1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các công ty đa quốc gia và hoạt động chuyển giá

24 548 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Công Ty Đa Quốc Gia Và Hoạt Động Chuyển Giá
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài Luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 145,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (từ các chữ Multinational corporation) hoặc MNE (từ các chữ Multinational enterprises)

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU:

Trải qua khoảng thời gian hai mươi mốt năm mở cửa nền kinh tế kêu gọi đầu

tư năm 1988, Việt Nam nhận được nguồn vốn FDI trải qua nhiều giai đoạn thăngtrầm khác nhau Nhưng đặc biệt trong khoảng ba năm từ năm 2006 đến thàng 8năm 2008, nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam không ngừng tăng lên và vượt xa sovới những năm trước và liên tiếp lập những mốc kỷ lục mới về tổng mức vốn đầu

tư Nguồn vốn FDI đổ vào nước ta không chỉ là tăng về số lượng các dự án màtăng về cả qui mô và chất lượng của các dự án Nguồn vốn FDI phân bố rộng rãivào nhiều tỉnh và thành phố trên khắp cả nước, các lĩnh vực tiếp nhận vốn đầu tưcũng được mở rộng tạo điều kiện cho việc tiếp nhận trình độ khoa học kỹ thuậthiện đại, trình độ quản lý kinh tế tầm cao, giải quyết công ăn việc làm cho laođộng trong nước FDI trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn quan trọngcho nên kinh tế, là động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển, tạo nên tínhnăng động và cạnh tranh cho thị trường

Bên cạnh những đóng góp tích cực của luồng vốn FDI đối với sự phát triển củakinh tế và xã hội Việt Nam thì trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài đã và đang nổi lênhiện tượng các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ kéo dài nhiều năm làm cho chính phủViệt Nam bị thất thu thuế ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách, bên cạnh đó tạo ra sựcạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốtđến cơ chế quản lý tài chính của chính phủ trong lĩnh vực FDI, và ảnh hưởng đếnhiệu quả sử dụng nguồn vốn này cũng như tác động xấu đến mục tiêu thu hút vàquản lý vĩ mô vốn FDI của chính phủ Hoạt động chuyển giá diễn ra ngày càngnhiều và tinh vi đang là vấn đề cần quan tâm và khắc phục trong thời gian tới

Trang 2

I) Khái quát về các công ty đa quốc gia và hoạt động chuyển giá:

1) Công ty đa quốc gia (MNC)

a) Khái niệm MNC:

Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (từ các chữ Multinational corporation) hoặc MNE (từ các chữ Multinational enterprises), là khái niệm để

chỉ các công ty sản xuất hay cung cấpdịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các công ty

đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia Công ty đaquốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tếcủa các quốc gia Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quátrình toàn cầu hóa; một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hìnhthành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu

Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào

đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (vídụ: Adidas)

Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau

mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft)

c) Sức mạnh quốc tế

Các công ty đa quốc gia lớn mạnh có thể có ảnh hưởng lớn đến các quan hệquốc tế khi chúng có ảnh hưởng kinh tế lớn đến các khu vực mà các nhà nhà chínhtrị đại diện và chúng có nguồn lực tài chính dồi dào để phục vụ cho quan hệ côngchúng (public relations) và vận động hành lang (lobbying) chính trị

Đặc điểm hoạt động các công ty đa quốc gia

Quyền sở hữu tập trung: các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giớiđều thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạtđộng cụ thể hằng ngày không hẳn hoàn toàn giống nhau

Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinh doanh

có tính toàn cầu Tuy các công ty đa quốc gia có thể có nhiều chiến lược và kỹthuật hoạt động đặc trưng để phù hợp với từng địa phương nơi nó có chi nhánh

d) Mục đích phát triển thành công ty đa quốc gia

Trang 3

Thứ nhất: đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránhnhững hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, sử dụngđược nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tìêm năng tại chỗ

Thứ hai , đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh củanước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao

Thứ ba, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro Cũng như tránh nhữngbất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất Ngoài ra, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở mộtngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sảnxuất Bên cạnh đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích củaMNC

Hoạt động MNC, vì được thực hiện trong một môi trường quốc tế, nên nhữngvấn đề như thị trường đầu vào, đầu ra, vận chuyển và phân phối, điều động vốn,thanh toán… có những rủi ro nhất định Rủi ro thường gặp của các MNC rơi vào 2nhóm sau:

Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu

kỳ cung cầu, chính sách vĩ mô khác…

Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyềnđịa phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối,thuế ,khủng hoảng nợ…

e) Các tác động của MNC đối với nền kinh tế:

Các MNC ngày các phát triển, điều này chỉ ra rằng các MNC đều dựa vào cáclợi thế riêng biệt của mình là sự độc quyền và lợi thế trên lãnh thổ rộng lớn màcông ty này hoạt động Các công ty đa quốc gia phát triển về cả số lượng và qui

mô vốn cũng như lĩnh vực hoạt động của minh Từ chỉ khoảng 3000 công ty đaquốc gia vào năm 1900, nay đã tăng lên đến hơn 63.000 công ty với hơn 821.000chi nhánh và công ty con trên khắp thế giới Các công ty này tuy chỉ sử dụngkhoảng 90 triệu lao động (trong đó khoảng 20 triệu lao động ở các nước đang pháttriển) nhưng đã tạo ra đến 25% tổng sản phẩm của thế giới, riêng 1.000 công tyhàng đầu đã chiếm đến 80% sản lượng công nghiệp của thế giới

Một báo cáo gần đây của Liên Hiệp Quốc cho biết 53/100 tổ chức kinh tế lớnnhất thế giới là các công ty đa quốc gia (MNC) Các công ty tư nhân này còn giàuhơn những 120 quốc gia Các công ty này với nguồn vốn khổng lồ và thu nhậphàng năm có thể đem so sánh với GDP của một quốc gia Các công đa quốc gialớn thường có trụ sở chính tại các nước tư bản lớn như Mỹ, Nhật và Châu Âu Vớinhững đặc điểm về qui mô hoạt động, lượng vốn mà các MNC nắm giữ thì cácMNC này có một vai trò và ảnh hưởng lớn đến kinh tế, văn hóa và chính trị của

Trang 4

các quốc gia Lĩnh vực văn hóa là lĩnh vực mà thể hiện sự ảnh hưởng rõ sức ảnhhưởng của các MNC, vì các MNC thống lĩnh hoạt động sản xuất và phân phối sảnphẩm truyền thông (chỉ có 6 công ty bán đến 80% tổng số băng đĩa nhạc trên toànthế giới) Họ du nhập những ý tưởng và hình ảnh khiến cho một số chính phủ vàtôn giáo lo ngại về sự bất ổn cho xã hội Như công ty Mc Donald có khoảng29.000 nhà hàng tại 120 quốc gia và bị cáo buộc là cổ xúy cho chế độ ăn uốngkhông có lợi cho sức khỏe

Bên cạnh những ảnh hưởng không tốt thì các công ty đa quốc gia lại mang lạimột lợi ích to lớn cho các quốc gia sở tại như đóng thuế, tạo công ăn việc làm,cung cấp sản phẩm và dịch vụ mà trước đó không có, trên hết là nguồn vốn, côngnghệ và kiến thức Với vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế thì các MNC càng thểhiện sự ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế các quốc gia mà nó có trụ sở Chính

sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của các công ty đa quốc gia mà nguyên nhânchủ yếu tác động đến sự hình thành và phát triển của các luồng vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI - Forgeign Direct Invesment)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà chủ sở hữu vốn đầu tư sẽtrực tiếp quản lý và điều hành vốn đầu tư.Trong các chủ thể của đầu tư trực tiếpnước ngoài thì các công ty đa quốc gia chiếm tỷ trọng cao nhất rồi mới đến các tổchức chính phủ và phi chính phủ khác Theo số liệu thông kê cho thấy, có hơn90% vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới là do các công ty đa quốc gia Trong bốicảnh kinh tế hiện nay, FDI được xem là giải pháp hỗ trợ vốn cho các nước nghèo

và là một trong những thành phần không thể thiếu của nền kinh tế hiện đại Thôngqua hình thức đầu tư FDI đã chuyển cho nước tiếp nhận đầu tư kỹ thuật, côngnghệ, bí quyết công nghệ mới, năng lực quản lý marketing, kinh nghiệm quản lý

và điều hành, nguồn nhân sự với trình độ cao thông qua các hợp đồng kinh tế,các hợp đồng liên doanh, liên kết hay các hợp đồng chuyển giao công nghệ

Thông qua cách thức đầu tư của các MNC mà FDI sẽ có các hình thức biểuhiện như sau:

