Ở Việt Nam cũng vậy, là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo đang có xu hướng phát triển mạnh, đến nay - năm 2011, Nhà nước ta đã công nhận tư cách pháp nhân cho 13 tôn giáo, với 33 tổ chức Giáo hội.
Trang 1liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học củaluận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Thị Xuyên
Trang 2Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, được sự quan tâmgiúp đỡ của các thầy, cô giáo đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình củaPGS, Tiến sĩ Ngô Hữu Thảo, sự giúp đỡ của các bạn và đồng nghiệp trong cơquan, đến nay tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công
“Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay”
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, chu đáo củacác giáo sư, tiến sỹ, các thầy, cô giáo, các đồng chí lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnhBắc Ninh, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Ninh và đồng nghiệp trong quátrình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này
Tác giả
Trang 3CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO
8
Trang 41.1.2 Quản lý nhà nước đối với tôn giáo 15
1.2.1 Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo 261.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 28
Chương 2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO
Ở BẮC NINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
39
2.1.1 Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo công tác Tôn giáo 392.1.2 Tổ chức bộ máy làm công tác QLNN về tôn giáo ở Bắc Ninh 42
2.2.1 Quản lý về hoạt động xây dựng, trùng tu, sửa chữa cơ sở thờ tự 472.2.2 Quản lý đối với việc phong chức, phong phẩm và hoạt động
thuyên chuyển của các chức sắc
50
2.2.4 Công tác quản lý đối với các hoạt động từ thiện, nhân đạo 52
2.2.6 Quản lý hoạt động truyền đạo trái pháp luật 55
2.3.1 Vấn đề đặt ra từ phương diện khách thể quản lý 632.3.2 Vấn đề đặt ra từ phương diện chủ thể quản lý 66
3.1.2 Một số yêu cầu từ xu hướng tôn giáo ở Bắc Ninh đối với
QLNN về tôn giáo ở Bắc Ninh
73
Trang 5tới các hoạt động có tính trọng điểm, phức tạp của tôn giáo trên
địa bàn
3.2.3 Công tác QLNN cần quan tâm hơn đến công tác vận động quần
chúng, tín đồ, chức sắc các tôn giáo và xây dựng lực lượng
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thựcthể xã hội, ra đời và phát triển từ cả ngàn năm nay Từ khi ra đời, tôn giáo đãtrải qua những thăng trầm và không ngừng biến đổi theo sự biến đổi của tồntại xã hội, nhưng chung nhất, nó luôn là một nhu cầu tinh thần của đa số nhânloại Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đếnmọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đến tập quán của nhiều quốc gia, của cáctộc người trong một quốc gia, theo cả các chiều: tích cực và tiêu cực Nhữngnăm gần đây, tôn giáo trên thế giới không chỉ phục hồi và phát triển, đáp ứngnhu cầu tâm linh của con người, mà còn làm nảy sinh không ít cuộc xung độtgiữa các dân tộc trong một quốc gia, hay giữa các quốc gia với nhau
Ở Việt Nam cũng vậy, là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng,tôn giáo đang có xu hướng phát triển mạnh, đến nay - năm 2011, Nhà nước ta
đã công nhận tư cách pháp nhân cho 13 tôn giáo, với 33 tổ chức Giáo hội.Trong đó, các tôn giáo bản địa (nội sinh) và các tôn giáo được du nhập từnước ngoài vào (ngoại sinh) đều được tạo điều kiện bình đẳng hoạt động theopháp luật Tình hình đó như là sự phản ánh về quá trình đất nước đổi mới,Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân được cải thiện
rõ rệt, vì thế tôn giáo càng được khẳng định rõ hơn, là nhu cầu tinh thần củamột bộ phận nhân dân
Nhưng, bên cạnh những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội lànhmạnh, tuân thủ pháp luật, thì vẫn còn có hiện tượng một số người lợi dụng tínngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan, mê hoặc nhân dân, cao hơn,
Trang 7phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Trước tình hình đó, công tác quản lýnhà nước đối với hoạt động tôn giáo càng cần phải được tăng cường, khôngchỉ trên bình diện vĩ mô mà còn ở các khu vực, các địa phương trong cả nước.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quantrọng và có ý nghĩa quyết định sự thành bại của công tác tôn giáo trong tìnhhình mới Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấnmạnh đến vai trò của công tác này và việc: “Tăng cường quản lý nhà nước vềtôn giáo” là một trong những giải pháp chủ yếu của công tác tôn giáo hiệnnay
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc miền Bắc nước ta, là cửa ngõ phía Bắc củaThủ đô Hà Nội Tỉnh Bắc Ninh mặc dù có diện tích không lớn, nhưng dân sốlại đông và có vị trí địa lý chính trị quan trọng, nằm trong vùng kinh tế trọngđiểm của đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, có nguồn nhân lực dồi dào và làtỉnh vốn có truyền thống ngàn năm văn hiến và cách mạng
Số lượng và quy mô tôn giáo ở Bắc Ninh cũng không lớn, song lại là vịtrí “địa tôn giáo” rất quan trọng Đó là, về đạo Công giáo, Bắc Ninh có ToàGiám mục, là trung tâm, đầu não của Giáo phận Bắc Ninh, gồm 12 tỉnh khácnhau Còn Phật giáo, Bắc Ninh từng có trung tâm Luy Lâu mà gần hai nghìnnăm trước đã được xem là một trung tâm Phật giáo lớn, bằng hoặc hơn cảtrung tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành của Trung Quốc, còn đến nay,tên chùa Dâu, Keo, Phật Tích vẫn nức tiếng toàn cõi Việt Nam Hiện nay bêncạnh 2 tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo, trên địa bàn Bắc Ninh đãxuất hiện cả đạo Tin Lành, một tôn giáo được xem là tôn giáo của thời CNH,HĐH
Trang 8Trong những năm qua tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnhBắc Ninh ổn định, sinh hoạt tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo diễn rabình thường đúng với chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.Đại bộ phận chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trong tỉnh an tâm,phấn khởi, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, về những thành tựuphát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tích cực tham gia phát triển kinh tế -
xã hội, các hoạt động từ thiện, nhân đạo, xây dựng gia đình văn hoá ở khu dân
“sống tốt đời, đẹp đạo”, tích cực thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trịcủa địa phương Tuy nhiên, tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũngnổi lên một số vấn đề có tính phức tạp Đó là, hoạt động mê tín, dị đoan diễn
ra khá phổ biến; một số cơ sở thờ tự của tôn giáo chưa tuân thủ các quy địnhcủa Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Di sản và của các quy định của tỉnh.Khi xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, tổ chức tôn giáo vẫn thiếu hồ sơ xinphép; triển khai khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền.Tình hình khiếu kiện đòi lại đất đai, cơ sở cũ của giáo hội còn tiềm ẩn dấuhiệu phức tạp; hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép và các đạo lạ trên địabàn tỉnh vẫn xảy ra
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninhnhững năm qua đã có nhiều tiến bộ, đạt được một số kết quả nhất định.Nhưng bên cạnh đó, công tác này cũng còn một số hạn chế, như: Một bộ phậncán bộ đảng viên nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nướcđối với tôn giáo còn hời hợt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếutập trung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo cònkéo dài, gây tâm trạng phản cảm cho quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo.Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo của chính quyềnnhiều lúc, nhiều nơi còn cứng nhắc
Trang 9Từ thực tế tình hình trên, tôi chọn để tài: “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay”, để làm luận
văn thạc sỹ quản lý hành chính công
2.Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo trong thời
gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu Đó là: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Hữu Khiển; "Một số vấn đề cấp bách trong quản lý tôn giáo ở một số tỉnh phía Bắc" của GS.TS Đỗ Quang Hưng; “Mác-Angghen về tôn giáo” của PGS Nguyễn Đức Sự chủ biên); “ Một số vấn đề lý luận và thực trạng tôn giáo Việt Nam” của GS Đặng Nghiêm Vạn; Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, PGS, TS Ngô Hữu Thảo, chủ nhiệm (1998); Cuốn sách “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn" của GS.TS Đỗ Quang Hưng; “Một số tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” của TS Nguyễn Thanh Xuân; “Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam” của TS.Nguyễn Đức Lữ; Đề tài cấp Bộ “55 năm đường lối chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam (1945-2000)” của Ban Tôn giáo Chính phủ; Đề tài cấp Bộ
“Công tác an ninh trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt nam” của Bộ Công an
Những công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh, cả lý luận và thựctiễn của vấn đề quản lý tôn giáo, song cụ thể ở địa bàn Bắc Ninh thì chưa có
Ở tỉnh Bắc Ninh, vì nhiều lý do khác nhau nên hiện nay vấn đề nângcao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hãy còn rất
Trang 10ít đề tài đi sâu nghiên cứu, nếu có thì thời điểm nghiên cứu đã khá lâu, trướckhi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, như luận văn cao cấp lý luận chính trịcủa Nguyễn Quang Khải, năm 2004 Vì vậy, hướng đề tài mà tôi lựa chọn hyvọng sẽ làm sáng tỏ hơn về vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn từ việc khái quát những nhận thức chung về tôn giáo, về quản
lý nhà nước đối với tôn giáo và phân tích thực trạng công tác quản lý nhànước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gianqua, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quảcông tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với tôn giáo
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạtđộng tôn giáo ở Bắc Ninh trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước về tôn giáo ở Bắc Ninh trong tình hình mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh Phạm vi nghiên cứu, về không gian, là địa bàn tỉnh
Trang 11Bắc Ninh; về thời gian là từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm2004), đến nay.
