luận văn về nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm da giày xuất khẩu trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
Trang 1"Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm da giày xuất khẩu trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới" bài viết đợc trình bày kết cấu gồm
2 chơng
Chơng I: Cơ sở lý luận về cạnh tranh sản phẩm da giày Việt Nam Chơng II: Thực trạng xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm da giày xuất khẩu Việt Nam.
Ch ơng I:
Cơ sở lý luận về khả năng của doanh nghiệp Việt Nam
1.1 Tổng quan về khả năng cạnh tranh sản phẩm
1.1.1 Một số quan niệm về khả năng cạnh tranh
- Khả năng cạnh tranh của một quốc gia là khả năng của nớc đó đạt đợc,những thành quả nhanh bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đợc tỷ lệ tăng tr-
Trang 2ởng kinh tế cao, đợc xác định bằng sự thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội GDP (Grass Danestic - Produet) trên đầu ngời theo thời gian Đó là định nghĩa
-đợc đa ra trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu
Tại diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), khả năng cạnh tranh của một quốcgia đợc cho là khả năng đạt và duy trì đợc mức tăng trởng cao trên cơ sở cácchính sách, thể chế bền vững tơng đối và các đặc trng kinh tế khác nhau
- Cho đến nay đã có nhiều tác giả đa các cách tiến khác nhau của mộtdoanh nghiệp
Theo Paf champs cho rằng: khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khảnăng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với cp biến đổi trung bìnhthấp hơn giá của nó trên thị trờng Theo cách hiểu này, doanh nghiệp nào cókhả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lợng tơng tự sản xuất của doanh nghiệpkhác nhng với chi phí thấp hơn sẽ đợc coi là khả năng cạnh tranh cao hơn.Theo Dunning lập luận rằng khả năng cạnh tranh doanh nghiệp là khanăng cung sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trờng khác nhau màkhông phân biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó
- Theo quan điểm đợc dùng hạn chế ở phạm vi sản phẩm trong lý thuyết
tổ chức công nghiệp thì khả năng cạnh tranh sản phẩm là khả năng các sảnphẩm thay thế hoặc đa ra các sản phẩm tơng tự với mức giá thấp hơn sản phẩmcùng loại hoặc cung cấp các sản phẩm tơng tự với các đặc tính về chất lợng,dịch vụ ngang bằng hay cao hơn Nhìn chung, một sản phẩm có sức cạnhtranh thì sản phẩm có giá cả thấp hơn giá thị trờng, mẫu mã đẹp, chất lợng tốt.Randall lại cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả nănggiảm đợc và duy trì thị phần trên thị trờng với lợi nhuận nhất định
1.1.2 Tính tất yếu phải nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong quá trình hội nhập quốc tế.
- Trong nền kinh tế thị trờng, nâng cao khả năng cạnh tranh của sảnphẩm là tất yếu khách quan, và tính chất cạnh tranh ngày càng trở nên vô cùngkhốc liệt đối với các sản phẩm Nó có xu hớng làm cho sản phẩm ngày một tốthơn, giá cả hợp lý và mẫu mã bao bì đẹp và thuận tiện sử dụng trong nhiềuhoàn cảnh
- Nâng cao khả năng của sản phẩm là con đờng tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp, nó là cách để bảo vệ chính bản thân doanh nghiệp, né tránh nóthì dù sớm hay muộn doanh nghiệp cũng bị thất bại Bởi vì, một doanh nghiệpbất kỳ nào cũng luôn cho ra một sản phẩm hoặc dịch vụ, chính sản phẩm, dịch
vụ đó đánh giá khả năng hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá khả năng thíchứng của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nh thé nào phụ