Thành lập công ty 100% vốn nước ngoài: đây là hình thức các MNC đầu tưvốn vào nền kinh tế của một nước để lập công ty 100% vốn nước ngoài Các công

ty này thuộc quyền sở hữu và chịu sự quản lý điều hành của chủ thế là cá nhân hay

tổ chức nước ngoài Các công ty này tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình trước pháp luật của nước sở tại

Tham gia các hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh doanh: là hình thức mà một chủđầu tư nước ngoài liên kết một một chủ đầu tư trong nước sở tại để thực hiện mộthay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước sở tại trên cơ sở qui định rõ về tráchnhiệm của từng bên cũng như quyền lợi trong việc phân chia lợi nhuận Đối vớihình thức này thì không cần thành lập công ty hay xí nghiệp hay nói cách khác làkhông ra đời một tư cách pháp nhân khác tại nước tiếp nhận đầu tư

Trang 5

Mua lại một phần hay toàn bộ một doanh nghiệp đang hoạt động tại nước tiếpnhận đầu tư

Góp vốn liên doanh liên kết với nước chủ nhà: các bên tham gia góp vốn liêndoanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận vàrủi ro theo tỷ lệ góp vốn

Hình thức xây dựng-vận hành-chuyển giao (BOT) và một số hình thức tương

tự khác như BTO, BT là các loại hình đầu tư nhằm khuyến khích xây dựng cáccông trình hạ tầng như: cầu, đường, bến cảng và công trình cung cấp năng lượngtrong lúc mà nhà nước tiếp nhận đầu tư còn nhiều khó khăn về mặt tài chính Cáchình thức này sẽ dễ dàng được nhìn thấy ở các nước đang phát triển Trong hìnhthức BOT thì nhà đầu tư sẽ tự bỏ vốn, kỹ thuật để xây dựng công trình như cầuđường, tự tiến hành hoạt động kinh doanh như tổ chức thu phí và sau một thời giankhai thác nhất định theo thỏa thuận và các công ty này đã hoàn vốn cung như mộtmức lợi nhuận hợp lý thì họ sẽ tiến hành bàn giao lại cho nước sở tại công trình đãđược họ xây dựng

Tại Việt Nam cũng tồn tại đầy đủ các hình thức của FDI nêu trên Từ khi thựchiện mở cửa nền kinh tế thì luồng vốn FDI đổ vào ngày càng nhiều, kể cả về mặt

số lượng cũng như chất lượng Cụ thể là năm 2007, Việt Nam đã thu hút được mộtlượng FDI kỷ lục là 20,3 tỷ USD và trong năm 2008 là 64 tỷ USD Đây là một kếtquả ngoài sự mong đợi Với sự có mặt của nhiều công ty đa quốc gia tại Việt Namnhư Coca Cola, Pepsi, Intel, Microsoft, Unilever, P&G, Nestle, Metro, PWC, Kao,Avon, Mercedes Benz… cùng với sự bành trướng ra khỏi phạm vi chính quốc(Home Country) bằng nguồn vốn FDI Các MNC sẽ tạo ra một mạng lưới cáccông ty con (Subsidaries) trên phạm vi toàn cầu mà lẽ đương nhiên là giữa cáccông ty con này với nhau và với chính bản thân công ty mẹ ở chính quốc sẽ có cácmối quan hệ ràng buộc về nhiều mặt mà trong đó sự ràng buộc về kinh tế là quantrọng và rõ nhất nhằm phục vụ cho tối đa hóa lợi nhuận của toàn bộ MNC

2) Các nghiệp vụ mua bán nội bộ và khái niệm hoạt động chuyển giá của MNC :

a) Mua bán nội bộ:

Dựa vào tính chất và các đặc điểm của các nghiệp vụ mua bán nội bộ phổ biếntrên thị trường, chúng ta có thể phân chia các nghiệp vụ mua bán nội bộ ra thànhcác nhóm như sau:

Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan nguyên vật liệu có tính đặc thù cao,hay các nguyên vật liệu mà một công ty con đặt tại một quốc gia có các lợi thếriêng làm cho giá của nguyên vật liệu ấy thấp

Trang 6

Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến các thành phẩm, các công ty contại các quốc gia khác nhau có thể mua thành phẩm được sản xuất tại một quốc gia(Sourcing Country) và sau đó bán lại mà không cần phải đầu tư máy móc hay nhâncông cho sản xuất