5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Luận văn được triển khai dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo vàquản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Luận văn cũng xuất phát từ thựctiễn công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Triển khai luận văn này, tác giả sử dụng những nguyên tắc phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;đồng thời sử dụng các phương pháp của các khoa học cụ thể, như tổng hợp vàphân tích, khái quát hoá, thống kê, so sánh, lịch sử và lôgic, xã hội học, tôngiáo học
6 Đóng góp mới của luận văn
Trang 126.2.Về mặt thực tiễn:
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây đựng chủtrương, biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo ở Bắc Ninh và các tỉnh vùng đồng bằng miền Bắc có tình hình tôn giáotương tự với Bắc Ninh
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập tạitrường Chính trị tỉnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 7 tiết
Trang 13Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO
1.1.1 Nhận thức chung về tôn giáo
Tôn giáo, theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền với cái tột
cùng, như sự gắn bó với Chúa, với Thượng đế; hoặc được hiểu là sự phản ánhmối quan hệ giữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giớihữu hình; giữa cái thiêng liêng với cái trần tục
Theo quan điểm mác-xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xãhội mà còn là một thực thể xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,tôn giáo phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, có kết cấu gồm: Tâm lý, tình cảm,niềm tin và hệ tư tưởng tôn giáo Còn với tính cách là một thực thể, hay mộthiện tượng xã hội, tôn giáo thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, được quy địnhbởi hạ tầng cơ sở xã hội Cụ thể hơn, tôn giáo ra đời từ 3 nguồn gốc: Kinh tế -
xã hội, nhận thức và tâm lý Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáobao gồm cả yếu tố vật chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: ý thức(giáo lý), nghi lễ, luật lệ và tổ chức
Cũng cần phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan Tôn giáo
và tín ngưỡng có sự khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ, mà ranh giới đểphân biệt chỉ là rất tương đối Tín ngưỡng có các nghĩa rộng, hẹp khác nhau,nghĩa rộng, đó là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiệntượng, một lực lượng, một điều gì đó, thông thường để chỉ một niềm tin tôngiáo; nghĩa hẹp là các hình thức khác với tôn giáo, như người Việt Nam
Trang 14thường gọi “tín ngưỡng dân gian” Còn mê tín dị đoan, đó là tình trạng người
ta quá tin vào cái siêu nhiên, đến mất lý trí, mê muội, tốn tiền của và huỷ hoạisức khoẻ, thậm chí cả sinh mạng, vậy nên “Hoạt động mê tín phải bị phê phán
Về thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo, mặc dù cho rằng, thế
giới thống nhất ở tính vật chất, ngoài ra không có thế giới nào khác ngoài vậtchất đang tồn tại và đương nhiên không có thần thánh, ma quỷ nào tồn tạingoài những đam mê và dục vọng của chính con người, thế nhưng Chủ nghĩaMác - Lênin không bao giờ chủ trương tuyên chiến với tôn giáo, mà ngược lạiluôn tôn trọng niềm tin tôn giáo của nhân dân C.Mác từng nói, kẻ nghịch đạokhông phải là kẻ phỉ báng thần thánh của quần chúng mà chỉ là người đồngtình với quan điểm quần chúng, người sáng tạo ra thần thánh
Có một số người cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin mâu thuẫn tuyệt đốivới đức tin tôn giáo, do đó không có thể dung hợp giữa chủ nghĩa xã hội vàtôn giáo và lập luận này là không đúng, vì đã chủ quan đẩy mâu thuẫn, từ mâuthuẫn ở phương diện nhận thức - không đối kháng, trở thành mâu thuẫn đốikháng
Lý tưởng của những người cộng sản là xây dựng “Thiên đường” nơitrần thế bằng bàn tay và khối óc của chính con người Tuy vậy, người cộngsản không hề có chủ trương phủ nhận tôn giáo mà thừa nhận nó như một nhucầu tất yếu của một bộ phận nhân dân trong tiến trình phát triển của lịch sử
Trang 15Hơn nữa, tôn giáo và chủ nghĩa xã hội có điểm tương đồng là đều mong muốn
có một xã hội hạnh phúc, công bằng, bác ái, lấy điều thiện thắng điều ác
“Đối với chúng ta, sự thống nhất của cuộc đấu tranh thật sự cách mạng
đó của giai cấp bị áp bức để sáng tạo nên một cảnh cực lạc trên trái đất, làquan trọng hơn sự thống nhất ý kiến của những người vô sản về cảnh cực lạctrên thiên đường” [80, tr.174 ] Rồi nữa, “Trong cương lĩnh của chúng ta,chúng ta không tuyên bố và chúng ta không nên tuyên bố chủ nghĩa vô thầncủa chúng ta Khắp nơi bọn tư sản phản động đã chú trọng khêu lên những
sự thù hằn tôn giáo, để làm cho quần chúng chú ý về phía đó, khiến họ không
để ý đến những vấn đề chính trị và kinh tế thật sự quan trọng và chủ yếu,những vấn đề mà giai cấp vô sản toàn nước Nga, thực tế đoàn kết lại với nhautrong cuộc đấu tranh cách mạng của mình, hiện đang giải quyết” [80, tr.174-
175 ]
C.Mác và Ph.Ăng ghen từng căn dặn người cộng sản: “Không thể đảkích tôn giáo dưới hình thức thù địch cũng như dưới hình thức khinh bạc,chung cũng như riêng Nghĩa là, nói chung không được đả kích vào nó” [20,
tr 23]
Sau này, Lênin cũng viết: “Còn như tuyên chiến với tôn giáo, coi đó lànhiệm vụ chính trị của đảng công nhân, thì đó chỉ là một luận điệu vô chínhphủ chủ nghĩa” [81, tr.511.]
