1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan niệm về con người, xã hội trong các trào lưu triết học điển hình của lịch sử thế giới

14 617 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 92,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các trào lưu triết học khác nhau lại đưa ra những quan niệm khác nhau về vấn đề con người, và do đó có các cách giải thích khác nhau về bản chất con người, vai trò của con người trong th

Trang 1

Lời nói đầu

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại Các trào lưu triết học khác nhau lại đưa ra những quan niệm khác nhau về vấn đề con người, và do đó có các cách giải thích khác nhau về bản chất con người, vai trò của con người trong thế giới và mối quan hệ giữa con người và xã hội Trong tiểu luận này, em xin được trình bày mét sè quan niệm về con người, xã hội trong các trào lưu triết học điển hình của lịch sử thế giới, gồm:

- Phần 1: Quan niệm về con người, xã hội trong triết học Ên Đé cổ đại

- Phần 2: Quan niệm về con người, xã hội trong triết học Trung Quốc cổ đại

- Phần 3: Quan niệm về con người, xã hội trong triết học Hy Lạp cổ đại

- Phần 4: Quan niệm về con người, xã hội trong triết học cồ điển Đức

- Phần 5: Quan niệm về con người, xã hội trong triết học Mác-Lênin

Sinh viên Đỗ Thị Ngọc Diệp

Trang 2

Phần 1: Quan niệm về con người, xã hội trong triết

học Ên Đé cổ đại

Trào lưu triết học đầu tiên ta xem xét ở đây là triết học Ên Đé cổ đại Trong triết học Ên Đé cổ đại, có những trường phái cho rằng con người gồm hai phần: hồn và xác Phần xác có thể bị hủy diệt, còn phần hồn là tồn tại vĩnh viễn, tùy theo nghiệp hay

do tu luyện, do làm điều thiện hay ác mà hồn có thể trở về với cõi “vĩnh hằng” hoặc di chuyển sang thân xác khác, gọi là luân hồi Ngược lại, có những trường phái triết học cho rằng linh hồn là nảy sinh từ vật chất, liên quan đến thể xác con người Linh hồn, ý thức của con người sẽ mất đi khi người ta chết

Tư tưởng triết học Ấn Đé cổ đại được hình thành từ cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên Người ta chia lịch sử phát sinh và phát triển của triết học Ên Đé cổ đại ra thành hai thời kỳ, thời kỳ thứ nhất là thời kỳ Veda (khoảng từ cuối thiên niên kỷ II đến thế kỷ VII trước C.N) và thời kỳ thứ hai là thời kỳ Cổ điển, hay thời kỳ Phật giáo, Balamôn giáo (từ thế kỷ VI đến thế kỷ I trước C.N)

Trong thời kỳ Veda, các tác phẩm chủ yếu thể hiển quan điểm triết học gồm thánh kinh Veda, kinh Upanishad, và hai cuốn sử thi Râmâyana và Mahacharata

Thánh kinh Veda là bộ kinh cổ nhất của Ên Đé và của cả nhân loại Tư tưởng chủ đạo về con người trong kinh Veda là do các thần linh sinh ra Theo thánh kinh Rig-Veda, vũ trụ và vạn vật kể cả con người là do “Thần chủ tể sáng tạo” Brahmannaspati tạo ra Theo kinh Brahmana gọi “Đấng sáng tạo” là Prajâpati Hay theo bài thánh ca “Vis Vakarmab” Hoàng kim thái tử là người tạo ra vạn vật Trong một bài thánh ca khác lại đưa ra quan niệm về sự sản sinh ra vạn vật muôn loài trong

vũ trụ bằng một “Đấng nguyên nhân”, được coi là con người nguyên thủ, đầu tiên Purusha Purusha sinh ra con người từ các bộ phận trên cơ thể mình Từ miệng Ngài sinh ra dòng dõi Bàlamôn, từ tay Ngài sinh ra dòng dõi võ sĩ, vương công, từ hai bắp đùi Ngài sinh ra thứ dân và từ hai bàn chân Ngài sinh ra nô lệ1

