1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực cạnh tranh quốc gia

14 861 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực cạnh tranh quốc gia
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của môt nền kinh tế và nâng cao đời sống dân cư

Trang 1

Năng lực cạnh tranh quốc gia

1 Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia:

-Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của môt nền kinh tế và nâng cao đời sống dân cư Đó là việc xây dựng một môi trường kinh tế chung đảm bảo phân bổ

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh, lựa chọn của các chủ thể kinh tế theo các tín hiệu của thị trường

Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia đã được hình thành như là một khái niệm phức hợp, dựa trên một chùm (cluster) các yếu tố khác nhau Trong các yếu tố chưa xét đến một số yếu tố quan trọng như độ lớn của nền kinh tế; sức mua thực tế; mức độ ổn định chính trị-kinh tế, trật tự an toàn xã hội; truyền thống lịch sử, văn hoá; tài nguyên thiên nhiên Song, những yếu tố này có hệ số tương quan thấp với tăng trưởng nên khó đưa vào mô hình

2 các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia:

- Các nhân tố trong nước:

• Nhân tố môi trường chính trị - pháp lý

• Các chính sách- chiến lược kinh tế của Nhà nước

• Các xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong nước

• Dân số (nguồn nhân lực) - Nhân tố văn hoá xã hội

• Năng lực tài chính của quốc gia

- Các nhân tố bên ngoài (trên thế giới)

• Đối thủ cạnh tranh (những nước có cùng lợi thế cạnh tranh với nước ta như:

Ấn Độ, Philippin… họ cũng giống chúng ta là có thị trường lớn với dân số đông và nguồn nhân công giá rẻ … để thu hút các nhà đầu tư )

• Các xu hướng phát triển trên thế giới có ảnh hưởng đến thu hút đầu tư của 1 quốc gia (xu hướng phát triển các ngành công nghệ cao, đầu tư vào những lĩnh vực cần lao động có trình độ…)

Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh quốc gia:

Trang 2

Khi nói đến “năng lực cạnh tranh” của một quốc gia, người ta thường hay dựa vào

“Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp GCI ” (The Global Competitiveness Index ) của Diễn đàn kinh tế thế giới Chỉ số GCI lần đầu tiên được công bố trong Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2004-2005 và hiện nay được Diễn đàn Kinh tế thế giới sử dụng làm chỉ số chính đo lường năng lực cạnh tranh quốc gia Theo diễn đàn kinh tế WEF:Các chỉ tiêu được tổ chức thành 12 cột chỉ số, với mỗi cột trụ đại diện cho một khu vực được coi như là một nhân tố quyết định của khả năng cạnh tranh 12 cột chỉ số này được xếp thành 3 nhóm:

-Nhóm chỉ số về các yêu cầu cơ bản: 1 Thể chế (25%); 2 Cơ sở hạ tầng (25%); 3

Ổn định kinh tế vĩ mô (25%); 4 Y tế và giáo dục tiểu học (25%)

-Nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả: 5 Đào tạo và giáo dục bậc cao hơn (17%) ; 6 Hiệu quả của thị trường hàng hoá (17%);7 Hiệu quả của thị trường lao động (17%); 8 Sự phát triển của thị trường tài chính (17%); 9 Công nghệ tiên tiến (17%); 10 Quy mô thị trường (17%)

Nhóm chỉ số về sư đổi mới và phát triển: 11 Sự phát triển của hệ thống kinh doanh (50%); 12 Đổi mới công nghệ (50%)