Vậy, theo chỉ dẫn của các nhà kinh điển mác - xít, Nhà nước của giaicấp vô sản nên xem tôn giáo là việc tư nhân, nghĩa là không nên phê phánnhững vấn đề thuộc thế giới bên kia Chuyện có thiên đường địa ngục, thầnnày thánh khác là vấn đề của thần học, của tôn giáo Nhưng với tư cách là chủthể quản lý xã hội, trong đó có tôn giáo, thì Nhà nước có trách nhiệm và
quyền hạn trên 2 vấn đề liên quan đến tôn giáo, đó là Pháp luật và chính trị
Trang 16Theo chỉ dẫn đó, trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhà nước tachưa bao giờ có chủ trương tiêu diệt tôn giáo, phủ nhận thượng đế của người
có đạo, mà luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, nghiêm cấm phân biệt sựđối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo
Vậy khi giải quyết vấn đề tôn giáo, chúng ta cần phải đứng vững trên những nguyên tắc nào? Về điều này, theo quan điểm mác - xít, được khái quát
trên 4 nguyên tắc sau:
Một: Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử khi nhận thức
và tác động vào tôn giáo Theo đó, trước hết phải “Xoá bỏ tình trạng nô lệ vềmặt kinh tế, nguồn gốc thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tôn giáo” [80,
tr 175] Hay nói cách khác, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phảithay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tưtưởng con người, phải xoá bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy; phải xác lậpđược một xã hội hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo đói và thất học cùng các tệ nạn nảy sinh trong nó Tất nhiên việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải khai thác và phát huy tiềmnăng của mọi cộng đồng xã hội, trong đó có đồng bào các tôn giáo
Hai: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân
Các nhà kinh điển Mác - xít quan tâm không chỉ tôn trọng quyền tự dotín ngưỡng, mà còn cả quyền tự do không tín ngưỡng Tôn trọng quyền tự dotín ngưỡng và không tín ngưỡng sẽ bảo đảm quan hệ tốt đẹp giữa những
Trang 17người vô thần và hữu thần, giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khácnhau Nội dung căn bản của quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng là:
- Mọi công dân có quyền theo đạo, truyền đạo hoặc bỏ đạo; được hoàntoàn tự do theo tôn giáo mình thích hoặc không theo một tôn giáo nào
- Tất cả mọi công dân có tín ngưỡng và không tín ngưỡng đều bìnhđẳng về nghĩa vụ và quyền lợi
- Tất cả mọi tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân đều bình đẳngnhư nhau Nhà nước không coi tôn giáo nào là quốc đạo
Tuy nhiên cần chú ý rằng: Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đồng thờiphải chống lại những kẻ lợi dụng tôn giáo vì mục đích phi tôn giáo, mặt khác,không dung túng cho những kẻ hành nghề mê tín dị đoan
Ba: Có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo
Nguyên tắc này có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn Nó đòi hỏi chủ thểlãnh đạo, quản lý xã hội khi giải quyết vấn đề tôn giáo phải phù hợp vớikhông gian, thời gian cụ thể, như Lênin đã nhắc nhở: “Người mác - xít phảibiết chú ý đến toàn bộ tình hình cụ thể” [ 81, tr 518]
Bốn: Cần phân biệt hai mặt: nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và việc chính trị lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo.
Việc phân biệt vấn đề chính trị và tư tưởng trong các hoạt động tôngiáo trên thực tế là vấn đề không đơn giản, nhưng lại đòi hỏi phải phân biệt
rõ, từ đó mới có giải pháp chính xác Trong đó, mặt nhu cầu tín ngưỡng, tôngiáo phải được giải quyết bằng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo; còn mặtchính trị lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo phải được giải quyết bằng giải phápchính trị Việc áp dụng lẫn lộn các loại giải pháp, cũng như tuyệt đối hoá mộtloại giải pháp nào đó đều là tai hại cho cả tôn giáo và cho chính trị cầmquyền
Trang 18Kế thừa và vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn
giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đặc sắc về vấn đề này
Trước hết cần thấy, tư tưởng của Người về tín ngưỡng, tôn giáo là sựvận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử
cụ thể của Việt Nam Với Người, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều,nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủnghĩa Lênin” [46, tr.268] Nhưng, xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hoá củadân tộc Á - Đông, Hồ Chí Minh cho rằng: “C.Mác đã xây dựng học thuyếtcủa mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sửchâu Âu Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại Xem xét lạichủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phươngĐông Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm (ban thuộc địa của
chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này)” [45,
bào có tôn giáo theo tinh thần “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”
Trong ứng xử với tín đồ, chức sắc tôn giáo, Người thể hiện nổi bật tưtưởng hoà hợp, khoan dung, đó là sự cảm thông, chấp nhận và tôn trọng cái dịbiệt, miễn là không trái với lợi ích chung của dân tộc, từ đó mà đạt được mụctiêu tương đồng Chính vì thế, đồng bào Phật tử thấy Hồ Chí Minh như "Hiện
thân" của vị “Bồ tát Quán Thế Âm” vì "nhân duyên" dân tộc Việt Nam đau
thương "trầm luân" trong nỗi nhục mất nước ở cõi "Sha- bà" mà xuống cứu
Trang 19khổ cứu nạn Ngày nay, trong Phật giáo và trong xã hội Việt Nam, tên Hồ ChíMinh được gán với quả vị Phật giáo, là Bồ tát Hồ Chí Minh Còn đồng bàođạo Công giáo và đạo Tin lành luôn khâm phục và cảm động về việc, Người
đã nguyện hy sinh cho Việt Nam độc lập, cho thế giới hoà bình, nên thấy
Người như bóng dáng của "Đức Chúa Ki-Tô” hy sinh thân mình để cứu chuộc
nhân loại
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo với tính cách là những quan điểm,nguyên tắc, tác giả khái quát như sau :
Thứ nhất, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc, tôn
giáo với cách mạng và tôn giáo với giai cấp, đó phải là nội dung cốt lõi trongchủ trương, chính sách tôn giáo của cách mạng Việt Nam
Thứ hai, luôn phải có tinh thần vận dụng, phát triển nguyên lý chủ
nghĩa Mác - Lênin và tham khảo kinh nghiệm của các nước khác về vấn đềtôn giáo, xem đó là cơ sở quyết định cho việc xây dựng đường lối, chủtrương, chính sách tôn giáo phù hợp với từng giai đoạn cách mạng Việt Nam
Thứ ba, tôn trọng tự do tín ngưỡng phải đi đôi với đấu tranh chống mọi
âm mưu lợi dụng tôn giáo; phải khắc phục những mặc cảm tôn giáo, nhữnghành vi làm tổn thương đến tình cảm quần chúng tín đồ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đã bổ sung cho Chủ nghĩa Mác Lênin và nó có sức sống từ thực tiễn của đất nước, dân tộc ta, để người cộngsản Việt Nam có thái độ mềm mại hơn, khách quan hơn đối với tôn giáo
Trang 20-1.1.2 Quản lý nhà nước đối với tôn giáo
1.1.2.1 Khái niệm " Quản lý nhà nước" và “Quản lý nhà nước đối với tôn giáo”
Khái niệm “quản lý nhà nước” được hiểu ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà
nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan Nhà nước (Lập pháp, Hànhpháp, Tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xãhội
Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền
lực Nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện phápluật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp)
Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính quốcgia đã nêu: QLNN là hoạt động của Nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hànhpháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước;
là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyềnlực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của conngười [38]
Vậy, chủ thể QLNN là các cá nhân hay tổ chức mang quyền lực Nhànước tác động tới đối tượng quản lý Còn đối tượng QLNN là toàn bộ côngdân Việt Nam và những người không phải là công dân Việt Nam đang sống,làm việc trên lãnh thổ Việt Nam cùng toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xãhội
Trang 21Từ các khái niệm quản lý nhà nước như trên, khái niệm quản lý nhà nước đối với tôn giáo cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp.