1 PGS Vò Ngäc Pha(1994), TriÕt häc dïng cho nghiªn cøu sinh vµ häc viªn cao häc kh«ng thuéc chuyªn ngµnh

Trang 3

Upanishad là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh Veda Xu hướng chính của Upanishad là biện hộ cho học thuyết duy tâm, tôn giáo trong kinh Veda về cái gọi là “Tinh thần sáng tạo tối cao” sáng tạo và chi phối thế giới này Theo Upanishad, linh hồn con người chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phận của “tinh thần tối cao” Cơ thể, nhục thể chỉ là cái vỏ bộ của linh hồn, là nơi trú ngụ của linh hồn, hiện thân của “tinh thần tối cao”

Trong cuốn sử thi cổ Râmâyana, tư tưởng chủ yếu là ý nghĩa triết lý đạo đức nhân sinh trong quan niệm về con người, xã hội và bổn phận tự nhiên của con người Con người không phải là cái gì tuyệt đối, đơn điệu mà luôn chứa đựng những mâu thuẫn, có phần cao thượng, có cái thiện nhưng cũng có phần thấp hèn, có cái ác nhưng luôn giằng co, đun đẩy nhau

Đến thời kỳ của Phật giáo và Bàlamôn giáo, xã hội nô lệ Ên Độ đã phát triển cao với sự nghiệp thống nhất và hưng thịnh đất nước Ên Độ Nổi bật nhất trong thời kỳ này là trường phái triết học Phật giáo Phật giáo là trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước C.N ở miền bắc Ên Độ Khác với quan điểm của kinh Veda, Upanishad v.v, đạo Phật cho rằng vũ trụ là vô thủy vô chung, vạn vật trên thế giới chỉ là dòng biến hóa vô thường vô đinh, không do một vị thần nào sáng tạo nên

cả Tất cả các sự vật hiện tượng tồn tại trong vũ trụ, theo tư tưởng Phật giáo, từ cái nhỏ đến cái lớn đều không thoát ra khỏi sự chi phối của luật nhân duyên Con người còng

do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai thành phần là thể xác và tinh thần Cái tôi sinh lý, tức thể xác gọi là Sắc, gồm địa, thủy, hỏa, phong, tức là cái có thể cảm giác được Cái tôi tâm lý, tinh thần, tức là cái tâm gọi là Danh, gồm bốn yếu tố thụ, tưởng, hành, thức Các yếu tố này luôn biến hóa theo quy luật nhân quả không ngừng, nên vạn vật, con người cứ biến hóa, vụt mất, vụt còn, không có sự vật riêng biệt tồn tại mãi mãi, không có cái tôi thường định Con người cứ khát ái, tham dục, gây ra nghiệp báo mắc vào bể khổ triền miên không dứt Đã mắc vào sự chi phối của luật nhân duyên là chịu nghiệp báo và kiếp luân hồi Đó là cách lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người trong đạo Phật

Trang 4

Về mặt xã hội, đạo Phật là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt,

tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, nêu lên ước vọng giải phóng con người khỏi nỗi bi kịch của cuộc đời, khuyên người ta sống đạo đức, từ bi bác ái

Triết học Ên Độ cổ đại là một nền triết học có néi dung tư tưởng và hình thức

đa dạng, phản ánh sâu sắc tính chất sinh hoạt xã hội Ên Độ thời kỳ cổ đại Do có những quan niệm khác nhau về con người, nên trong các trường phái triết học Ên Độ cũng có những quan niệm khác nhau về ý nghĩa của cuộc sống và vai trò của con người trong thế giới Nó là triết học của đời sống, là triết lý đạo đức nhân sinh rất thâm trầm và sâu sắc

Phần 2: Quan niệm về con người, xã hội trong triết

học Trung Quốc cổ đại

Phương Đông có thể coi là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại, ngoài Ên Độ, Trung Quốc cũng là một trung tâm văn hóa và triết học cổ xưa, rùc rỡ và phong phó