Việc xếp hạng năng lực cạnh tranh cạnh tranh toàn cầu báo cáo được dựa trên năng lực cạnh tranh toàn cầu Index (GCI), được phát triển cho Diễn đàn Kinh

tế Thế giới bằng Sala-i-Martin và giới thiệu vào năm 2004 Việc xếp hạng theo GCI bắt đầu từ năm 1997 và trong năm này Việt Nam xếp thứ 49/ 53 nước, năm 1998: 39/53, năm 1999: 48/59, năm 2000: 53/59, năm 2001: 60/75, năm 2002: 65/80 năm 2009: 75/134 Nếu so với những năm cuối của thế kỷ XX, năng lực cạnh tranh của nước ta đã có những tiến bộ, nhưng vẫn còn thấp và không vững chắc và tụt hạng Điều này cũng thường xẩy ra ở các nước đang phát triển bởi vì có những nước điểm GCI tăng nhanh hơn và số lượng các nước được tính toán tăng thêm Có 4 quốc gia đứng dưới Việt Nam trong năm 2007 nhưng đến năm 2008 đã vượt lên trên, đó là Botswana (từ hạng 76 lên 56), Braxin (từ 72 lên 64), Montenegro (từ 82 lên 65), và Rumani (từ 74 lên 68).Trong khi đó, cũng có 2 quốc gia đứng trên Việt Nam trong năm 2007 nhưng đến năm nay đã tụt xuống dưới, đó là El Salvador (từ 67 xuống 79) và Ma rốc (từ 64 xuống 73)

Để thấy mặt mạnh và yếu của Việt Nam trong cạnh tranh, chúng ta cần xem xét các yếu tố của GCI được xếp hạng như thế nào

Trang 3

Bảng thứ hạng năng lực cạnh tranh tổng hợp của Việt Nam một số năm gần đây:

Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010

So sánh thứ hạng một số chỉ tiêu năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2008 với 2009

Chỉ tiêu 2008 2009

Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp 70/134 75/133

Thể chế 71 63

Cơ sở hạ tầng 93 94

Ổn định kinh tế vĩ mô 70 112

Y tế và giáo dục cơ bản 84 76

Giáo dục bậc cao 98 92

Hiệu quả thị trường hàng hóa 70 67

Hiệu quả thị trường lao động 47 38

Trình độ thị trường tài chính 80 82

Sẵn sàng công nghệ 79 73

Quy mô thị trường 40 38

Trình độ kinh doanh 84 70

Đổi mới 57 44

Nhận xét:

Trang 4

Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp 2009 của Việt Nam chưa được cải thiện và giảm 5 bậc so với 2008, chủ yếu do chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô bị đánh tụt từ hạng 70 xuống 112 làm tác động mạnh tới nền kinh tế và khả năng cạnh tranh Vấn đề thiếu ổn định kinh tế vĩ mô là thâm hụt thương mại tăng, nền kinh tế phát triển quá nóng là một biểu hiện rõ nét nhất; rồi đến việc đồng tiền mất giá làm giảm niềm tin của giới đầu tư

Yếu kém chậm khắc phục như cơ sở hạ tầng (hạng 94), trình độ thị truờng tài chính (hạng 82), giáo dục bậc cao (hạng 92), sẵn sàng công nghệ (hạng 73)

Về cơ sở hạ tầng, Việt Nam có tiến bộ lớn về viễn thông (hạng 37), nhưng yếu kém

về chất lượng hạ tầng điện, đường bộ, cảng biển (đề xếp hạng trên 100) Về giáo dục, Việt Nam còn yếu hầu hết chỉ số cơ bản như chất lượng giáo dục (hạng 120),

số lượng sinh viên (hạng 106) và chi phí giáo dục (hạng 100) Đáng lưu ý, Diễn đàn Kinh tế đánh giá khá cao về chỉ số đổi mới của Việt Nam, trong đó có nhiều chỉ tiêu được xếp hạng tương đối cao như năng lực đổi mới (hạng 41), chỉ tiêu của Chính phủ cho khoa học công nghệ (hạng 21)…

Năm 2010

Khi đánh giá các yếu tố trong từng trụ cột, WEF xếp Việt Nam ở các vị trí khá cao