Nghĩa rộng: Đó là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo qui định của pháp luật đểtác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôngiáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt đượcmục tiêu cụ thể quản lý
Nghĩa hẹp: Đó là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBNDcác cấp) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôngiáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng qui định của pháp luật
Theo đó, QLNN đối với tôn giáo ở cả 2 nghĩa rộng, hẹp, đều tập trung,
trước hết và chủ yếu là quản lý các “hoạt động tôn giáo” Cụ thể hơn, đó là
các hoạt động tôn giáo liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực của đờisống xã hội Hoạt động đó là gì ? Về việc này, tại khoản 5, điều 3 Pháp lệnhtín ngưỡng, tôn giáo đã nêu: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành
giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo”[77, tr.2].
Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền
những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ tôn giáo Thông qua hoạt động truyền đạo,niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ của tôn giáo được các tín đồthực hiện Còn người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu,tin và theo tôn giáo Vậy, hoạt động truyền đạo chính là để củng cố và pháttriển tín đồ Tất nhiên, việc truyền đạo phải tuân thủ các quy định của phápluật và nội dung, phương pháp truyền đạo phải đúng với giáo lý của tôn giáođó
Trang 22Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín
đồ, chức sắc, nhà tu hành tôn giáo thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt nhữngquy định, phép tắc, thoả mãn đức tin tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng tínđồ
Hoạt động quản lý tôn giáo là các tổ chức, giáo hội tôn giáo thực hiện
các quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôngiáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo
Trong các hoạt động đó, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyềnđạo với hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, có không ít trường hợptrong hoạt động hành đạo có hoạt động truyền đạo
Từ đó chúng ta thấy, chủ thể QLNN về tôn giáo nếu theo nghĩa rộngcủa khái niệm, thì đó là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp, hành
pháp và tư pháp; còn theo nghĩa hẹp, nó chỉ gồm các cơ quan nhà nước thuộc
hệ thống hành pháp các cấp
Còn khách thể QLNN đối với tôn giáo, đó là hoạt động tôn giáo của các
tổ chức tôn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành Là công dân Việt Nam, tín
đồ, chức sắc tôn giáo, nhà tu hành vừa mang những đặc điểm chung củangười Việt Nam, nhưng đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng củangười có đạo
Chúng tôi, trong luận văn này thường dùng khái niệm “QLNN đối vớitôn giáo”, hoặc “QLNN về tôn giáo”, khi đó được hiểu là “QLNN đối với cáchoạt động tôn giáo”
Theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, tín đồ, đó là những người tin theomột tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận Chức sắc tôn giáo là tín đồ
Trang 23có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo Còn nhà tu hành, đó là tín đồ tự nguyệnthực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà
mình tin theo [77, tr.2] Người làm công tác QLNN đối với tôn giáo, với họ,
có một đòi hỏi bắt buộc là phải nắm vững về đặc điểm của tín đồ, chức sắccác tôn giáo, với tư cách là khách thể QLNN
Ở nước ta, tín đồ tôn giáo có đặc điểm là: Đa số họ là nông dân, vốn có
bản chất cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù kẻ xâm lược
và tầng lớp bóc lột Song bên cạnh đó, do cả vô thức và ý thức, một số tín đồhoạt động tôn giáo chưa tuân thủ pháp luật, tai hại hơn, bị các thế lực thù địchlợi dụng, nghe theo kẻ xấu tham gia vào các vụ việc phức tạp, điểm nóng tôngiáo Một đặc điểm khác là, trong mỗi tín đồ đều có sự thống nhất (nhưngkhông đồng nhất) giữa mặt công dân và mặt tín đồ Là công dân, họ có mọiquyền và nghĩa vụ đối với nhà nước như mọi công dân khác Là người có tínngưỡng tôn giáo, họ có niềm tin ở Chúa, Phật , có quyền lợi và trách nhiệmđối với giáo hội Đây chính là đặc điểm quan trọng cần phải nắm vững
Còn chức sắc, nhà tu hành tôn giáo cũng có những đặc điểm chung củamột tín đồ, song họ còn có các đặc điểm riêng Đó là: Họ là những ngườiđược tổ chức tôn giáo lựa chọn, đào tạo cơ bản, nên có năng lực quản đạo vàtrình độ thần học cao; được tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm Họ đạidiện ở những mức độ khác nhau cho các tổ chức tôn giáo Họ vừa chăn dắt tín
đồ, vừa quản lý nền hành chính đạo theo thẩm quyền Trong quan hệ với tín
đồ, họ là những người rất gần gũi, nắm bắt kịp thời tâm tự, nguyện vọng củatín đồ Như thế, họ có vị trí, vai trò và ảnh hưởng rất lớn, rất sâu sắc trong tín
đồ, được tín đồ yêu quí, trân trọng và bảo vệ
Trang 24Tiếp nữa, người làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cũng phải
nắm vững đặc điểm của tổ chức tôn giáo Đó là: Tổ chức tôn giáo điều hành
các hoạt động tôn giáo; đại diện cho tín đồ trong quan hệ với Nhà nước và vớicác tổ chức khác có liên quan Mỗi tôn giáo có bộ máy tổ chức riêng, hoạtđộng theo hiến chương, điều lệ của mình Các tôn giáo có tư cách pháp nhânđều thể hiện đường hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc Đa sốcác tổ chức tôn giáo có liên hệ đồng đạo với tổ chức tôn giáo nước ngoài Ngoài ra, khách thể QLNN về tôn giáo còn có cả cơ sở vật chất phục vụcác sinh hoạt tôn giáo Trong đó, cơ sở thờ tự không đơn giản chỉ là một thựcthể vật chất, mà còn bao hàm ý nghĩa thiêng liêng, hội họp, văn hóa Còn đồdùng việc đạo như kinh sách, tượng thờ, tranh ảnh, hoành phi, câu đối, lưhương, chuông mõ, nhạc cụ,…mỗi thứ có chức năng, công dụng riêng trongsinh hoạt tôn giáo, nhưng đều có đặc điểm là có giá trị vật chất và có ý nghĩabiểu đạt Ngoài ra, phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo cộng đồng còn có vườnhoa, trường học, nhà dòng, cơ sở từ thiện, nhà trẻ, bệnh xá,… Nó là tài sảncủa giáo hội và là nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo, được Nhà nước cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao cho tổ chức tôn giáo quản lý
Như vậy, việc nắm chắc những đặc điểm của khách thể quản lý là mộtyêu cầu tiên quyết đối với chủ thể quản lý, giúp cho công tác QLNN về tôngiáo có hiệu lực mạnh và hiệu quả cao
Trang 251.1.2.2 Tính tất yếu tăng cường QLNN đối với tôn giáo
Vì sao phải tăng cường công tác QLNN đối với tôn giáo, việc này đượcxuất phát từ các lý do khách quan và cơ bản
Thứ nhất, hoạt động tôn giáo có liên quan đến tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, do đó, với chức năng quản lý xã hội của mình, để đảm bảocho xã hội ổn định, phát triển bình thường, tất yếu Nhà nước phải tăng cườngquản lý các hoạt động tôn giáo
Thứ hai, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo diễn ra trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đời sống tôn giáo, vậy để đường lối,chính sách, pháp luật được hiện thực hoá, để đồng bào có và không có tôngiáo đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực cho sự thànhcông của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhà nước phải tăng cườngquản lý các hoạt động tôn giáo
Thứ ba, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng tôn giáo hống