Triết học Trung Hoa rất chú ý đến vấn đề con người, nhiều vấn đề ngoài con người có được đề cập tới nhưng cuối cùng cũng chỉ để giải quyết vấn đề con người trong các mối quan hệ gia đình và xã hội Một sè quan niệm có tính chất duy vật cho rằng, con người là sản phẩm của sự vận động, phát triển của các yếu tố có tính vật chất như quan niệm "ngò hành", "âm dương", hay coi con người là một bộ phận của sự phát triển của cái gọi là "đạo" hay "tự nhiên" Trong các quan niệm này, "tính người" được hiểu là những phẩm chất, năng lực, ý thức, tư tưởng, v.v là cái có sẵn, do trời phú Tính người có tính bản thiện, tính bản ác, v.v Còng có nhà triết học cho rằng tính người không thiện, không ác, vốn dĩ giống nhau và do "tập, nhiễm" mà thành thiện hay

ác

Trong số các trường phái triết học Trung Quốc, Nho gia có thể coi là một trong

số những trường phái lớn và chính thống Nho gia được sáng lập bởi Khổng Tử

(551-479 trước C.N) Ông đã hệ thống hóa những tri thức, tư tưởng đời trước và quan điểm

Trang 5

của mình thành học thuyết đạo đức chính trị nổi tiếng gọi là Nho giáo Quan niệm về con người được ông đề cập đến qua chữ “Nhân”, với ý nghĩa sâu rộng nhất Theo ông, con người là kết quả bẩm thụ tinh khí của âm dương, trời đất mà sinh thành, tuân theo

“thiên lý”, hợp với đạo “trung hòa”, đạo sống của con người là phải “trung dung”,

“trung thứ”, nghĩa là sống đúng với mình và sống phải với mọi người, đó chính là chữ

“nhân” Tuy vậy, vì hạn chế của điều kiện lịch sử và sự ràng buộc của lợi Ých giai cấp, ông luôn phân biệt rõ sự đối lập giữa hai hạng người trong xã hội, đó là kẻ “quân tử”

và “tiểu nhân” Ông khẳng định rằng có thể có người quân tử bất nhân, nhưng không

hề có người tiểu nhân có nhân Nhân là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người Đức “nhân” theo Khổng Tử, có thể yên lặng, vững chãi như núi, bao nhiêu đức tính khác đều bởi đó mà sinh ra Con người có phẩm chất chất phát, tình cảm chân thực, là điều kiện cần thiết để trau dồi đức “nhân”, còn những kẻ thích trau chuốt, hình thức, ăn nói khéo léo là Ýt đức “nhân” Người muốn đạt đức “nhân” theo Khổng Tử phải là người có “trí” và “dũng” Ông nói “Kẻ nhân tất hữu dũng, nhưng người dũng chưa chắc có nhân”1 Nhờ có trí, con người có sự sáng suốt, minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xét đoán được sự việc, phân biệt được phải trái, thiện ác Người dũng không phải là kẻ ỷ vào sức mạnh, vì lợi mà suy nghĩ và hành động bất chấp đạo lý Người nhân có dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa

Về vấn đề xã hội, Khổng Tử đưa ra học thuyết “nhân trị” và “chính danh định phận”, đó là hoài bão, ý nguyện kinh bang tế thế gần như suốt đời của ông Khổng tử phản đối việc nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân, mà chủ trương “nhân trị” Muốn ổn định xã hội, thì phải chủ trương giáo hóa đạo đức, thực hiện “chính danh, định phận” Theo ông mỗi người sinh ra đều có một địa vị, công dụng nhất định Ứng với mỗi một địa vị là một “danh” nhất định Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người Êy, trên dưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh Đó là một nước thịnh trị, lễ nghĩa, nhân, đức, danh phận vẹn toàn

Bên cạnh Khổng Tử, những nhà tư tưởng khác của Trung Quốc cũng đưa ra những quan điểm của mình về con người và xã hội

1 PGS Vò Ngäc Pha(1994), TriÕt häc dïng cho nghiªn cøu sinh vµ häc viªn cao häc kh«ng thuéc chuyªn ngµnh triÕt häc tËp 1, Nxb ChÝnh trÞ Quèc gia, tr90

