
4.3 Hiệu quả kinh tế của các hộ điều tra Error! Bookmark not defined 4.3.1 Hiệu quả kinh tế,xã hội, môi trường của cây chè đối với người dân xã Lùng Vai Error! Bookmark not defined 4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế cây chè 53
4.4 Phương hướng, mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chè 54
4.4.1 Phương hướng 54
4.4.2 Mục tiêu 54
4.5 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn 54
4.5.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 54
4.5.2 Nhóm giải pháp về kỹ thuật 55
4.5.3 Nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng 56
4.5.4 Giải pháp về lao động 56
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
Trang 85.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
I Tài liệu Tiếng Việt 61
II Tài liệu Internet 61
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam với tổng diện tích rừng tự nhiên 33 triệu ha,trong đó có ¾ diện tích
là đồi núi, nằm trong vùng nhiệt đới, có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên thực vật rừng rất phong phú và đa dạng Rừng có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người, đặc biệt là đồng bào sống trong rừng, gần rừng và phụ thuộc vào rừng Rừng không chỉ cung cấp gỗ mà còn cung cấp các lâm đặc sản quý phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của hang triệu đồng bào miền núi Rừng còn là nơi nuôi dưỡng nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, làm sạch môi trường và mang lại giá trị văn hóa, tinh thần Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ của dân số thế giới, rừng càng bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng Nguyên nhân chủ yếu của mất rừng là sự can thiệp thiếu hiểu biết của con người Với điều kiện sống nghèo đói người ta đã hai thác rừng một cách quá khả năng phục hồi của nó.Ngoài ra những biện pháp kĩ thuật lâm sinh và những biện pháp về kinh tế, xã hội thiếu khoa học đã làm gia tăng những tác động tiêu cực đến rừng Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một trong những giải pháp tốt nhất cho bảo vệ và phát triển rừng là kinh doanh lâm sản ngoài gỗ, kinh doanh lâm sản ngoài gỗ cho phép tạo được nguồn thu nhập kinh tế cho người dân miền núi trong khi đó vẫn bảo vệ được rừng.[14]
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người, được trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu là một số quốc gia thuộc khu vực ChâuÁ như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam Chè là sản phẩm có giá trị xuất khẩu rất lớn, ở nước ta chè là một trong mặt hàng nông sản xuất khẩu mạnh nhất, đem lại nguồn thu ngoại tệ cao.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2009, lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 134.000T với kim ngạch đạt 179.5 triệu USD, tăng 28,4%
về lượng và tăng 22,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008.[13]
Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao
Trang 10động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn Tính đến năm 2010 ngành chè giải quyết 6 triệu lao động trên 34 tỉnh thành trong cả nước Mặt khác, cây chè có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng 30 -
40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa.[1]
Hiện, tổng diện tích chè tập trung trên địa bàn huyện Mường Khương là 1.440 ha, năng suất chè búp của huyện dao động khoảng 40 - 50 tạ/ha/năm, sản lượng chè búp tươi năm 2012 đạt hơn 4.000t, giá trị từ sản xuất chè năm 2012 của huyện Mường Khương đạt 33,5 tỷ đồng Sản phẩm chè chủ yếu dành cho xuất khẩu Nhiều hộ nhờ trồng chè mà đã xóa được nghèo, nâng cao thu nhập.[12]
Vụ trồng chè năm 2013, huyện Mường Khương nhận kế hoạch trồng mới
250 ha chè tập trung, trong đó, diện tích chè Shan chất lượng cao là 200 ha Chè trồng mới chủ yếu tập trung tại Bản Xen, Lùng Vai, Bản Lầu, Thanh Bình, Cao Sơn, Lùng Khấu Nhin.Hiện nay trong sản xuất nông nghiệp, cây chè không chỉ là cây xóa đói, giảm nghèo mà đã giúp nhiều gia đình có kinh tế khá hơn, từng bước vươn lên làm giàu.[12]
Xuất phát từ đó tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân sản xuất chè trên địa bàn xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai” Làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần thúc đẩy việc sản xuất và xuất
khẩu chè trên địa bàn tỉnh Lào Cai
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá hiệu quả kinh tế cây chè của các hộ gia đình trên địa xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013 - 2014 từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho cây chè trên địa bàn huyện
1.3 Mục tiêu
- Đánh giá được thực trạng phát triển, hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Lùng Vai,huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của cây chè
- Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn huyện
Trang 111.4 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan
- Kết quả phân tích phải chính xác
- Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
1.5 Ý nghĩa
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp bản thân thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng
cố và áp dụng nhứng kiến thức đã học, từ đó nâng cao và tích luỹ nănglực chuyên môn, đồng thời biết cách thực hiện một đề tài và hoàn thành chương trình đào tạo kĩ
sư phát triển nông thôn
- Góp phần thu thập những thông tin cần thiết về thực tiễn sản xuất ở địa phương và làm tài liệu tham khảo, cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