phá cách mạng, vậy để đập tan âm mưu đó và để đồng bào lương - giáo tíchcực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tất yếu Nhà nước phải tăng cườngquản lý các hoạt động tôn giáo
Thứ tư, Việt Nam mở cửa, hội nhập để phát triển, theo đó, các thế lực thù
địch cũng thông qua con đường hợp tác, liên doanh, du lịch thâm nhập vàonhững vùng nhạy cảm về tôn giáo, mua chuộc một số chức sắc, tín đồ tôn giáo,vậy để hội nhập quốc tế có nhiều thành công, Nhà nước phải tăng cường quản
lý các hoạt động tôn giáo
Trang 261.1.2.3 Mục tiêu, nguyên tắc và nội dung của QLNN về tôn giáo
Nội dung cơ bản của QLNN về tôn giáo được ghi nhận tại Pháp lệnh tínngưỡng, tôn giáo và được cụ thể hoá tại Nghị định số 22 của Chính phủ,hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh trên Còn trước Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn
giáo, Nhà nước ta mới chỉ có Nghị định số 69 (năm 1991), Quy định về các hoạt động tôn giáo, và Nghị định số 26 (năm 1999), Về các hoạt động tôn giáo Như vậy, cho đến thời điểm này, công cụ trực tiếp cho QLNN về tôn
giáo chính là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, còn luật thì chưa có
Vì thế vừa qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, ởnội dung tôn giáo, Báo cáo chính trị đã nêu: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách,pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng Phát huynhững giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chứctôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cựccho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan tâm và tạo mọi điều kiệncho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chứctôn giáo đã được nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật Đồngthời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc” [33,
tr.245]
Còn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước - bổ sung, phát triển, năm
2011, khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vàkhông tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật Đấutranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôngiáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc vànhân dân” [33, tr.81]
Trang 27Theo đó, quan điểm về vấn đề tôn giáo tại đây có những điểm mới là
“Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợpvới quan điểm của Đảng”; “quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôngiáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được nhànước công nhận, đúng quy định của pháp luật”
Từ đó, công tác QLNN về tôn giáo, từ mục tiêu, nguyên tắc và nội
dung cho đến phương pháp, cần phải được xác định rõ và bổ sung cho phùhợp với quan điểm của Đảng Về mục tiêu, theo chúng tôi, đó là:
Thứ nhất, QLNN đối với tôn giáo trước hết phải bảo đảm được quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân,
để các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường, theo hướng tuân thủ phápluật Rằng: “Người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hànhcác nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục
vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo" [77,tr3]
Thứ hai, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những
gia trị văn hoá và mặt tích cực, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của tôngiáo trong sự phát triển của đất nước theo định hướng XHCN
Thứ ba, QLNN đối với tôn giáo phải góp phần củng cố, phát triển đồng
bào có và không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc,cùng chung sức, chung lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thứ tư, QLNN về tôn giáo phải đảm bảo tăng cường được vai trò lãnh
đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo
Trang 28Với mục tiêu đó, công tác QLNN đối với tôn giáo phải được dựa trên 3nguyên tắc sau:
Một, phải đứng vững trên đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và
Nhà nước về tôn giáo
Hai, phải đảm bảo để mọi tôn giáo hoạt động theo hướng tuân thủ hiến
pháp, pháp luật; để những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, vì lợi íchchính đáng và hợp pháp của tín đồ được đảm bảo; hoạt động mê tín dị đoanphải bị phê phán và loại bỏ
Ba, phải xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật mọi hành vi lợi dụng tôn
giáo để chống phá chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Còn về nội dung QLNN đối với tôn giáo, xuất phát từ quan điểm củaĐảng và theo quy định pháp lý, có thể khái quát như sau:
Trước hết, với tính cách là một quy trình của QLNN đối với tôn giáo thì bao gồm những nội dung:
- Xây dựng chiến lược dài hạn, kế hoạch năm năm và hàng năm thuộclĩnh vực tôn giáo;
- Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
- Qui định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;
Trang 29- Qui định về việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong công tácquản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;
- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức làm công tác tôn giáo;
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm phápluật về hoạt động tôn giáo
Tất cả những nội dung trên đều có ý nghĩa xác định cụ thể, nhưng lại cómối quan hệ mật thiết với nhau, vì thế không thể xem nhẹ một nội dung nào
Tiếp theo, QLNN về tôn giáo với tính cách là giải quyết bằng quyền lực nhà nước các hoạt động tôn giáo ở những lĩnh vực cụ thể khác nhau, thì nó bao gồm các nội dung sau:
- Quản lý nhà nước các hoạt động tín ngưỡng;
- Quản lý việc đăng kí hoạt động của tổ chức tôn giáo và công nhận tổchức tôn giáo;
- Quản lý việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tôn giáo trựcthuộc;
- Việc đăng kí người vào tu và hoạt động của dòng tu, tu viện, hội đoàntôn giáo;
- Quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử;cách chức, bãi nhiệm, thuyên chuyển trong tôn giáo;
- Quản lý về đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo;
Trang 30- Về việc đăng kí hoạt động tôn giáo (thường xuyên, đột xuất, ngoài cơ
sở tôn giáo);
- Quản lý việc xây, sửa, cải tạo các công trình tôn giáo;
- Về đất đai, tài sản tôn giáo;
- Về hoạt động in ấn, xuất bản, phát hành các ấn phẩm tôn giáo;
- Quản lý việc kinh doanh, xuất, nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồdùng việc đạo;
- Quản lý việc mở trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng những người hoạtđộng tôn giáo chuyên nghiệp, giải thể trường đào tạo;
- Quản lý việc quyên góp; hoạt động từ thiện nhân đạo của các tôn giáo;
- Quản lý việc quan hệ quốc tế của các tổ chức và cá nhân tôn giáo;
- Quản lý về việc đình chỉ hoạt động tôn giáo
Những nội dung quản lý như trên được quy định tại Pháp lệnh tínngưỡng, tôn giáo và trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP Tuy nhiên cho đếnnay, nó đã và đang có nhu cầu phải bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Về vấn
đề này, chúng tôi sẽ đề cập ở các chương sau
QLNN đối với tôn giáo có một số phương pháp chủ yếu được áp dụngnhư: Phương pháp giáo dục, thuyết phục,phương pháp hành chính, phươngpháp kinh tế, phương pháp cưỡng chế và phương pháp tổng hợp
Như vậy, QLNN đối với tôn giáo là tất yếu, không chỉ ở nước ta màcòn đối với các nước khác Tuy nhiên, về mục đích, nội dung cụ thể của
Trang 31QLNN về tôn giáo cũng khác nhau qua mỗi giai đoạn Vậy, chủ thể quản lýcần nắm vững quan điểm lịch sử cụ thể để công tác này có hiệu quả, hiệu lựccao nhất.