ở các yếu tố như: tiền lương và năng suất (hạng 4/139), mức độ tin tưởng của dân chúng vào các chính trị gia (32), mức độ đáng tin cậy của lực lượng cảnh sát (41),

hệ thống điện thoại cố định (35), sự phủ sóng Internet tại trường học (49), tỷ lệ tiết kiệm quốc gia (17), trình độ của người tiêu dùng (45), mức độ tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động (20), khả năng huy động vốn qua thị trường chứng khoán (35), FDI và chuyển giao công nghệ (31), quy mô thị trường nội địa (39), quy mô thị trường nước ngoài (29)…

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có rất nhiều những yếu tố mà Việt Nam gần ở cuối bảng như: mức độ bảo vệ các nhà đầu tư (133), gánh nặng thủ tục hành chính (120), năng lực kiểm toán và tiêu chuẩn báo cáo (119), chất lượng cơ sở hạ tầng nói chung (123), cân bằng ngân sách chính phủ (126), thời gian thành lập doanh nghiệp (118), quyền sở hữu của nước ngoài (114), mức độ sẵn có của công nghệ tân tiến nhất (102)…

Chính mức độ bảo vệ nhà đầu tư cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh doanh (Best countries for business) do tạp chí Forbes công bố mới đây Ở yếu tố đánh giá này trong xếp hạng của Forbes, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo Vị trí của Việt Nam trong đánh giá môi trường kinh doanh của Forbes là 118

Trang 5

WEF cũng liệt kê những yếu tố gây cản trở nhiều nhất đối với hoạt động kinh doanh tại các quốc gia được xếp hạng trong báo cáo Đối với Việt Nam, 5 rào cản hàng đầu bao gồm khả năng tiếp cận vốn, lạm phát, mức độ ổn định thấp của chính sách, lực lượng lao động chưa được đào tạo đầy đủ, và cơ sở hạ tầng hạn chế Tuy thăng hạng so với báo cáo năm ngoái, nhưng năng lực cạnh tranh của Việt Nam theo WEF vẫn thấp hơn so với hầu hết các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á như Singapore (5,5 điểm/hạng 3), Malaysia (4,9 điểm/hạng 26), Brunei (4,8 điểm/hạng 28), Thái Lan (4,5 điểm/hạng 38), Indonesia (4,4 điểm/hạng 44)

3.1 Thể chế chính trị:

- Mức ổn định chính trị cao: Việt Nam được xếp hạng ổn định chính trị cao theo xếp hạng của chỉ số GCI của WEF và chỉ số điều hành toàn cầu của WB Việt Nam

là một nước ổn định hơn nhiều so với các nước có cùng mức độ phát triển trong khu vực, đó là lợi thế để Việt Nam thu hút và thúc đẩy khả năng cạnh tranh của mình

- Mức độ phân cấp cao là một trong những nguyên nhân dẫn đến phân tán quyền lực giữa các cơ quan chính phủ, địa phương và tình trạng áp dụng chính sách và quy định không nhất quán giữa các cấp và các địa phương Đây cũng là điểm yếu của Việt Nam, có thể tác động không tốt đến cải thiện các chỉ số năng lực cạnh tranh vĩ mô

Một ví dụ về việc thực hiện không thống nhất các quy định pháp luật là việc đưa ra các quy định khuyến khích ưu đãi đầu tư của địa phương vượt ra ngoài các quy định của nhà nước về thu hút đầu tư nước ngoài

Hệ thống pháp luật:

Chất lượng của các văn bản pháp luật tương đối tốt so với trình độ phát triển hiện nay, nhưng hiệu quả và hiệu lực của hệ thống pháp luật còn thấp

Năm 2009, Việt Nam đã có sự tăng bậc về chỉ số qui định pháp luật và đứng thứ 73

về chỉ số này Hoàn thiện khung pháp luật, cải cách hành chính, thúc đẩy phát triển thị trường hàng hóa, đảm bảo an sinh xã hội là những lĩnh vực được ưu tiên

Từ năm 2002, nhiều văn bản pháp quy đã được ban hành và thực thi Chất lượng của các qui định pháp luật có tiến bộ, thể hiện qua chỉ số hiệu lực của khung luật pháp xếp thứ 53 Tuy nhiên các văn bản này chưa đồng bộ và thiếu nhất quán, năng lực tổ chức thực hiện chính sách của các bộ, ngành, địa phương chưa chuyên nghiệp, người dân và doanh nghiệp chưa kịp tiếp thu nội dung của luật