1.5.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, lãnh đạo các ban ngành đưa ra phương hướng để phát huy thế mạnh, khắc phục điểm yếu còn tồn tại để giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển nông nghiệp ngày càng vững mạnh
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về đánh giá và các vấn đề liên quan đến đánh giá
- Theo từ điển tiếng Việt, “đánh giá” là quá trình xem xét và đo lường mức
độ đạt được của một sự vật, sự việc với các tiêu chí đã được định trước.[16]
- Đánh giá hiệu quả kinh tế là một quá trình phức tạp và công phu Vì vậy để việc đánh giá đạt kết quả tốt thì quy trình đánh giá gồm những công đoạn sau:
- Phân tích mục tiêu kinh tế thành các chỉ tiêu kinh tế
- Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các chỉ tiêu kinh tế dựa trên những dấu hiệu có thể đo lường hoặc quan sát được
- Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt được về các yêu cầu đặt ra, biểu thị bằng số liệu
- Phân tích, so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đề ra rồi đánh giá, xem xét kết quả, để từ đó có thể phát huy thế mạnh, cải tiến, khắc phục nhược điểm
2.1.2 Quan điểm về hiệu quả và hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả là việc tối đa hóa giá trị của đầu ra trên một đơn vị đầu vào
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sảnxuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.[16]
-Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế.[15]
Trang 13+ Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn hợp lý, bởi vì nếu cùng một kết quả xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả
+ Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó, quan điểm này chưa được thoả đáng
+ Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị
+ Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả, do đó việc xác định khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác xớt và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn
- Một là: Theo quan điểm triết học Mác xớt thì bản chất của hiệu quả kinh tế
là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội[14] Các Mác cho rằng, quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật
có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
- Hai là: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá tŕnh sản xuất Hệ thống sản xuất xă hội bao gồm trong đó các
Trang 14quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội.[14]
Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường
- Ba là: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng
mà là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội.[16]
Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý.Hơn nữa việc xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khănvàphức tạp về lý và cả thực tiễn.Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xă hội và bảo vệ môi trường Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Khái niệm hiệu quả kinh tế có thể tóm tắt theo 3 quan điểm sau.[1]
* HQKT theo hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả thu được (như nguồn lực, vật lực, tiền vốn,…) và chi phí bỏ
ra để đạt kết quả đó Theo quan điểm này HQKT được thể hiện qua công thức sau:
Hiệu quả kinh tế= Q/ C = Kết quả thu đƣợc
Chi phí bỏ ra
Trang 15Trong đó: Q Kết quả thu được
* HQKT theo hệ thống quan điểm thứ hai: HQKT được đo bằng hiệu số giữa
tỉ giá sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt hiệu quả đó Theo quan điểm này thể hiện dưới dạng công thức tính của nó là.[1]
HQKT = Kết quả thu đƣợc – Chi phí bỏ ra
Hay H = Q – C
Trong đó:
H Hiệu quả kinh tế
Q Kết quả thu được
C Chi phí bỏ ra
Ở đây nó phản ánh quy mô HQKT song không rõ rệt và chưa phản ánh hết mong muốn của nhà sản xuất kinh doanh, chưa xác định được năng suất lao động xã hội và khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của cá cơ sở sản xuất có lợi nhuận như nhau
* HQKT theo hệ thống quan điểm thứ ba: khác với quan điểm trên trước tiên phải xem xét HQKT trong thành phần biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất HQKT được biểu hiện bằng tỉ số giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí hay là quan hệ tỉ số giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung Theo quan điểm này HQKT được thể hiện qua công thức sau:[1]
HQKT = Phần tăng thêm về kết qủa thu đƣợc
Phần tăng thêm chi phí
Hay H = DQ/DC
Trong đó: H Hiệu quả kinh tế
DQ Phần tăng thêm của kết quả thu được
DC Phần tăng thêm chi phí
Trang 16Bản chất của HQKT[1]
HQKT là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế.Thực chất của HQKT là vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí các nguồn lực.Đó là hai mặt của vấn đề đánh gia hiệu quả Nói cách khác, bản chất của HQKT là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội, hai mặt này có mối liên hệ mật thiết gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm nguồn tài nguyên
HQKT liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh Trong quá trình SXKD việc xác định yếu tố đầu vào và đầu ra sẽ có một vấn đề sau:
- Đối với các yếu tố đầu vào:
+ Các tư liệu tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất không đồng đều trong nhiều năm, có các loại rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa nên việc khấu hao và phân bố chi phí để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả chỉ có tính chất tương đối