1.2 TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở BẮC NINH
1.2.1 Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổsông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội Phía Bắc Bắc Ninh giáp tỉnh BắcGiang, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội, phía Đông giáptỉnh Hải Dương và phía Tây giáp thủ đô Hà Nội Bắc Ninh có nhiều thuận lợicho sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực xã hội và cũng là địa bàn mởrộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia côngcho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.Bắc Ninh còn là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc,trên đường bộ giao lưu chính với Trung Quốc và có vị trí quan trọng đối với
Về đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Bắc Ninh
Trong những năm, qua kinh tế Bắc Ninh có những bước phát triển đáng
kể cả về quy mô và chất lượng Đặc biệt hệ thống 61 làng nghề truyền thốngnhư: đúc đồng (Đại Bái, Gia Bình), sắt thép (Đa Hội - Từ Sơn), gỗ mỹ nghệ(Đồng Kỵ, Phù Khê - Từ Sơn), đã và đang góp phần không nhỏ cho sự phát
Trang 32triển của Bắc Ninh Những năm qua, cùng với một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ,Bắc Ninh đã đẩy mạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài, hội nhập kinh tế quốc
tế Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 15 khu công nghiệp, với 10 khu đã đi vàohoạt động, với 496 dự án đầu tư, trong đó 231 dự án đầu tư nước ngoài của 8quốc gia và các vùng lãnh thổ (Nhật Bản 37, Hàn Quốc 68, singapore 9, ĐàiLoan 22, Trung quốc 13 ) Tổng số CNVCLĐ tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay là132.650 người, trong đó khối khu vực ngoài quốc doanh 89.508 người, khuvực có vốn đầu tư nước ngoài 18.410 người, khu vực hành chính sự nghiệp23.583 người Tính đến tháng 5/2011, có 241 doanh nghiệp đi vào hoạt độngthu hút 62.827 lao động, trong đó người Bắc Ninh là 29.849 người chiếm47,5%, còn lại là lao động ngoại tỉnh Tình hình đó đã làm biến đổi cơ bản bộmặt của một tỉnh vốn có nền kinh tế nông nghiệp là chính, chuyển sang nềnkinh tế công nghiệp theo hướng hiện đại
Ở Bắc Ninh, nét tự hào về một nền văn hoá truyền thống không chỉ lànhững giá trị văn hoá phi vật thể, mà còn lưu giữ được hàng loạt địa danh gắnliền với di tích lịch sử - văn hoá và con người Kinh Bắc Những nơi đó, bêncạnh giá trị văn hoá, khoa học, lịch sử đáng trân trọng, thì còn là các điểmđang ngày càng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước tới tham quan du lịch
Nguồn nhân lực của Bắc Ninh khá dồi dào, với dân số hiện nay trên 1triệu người Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính, với 126 xã, phường, thị trấn.Tình hình chính trị xã hội của tỉnh trong những năm qua cơ bản ổn định; tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá cao, bình quân đạt 15,1% năm; đời sống của nhândân nói chung, đồng bào có tôn giáo nói riêng, từng bước được cải thiện; quốcphòng an ninh được củng cố vững chắc Số người trong độ tuổi lao động là484.900 người (chiếm 50.5%), trong đó số qua đào tạo chiếm 18% Trình độ
Trang 33dân trí của người dân Bắc Ninh cao, hàng năm có 30% - 40% học sinh phổthông thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.
Bắc Ninh vốn tự hào là quê hương của chùa tháp, đền đài, của lễ hội vàsinh hoạt văn hoá dân gian nổi tiếng Nét nổi bật trong truyền thống văn hiếncủa người Kinh Bắc là truyền thống hiếu học và khoa bảng Suốt hơn 800năm khoa cử chữ Hán dưới thời phong kiến, Bắc Ninh đã sản sinh ra hơn 600
vị tiến sỹ Trong đó, nhiều vị đã trở thành các nhân vật lịch sử, danh nhân vănhoá của đất nước, dân tộc, như Lê Văn Thịnh, Nguyễn Gia Thiều, Dương Tử
Do, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Cao, Họ không chỉ lànhững nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, mà còn là những nhà văn, nhà thơtiêu biểu cho nền văn hiến Kinh Bắc nói riêng và của Việt Nam nói chung
1.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
1.2.2.1 Tình hình tôn giáo nói chung
Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có 2 tôn giáo chính, là Công giáo và Phậtgiáo, với 275 chức sắc, 632 cơ sở thờ tự, với 12.908 tín đồ, chiếm khoảng11,28% dân cư tỉnh Nhưng mấy năm gần đây, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiệnthêm một tôn giáo nữa, đó là đạo Tin Lành và mặc dù tín đồ chưa đông (gần
100 người), nhưng xu hướng phát triển tới đây chắc chắn sẽ rất mạnh
So với cả nước, các tôn giáo ở Bắc Ninh chiếm tỷ lệ nhỏ về số lượngquy mô tín đồ, chức sắc Song từ phương diện tầm vai trò, địa tôn giáo thì BắcNinh từ hơn một ngàn năm trước đây đã được thừa nhận là cái nôi, trung tâmPhật giáo của Việt Nam Còn với đạo Công giáo, Bắc Ninh cũng là trung tâmđầu não của Giáo phận Bắc Ninh, với Toà Giám mục nằm giữa TP Bắc Ninh,cai quản địa bàn giáo dân ở 10 tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ
Trang 34Hoạt động của các tôn giáo ở Bắc Ninh trong những năm qua cơ bản là
ổn định, sinh hoạt tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của tín đồ, chứcsắc diễn ra bình thường Đại bộ phận chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôngiáo trong tỉnh an tâm và tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo
và phấn khởi trước những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
và của đất nước Tín đồ, chức sắc tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hộilàm giàu cho gia đình, quê hương, đồng thời tham gia thường xuyên các hoạtđộng từ thiện, nhân đạo, xây dựng gia đình văn hoá ở khu dân cư, “sống tốtđời, đẹp đạo” và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương
Tuy nhiên, tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở tỉnh Bắc Ninh thời gian quacũng nổi lên một số vấn đề cần quan tâm từ phương diện QLNN Đó là: hoạtđộng mê tín, dị đoan ở một số lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo còn xảy ra; một sốhoạt động tại cơ sở thờ tự của tôn giáo chưa tuân thủ các quy định của Pháplệnh tín ngưỡng, tôn giáo, của Luật di sản và các quy định khác của TW vàđịa phương Trong xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, một số chức sắc tự ý huyđộng giáo dân triển khai khi hồ sơ xin phép còn thiếu, hoặc chưa được sựđồng ý của các cấp có thẩm quyền
Trong đạo Phật, việc cư trú, trụ trì của nhiều vị tăng ni tại các cơ sở thờ
tự chưa hợp pháp, gây khó khăn cho công tác QLNN Việc khiếu kiện đòi lạiđất đai, cơ sở cũ của các giáo hội còn tiềm ẩn dấu hiệu phức tạp Đặc biệt,hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép và các đạo lạ trên địa bàn tỉnh đã vàđang diễn ra vừa công khai, vừa âm ỉ, rất khó kiểm soát từ phương diện côngtác tôn giáo của các cơ quan chức năng
1.2.2.2 Tình hình, đặc điểm một số tôn giáo trên địa bàn
- Về đạo Phật ở Bắc Ninh
Trang 35Bắc Ninh là địa bàn đầu tiên - sớm nhất của nước ta mà Phật giáo dunhập vào Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN, tại Ấn Độ và đến thế kỷthứ III TCN, dưới thời Asoka (Adục), Phật giáo phát triển rất mạnh, nhiềutăng sĩ đi sang các nước truyền đạo Theo một số nhà khảo cổ học, chính tạithời kỳ này Phật giáo đã có mặt ở vùng Đồ Sơn (Hải Phòng), có điều, ý kiếnnày chưa có căn cứ vững chắc.