Trang 6

Tình trạng tham nhũng vẫn còn phổ biến và chưa được cải thiện:

Theo tổ chức minh bạch thê giới, chỉ số cảm nhận về mức độ tham nhũng của Việt Nam năm 2009 xếp thứ 120 trong số 180 nước xếp hạng, kém so với hầu hết các nước trong khu vực

3.2 Cơ sở hạ tầng

Đầu tư tăng đáng kể trong những năm qua đã tạo ra những kết nối hạ tầng cơ bản Trong những năm gần đây, nhà nước đã quan tâm đầu tư hệ thống đường quốc lộ trục Bắc- Nam, củng cố đường giao thông nội thị nhất là ở các thành phố lớn

Đầu tư cơ sở hạ tầng của VN đã ở mức rất cao trong GDP khoảng hơn 10% Trong khi đó khuyến cáo của ngân hàng thế giới về đầu tư cơ sở hạ tầng chỉ là 7% để đảm bảo mức tăng trưởng cao và bền vững

Mặc dù với một nền kinh tế đang phát triển như VN nhu cầu đầu tư hạ tầng cao là điều bình thường nhưng hiệu quả và chất lượng của đầu tư không đi đôi với quy

mô đầu tư

Ở nước ta mặc dù mức độ đầu tư cho hạ tầng rất lớn nhưng năng lực hạ tầng vẫn còn thiếu và chất lượng hạ tầng của Việt Nam vẫn còn rất thấp

Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ tiện ích ( điện nước ) không theo kịp tốc độ tăng trưởng và đô thị hoá Hệ thống kết cấu hạ tầng còn lạc hậu và chưa đáp ứng được nhu cầu đang là cản trở rất lớn trong phát triển kinh tế xã hội Hiện tượng tắc nghẽn giao thông ngày càng trở nên phổ biến ở khu vực thành thị, phương tiện giao thông ngày càng tốn nhiều thời gian đi trên đường, nhiều con đường xuống cấp…

Cơ sở hạ tầng yếu kém luôn là một trong những yếu tố gây cản trở nhiều nhất đối với sản xuất kinh doanh ở Việt Nam Năm 2009, nó là yếu tố đứng đầu, năm 2010 đứng thứ hai

3.3.Ổn định kinh tế vĩ mô

Nhóm chỉ số về chính sách KT vĩ mô mô tả bối cảnh kinh tế vĩ mô với các chính sách tài khóa và tiền tệ cũng như các biến động vĩ mô của nền kinh tế Các nhân tố này có thể thay đổi nhanh chóng và thường có tác động trong ngắn hạn

Năm 2009, theo xếp hạng của chỉ số GCI, Việt Nam đứng thứ 92 về năng lực cạnh tranh vĩ mô, xếp dưới 70% các quốc gia được xếp hạng Trong đó, nhóm chỉ số về

hạ tầng xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam ở mức trung bình của bảng xếp hạng Năng lực cạnh tranh vĩ mô của Việt Nam thấp chủ yếu là do chỉ số về chính

Trang 7

sách kinh tế vĩ mô (vị trí 110), chủ yếu do xếp hạng thấp về các chỉ tiêu lạm phát

và chính sách tài khóa

3.4 Y tế và giáo dục tiểu học

- Về giáo dục tiểu học: Tỷ lệ nhập học và biết đọc viết khá cao so với trình độ phát triển

- Chăm sóc y tế cơ bản: Khả năng tiếp cận các dich vụ y tế cơ bản nhìn chung tương đồng với trình độ phát triển kinh tế

Tuy nhiên, mức độ bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các dịch vụ giữa các nhóm dân số và các vùng khác nhau Về giáo dục, mức độ bất bình đẳng tăng dấn theo từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông, rõ nhất là theo thu nhập, vùng địa lý