+ Sự biến đổi giá cả thị trường gây trở ngại cho việc xác định chi phí bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Một số yếu tố đầu vào quan trọng cần phải hoạch toán nhưng thực tế không thể tính toán được cụ thể: Chi phí xây dựng CSHT, thông tin giáo dục, tuyên truyền khuyến cáo…
+ Kết quả đạt được về mặt vật chất có thể lượng hoá được để so sánh, nhưng cũng có yếu tố không thể lượng hoá được như vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, tái sản xuất kỹ thuật của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh…
Như vậy HQKT phản ánh trình độ thực hiện các nhu cầu của xã hội.Việc nghiên cứu HQKT không những để đánh giá mà còn là cơ sở để tìm ra các giảipháp phát triển sản xuất với trình độ cao hơn Có nghĩa là so sánhgiữa hai kỳ chất lượng kết quả, chi phí (mỗi loại cây con/ một vụ/ diện tích…) nhưng vẫn chưa đầy đủ bởi
vì trong thực tiễn kết quả sản xuất đạt được luôn là hiệu quả của chi phí có sẵn cộng
Trang 17với chi phí bổ sung mà ở mức chi phí có sẵn khác nhau thì HQKT của chi phí bổ sung cũng sẽ khác nhau
Tóm lại, các quan điểm về HQKT cuối cùng đều có chung một quan điểm đó
là sự so sánh giữa:
+ Toàn bộ yếu tố đầu vào và toàn bộ yếu tố đầu ra
+ Phần tăng thêm tuyệt đối (hoặc tương đối) của yếu tố đầu ra
HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và các phương thức quản lý.Nó được thể hiện bằng các hệ thống chỉ tiêu thống kê, nhằm các mục tiêu cụ thể của chính sách phù hợp với yêu cầu xã hội HQKT là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt trong hoạt động kinh tế.[15]
Một phương án, một giải pháp HQKT cao là phải đạt tương quan tương đối tối
ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư Việc xác định HQKT phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ giữa hai đại lượng trên và thấy được tiêu chuẩn của HQKT là tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn nhất định.[2]
2.1.3 Giới thiệu chung về cây chè
Tên gọi của cây chè[7]
- Cây chè (Thea sinensis L)
- Chè là một cây công nghiệp lâu năm có đời sống kinh tế lâu dài và mau cho sản phẩm
Trang 18- Cả 4 loại đều đang được trồng tại Việt Nam nhưng nhiều nhất là chè Shan
và chè Trung Quốc lá to
4000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu và sau đó mới dùng
để uống Cũng theo các tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta cũng nằm trong vùng nguyên sản của giống cây chè tự nhiên trên thế giới Năm 1823, Robert Bruce, một học giả người Anh, lần đầu tiên phát hiện một số cây chè hoang dã trong dãy núi Sadiya ở vùng Atxam (Ấn Độ) cao tới 17 đến 20m, thuộc loài thân gỗ lớn, khác hẳn cây chè thân bụi của Linaeus thu thập ở vùng Trung Quốc nói trên Tiếp sau đó các nhà học giả Anh như Samuel Bildon (1878), JohnH.Blake (1903), E.A.Brown và Ibbetson (1912) đưa ra thuyết: Ấn Độ là vùng nguyên sản của cây chè trên thế giới, vì trong kho tàng cổ thụ Trung Quốc không có ghi nhận gì về các cây chè cổ thụ, trong đất nước Trung Quốc chưa tìm thấy những cây chè cổ thụ lớn như ở Ấn Độ, và giống chè Trung Quốc cũng như Nhật Bản hiện nay là nhập từ Ấn
Độ Năm 1918, Cohen Stuart (Java), một nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đi thu thập mẫu tiêu bản chè tại Vân Nam, Bắc Việt Nam và Bắc Mianma Kết quả đã tìm thấy những cây chè thân gỗ lớn ở khu vực miền núi phía Nam và phía Tây Vân Nam.Tuy có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc cây chè, nhưngvùng phân
Trang 19bố chè nguyên sản và vùng chè dại nằm đều nằm ở khu vực núi cao, có điều kiện sinh thái lý tưởng Thực vậy, vùng Vân Nam (Trung Quốc) hay vùng Atxam (Ấn Độ) đều có độ cao trên 1500m so với mặt nước biển Còn tại Việt Nam cũng đã tìm thấy chè dại tại Suối Giàng (Yên Bái), Thông Nguyên, Cao Bồ (Hà Giang), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Từ những nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận là cây chè có nguồn gốc từ Châu Á
2.1.4.Đặc điểm, yêu cầu về điều kiện sinh thái, vai trò của cây chè trong cuộc sống và các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè
2.1.4.1.Đặc điểm sinh thái, sinh sản của cây chè.[6]
- Vụ Thu Đông (Tháng 11): hái chừa lá cá , tháng 12 hái cả lá cá
- Với các giống chè có dạng thân bụi, sinh trưởng đỉnh đều có thể hái kéo hay hái bằng máy để nâng cao năng suất lao động
b Chu kỳ phát triển
Chu kỳ của một cây chè bao gồm ba giai đoạn
- Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn cây non hay giai đoạn thiết kế cơ bản Các bụi chè phải trồng 3-4 năm kể từ khi gieo trồng mới phát triển thành cây trưởng thành Sau đó là giai đoạn cây lớn và giai đoạn cuối là giai đoạn chè già cỗi
- Giai đoạn chè lớn kéo dài 20 – 30 năm, tuỳ giống, điều kiện đất đai, dinh dưỡng và khai thác Chăm sóc kém và khai thác nhiều sẽ làm cho cây chè bị suy thoái, già trước tuổi Đây là giai đoạn chè cho năng suất cao nhất
- Sau đó là giai đoạn chè già cỗi, cây chè suy yếu dần, lá nhỏ, búp ít, chóng
mù xoè, hoa quả nhiều, cành tăm hương nhiều, chồi gốc mọc nhiều Đến giai đoạn này, người trồng chè phải dùng các biện pháp kỹ thuật để tạo tán mới cho chè như đốn đau, đốn trẻ lại.Thời gian kéo dài tuổi thọ cây chè có thể từ 5-10 năm
Trang 20c Yêu cầu đầu vào
Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí thuận lợi cho sinh trưởng của chè là 22-280C, búp chè sinh trưởng chậm ở 15-180C, dưới 100
C mọc rất chậm Trên 300C chè mọc chậm, trên 400C chè bị khô xém nắng lá non
Nước