Theo một số thư tịch cổ, như: Hậu Hán thư, Tuỳ thư, Lý hoặc luận, kinh Tứ thập nhị chương,… thì cuối thế kỷ II SCN, Phật giáo đã du nhập trực
tiếp từ Ấn Độ vào nước ta Nơi tiếp nhận Phật giáo đầu tiên là vùng Luy Lâu(còn gọi là Liên Lâu hay Doanh Lâu), nay là vùng Dâu, huyện Thuận Thành,Bắc Ninh
Các nhà nghiên cứu, như Nguyễn Quang Khải, nguyên Trưởng ban Tôngiáo tỉnh Bắc Ninh, đã cho rằng, sở dĩ Phật giáo được du nhập đầu tiên vàovùng Dâu, Thuận Thành, là do nơi đây có một số điều kiện thuận lợi Đó là:
Về mặt giao thông, vùng Luy Lâu có con sông Dâu (nay đã chết) là mộtchi lưu của sông Cái (sông Hồng), vừa sâu vừa rộng, đổ nước ra biển Đông.Lòng sông không có ghềnh thác, không có bãi cát nổi, nên rất thuận tiện choviệc đi lại của thuyền bè
Về mặt kinh tế- xã hội, thời kỳ đó Luy Lâu là thủ phủ của đế chế Hán,nên có mật độ dân cư đông đúc, buôn bán rất nhộn nhịp Mặt khác, ngườiđứng đầu xứ Giao châu thời ấy là Sỹ Nhiếp, là một trí thức thông hiểu sâu sắc
cả Nho, Lão và rất có cảm tình với đạo Phật Sách Hậu Hán thư chép rằng:
“mỗi khi vương- chỉ Sỹ Nhiếp- ra khỏi thành, có đến hàng chục người Hồ đitheo” (người Hồ tức là các tăng sĩ Ấn Độ)
Trang 36Về mặt tín ngưỡng dân gian, ở vùng Dâu là tín ngưỡng của cư dânnông nghiệp, vốn coi trọng thờ các nhiên thần, như thần Mây, thần Mưa, thầnSấm, thần Chớp, thần thổ công, thổ địa Họ cũng thờ ông bà tổ tiên…và có cảtín ngưỡng thờ đá, tín ngưỡng phồn thực,… Những tín ngưỡng này rất phùhợp với tín ngưỡng thờ cúng của đạo Phật.
Với những điều kiện thuận lợi như vậy nên các tăng sĩ Ấn Độ, trênđường đi hoằng dương Phật pháp đã thấy Luy Lâu là nơi đất lành để có thểthực hiện được sứ mệnh truyền giáo của mình
Phật giáo Bắc Ninh hiện nay có một số đặc điểm như sau:
Về tình hình tăng ni, theo thống kê năm 2008, cả tỉnh có 221 tăng ni,
(kể cả một số chưa có đầy đủ thủ tục hành chính) Trong đó, huyện Từ Sơn(nay là thị xã Từ Sơn) có 29 người, huyện Tiên Du có 28, huyện Yên Phong
có 30, huyện Gia Bình có 21, huyện Thuận Thành có 27, huyện Lương Tài có
15, huyện Quế Võ có 13 và TP Bắc Ninh có 58 người Nếu phân loại họ theocác tiêu chí đạo - đời thì: Có 01 Hòa thượng, 2 Ni trưởng (1 vị mới viên tịch),
19 Ni sư, 15 Đại đức, 89 Tỷ khưu ni, 21 Sa di ni, còn lại là hình đồng
Hiện nay có 1 vị là đại biểu HĐND tỉnh, 4 vị là đại biểu HĐND huyện,thị xã, 7 vị là đại biểu HĐND xã; 1 vị là thành viên Uỷ ban MTTQ Việt Namtỉnh, 8 vị là thành viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam huyện Có 4 người là đảngviên Đảng CSVN (2 nam, 2 nữ; 2 chính thức, 1 dự bị, 1 không sinh hoạt)
Về trình độ Phật học, 12 vị có bằng Cao cấp Phật học, 51 vị có trình độTrung cấp, 50 vị có trình độ Cơ bản Phật học Trong số này, có 12 vị học ởTrường Cao cấp Phật học Quán Sứ, Hà Nội, 15 vị tốt nghiệp trường Phật học
Trang 37TP Hồ Chí Minh, một số học ở trường Trung cấp Phật học Hà Nội, 31 ngườitốt nghiệp Trường trung cấp Phật học Bắc Ninh.
Về nguồn gốc xuất thân, đa số tăng ni ở tỉnh Bắc Ninh xuất thân từnông dân; có 4 người là công nhân viên chức nhà nước; 5 người trước khi đi
tu đã tham gia quân đội và 1 người xuất thân là sinh viên đại học
Tình hình tổ chức của Phật giáo Bắc Ninh, năm 2001, Trường Trung
cấp Phật học được thành lập, đào tạo tăng ni của tỉnh đạt trình độ Trung cấpPhật học Phần giảng dạy nội điển đều do các vị Hòa thượng và Đại đức trongTỉnh hội Phật giáo đảm nhiệm; phần bổ túc kiến thức văn hóa và phần ngoạiđiển, nhà trường nhờ Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Quế Võ giúpđỡ
Tháng 9/2007, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Bắc Ninh lần thứ VI
đã suy cử Ban Trị sự gồm 27 vị, do Hoà thượng Thích Thanh Sam làmTrưởng ban Ban Trị sự đã suy cử ra Ban Thường trực, gồm 13 vị và thànhlập các ban chuyên môn theo qui định của Hiến chương Giáo hội Phật giáoViệt Nam1 Các huyện, thị xã đều có Ban Đại diện Phật giáo gồm có 3 thànhviên, Trưởng Ban là ủy viên Ban Trị sự Phật giáo tỉnh
Hiện nay Tỉnh hội Phật giáo Bắc Ninh có 1 vị được suy cử làm PhóPháp Chủ, kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh Trung ương GHPGViệt Nam; 01 vị trong Hội đồng Trị sự Trung ương GHPG Việt Nam; 1 vị là
Uỷ viên Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, đại biểu HĐND tỉnh; 01 vịĐại đức tham gia Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; 05 tham gia đại biểuHĐND cấp huyện, thành phố; 03 vị tham gia HĐND cấp xã, phường, thị trấn
và một số là thành viên Uỷ ban MTTQ các cấp huyện, xã
chính, Ban Quan hệ Quốc tế, Ban Nghi lễ, Ban Từ thiện xã hội, Văn phòng.