Trang 6

Mạnh Tử (372-289 trước C.N) cho rằng bản tính con người ta là thiện, còn nh người ta có làm những điều bất thiện, chẳng qua là họ theo tự dục của mình, chứ không phải bản tính con người ta là nh vậy Về mặt xã hội, Mạnh Tử cho rằng chính quyền là do Trời ban cho và thông qua vua chóa hiền minh để thực hiện ý chí của Trời

Tuân Tử (315-230 trước C.N) là người theo học thuyết của Khổng Tử, nhưng lại tương phản với Khổng Tử và Mạnh Tử cả về thế giới quan còng nh về triết lý đạo đức, chính trị Về quan niệm con người, Tuân Tử khẳng định, Trời không thể quyết định được vận mệnh của con người Việc trị hay loạn, lành hay dữ là do con người làm

ra chứ không phải tại Trời Đây là tư tưởng biểu hiện rõ nét tính chất duy vật và vô thần trong triết học của ông Ông cho rằng, Trời có thiên chức của Trời, người có thiên chức của người Người quân tử, bậc chí nhân là người hiểu đạo Trời, không ỷ lại ở Trời, không phụ thuộc vào Trời mà lo làm tốt việc của con người Dùa trên quan điểm

Êy, ông còn đưa ra học thuyết con người có thể cải tạo được tự nhiên, cho rằng con người không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị động, phải vận dụng tài trí, khả năng của mình, dùa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra nhiều của cải, sản vật để phục vụ cho đời sống con người Thêm một điểm nữa, ông coi tri giác và ý thức là đặc điểm của con người, qua đó ông phủ nhận quan niệm vạn vật đều có linh hồn Ông còn cho rằng hiện tượng tinh thần của con người là dùa vào cơ thể con người, hình thể con người có trước, sau đó mới sinh ra ý thức và tình cảm Trong quan điểm về nguồn gốc của chế độ xã hội, Tuân Tử chỉ ra rằng, con người khác động vật ở chỗ có tổ chức xã hội và có sinh hoạt xã hội theo tập thể, và đó là vì lý do sinh tồn

Vấn đề vai trò của con người đã được các nhà triết học Trung Hoa cổ đại đề cập khá nhiều Điều đặc biệt lưu ý ở đây là, trong những biến đổi sâu sắc của đời sống xã hội đương thời, một số nhà triết học đã thấy được vai trò to lớn của con người, của xã hội Nhưng do sự phát triển trì trệ của xã hội Trung Hoa và do hạn chế lịch sử của chính các nhà triết học mà cuối cùng hầu hết họ đều có quan niệm về tính chất đẳng cấp, định mệnh trong vấn đề con người

Trang 7

Phần 3: Quan niệm về con người, xã hội trong triết

học Hy Lạp cổ đại

Hy Lạp cổ đại là một vùng đất rộng lớn bao gồm miền nam bán đảo Ban-căng thuộc Châu Âu và nhiều hòn đảo ở biển Ê-giê và cả miền ven biển của bán đảo Tiểu

Á Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển vào thế kỷ thứ VI trước C.N Cơ sở kinh tế của nền triết học đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người nô lệ Những nhà tư tưởng lớn của triết học cổ đại có thể kể tới gồm Hêracrit, Đêmôcrit, Platôn, Arixtốt v.v

Hêracrit (520-460 trước C.N) là nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy lạp cổ đại, xuất thân từ tầng líp chủ nô quý téc nhưng bản thân sống rất nghèo khổ và đơn độc Theo ông, lửa chính là nguồn gốc sinh ra rất thảy mọi sự vật Linh hồn con người, theo ông cũng chỉ là một biểu hiện của lửa Boiử vì do trong con người, ngoài lửa ra còn có cả những chỗ Èm ướt nên mới sinh ra người tốt, người xấu Linh hồn con người là sự thống nhất của hai mặt đối lập: cái Èm ướt và lửa1

Đêmôcrit (460-370 trước C.N) là đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật

Hy Lạp cổ đại Chủ nghĩa duy vật của Đêmôcrit là thế giới quan của bộ phận giai cấp chủ nô dân chủ tiến bộ Về con người, Đêmôcrit phê phán quan niệm cho rằng sự sống

do thần thánh sinh ra Theo ông, sự sống là kết quả của quá trình biến đổi của bản thân

tự nhiên, được phát sinh từ những vật thể Èm ướt, dưới tác động của nhiệt độ Nước và bùn là hai môi trường nảy sinh sự sống, làm xuất hiện sinh vật và con người Sinh vật đầu tiên xuất hiện dưới nước, rồi đến trên bờ Trải qua quá trình biến đổi lâu dài từ sinh vật không tay, không chân, đến những sinh vật bốn chân, hai chân, có tay có mắt, rồi đến con người Sinh vật thì có linh hồn, còng nh con người có linh hồn Linh hồn

1 Chñ biªn GS, TS NguyÔn H÷u Vui, GS, TS NguyÔn Ngäc Long(2002), Gi¸o tr×nh triÕt häc M¸c-Lªnin, Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, tr66

Trang 8

được cấu tạo từ một loại nguyên tử đặc biệt hình cầu, giống nguyên tử lửa Linh hồn là không bất tử

Triết học của Platôn (427-347 trước C.N) là chủ nghĩa duy tâm khách quan, thế giới quan của bộ phận giai cấp chủ nô quý téc phản động Vấn đề con người là tư tưởng cơ bản xuyên suốt toàn bộ học thuyết triết học của Platôn Theo ông, thể xác con người được cấu thành từ lửa, nước, không khí và đất, cho nên không bất diệt Còn linh hồn thì bất diệt, bởi vì linh hồn là sản phẩm của linh hồn vũ trụ được tạo ra từ lâu bởi Thượng đế Mỗi linh hồn trú ngụ ở một vì sao trên trời, rồi sau đó bay xuống trần gian và nhập vào thể xác tạo ra con người Khi nhập vào thể xác con người thì nó quên hết mọi quá khứ, vì thế nhận thức con người là sự hồi tưởng những gì mà linh hồn đã lãng quên

Arixtốt (384-322 tTrước C.N), triết học của ông phản ánh chế độ chiếm hữu nô

lệ Hy Lạp thời suy tàn Công lao lớn của Arixtốt là ở chỗ ông đã chống lại chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn Ông đã coi linh hồn phụ thuộc vào trạng thái cơ thể và không bất tử Không chỉ cơ thể con người, mà cả thực vật, động vật cũng có linh hồn Ông đã phê phán thuyết "hồi tưởng" của linh hồn về thế giới ý niệm của Platôn Ông coi cảm giác là cơ sở của nhận thức và ông chống lại việc tách rời nhận thức cảm tính với nhận thức lý tính Về mặt xã hội, ông cho rằng con người về bản chất là thuộc về nhà nước, hình thức giao tiếp cao nhất giữa con người Nhà nước phải đảm bảo cho mọi người (trừ nô lệ) sống hạnh phóc không chỉ về của cải vật chất mà còn được bảo đảm công lý

Phần 4: Quan niệm về con người, xã hội trong triết

học cồ điển Đức

Triết học cổ điển Đức đóng vai trò quan trọng đối với triết học thế giới Nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX vẫn là một nước rất lạc hậu về kinh tế và chính trị so với nhiều nước ở Châu Âu nh Anh và Pháp Do điều kiện kinh tế, chính trị

và xã hội hết sức đặc biệt của nước Đức trong giai đoạn này nên triết học cổ điển Đức

Trang 9

chứa đựng một nội dung cách mạng, nhưng hình thức của nó thì cực kỳ “rối rắm” và

có tính chất bảo thủ Một đặc điểm của triết học cổ điển Đức là đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học Trong số những đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức có Hê-ghen và Phơ-bách