Nước giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và công nghệ chế biến.Nước là thành phần chủ yếu của chất nguyên sinh, là nguyên tố quan trọng để đảm bảo các hoạt động sinh lý của cây chè.Về nông nghiệp, nước quyết định sản lượng và chất lượng của chè, trong công nghiệp, nước là thành phần biến đổi nhiều trong các công đoạn héo, vò, lên men, sấy khô
Hàm lượng nước trong chè biến động theo từng bộ phận, giống chè, biện pháp kỹ thuật và khí hậu thời tiết trong năm Nói chung, các tổ chức non có nhiều nước hơn các bộ phận già Mưa nhiều sản lượng chè cao nhưng chất lượng thấp
Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè trên thế giới là 1.500-2.000mm.Độ ẩm tương đối không khí từ 80-85% có lợi cho sinh trưởng của chè
Dinh dưỡng
- Đạm
Đạm tập trung ở các bộ phận còn non như: búp và lá non Đạm tham gia vào
sự hình thành các axitamin và protein.Bón đủ đạm lá chè có màu xanh, quang hợp
Trang 21tốt, cây chè sinh trưởng khoẻ, nhiều búp, búp to.Thiếu đạm chồi lá ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp Bởi vậy bón đạm làm tăng năng suất từ 2-2,5 lần so với không bón Bón đạm quá nhiều hay đơn độc làm chè có vị đắng, giảm phẩm chất
- Lân
Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic.Lân có vai trò quan trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè.Thiếu lân lá chè xanh thẫm, có vết nâu 2 bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp
- Kali
Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng Kali tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm tăng khả năng hoạt động của các men, làm tăng sự tích luỹ gluxit và axitamin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp, làm tăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè
Thiếu Kali lá chè có vết nâu, rụng lá nhiều, búp nhỏ, lá nhỏ
- Trung và vi lượng
Theo một số nhà nghiên cứu, tác dụng của các yếu tố trung và vi lượng chỉ thể hiện rõ nét ở các đồi chè nhiều tuổi chuyên bón các loại đa lượng lâu năm Phân vi lượng gồm có: Bo, Mn, Zn, Cu ; phân trung lượng gồm có: Ca, Mg, S, Al
2.1.4.2 Điều kiện sinh thái cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè
Cây chè phát triển tốt trên đất nhiều mùn, pH khoảng 4,5 - 6 Đất phải có độ sâu ít nhất là 60 cm Mực nước ngầm phải dưới 1m Địa hình cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và chất lượng chè Chè trồng trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn vùng thấp, nhưng sinh trưởng lại kém hơn
Chè ưa ẩm, cần nhiều nước.Yêu cầu lượng mưa vùng trồng chè bình quân
trong 1 năm khoảng 1.500 mm và phân bố đều trong các tháng Yêu cầu độ ẩm
không khí cao, khoảng 85%
Cây chè sinh trưởng tốt khi nhiệt độ > 10oC Nhiệt độ bình quân hàng năm
để cây chè sinh trưởng và phát triển bình thường là 12oC và sinh trưởng tốt trong
Trang 22phạm vi 15 – 23oC Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến việc tích luỹ ta-nanh.Nếu vượt quá 35oC liên tục kéo dài sẽ dẫn đến cháy lá chè.Nhiệt độ thấp kết hợp với khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mủ
Cây chè nguyên sinh sống dưới tán rừng rậm, nên có tính chịu bóng rất lớn
Vì vậy, chè tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ, ánh sáng chiếu thẳng trong điều kiện nhiệt độ không khí cao không tốt cho quang hợp và sinh trưởng của chè, vì vậy, người ta thường trồng cây bóng mát cho chè để hạn chế nhiệt độ cao và ánh sáng quá mạnh
Tùy theo giống và tuổi của cây chè mà yêu cầu ảnh sáng khác nhau, thời kỳ cây con cán ánh sáng ít nên vườn ươm phải làm giàn che Giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn giống lá nhỏ
Cường độ ánh sáng cũng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phẩm chất chè, ánh sáng còn ảnh hưởng đến giai đoạn phát dục của cây chè, nên những giống chè ở vùng có ánh sáng ban ngày ngắn đưa đến những vùng có ánh sáng ngày dài thì sẽ không ra hoa kết quả
Không khí: Gió nhẹ và có mưa rất có lợi cho sự sinh trưởng của cây chè Những nơi độ ẩm không khí quá cao, nước phát tán khó thì gió nhẹ sẽ làm cho dễ thoát hơi nước và chất dinh dưỡng trong đất tiếp tục vận chuyển lên cây.Gió nhẹ còn có tác dụng làm cho hàm lượng CO2 phân bố đều, có lợi cho quang hợp Gió to không những làm cho cây bị tổn thương mà côn phá vỡ cân bằng được của cây
Để giảm tác hại của gió, cần chọn nơi trồng chè kín gió hoặc trồng rừng vành đai phòng hộ, chọn giống chè thấp cây và trồng dày hợp lý, những vùng có có Lào
cần đặc biệt chú ý trồng cây bóng mát và đai rừng chắn gió phòng hộ
2.1.4.2 Một số loại sâu bệnh hại trên nương chè
- Trong năm vừa qua , tình hình sâu bệnh phá hoại trên các lô chè là vô cùng đáng ngại Tuy người dân nơi đây sử dụng các biện pháp phòng trừ như làm sạch cỏ, phun thuốc nhưng vẫn chưa được triệt để nên vẫn còn nhiều lô bị phá hoại nặng
- Sau đây là một số loại sâu bệnh thường gặp.[8]
Trang 23Rầy xanh: Rầy xanh trưởng thành có màu xanh lá mạ, rầy non màu xanh vàng
Rầy trích hút nhựa làm búp chè cằn cỗi, mất màu xanh bóng, làm cho lá chè có màu đỏ thẫm.Rầy xanh thường ẩn sau mặt lá chè và đẻ trứng vào cuống búp chè
Qua điều tra tôi thấy đây là loại sâu thường gặp nhất và phá hoại nhiều nhất
và được các bác nông dân phản ánh nhiều nhất trên cây chè, gây ảnh hưởng rât lớn đến năng suất và sản lượng chè búp tươi
Bọ cánh tơ: Là loại sâu hại có cơ thể nhỏ bé, giai đoạn sâu non mới nở có
màu trắng, 2 mắt màu đỏ, không có cánh, bước sang tuổi trưởng thành thì chúng có màu vàng đậm xanh, đẻ trứng rải rác trong các mô lá chè Bọ cánh tơ hóa nhộng ở các khe kẽ nứt của lá, Thân chè và ở lá mục dưới đất