Các giao dịch liên quan việc dịch chuyển một lượng lớn máy móc, thiết bị chosản xuất mà đặc biệt hơn là điểm đến của các giao dịch này là các quốc gia đangphát triển

Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình như nhượng quyền, bản quyền,thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu và phát triển sảnphẩm

Có sự cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho cácchuyên gia vào làm việc tại nước nhận chuyển giao

Có sự tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực

Có các khoản đi vay và cho vay nội bộ các công ty con của MNC hay giữacông ty mẹ và các công ty con

b) Khái niệm hoạt động chuyển giá

Trong công tác quản trị tại các MNC thì nghiệp vụ mua bán nội bộ là rất cầnthiết và giúp cho các MNC giảm các rủi ro về thị trường, rủi ro về công nợ Đi đôivới các nghiệp vụ mua bán nội bộ này là việc định giá chuyển giao nội bộ và nóđược xem là một phương pháp quản trị ứng dụng được các nhà quản trị áp dụngmột cách bài bản và điêu luyện nhằm mang lại hiệu quả cao trong công tác quản

lý Các phương pháp định giá chuyển giao nội bộ đã được các quốc gia thừa nhận

và tuân theo, tuy nhiên trong thực tế việc định giá chuyển giao này không được ápdụng theo căn bản giá thị trường mà nó có thể được tính toán theo một mục đíchnào đó của MNC Việc định giá chuyển giao nội bộ diễn ra theo một sự áp đặt giámang tính chất chủ quan của hai bên tham gia vào giao dịch Vì vậy mà các trườnghợp này được gọi là hành vi chuyển giá

Chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan, áp đặt giá cả mua bán lên cácgiao dịch nội bộ không căn cứ trên giá cả thị trường, quy luật cung cầu giữa công

ty mẹ và công ty con hay giữa các công ty con với nhau trong cùng một MNCnhằm mục đích cuối cùng là tối thiểu số thuế phải nộp

Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC sẽ thực hiện ý đồ trốn tránh việcnộp thuế thu nhập doanh nghiệp (Income Corporate Tax) tại các quốc gia có thuếsuất cao Thông qua các nghiệp vụ chuyển giá, các MNC sẽ chuyển thu nhập rakhỏi quốc gia có mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao mà MNC này có trụ sở.Chuyển giá là một trong những vấn đề phức tạp và khó tiếp cận trong thời đại kinh

tế quốc tế hội nhập, khi mà các MNC này có nhiều chi nhánh, công ty con trên

Trang 7

nhiều quốc gia khác nhau mà các công ty này mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụcho nhau Các hoạt động này có thể chứa đựng trong đó là các hoạt động “chuyểngiá”, giá cả của hàng hóa dịch vụ trong các nghiệp vụ chuyển giao này được tínhtheo một xu hướng chủ quan mà không hề dựa trên chi phí thực tế tạo nên sảnphẩm hay dịch vụ được cung cấp Thông qua hoạt động chuyển giá sẽ mang vềcho các MNC một khoảng lợi nhuận lớn trong khi các MNC này không cần phải

nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay mở rộng phát triển thị trường

mà chỉ cần những hoạt động phù phép trên sổ sách kế toán

Tuy nhiên, một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến hoạt động chuyển giáxảy ra đó là tính đặc thù của sản phẩm, có những sản phẩm không tìm thấy hay rấtkhó tìm thấy các sản phẩm tương tự thay thế Chúng ta thường tìm thấy đặc tínhnày đối với các tài sản cố định vô hình như lợi thế thương mại, bản quyền sángchế, phát minh, bí quyết công nghệ… Chính do tính đặc thù cao này đã gây ranhững khó khăn khi áp dụng nguyên tắc ALP vào trong việc định và so sánh giáthị trường

Mục đích cuối cùng của hoạt động chuyển giá là tối đa hóa lợi nhuận của MNCbằng cách tối thiểu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp mà MNC phải nộp cho cácchính phủ Chính vì mục đích là tối thiểu hóa số thuế phải nộp nên MNC sẽ tiếnhành điều phối thu nhập của các công ty con tại các quốc gia có thuế suất cao sangcác quốc gia có thuế suất thuế thu nhập thấp