Trang 38Về cơ sở thờ tự, tính đến năm 2008, cả tỉnh Bắc Ninh có 581 ngôi chùa,
trong đó có 53 chùa được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia, 25 chùa là
di tích lịch sử cấp tỉnh Các chùa phân bổ, ở huyện Lương Tài 95 chùa, huyệnGia Bình 88, huyện Thuận Thành 83, huyện Tiên Du 62, thị xã Từ Sơn 44,huyện Yên Phong 66, huyện Quế Võ 77, TP.Bắc Ninh có 66 ngôi chùa
Những ngôi chùa ở Bắc Ninh có đặc điểm là quy mô rất to lớn, cổ kính
và kiến trúc tạo tác rất công phu, tài nghệ, như chùa Dâu, chùa Phật Tích,chùa Dạm, chùa Bút Tháp, chùa Tiêu Sơn, Cổ Pháp, Đây là những côngtrình kiến trúc, điêu khắc có giá trị lịch sử và giá trị văn hóa vô giá của BắcNinh và của dân tộc Việt Nam, xứng danh là những danh lam cổ tự nổi tiếng,những di sản kiến trúc tiêu biểu của dân tộc, rất cần được bảo quản trùng tu,tôn tạo
Có thể nói, Phật giáo ở Bắc Ninh từ xưa đến nay đã phát huy đượctruyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc Chức sắc, nhà tu hành và Phật tửBắc Ninh luôn tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,
thực hiện phương châm hành đạo “Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội”.
- Tình hình đạo Công giáo ở Bắc Ninh
Thời điểm xuất hiện đạo Công giáo ở Bắc Ninh, theo tư liệu của Tòa
Giám mục Bắc Ninh và của giáo xứ Tử Nê, đã có từ thời kỳ 1716- 1720 (thờichúa An Đô vương Trịnh Cương và vua Lê Dụ tông) Nơi xuất hiện các giáo
sỹ Công giáo đầu tiên là làng Tử Nê, xã Tân Lãng, huyện Lương Tài Ngườitruyền đạo Công giáo đầu tiên vào vùng này là giáo sĩ Giuong Messari, thuộcdòng Thừa sai, người Bồ Đào Nha Sở dĩ đạo Công giáo được truyền vào Tử
Nê đầu tiên, vì các giáo sĩ nhận thấy Tử Nê có vị trí nằm cạnh sông BáiGiang, một đường giao thông thủy rất thuận lợi cho việc đi lại; nhân dân lại
Trang 39có đời sống kinh tế trù phú; người dân có nếp sống hòa mục, giàu lòng nhânái,…
Đến năm 1826, đạo Công giáo phát triển sang làng Hương La, NgọcCục, Bái Giang (xã Tân Lãng) và Dị sử (nay là thôn Phượng Giáo, thuộc thịtrấn Thứa) Năm 1880, đạo Công giáo phát triển lên làng Ngăm Điền (xãLãng Ngâm, huyện Gia Bình), rồi từ đây phát triển sang làng Cứu Sơn (xãĐông Cứu) và Cổ Thiết (xã Giang Sơn) Năm 1882, đạo Công giáo phát triểnđến làng Bùi Sải (tức Lai Tê), làng Nghĩa La, xã Trung Chính, làng Bùi Xá(tức Thọ Ninh xã Phú Lương) Năm 1884, các thôn: Quỳnh Bội, Thủ Pháp,Ngô Thôn, Tháp Dương, Thanh Hà, Văn Thanh, Bình Giang đã lác đác cóngười theo đạo
Tại các làng ở khu vực Bắc Đuống, đạo Công giáo cũng được truyềnvào sớm Năm 1802, đã có giáo sĩ nước ngoài đến làng Xuân Hòa (xã ĐạiXuân, Quế Võ) truyền đạo và từ đây dần phát triển ra các vùng lân cận Năm
1869, giáo sĩ phương Tây đến làng Dũng Vi (xã Tri Phương huyện Tiên Du).Năm 1880, các nhà truyền giáo đã vào các làng Thị Cầu, Đáp Cầu, trung tâmthị xã Năm 1894, làng Ngô Khê (xã Phong Khê, Yên Phong) bắt đầu cóngười theo đạo
Thời kỳ này, các giáo sĩ rất tích cực truyền giáo và người đi đầu là Giámmục Colomer Lễ Trong bức thư viết năm 1889, Giám mục Lễ đã cho biếtthực tế: “Nhờ ơn Chúa, địa phận trở nên rất thịnh vượng Người xin theo đạođông lắm Có nhiều làng xin trở lại hết Trước năm 1884, tại tỉnh lỵ Bắc Ninhchỉ có một gia đình có đạo, mà bây giờ đã được 300 giáo dân rồi…”[68, tr,9]
Tình hình Công giáo Bắc Ninh hiện nay
Trang 40Tỉnh Bắc Ninh có Toà Giám mục Bắc Ninh Giáo phận Bắc Ninh nằmtrên địa bàn 5 tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc;
4 huyện thuộc thủ đô Hà Nội và một số xã, huyện thuộc các tỉnh: Lạng Sơn,Tuyên Quang, Hà Giang, Phú Thọ, Hưng Yên và Hải Dương Giáo phận trảirộng trên diện tích 24.600 km2, với tổng dân số gần 9 triệu người, trong đó có
khoảng 125.000 tín hữu, chiếm tỷ lệ 1,38 % dân số, với 336 giáo họ Trên địa
bàn giáo phận, miền thượng du có một số đồng bào dân tộc ít người cũng theođạo
Ngày 07/10/2008, giám mục Cosma Hoàng Văn Đạt được phong chứcGiám mục chính tòa Tổng số linh mục của giáo phận là 58, riêng địa bàn tỉnhBắc Ninh, đến đầu năm 2011, có 1 giám mục và 20 linh mục
Tình hình giáo hạt, giáo xứ, giáo họ Ở Bắc Ninh hiện nay đạo Công
giáo tổ chức thành 2 giáo hạt: Nam Đuống và Bắc Đuống, với 6 giáo xứ và 34giáo họ Các giáo xứ là: Tử Nê, (gồm các giáo họ: Phượng giáo, Hương La,Ngọc Cục, Bái Giang, Khương Tự, Ngọc Khám, Ngô Thôn, Cứu Sơn, TânCương); Lai Tê (giáo họ: Thọ Ninh, Nghĩa La); Xuân Hòa (giáo họ: XuânBình, Phượng Mao, Trại Phán, Trại Hà, Trại Đường, Xuân Thủy, Bất Phí,Kim Chân); Phong Cốc (giáo họ: Kiều Lương, Xuân Thủy, Mao Trung, Guột,Quảng Lãm, Phố Mới, Từ Phong); TP Bắc Ninh (giáo họ: Thị - Đáp Cầu,Thanh Sơn, Nam Viên, Văn Trung, Ngô Khê, Đồng Nhân, Nguyệt Cầu,Trung Nghĩa) và giáo xứ Cẩm Giang (giáo họ: Dũng Vi, Vĩnh Phú, ĐồngLạng, Trà Sơn)
Tình hình các ban hành giáo và các hội đoàn Bắc Ninh hiện có 6 BHG
xứ và 34 BHG họ, với 157 thành viên (109 nam, 48 nữ) Trong đó, các huyệnLương Tài có 45, Quế Võ có 37, Tiên Du có 27, Yên Phong có 10, Gia Bình