Chúng hại lá chè và búp chè non là cho lá, búp chè biến dạng cong queo, giòn và dễ gãy, vết hại như vết sẹo sần sùi, màu nâu ở lá hay phùn cuộng búp, trên
lá có 2 vệt song song Hại nặng thì lá non bị rụng chỉ còn trơ cuộng búp
Bệnh phồng lá:Bệnh hại trên búp và lá non, cành non Vết bệnh có hình tròn
lõm xuống, mặt trên lá vết lõm nhẵn bóng, mạt dưới lá vết bệnh phồng Mặt dưới vết phồng phủ 1 lớp nấm màu sang tro hoặc trắng
Bệnh đốm nâu: Bệnh chủ yếu hại lá già, cành và quả Trên lá vết bệnh bắt
đầu từ mép lá, vết bệnh có màu nâu, không có hìn dáng nhất đinh hoặc hình bán nguyệt Trên vết bệnh có các hình tròn đồng tâm, ở giữa vết bệnh lá bị khô, có màu xám tro đen lá dần theo hình gợn sóng bánh xe Trên cành cũng có triệu trứng như vậy, bộ phận bị bệnh có thể bị vỡ, tách ra
Giải pháp đƣa ra:
+ Hái kỹ theo quy trình hái cải tiến sẽ loại bỏ được khá nhiều trứng rầy, nếu nương chè bị hại nặng kết hợp hái kĩ và phun thuốc rất có hiệu quả
+ Chăm sóc cho nương chè phát triển tốt , bón phân đầy đủ bên cạnh đó là dọn sạch cỏ dại và xới xáo giúp hạn chế trứng sâu ẩn nấp ở dưới gốc chè
+ Trên những nương chè nghèo dinh dưỡng hoặc bón qua nhiều đạm vô cơ không cân đối, thiếu nguyên tố vi lượng, thiếu cây che bóng ở điều kiện khô hạn sâu bệnh sẽ phá hại chè nặng hơn Vì vậy nên trồng những cây che bóng như: trầu,
Trang 24trám, muồng lá nhọn…để giúp cho chè tránh ánh nắng bức xạ ( vì cây chè quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sang tán xạ), ngoài ra việc trồng cây che bóng còn hạn chế được xói mòn, tăng sản lượng gỗ củi
2.1.4.3 Vai trò của cây chè
Vị trí của ngành chè trong nền kinh tế quốc dân
Chè là cây công nghiệp dài ngày, trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm Tuổi thọ của chè kéo dài 50 - 70 năm, cá biệt nếu chăm sóc tốt có thể tới hàng trăm năm.Chè đã có ở Việt Nam từ hàng ngàn năm nay, một số cây chè ở Suối Giàng (Nghĩa Lộ) có tuổi thọ 300 - 400 năm Nhiều nhà khoa học cho rằng Việt Nam là một trong những cái nôi của cây chè.[8]
Chè là thứ nước uống có nhiều công cụ, vừa giải khát, vừa chữa bệnh Người
ta tìm thấy trong chè có tới 20 yếu tố vi lượng có lợi cho sức khoẻ, ví dụ cafein kích thích hệ thần kinh trung ương, tamin trị các bệnh đường ruột và một số axit amin cần thiết co cơ thể.[7]
Chè được trồng chủ yếu ở trung du, miền núi và có giá trị kinh doanh tương đối cao Một ha chè thu được 5 - 6 tấn chè búp tươi (nhiều năm nay có giá tương đương thóc), có giá trị ngang với một ha lúa ở đồng bằng và gấp 3 - 4 lần một ha lúa nương Vì vậy có thể nói cây chè là cây “ xoá đói giảm nghèo, điều hoà lao động từ đồng bằng lên các vùng xa xôi hẻo lánh, góp phần phát triển kinh tế miền núi bảo vệ
an ninh biên giới”.[8]
Sản xuất và xuất khẩu chè thu hút một lượng lao động khá lớn (hơn 22 nghìn lao động chính kể cả lao động chính, kể cả lao động phụ và lao động dịch vụ là gần
300 nghìn người với mức thu nhập ổn định và không ngừng tăng (thu nhập bình quần quân toàn ngành năm 1996 đạt 250 nghìn đồng/người/tháng, năm 9 tăng lên
350 nghìn người/tháng)
Trồng chè cũng chính là "phủ xanh đất trồng đồi trọc", cải thiện môi trường sinh thái.Với phương châm trồng chè kết hợp nông lâm, đào dãy hào giữa các hàng chè để giữ mùn giữ nước, sử dụng phân bón hợp lý… Ngành chè đã gắn kết được phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.[7]
Trang 25Chè là một sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao và tiềm năng xuất khẩu lớn Một ha chè thâm canh thu hoạch được 10 tấn búp tươi chế biến được hơn 2 tấn chè khô, đem xuất khẩu sẽ thu được một lượng ngoại tệ tương đương với khi xuất khẩu 200 tấn than và đủ để nhập khẩu 46T phân hoá học
Trên thế giới có khoảng 30 nước trồng chè nhưng có tới 100 nước uống chè.Như vậy tiềm năng về thị trường của chè Việt Nam rất dồi dào.Tuy nhiên, tốc
độ phát triển cây chè của ta so với thế giới còn chậm Năm 1939, Việt Nam xuất khẩu 2400T chè - đứng hàng thứ 6 trên thế giới, đến nay, Việt Nam xuất khẩu được hơn 20.000T chè - đứng hàng thứ 17 Có thể thấy, trong vòng 60 năm, sản lượng xuất khẩu của ta tăng 8 lần những vị trí của ta đã tụt đến 10 bậc.[8]
Sản xuất chè của ta có nhiều thuận lợi: Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu rất thích hợp với cây chè Quỹ đất trồng chè lớn (khoảng 20 vạn ha) trong khi hiện nay
ta mới chỉ trồng được khoảng 7 vạn ha Bên cạnh đó, lao động vốn là lợi thế so sánh của nước ta, đặc biệt là lao động nông nghiệp với kinh nghiệm lâu đời trong trồng
Vai trò của chè đối với đời sống con người[6]
Chè là loại cây công nghiệp dài ngày, trồng 1 lần cho thu hoạch nhiều năm,
từ 30 đến 50 năm Trồng và thâm canh từ đầu, liên tục và sau 3 năm cây chè đã được đưa vào kinh doanh, mang lại thu nhập kinh tế hàng năm vì năng suất, sản lượng tương đối ổn định Từ chè búp tươi, tuỳ theo công nghệ và cách chế biến sẽ tạo ra các loại sản phẩm chè khác nhau: Chè xanh, chè đen, chè vàng, chè túi lọc v.v Chè có nhiều vitamin có giá trị dinh dưỡng và bảo vệ sức khoẻ Có tác dụng giải khát, bổ dưỡng và kích thích hệ thần kinh trung ương, giúp tiêu hoá các chất
mỡ, giảm được bệnh béo phì, chống lão hoá Do đó chè đã trở thành sản phẩm đồ uống phổ thông trên toàn thế giới