Trang 3thuộc rất lớn vào doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm rasao Doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải luôn nâng cao khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm nh: đa dạng hoá sản phẩm, thực chất đây là quá trình mở rộnghợp lý danh mục sản phẩm tạo nên một cơ cấu sản phẩm có hiệu quả cho cácdoanh nghiệp Đa dạng hoá sản phẩm là cần thiết cho mỗi doanh nghiệpnghiên cứu và cho ra thị trờng mới sản phẩm u việt hơn, phù hợp với thị hiếucủa ngời tiêu dùng hơn.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm tạo cho doanh nghiệp có mộtvịt trí tốt trên thị trờng, chiếm lĩnh thị phần, đồng thời chống đỡ đợc các chiếndịch tấn công của các đối thủ cạnh tranh Mục tiêu của doanh nghiệp nóichung bao giờ cũng là vị thế, lợi nhuận và an toàn Chính nâng cao khả năngcạnh tranh sản phẩm giúp doanh nghiệp trả lời đợc bài toàn hóc búa đó
- Ngoài ra, đối thủ cạnh tranh của mình luôn có những công nghệ tối umáy móc thiết bị hiện đại làm cho vòng đời của sản phẩm bị rút ngắn, doanhnghiệp cần có những chính sách sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranhsản phẩm lên nh thế doanh nghiệp mới không có nguy cơ loại khỏi cuộc chơi
Nh vậy, nhận thức đúng đắn về tính tất yếu phải nâng cao khả năng cạnhtranh của sản phẩm doanh nghiệp sẽ chiếm đợc thế chủ động trong mọi hoạt
động của mình, chấp nhận cạnh tranh và đối phó với nó một cách có hiệu quảnhất là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp Đặc biệt, doanh nghiệptham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Để hội nhập có hiệu quả, một trong những phơng hớng chính mà Đảng
và Nhà nớc ta đang tiến hành là tích cực thực hiện điều chỉnh cơ cấu sản phẩm
và đầu t của các ngành kinh tế Để làm đợc điều này thì việc xác định đợc tínhcạnh tranh của các sản phẩm thì mới có cơ sở tiến hành điều chỉnh các cơ cấu,
đồng thời xây dựng các chính sách hỗ trợ và điều tiết thích hợp đối với cácngành kinh tế và lựa chọn đợc chiến lợc hội nhập phù hợp với khả năng củatừng ngành Chính vì vậy, mà việc xác định tính cạnh tranh của sản phẩm đợc
đánh giá từ khía cạnh nguồn lực trong nớc và khả năng cạnh tranh của chúng
so với các nớc trên thế giới Với các phơng pháp định lợng đợc sử dụng để xác
định khả năng cạnh tranh của các ngành hàng (sản phẩm, thông qua một sốchỉ tiêu sau)
a Thị phần của sản phẩm trên thị trờng.
Đây là yếu tố then chốt đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm củadoanh nghiệp Thị phần là thị trờng mà doanh nghiệp đang cung cấp các sản
Trang 4phẩm hàng hoá và dịch vụ của mình một cách rộng rãi và hầu nh không gặpkhó khăn nào Thị phần sản phẩm bao gồm:
- Thị phần tuyệt đối =
+ Thị phần tuyệt đối =
+ Thị phần của sản phẩm trên phân đoạn thị trờng sản phẩm của doanhnghiệp bao giờ cũng nhằm thoả mãn một hoặc một số đối tợng cụ thể, đóchính đoạn thị trờng của sản phẩm Hơn nữa, do tính chất khan hiếm của cácnguồn lực Do đó, doanh nghiệp chỉ có khả năng đáp ứng, một bộ phận nhất
định sao cho có hiệu quả nhất
b Chất lợng, uy tín và khả năng thích ứng sản phẩm: chỉ tiêu chất lợng là
quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp trong việc nâng cao khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm mình Sự uy tín tạo niềm tin đối với ngời tiêu dùng học cảmthấy yên tâm, hài lòng khi sử dụng hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp
c Mức độ nổi tiếng nhãn hiệu: cạnh tranh đợc đánh giá thông qua mức
độ, nổi tiếng của doanh nghiệp Thông qua các hoạt động truyền thông, quảngcáo, xúc tiến bán hàng giúp cho sản phẩm doanh nghiệp đợc biết đến trên thịtrờng Ngày nay, việc đăng ký nhãn hiệu và bản quyền nhãn hiệu còn nhiềuvấn đề bất cập.Có nhiều nhãn hoệu nổi tiếng của các doanh nghiệp Việt Nam
bị đánh cắp Do đó, cạnh tranh thông qua nhãn hiệu sản phẩm của doanhnghiệp diễn ra mạnh mẽ
d Chỉ tiêu giá cả sản phẩm.