Ví dụ: một doanh nghiệp sản xuất xe hơi tại Thái Lan với giá 9.000 USD Chiphí để quảng cáo và bán chiếc xe đó tại Việt Nam là 1.000 USD Công ty đó cóthể nâng giá bán cho doanh nghiệp Việt Nam lên 10.000 USD, và bán lại xe tạiViệt Nam với giá 10.000 USD

Về tổng thể, công ty đã có lời 1.000 USD và phải đóng thuế tại Thái Lan thay

vì Việt Nam Nếu tại Thái Lan công ty đang được ưu đãi thuế, thì khoản lãi này sẽđược miễn thuế toàn bộ Như vậy, nếu giá mua linh kiện cao, lợi nhuận của công

ty tại Việt Nam sẽ giảm và Nhà nước Việt Nam sẽ thất thu thuế Tuy nhiên lợinhuận của cả tập đoàn sẽ không đổi (vì lợi nhuận tại Việt Nam đã được chuyểnsang cho công ty con khác ở Thái Lan)

c) Biểu hiện của chuyển giá:

Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằmthay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết Hành

vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trongnhững giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau:

Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể

hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch Do đó họ hoàn toàn cóquyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn

Trang 8

Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết

nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh cócùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục

Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong

nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổngnghĩa vụ thuế của họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi

bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại Tồn tại sự khác nhau vềchính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế -

xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãithuế là điều tất yếu Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảyra

Cho nên, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữacác chủ thể có mối quan hệ liên kết Để làm điều này họ phải thiết lập một chính

sách về giá mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào

lợi ích đạt được từ những giao dịch như thế Chúng ta cần phân biệt điều này vớitrường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưngđằng sau đó họ vẫn thực hiện thanh toán đầy đủ theo giá thỏa thuận Trong khi đónếu giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ không phải thực hiện vế sau của việc thanh toántrên và thậm chí họ có thể định giá giao dịch cao Các đối tượng này nắm bắt vàvận dụng được những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãitrong quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp Như thế, vô hìnhchung, chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế

do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo

ra sự cách biệt trong ưu thế cạnh tranh

Tuy vậy, thật không đơn giản để xác định một chủ thể đã thực hiện chuyển giá.Vấn đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục bộcho một nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao Chẳnghạn, giá mua đầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi phíthấp và hệ quả là thu nhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế thu nhập doanh nghiệp(thuế TNDN) tăng; hoặc giả như giá xuất khẩu định cao cũng làm doanh thu tăng

và kết quả là cũng làm tăng số thuế mà nhà nước thu được Nhưng cần hiểu rằngđiều đó cũng có nghĩa rằng nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp liên kết ở đầu kia cókhả năng đã giảm xuống do chuyển một phần nghĩa vụ của mình qua giá sangdoanh nghiệp liên kết này

Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể cóquan hệ liên kết Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá Nhưng giao kết vềgiá chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá Bởi lẽ nếugiao kết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối vớiđối tượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích

Trang 9

Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượnggiao dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa.

Giá giao kết là cơ sở để xem xét hành vi chuyển giá Chúng ta cũng chỉ có thểđánh giá một giao dịch có chuyển giá hay không khi so sánh giá giao kết với giáthị trường Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì có nhiều khảnăng để kết luận rằng giao dịch này có biểu hiện chuyển giá

d) Phạm vi chuyển giá

Chuyển giá với ý nghĩa chuyển giao giá trị trong quan hệ nội bộ nên hành viphải được xem xét trong phạm vi giao dịch của các chủ thể liên kết Điều 9 Côngước mẫu của OECD về định giá chuyển giao ghi nhận “Hai doanh nghiệp đượcxem là liên kết (associated enterprises) khi:

i Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanhnghiệp kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;

ii Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay những thực thể (entities)khác tham gia quản lý, điều hành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếphoặc thông qua trung gian”

Yếu tố quản lý, điều hành hay góp vốn chính là điều kiện quyết định sự ảnhhưởng, sự giao hòa về mặt lợi ích của các chủ thể này nên cũng là cơ sở để xácđịnh mối quan hệ liên kết Tính chất của những biểu hiện này không mang tínhquyết định Như thế các doanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong cùngmột quốc gia hoặc có thể ở nhiều quốc gia khác nhau Từ đó, chuyển giá khôngchỉ diễn ra trong các giao dịch quốc tế mà có thể cả trong những giao dịch quốcnội