Trang 26Chè có giá trị sử dụng và là hàng hoá có giá trị kinh tế, sản xuất chè mang lại hiệu quả kinh tế khá cao góp phần cải thiện đời sống cho người lao động Hiện nay chè đã trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị của Việt Nam Ngoài ra thị trường nội địa đòi hỏi về chè ngày càng nhiều với yêu cầu chất lượng ngày càng cao Phát triển sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ chè, góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm tăng thu nhập cho người trồng chè
Đặc biệt là đồng bào trung du và miền núi, nơi mà có cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém, vấn đề việc làm còn gặp nhiều khó khăn và thu nhập vẫn còn thấp Như vậy, chè là loại cây có tiềm năng khai thác vùng đất đai rộng lớn của khu vực trung du và miền núi Bên cạnh đó nó còn có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ đất, bảo
vệ môi trường sinh thái Nước ta có điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với sự sinh trưởng
và phát triển của cây chè, nhân dân ta lại có kinh nghiệm và tập quán trồng chè lâu đời Nước ta có nguồn lao động dồi dào, khéo léo trong các khâu thu hoạch, chế biến chè,
có các cơ sở nghiên cứu lâu năm về chè Do đó tiềm năng khai thác và phát triển sản xuất chè trong những năm tiếp theo là rất lớn và khả thi
Vai trò của xuất khẩu chè
Chè là một cây công nghiệp dài ngày,thích hợp với khí hậu và đất đai ở miền núi phía bắc và trung du của nước ta.Cây chè còn đem lại nhiều nguồn lợi cho chúng ta việc xuất khẩu đã có một số vai trò rất quan trọng như:
Để phục vụ cho việc xất khẩu chè th́ trư ớc hết chúng ta phải có các vùng chuyên trông cây chè, như đồi núi ở trên thì cây chè thường phân bố ở trung du và miền núi.Đây là những nơi mà việc trồng lúa rất khó khăn Do vậy cây chè đã trở thàng một trong những cây chủ lực ở những khu vực này để xoá đói giảm nghèo,tạo
ra nhiều công ăn việc lam cho những người sống ở khu vưc này,tránh được hiện tượng nông nhàn trong nộng nghiệp và nó còn tạo ra một lượng thu nhập đáng kể cho những người trồng chè,góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân ở vùng miền núi vốn rất khó khăn và cuộc sống rất cực nhọc Do vậy việc xuất khẩu chè có một vai tr ̣ to lớn trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người lao động [8]
Trang 27Không những nó có vai trò về kinh tế mà nó còn có vai trò về an ninh quốc phòng, việc định canh định cư của các người trồng chè trên những vùng cao và hẻo lánh đã đảm bảo được an ninh biên giới của nước ta Việc trồng chè để xuất khẩu cung có một vai trò to lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.Như chúng ta đã biết hiện nay lạm chặt phá rừng ngày càng diễn ra mạnh mẽ công với việc du canh
du cư chặt lương phá dãy của một số các đồng bài dân tộc đã hủy hoại môi trường sống của chúng ta Việc trồng chè để phục vụ xuất khẩu đã phủ xanh đất trống đồi núi trọc, còn góp phần điều hoà không khí, ngoài ra cây chè còn một số tác dung trong nghành y học.[7]
Xuất khẩu chè tạo ra một nguồn vốn đáng kể cho đất nước, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Chè là một trong những mặt hàng nông sản xuát khẩu chủ lực của nước ta, hàng năm mang về cho đất nước rất nhiều ngoại tệ để thúc đẩy công nghiệp háo hiện đại hoá đất nước như: Năm
2000 đã xuất khẩu được 45 ngàn tấn mang về cho đất nước khoảng 56 triệu USD, năm 2001 đã xuất khẩu được 40000 tấn tăng 9,94% só với năm 2000 đạt kim ngạch xuất khẩu 70triệu USD, 5 tháng đầu năm 2002 đã xuất khẩu được
25000 tấn đạt giá trị 28 triệu USD.Tuy mhữmg con số này vẫn chưa thực cao trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của chúng ta những xuất khẩu chè cũng đã đóng góp một nguồn vốn dáng kể cho đất nước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá.[7]
Khi xuất khẩu chè thì chúng ta xẽ mở rộng được thị trường tiêu thu và giao lưu học hỏi được nhiều bài học kinh nghiệm của các nước bạn Hiện nay chúng ta xuất khẩu sang hơn 40 nước khác nhau Từ đó tạo ra nhiều mối quan hệ kinh tế cho các doanh nghiệp trong ngành chè nói riêng và các doanh nghiệp trong cả nước nói chung, xuất khẩu chè ra nhiều thị trường thì làm cho các doanh nghiệp của chúng ta
có thể tiếp thu được các thông tin nhanh hơn, và sáng tạo hơn
Xuất khẩu chè thì chúng ta đã tạo ra sự ổn định cho những người chồng chè
về mặt tiêu thụ sản phẩn tư đó họ yên tâm hơn với công việc của mình Do đó chất lượng chè cũng phần nào được cải thiện từ đó nâng cao được khả năng cạnh tranh
Trang 28chè của nước ta trên thị trường thế giới.Và khi có thị trường tiêu thị ổn định thì
2.1.4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam
- Đất - tư liệu sản xuất đặc biệt của ngành trồng trọt.[9]
Đất đai hoạt động với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặcbiệt, tham gia vào việc tạo ra nông sản, trước hết là các sản phẩm của ngành trồng trọt Các sản phẩm trồng trọt một mặt cung cấp cho nhu cầu đời sống con người, mặt khác là nguồn thức ăn quan trọng cho ngành chăn nuôi Như vậy, đất đai có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với hộ nông dân, đặc biệt sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa hiện nay Đất đai vừa được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp vừa sử dụng vào các hoạt động phục vụ đời sống, vì vậy sử dụng đất đai nhằm các mục đích sau:
+ Sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm và sản phẩm hàng hóa trên một cơ sở diện tích, với hao phí lao động sống và lao động vật hóa trên cơ sở sản phẩm thấp nhất
+ Tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất các yêu cầu phục vụ các hoạt động sản xuất