Giá cả là một trong các chỉ tiêu quan trọng nói lên khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm, thờng đợc sử dụng trong giai đoạn đầu của doanh nghiệp, khidoanh nghiệp bớc vào một thị trờng mới, khả năng cạnh tranh về giá thờng đ-
ợc thể hiện qua các biện pháp
- Kinh doanh với chi phí thấp
- Bán với mức giá hạ và mức giá thấp
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh Nếu nh chênhlệch về giá giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn về giá trị sử dụngcủa doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi thếcho ngời tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh Vì thế, sản phẩm củadoanh nghiệp ngày càng chiếm đợc lòng tin của ngời tiêu dùng và cũng cónghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh ngày càng cao
Để đạt đợc mức giá thấp doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng hạ giásản phẩm Có càng nhiều khả năng hạ giá sẽ có nhiều lợi thế so với đối thủcạnh tranh Khả năng hạ giá phụ thuộc vào các yếu tố
Trang 5- Chi phí về kinh tế thấp.
- Khả năng bán hàng tốt do đó có khối lợng bán lớn
- Khả năng về tài chính tốt
Hạ giá là phơng pháp cuối cùng của doanh nghiệp sẽ thực hiện trongcạnh tranh Bởi hạ giá ảnh hởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vìvậy, doanh nghiệp cần phải lựa chọn thời điểm thích hợp để tiến hành sử dụnggiá cả làm vũ khí cạnh tranh Nh thế, doanh nghiệp cần phải kết hợp nhuồnnhuyễn giữa giá cả và các bộ phận về chiết khấu với những phơng pháp bán
mà doanh nghiệp đang sử dụng Đồng thời, do đặc điểm của từng thị trờngkhác nhau là khác nhau nên doanh nghiệp cũng cần phải có những chính sáchgiá cả hợp lý ở từng vùng thị trờng Một điểm nữa mà doanh nghiệp cần phảiquan tâm khi sử dụng chính sách giá cả là phải biết kế hợp giữa giá cả của sảnphẩm với chu kỳ sống của sản phẩm đó Việc kết hợp này sẽ cho phép doanhnghiệp khai thác đợc tối đa khả năng tiêu thụ của sản phẩm, cũng nh không bịmắc vào những lỗi lầm trong việc khai thác chu kỳ sống Đặc biệt là vớinhững sản phẩm đang đứng trớc sự suý thoái
e Hệ số chi phí nguồn lực trong nớc.
(Domestri Pes source Cost - DRC)
DRC là hệ số phản ánh chi phí thực sự mà xã hội phải trả để sản xuất mộtloại hàng hoá nào đó Hệ số DRC có đặc điểm là thờng chỉ thay đổi theo lợithế so sánh dài hạn của quốc gia chứ không bị ảnh hởng bởi các tác động nhấtthời, do vậy, nó mang tính ổn định tơng đối và ngày nay nó thờng đợc sử dụng
để đánh giá cạnh tranh của ngành hàng Việc tính DRC của một ngành hàng(hay sản phẩm) đợc thực hiện theo nguyên tắc, giá trị cp sản xuất của các đầuvào trung gian đợc tính theo mức giá thế giới, còn giá trị của các nhân tố sảnxuất đợc tính theo chi phí cơ hội
- JVAj là giá trị gia tăng của sản phẩm j theo giá thế giới
Nếu hệ số DRC < 1 nghĩa là cần 1 lợng tài nguyên trong nớc < 1 để tạo
ra một đồng giá trị gia tăng theo giá quốc tế
Nếu DRC > 1 thì ngợc lại Hệ số DRC càng cao thì ngành hàng đó ngàycàng không có lợi và tính cạnh tranh rất kém
g Hệ số bảo hộ hữu hiệu (Effeetire Protection Rate - EPF)
Trang 6Trong thực tế để đánh giá mức bảo hộ thực tế ngời ta sử dụng hệ số FPR
là mức bảo hộ thực tế đối với quá trình sản xuất, chứ không dùng hệ số xác
định chỉ mức bảo hộ đối với các sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất nhbảo hộ danh nghĩa
h Hệ số lợi thế so sánh trông thấy.