Trên thực tế, chuyển giá thường được quan tâm đánh giá đối với các giao dịchquốc tế hơn do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia được thể hiện rõhơn Trong khi đó, do phải tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia nên các nghĩa vụthuế hình thành từ các giao dịch trong nước ít có sự cách biệt Vì thế, phần lớn cácquốc gia hiện nay thường chỉ quy định về chuyển giá đối với giao dịch quốc tế.Theo đó, giao dịch quốc tế được xác định là giao dịch giữa hai hay nhiều doanhnghiệp liên kết mà trong số đó có đối tượng tham gia là chủ thể không cư trú (non-residents) Sự khác biệt chính yếu nằm ở sự cách biệt về mức thuế suất thuếTNDN của các quốc gia Một giá trị lợi nhuận chuyển qua giá từ doanh nghiệpliên kết cư trú tại quốc gia có thuế suất cao sang doanh nghiệp liên kết ở quốc gia

có thuế suất thấp Ngược lại một lượng chi phí tăng lên qua giá mua sẽ làm giảmthu nhập cục bộ ở quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao Trong hai trường hợpđều cho ra những kết quả tương tự là làm tổng thu nhập sau thuế của toàn bộ nhómliên kết tăng lên

Trang 10

Khía cạnh khác, các giao dịch trong nước có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi, miễngiảm thuế Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không đượchưởng ưu đãi hoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết có lợi thếhơn về điều này

e) Phương thức trốn thuế qua chuyển giá:

Thực ra, trốn thuế qua chuyển giá có thể được thực hiện một cách bài bản ngay

từ giai đoạn đầu tư thông qua việc tính giá trị công nghệ, thương hiệu (vốn vôhình) cao

Nâng phần vốn góp cao lên cùng tỉ lệ góp vốn cao, làm cho Tỷ lệ lợi nhuậnđược chia cao hơn nhiều so với vốn thực

Chưa hết, bằng cách tăng chi phí khấu hao (nghĩa là lợi nhuận giảm) Tức là:Thu nhập chịu thuế giảm = Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

Ví dụ:

Khi doanh nghiệp nâng giá trị lên 1.000 USD với thời gian khấu hao 10 nămthì mỗi năm sẽ đưa vào chi phí 100 USD và như thế có nghĩa là thu nhập chịu thuếgiảm 100 USD; và với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% như hiệnnay, Nhà nước sẽ thấp thu 25 USD

Đến giai đoạn hoạt động, việc nâng giá vật tư, phụ tùng đầu vào cũng kéo theongân sách bị thấp thu rất nhiều loại thuế

Chẳng hạn, khi doanh nghiệp nâng giá lên 100.000 USD thì công ty mẹ khôngphải nộp một đồng thuế GTGT nào (vì là hàng xuất khẩu), đồng thời được khấutrừ thuế đầu vào

Còn công ty con, phải nộp thuế với hàng nhập khẩu nhưng bù lại, được khấutrừ khi bán sản phẩm

Thế là đương nhiên cả "mẹ" và "con" đều không mất một đồng thuế nào trongkhi được hưởng trọn khoản tiền do nâng giá mà có

Với thuế nhập khẩu:

Hàng nằm trong diện miễn giảm: số tiền được miễn giảm = số thất thu của Nhànước

Nhưng ngay cả khi không nằm trong diện miễn giảm: số tiền nộp thuế cũng đãđược đưa vào chi phí và làm giảm thu nhập chịu thuế = một lượng tương đương Thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách

Giả sử:

Trang 11

Với trị giá hàng hóa được nâng lên là 100.000 USD và thuế suất thuế nhậpkhẩu là 30%

Thuế nhập khẩu phải nộp là 30.000 USD (nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm30.000 USD)

Thuế thu nhập doanh nghiệp bị mất là: 30.000 x 25% = 7.500 USD

Thuế suất ở trong nước = nước ngoài:

Công ty mẹ ở nước ngoài tăng thu nhập chịu thuế lên 100.000 USD sẽ phải nộpthuế là 25.000 USD, phần còn lại được coi như thu nhập là 72.000 USD Công tycon giảm thu nhập chịu thuế 100.000 USD sẽ giảm thuế thu nhập 25.000 USD Đây chính là khoản mà Nhà nước ta bị thất thu

Thuế suất nước ngoài < Việt Nam:

Thuế thu nhập DN ở Đài Loan là 20%

Thuế thu nhập DN ở Việt Nam là 28% (trước đây)