kế tiếp sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu của đời sống với lượng đất đai ít nhất
+ Khai thác các tiềm năng và lợi thế của đất đai và các yếu tố gắn với đất đai, phù hợp với các yêu cầu của thị trường nhằm nâng cao hiệu quả của đất đai
- Điều kiện khí hậu [7]
Cây chè thích nghi với các điều kiện khí hậu khác nhau Nhưng qua số liệu các nước trồng chè cho thấy, cây chè sinh trưởng ở những vùng có lượng mưa hàng năm từ 1000 - 4000 mm, phổ biến thích hợp nhất từ 1500 – 2000 mm Độ ẩm không khí cần thiết từ 70 - 90% Độ ẩm đất từ 70 - 80% Lượng mưa bình quân tháng trên
1000 mm chè mọc tốt, ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp, chè thường được thu hoạch nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè.Cây chè
Trang 29mùaxuân bắt đầu phát triển trở lại Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn tuỳ thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức
độ chống chịu khác nhau
- Giống chè: yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng chè
Trong các tác động của khoa học công nghệ đến thu nhập của hộ từ sản xuất chè, thì
Giống là yếu tố tiên quyết đối với chất lượng chè (yếu tố chất lượng sẽ ảnh hưởng đến thu nhập thông qua giá bán và số lượng bán ra), quyết định đến 50% chất lượng, còn yếu tố độ cao, chăm sóc chiếm 30% và yếu tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20% Giống hay cấu tạo gen của chè có khả năng sinh sản ra các hóa chất tinh dầu khác nhau, tạo ra chất lượng riêng của từng giống chè Hơn nữa, chè là cây công nghiệp lâu năm, không thể phá đi trồng lại hàng năm như cây ngắn ngày Một quyết định đúng đắn hay sai lầm về giống chè sẽ ảnh hưởng đến nửa thế
kỷ phát triển của vườn chè.Giống chè ảnh hưởng đến năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường
Ở Việt Nam đã chọn, tạo được nhiều giống chè tốt bằng phương pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3… Đây là một số giống chè khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và chất lượng búp cao, đã và đang sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện tích rộng, bổ sung cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương chè cằn cỗi
- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
+ Cùng với giống mới việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất và chế biến cũng là điều kiện cần thiết để tạo ra năng suất cao và chất lượng tốt
+ Tủ cỏ rác và tưới nước: Tủ cỏ rác tăng năng suất chè 30-50% do giữ được
ẩm, tăng lượng mùn và các chất dinh dưỡng dễ tiêu trong đất.Chè cũng là cây trồng rất cần nước, nếu cung cấp nước thường xuyên thì năng suất chè nguyên liệu sẽ tăng
từ 25-40%
Trang 30+ Đốn chè: là biện pháp kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất, chất lượng chè Kết quả nghiên cứu ở Inđônêxia cho thấy hàm lượng càphêin của nguyên liệu chè đốn cao hơn nguyên liệu chè chưa đốn.Ngoài phương pháp đốn, thời vụ đốn cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng chè Thường tiến hành đốn vào thời kỳ cây chè ngừng sinh trưởng, không ra búp từ ngày giữa tháng 12 đến cuối tháng 1 hàng năm nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 1
+ Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng chè búp
- Kiến thức nông nghiệp[1]
Kiến thức của người sản xuất nông nghiệp được gọi là kiến thức nông nghiệp, và có thể được xem như là tổng thể các kiến thức về kỹ thuật, kinh
tế và cộng đồng mà người nông dân có được các ứng dụng và hoạt động sản xuất của mình Các nhà kinh tế đã tranh luận về vai trò của kiến thức nông nghiệp đối với sản xuất nông nghiệp và đưa ra những nhận định của họ: Wharton (1963) cho rằng với các nguồn lực đầu vào giống nhau thì hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau, Bhati (1973) nhận định kiến thức nông nghiệp cũng là một yếu tố đầu vào của sản xuất và coi đây là yếu tố có thể kết hợp các nguồn lực đầu vào chính như giống, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, nước tưới và lao động.Để đo lường kiến thức nông nghiệp các nhà phân tích sử dụng bảng câu hỏi đánh giá và cho điểm các nội dung liên quan Ngày nay trong nền kinh tế tri thức và kinh tế mở thì vai trò của kiến thức lại càng hết sức quan trọng, trong đó kiến thức kinh tế và kiến thức kỹ thuật cùng có vai trò quyết định đến thành quả đạt được của người nông dân
Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế xã hội
- Thị trường, giá cả[2]
Thị trường là yếu tố quan trọng có tính quyết định đến sự tồn tạicủa cơ sở sản xuất kinh doanh chè, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị trường: mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải trả lời ba câu hỏi của kinh tế học đó là: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai
Trang 31Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, mang tính định hướng.Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng.Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, của người trồng chè nói riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá chè (giá chè búp tươi và chè búp khô) trên thị trường; giá cả không ổn định ảnh hưởng tới tâm lý người trồng chè
Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như người làm chè, ngành chè nói riêng Do đó việc ổn định giá cả, mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho sự phát triển lâu dài của ngành chè, tăng cao thu nhập cho hộ sản xuất chè[1]
- Nguồn lao động Theo quan điểm của Ricacdo: “ lao động là cha, đất đai là