Về y tế, mức độ bất bình đảng tăng dần từ dịch vụ y tế cơ bản đến dịch vụ khám chữ bệnh có chất lượng cao

Tỷ trọng đầu tư cho giáo dục và y tế trong tổng chi ngân sách nhà nước khá cao, nhưng vẫn thấp về giá trị tuyệt đối, trong khi việc huy động tài chính của khu vực

tư nhân vẫn còn hạn chế, bởi bản chất hàng hóa công của hai loại dịch vụ này Lao động trí thức thiếu cả số và chất lượng:

+ Nhóm lao động khoa học công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu triển khai công nghệ mới

+ Nhóm lao động quản lí kinh doanh trong khu vực quốc doanh còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của tăng trưởng và hội nhập

+ Chất lượng nguồn nhân lực thấp và không được đào tạo bài bản khiến lao động nước ta phải chịu lép vế và phải nhường lại các vị trí có thu nhập cao cho người nước ngoài

Hiện nay, xếp hạng chỉ số GCI năm 2009 về phát triển con người Việt Nam là 85, tức là dưới mức trung bình Trên thực tế, Việt Nam thiếu trầm trọng nhân lực có trình độ đào tạo, là vấn đề lớn đối với tăng trưởng sản xuất

3.5.Trình độ khoa học công nghệ

Trình độ KH-CN còn thấp và chậm tiến bộ Công nghệ ở các doanh nghiệp bị lạc hậu nhiều thế hệ so với khu vực và thế giới Đặc biệt trình độ công nghệ thông tin còn rất thấp,sự phát triển gặp nhiều hàng rào cản do độc quyền và những quy định hành chính.Tiềm lực KH-CN vốn còn ít, chưa được sử dụng tốt do cơ chế quản lý

Trang 8

chậm đổi mới, mối liên kết KH-CN: nghiên cứu- trường đại học-DN còn thiếu chặt chẽ

3.6.Thị trường hàng hoá

Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc hình thành một thị trường hàng hoá và sản phẩm với những sự thay đổi trongc ác điều kiện nhu cầu và các công tu cũng đã hướng tới khách hàng nhiều hơn trước Kết quả của sự mở rộng nhu cầu này sẽ thúc đẩy cạnh tranh khốc liệt hơn trên thị trường, khi các công ty nước ngoài gia nhập thị trường nhiều hơn và trước sự hấp dẫn tăng trưởng nhanh của thị trường Mặt tích cực của xu thế này nó thúc đẩy các doanh nghiệp phải đổi mới , sáng tạo liên tục để duy trì và mở rộng thị phần

3.7 Thị trường lao động

Kém linh hoạt trong tuyển dụng lao động ở Việt nam Một là mất cân đối cung cầu trên thị trường lao động vẫn dai dẳng và ngày càng nặng nề hơn Trên thực tế thất nghiệp ở khu vực thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn cao hơn cả số liệu thông

kê do tính chất thời vụ của việc làm cũng như hành vi của doanh nghiệp nhằm giảm chi phí liên quan đến lao động như đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… Hai là cung lao động có kỹ năng thấp , phạm vi và quy mô của lao động có trình độ tăng

3.8 Thị trường tài chính:

Thị trường tài chính đã đa dạng hơn nhưng chủ yếu vẫn là sự hiện diện chi phối của dịch vụ ngân hàng, trong khi mức độ vỗn hoá của thị trường chứng khoán cũng tăng lên nhanh chóng Thị trường trái phiếu và bảo hiểm chỉ mới được hình thành, quy mô còn tương đối nhỏ Mặc dù các ngân hàng có vai trò thống lĩnh trên thị trường chính thức nhưng tỷ lệ tiếp cận tín dụng ngân hàng trong dân ước tình chỉ khoảng 10% và tín dụng phi chính quy vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế

Tiếp cận vốn trên thực tế vẫn còn hạn chế và không có sự công bằng trong tiếp cận tín dụng giữa các thành phần kinh tế, các ngân hàng thương mại quốc doanh đóng vai trò chi phối trên thị trường