Chi nhánh ở Đài Loan sẽ có thể tăng giá chuyển giao hàng hoá và dịch vụ chochi nhánh ở Việt Nam

Nếu khoản nâng giá là 100.000 USD lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan sẽ tăng100.000 USD & thuế nộp cho nước này tăng thêm 20.000 USD Đồng thời lợinhuận ở Việt Nam giảm đi 100.000 USD

Tức số thuế phải đóng ở đây giảm đi 28.000 USD Như vậy thông qua chuyểngiá quốc tế công ty này đã "tiết kiệm" được 8.000 USD

f) Các tác động của chuyển giá :

Dưới góc độ MNC

Hoạt động chuyển giá dưới góc độ của MNC sẽ được nhìn nhận theo hai hướngkhác nhau, đó là có thể giúp cho MNC dễ dàng thực hiện kế hoạch và mục tiêukinh doanh của mình về lợi nhuận và thuế Nhưng một mặt khác, chuyển giá lạimang lại nguy cơ MNC phải gánh chịu những hình phạt nặng nề của quốc gia sởtại và các quốc gia có liên quan

Dưới góc độ các quốc gia liên quan

Hoạt động chuyển giá không chỉ có tác động tiêu cực đến quốc gia tiếp nhận đầu

tư mà còn ảnh hưởng một cách nghiêm trọng đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư.Các MNC với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận có thể thực hiện mọi phương thứcchuyển giá và gây ra hậu quả nghiêm trọng và lâu dài đối với nền kinh tế của cảhai quốc gia xuất khẩu và tiếp nhận đầu tư

Trang 12

II) Thực trạng chuyển giá tại Việt Nam:

1) Sơ lược tình hình chuyển giá của DN FDI:

Gần 70% doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) tạiTPHCM, trong đó có hơn 90% DN trong lĩnh vực may mặc, báo cáo năm qua làm

ăn thua lỗ hoặc hòa vốn Những số liệu này dù tạm tính vì số DN được Cục ThuếTPHCM yêu cầu báo cáo nay chưa phản hồi hết nhưng cũng đủ để hạ màn một vởkịch vốn là bổn cũ soạn lại

Những năm trước, báo cáo tài chính của phần lớn DN trong khối này cũng ảmđạm như vậy Hồi năm 2005, Cục Thuế TPHCM đã tiến hành kiểm tra “thử” 50

DN FDI báo cáo lỗ và phát hiện trong số đó nhiều DN khai man, truy thu thuế thunhập DN đến 60 tỉ đồng

Đòn phép của nhiều DN FDI, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia là dùng

“chiêu” chuyển giá để nâng khống chi phí đầu vào, giảm thiểu doanh thu thực tế

để nộp thuế thu nhập DN ít đi Tại những nước có mức thuế thu nhập DN cao như

VN (kể từ ngày 1-1-2009, từ 28% còn 25%), thủ thuật này được khai thác tối đa.Công ty “mẹ” ở nước ngoài và công ty “con” tại VN thường thông đồng tăngkhống giá nguyên phụ liệu nhập khẩu hoặc lợi dụng những chính sách ưu đãi đầu

tư nước ngoài về mức chi quảng cáo, tiếp thị để hạch toán vào chi phí hợp lý Nhờ

đó, công ty “con” lỗ ảo, còn công ty “mẹ” tất nhiên lời thật

Không chỉ trốn thuế, những hành vi này còn dẫn đến mối họa lớn hơn Đó là mộtkhi tình trạng thua lỗ ảo kéo dài, DN VN trong liên doanh bị kiệt sức, phải rút vốn,nhường sân cho đối tác Thực tế cho thấy không ít DN “con” tại VN đã bị DN

“mẹ” ở nước ngoài thôn tính theo kiểu này

Tình hình khai lỗ của các doanh nghiệp FDI càng phổ biến và nghiêm trọnghơn trong những năm đầu mở của kêu gọi đầu tư, khi mà luật pháp chưa đượcchuẩn bị tốt để có thể bắt kịp với sự gia tăng nhanh chóng của FDI cũng như trình

độ quản lý

của các cơ quan

Tình hình khai lỗ tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP.HCM

được khảo sát Sốdoanh nghiệpFDI kê khai lỗ Tỷ Lệ (%)

Ngày đăng: 15/04/2013, 19:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w