mẹ sinh ra của cải vật chất” Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua công cụ lao động, tác động lên đối tương lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất cần thiết cho nhu cầu của mình Nông hộ sử dụng lao động chủ yếu là lao động gia đình Tuy nhiên lao động trong nông hộ đông đảo
về số lượng nhưng cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động thấp, trình
độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế Phát triển sản xuất chè cũng vậy, nó vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa
xã hội, bởi vì nhờ có phát triển sản xuất chè đã giải quyết được lượng lớn lao động Ngoài việc mang lại lợi nhuận kinh tế cao, tăng thu nhập cho người lao động, nó còn giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động lớn ở cả miền núi và miền
- Hệ thống chế biến chè
Sau khi hái được chè nguyên liệu (chè búp tươi) người ta sẽ tiến hành chế biến,
từ chè búp tươi tạo ra chè thành phẩm, sau đó mới đem đi tiêu thụ trên thị trường.Ngoài yêu cầu về chất lượng chè nguyên liệu, thì công tác tổ chức, chế biến, quy trình chế biến cũng ảnh hưởng tới chất lượng chè thành phẩm Hạch toán được giá thành từ đó quyết định được mức giá bán trên thị trường sao cho phù hợp.[8]
- Hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước
Trang 32Ngành chè cũng như các ngành sản xuất khác, muốn mở rộng quy mô và chất lượng trong sản xuất kinh doanh,tăng cao thu nhập cho các hộ trồng chè nhất thiết phải có hệ thống chính sách kinh tế thích hợp nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu
cơ giữa các nhân tố với nhau để tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất Kết quả sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế, một chính sách kinh tế không phù hợp
sẽ kìm hãm phát triển của ngành, ngược lại một chính sách thích hợp sẽ kích thích sản xuất phát triển Các chính sách này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến thu nhập của hộ sản xuất chè, tiêu biểu có thể kể đến là: Chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách thị trường và sản phẩm [8]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè thế giới
Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè.Chè được trồng tập trung nhiều nhất ở châu Á, sau đó đến châu Phi
Theo con số thống kê của cơ quan Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO năm 1971 và 1975) thì diện tích trồng chè của thế giới năm 1948 - 1952 là 985.000 ha, năm 1971 là 1.357.000 ha và năm 1974 là 1.531.000 ha Phân bố như sau:
Bảng 2.1 Diện tích trồng chè trên thế giới Khu vực 1948 – 1952 1971 1974
( Nguồn: thống kê của FAO năm 1971 và 1975)
Sản lượng chè trên thế giới tính đến năm 1977(theo số liệu của FAO) là 1.636.000T Trong đó Nam Mỹ 42.000T, Châu Á 316.000T, ChâuPhi 180.000T, Liên Xô92.000T, Châu Đại Dương 6.000T
Trang 33Các nước sản xuất chè nhiều nhất là: Ấn Độ: 500.000T, Trung Quốc: 331.000t, Xrilanca: 197.000T, Nhật Bản: 100.000T
Theo số liệu của FAO (1997), những nước xuất nhập khẩu chè nhiều nhất trên thế giới năm 1976 như sau:
- Xuất khẩu: Ấn Độ 237.000T, Xrilanca: 199.700T, Kênia: 63.000T,
Inđônêxia: 47.500T, Bănglađet: 30.700T
- Nhập khẩu: Anh: 224.600T, Mỹ: 82.200t, Pakixtan: 49.100T, Ai Cập:
24.900T, Canađa: 24.700T
Dưới đây giới thiệu tình hình trồng chè một số nước chủ yếu:
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số nước trên thế giới
năm 2011
Stt Tên nước Diện tích Năng suất
(tạ khô/ha)
Sản lượng khô (tấn)
1 Trung Quốc
Trang 34Đông, Quảng Tây,Giang Tô, Thiểm Tây, Hà Nam Điều kiện tự nhiên và khí hậu Trung Quốc thích hợp cho việc trồng chè.Độ nhiệt trung bình hàng năm của đại bộ phận vùng chè Trung Quốc là 15 - 18oC.Lượng mưa hàng năm trên 1000 mm, mưa tập trung vào thời kỳ chè sinh trưởng Chè được trồng chủ yếu trên các loại đất thục phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granit, phiến thạch mica, nai, với độ chua pH = 4,5 đến 6,5 Các vườn chè được trồng phần lớn trên đất dốc đến
30 độ,diện tích trồng chè của Trung Quốc năm 1974 là 337.000 ha
Trung Quốc có rất nhiều giống chè, trong đó chủ yếu là giống chè Trung Quốc lá to và lá trung bình
Ấn Độ
Ấn Độ bắt đầu trồng chè vào khoảng 1834 - 1840 Do điều kiện khí hậu thích hợp, những năm gần đây, Ấn Độ đã đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè Chè của Ấn Độ gồm có hai vùng rõ rệt: vùng phía Bắc (vùng sản xuất chè chủ yếu của Ấn Độ) và vùng phía Nam Vùng phía Bắc, chè tập trung ở các bang Atxam, Kachar, Duars, Darjiling, Atxam và Darjiling là hai khu vực sản xuất chè có tiếng trên thế giới Vùng chè phía nam: tập trung ở hai bang Kerala và Madras Đất vùng Atxam chủ yếu là đất đỏ pha sét và đất phù sa Đất vùng Madras chủ yếu là đất sét
và đất đỏ pha cát Do lượng mưa lớn, đất đai phì nhiêu, năng suất chè của Ấn Độ đạt bình quân 5 - 8 tạ/ha, cá biệt đạt 12- 13 tạ/ha Đặc điểm sản xuất chè của Ấn Độ
là trồng tập trung, giống chè lá to, trồng cây bóng râm cho chè và áp dụng phương pháp hái chừa nhiều lá Diện tích trồng chè của Ấn Độ năm 1974 là 360.000 ha.[13]
Xrilanca
Xrilanca bắt đầu trồng chè vào khoảng 1837 - 1840, nhưng thực sự phát triển
từ năm 1867 - 1873 (sau khi các vườn cà phê bị tiêu diệt bởi bệnh nấm Hemileia vastatrix)
Chè Xrilanca tập trung ở các tỉnh miền trung, miền tây và tây bắc, phân bố ở các độ cao so với mặt biển như sau:
> 1.200m: 36% diện tích
600 - 1.200m: 39% diện tích
< 600m: 25% diện tích