Phép biện chứng duy tâm của Gioóc-giơ Vin-hem Phri-đrích Hê-ghen (1770-1831) là mét trong những hình thức cơ bản, là đỉnh cao trong sự phát triển của phép biện chứng trước Mác Quan điểm phát triển là tư tưởng cơ bản, xuyên suốt triết học của Hê-ghen Hê-ghen đã coi sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại dưới những tên gọi nh: "ý niệm tuyệt đối", "lý tính thế giới", "tinh thần thế giới" là bản nguyên của mọi hiện tượng trong giới tự nhiên và xã hội Theo Hê-ghen, con người là sản phẩm và là giai đoạn phát triển cao nhất của “ý niệm tuyệt đối” Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người chính là công cụ để tinh thần tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình, trở về chính bản thân mình

Lút-vích Phơ-bách (1804-1872) là đại diện vĩ đại cuối cùng của triết học cổ điển Đức Người có công lao to lớn đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật trong thời kỳ chuẩn bị cách mạng tư sản Đức (1848) Phơ-bách quan niệm con người như một thực thể sinh vật có cảm giác, biết tư duy, có ham muốn, có ước mơ, là một bộ phận của giới tự nhiên, và xét theo bản chất của nó là tình yêu thương Tuy nhiên ông đã không thấy được phương diện xã hội của con người Con người mà ông quan niệm là con người trừu tượng, bị tách khỏi những điều kiện kinh tế, xã hội và lịch sử Bởi vậy , khi Phơ-bách nghiên cứu những vấn đề

về đời sống xã hội, ông đã rơi vào quan điểm duy tâm, và bộc lé tính chất trừu tượng của cái gọi là con người “cụ thể” của ông

Phần 5: Quan niệm về con người, xã hội trong triết

học Mác-Lênin

Trang 10

Trong các trào lưu triết học kể trên, các nhà triết học coi con người hoặc là xuất phát từ nguồn gốc thần thánh (chủ nghĩa duy tâm) hoặc là một bộ phận và là sự thể hiện cao nhất của giới tự nhiên (chủ nghĩa duy vật siêu hình) Chỉ đến khi ra đời triết học Mác-Lênin, thì "bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội" và bản chất đó cũng biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội

Triết học Mác-Lênin không phải là một sản phẩm có tính chất chủ quan, đồng thời nó cũng không phải từ trên trời rơi xuống Triết học đó là sản phẩm tất yếu của lịch sử Triết học Mác-Lênin đã kế thừa có phê phán toàn bộ triết học trước đó nhất là triết học duy vật và phép biện chứng

Khi khẳng định bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội, triết học Mác-Lênin không tuyệt đối hoá mặt xã hội trong con người, mà cho rằng con người là thực thể thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội Cái sinh vật là toàn bộ các quá trình sinh vật diễn ra trong con người và cả cấu tạo giải phẫu của nó Còn cái xã hội là các phẩm chất xã hội của con người do các quan hệ xã hội tạo ra nh biết lao động, có ngôn ngữ, ý thức và tư duy

Với quan điểm nhất nguyên luận coi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, triết học Mác-Lênin đã khắc phục cả hai quan điểm sai lầm trong vấn đề con người hoặc là tự nhiên hoá (sinh vật hoá) con người, tức là tuyệt đối hoá cái sinh vật, không thấy vai trò quyết định là cái xã hội, hoặc là xã hội hoá giản đơn con người, tức là tuyệt đối hoá cái xã hội, không thấy được tiền đề tự nhiên, sinh vật trong con người

Cá nhân - cá thể người với tính cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức Cá nhân là một con người hoàn chỉnh trong sù thống nhất giữa khả năng riêng có của người đó với chức năng xã hội do người đó thực hiện Xã hội là sản phẩm của mối quan hệ giữa người với người

và nó được xác định trên bình diện rộng, hẹp khác nhau Nghĩa rộng là xã hội loài người (toàn nhân loại), nghĩa hẹp là những hệ thống xã hội như quốc gia, dân téc, giai cấp, chủng téc v.v

Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội là mối quan hệ biện chứng, mà nền tảng của mối quan hệ này là quan hệ lợi Ých Xã hội là điều kiện, là môi trường, là phương

Ngày đăng: 18/08/2015, 12:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w