Tính lành mạnh và hiệu quả của các ngân hàng còn yếu, tín dụng cho đầu tư bất động sản và các lĩnh vực mang tính đầu cơ có xu hướng gia tăng

Tóm lại: Một số điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách thức của Việt Nam

Trang 9

a Nhóm chỉ số cơ bản

Điểm mạnh:

+ Tình hình an ninh chính trị của quốc gia ổn đinh

+Hiệu quả của hội đồng doanh nghiệp và việc bảo vệ lợi ích của thiểu số cổ đông được tăng lên

+ Sự cải thiện trong các chỉ số về thể chế, y tế và giáo dục tiểu học Trong đó chỉ

số về các tổ chức tư nhân và giáo dục được cải thiện đáng kể

Điểm yếu:

+ Cơ sở hạ tầng yếu kém

+ Sự giảm sút nghiêm trọng của chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô từ 70 xuống 112

Tỷ lệ lạm phát tăng cao, tỷ lệ lãi suất và giá trị đồng nội tệ giảm Cơ sỏ hạ tầng chưa có sự cải thiện đáng kể

Cơ hội:

+ Cơ sở hạ tầng đang từng bước được hoàn thiện cộng với tình hình an ninh chính trị của chúng ra rất bình ổn sẽ giúp Việt Nam dễ dàng hơn trong việc kêu gọi vốn đầu tư viện trợ nước ngoài cũng như giúp các doanh nghiệp trong nước thuận lợi hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh

+ Hoàn thành kế hoạch phổ cập bậc tiểu học và tiến tới là THCS, THPT và dạy nghề giúp cho lao động có trình độ của nước ta tăng lên, nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu ra nước ngoài vốn là thế mạnh của Việt Nam

Thách thức:

+ Nền kinh tế quá nóng với tỷ lệ lạm phát cao đưa đến thách thức lớn cho chính phủ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và làm giảm niềm tin của giới đầu tư vào Việt Nam

+ Cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện khiến cho việc kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng như doanh nghiệp trong nước khó khăn

b.Nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả

Điểm mạnh :

+ Dân số có trình độ đại học khá cao

Trang 10

+ Là thị trường tiềm năng trong lĩnh vực phân phối và bán lẻ

+ Việc trả lương xứng đáng với công sức của người lao động

+ Bình đẳng giới

+ Chỉ số về công nghệ tiên tiến rất khả quan, phần đông dân số sử dụng di động máy tính riêng và internet

+ Quy mô thị trường trong và ngoài nước lớn

Điểm yếu :

+ Chất lượng đào tạo trình độ đại học và bậc cao hơn còn yếu kém, phần nhiều mang hình thức không mang lại hiệu quả thực tế

+ Số lượng người tham gia khoá học giáo dục bậc cao hơn thấp

+ yếu kém trong khâu dạy nghề pử địa phương

+ Khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước trên thị trường kém, rào cản thương mại lớn

+ Thị trường lao động kém linh hoạt

+ Thị trường tài chính kém linh hoạt và không đáng tin cậy

Cơ hội:

+ Cơ hội lớn cho tri thức trong nước du học nước ngoài

+Tạo cơ hội cho doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ trên thị trường trong nước tiềm năng cũng như kêu gọi được các công ty phân phối, bán lẻ vào VN + Công nghệ thông tin ngày càng phát triển kéo theo rất nhiều ngành nghề phát triển

Thách thức:

+ Số lượng giáo dục bậc cao không tăng

+ Quy mô thị trường nước ngoài chưa có sự cải thiện lớn Chỉ số pháp quyền và quy chế trong giao dịch chứng khoán giảm sút Số thủ tục khi thành lập doanh nghiệp còn tương đối lớn

+ Hiện tượng chảy máu chất xám khiến nhà nước hao tổn rất nhiều chi phí đào tạo

và không thu được nhiều kết quả

Ngày đăng: 15/04/2013, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w