(Reveald Comparative - RCA)
Việc tính toán hệ số DRC giúp chúng ta xác định đợc trong các số sảnphẩm sản xuất ra trong nớc sản phẩm nào có lợi thế cạnh tranh hơn Tuynhiên, khi so sánh lợi thế cạnh tranh giữacác sản phẩm cùng loại, đợc sản xuất
ra từ các quốc gia khac nhau thờng sử dụng các hệ sốđơn giản hơn đó là hệ sốlợi thế so sánh trong thấy RCA Nh vậy hệ số RCA đợc xác định nh là phầncủa nhóm sản phẩm chiếm trong tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia chiacho phần của nhóm sản phẩm đó trong tổng giá trị xuất khẩu của thế giới.Công thức:
RCAi =
j Wj
j ij
X X
Trong đó:
i là nớc i, w là thế giới và j là hàng hoá j
Xij là xuất khẩu mặt hàng j của nớc i
Xwi là xuất khẩu mặt hàng j của toàn toàn thế giới
Trong công thcs nếu tỷ trọng Xij / Xwj > Xij / Xwj
Tức là hệ số RCA ? 1 thì nớc i đợc cho là có lợi thế so sánh vì sản phẩm
j Hệ số này càng cao chứng tỏ lợi thế so sánh càng cao và ngợc lại
1.2 Các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
1.2.1 Môi trờng vi mô
1.2.1.1 Các yếu tố và lực lợng bên trong doanh nghiệp.
Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống marketing là sáng tạo ra các sản phẩmhàng hoá và dịch vụ để cung cấp cho thị trờng mục tiêu Tuy nhiên, công việc
đó có thành công hay không lại chịu sự ảnh hởng của rất nhiều nhân tố và lựclợng Trớc hết các quyết định marketing phải tuân thủ nhiệm vụ chiến lợc,mục tiêu cụ thể, các chính sách và định hớng phát triển do ban lãnh đạo Công
ty vạch ra Do đó ban lãnh đạo doanh nghiệp có ảnh hởng lớn tới hoạt động vàcác quyết định của bộ phận marketing Bên cạnh đó, bộ phận marketing phảilàm việc đồng bộ, chặt chẽ với các bộ phận chức năng khác trong Công ty nh:tài chính - kế toán, vật t - sản xuất, kế hoạch, nghiên cứuvà phát triển, bộ phận
Trang 7thiết kế, bộ phận nhân lực Mỗi bộ phận có một nhiệm vụ cụ thể Để nâng caokhả năng cạnh tranh của các sản phẩm thì mỗi doanh nghiệp phải đợc sự đồngtình của các bộ phận với nhau thì mới tạo ra đợc u thế trên thị trờng.
1.2.1.2 Những ngời cung ứng
Những ngời cung ứng là các doanh nghiệp và các cá nhân đảm bảo cungứng các yếu tố cần thiết cho Công ty và các đối thủ cạnh tranh để có thể sảnxuất ra hàng hoá và dịch vụ nhất định
Bất kỳ một sự biến đổi nào từ phía ngời cung ứng, sớm hay muộn, trựctiếp hay gián tiếp cũng sẽ ảnh hởng tới hoạt động marketing của Công ty Nhàquản lý phải luôn luôn có đầy đủ các thông tin chính xác về tình trạng, số l-ợng, chất lợng, giá cả…hiện tại và thiện tại và tơng lai của các yếu tố nguồn lực cho sảnxuất hàng hoá và dịch vụ Thậm chí họ còn phải quan tâm tới thái độ của cácnhà cung cấp đối với doanh nghiệp mình và các đối thủ cạnh tranh Nguồn lựckhan hiếm, giá cả tăng có thể làm xấu đi cơ hội thị trờng cho việc kinh doanhnhững hàng hoá và dịch vụ nhất định, tồi tệ hơn có thể buộc doanh nghiệpphải ngừng sản xuất
1.2.1.3 Các trung gian marketing.
Đó là các tổ chức dịch vụ, các doanh nghiệp và các cá nhân giúp choCông ty tổ chức tốt việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình tới ng-
ời mua cuối cùng
Những ngời trung gian và các hãng phân phối chuyên nghiệp đóng vai tròrất quan trọng giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng hoặc là thực hiệncông việc bán hàng cho họ Đó là những đại lý bán buôn, bán lẻ, đại lý phânphối độc quyền, các Công ty kho vận…hiện tại và t
Lựa chọn và làm việc với ngời trung gian và các hãng phân phối là nhữngcông việc hoàn toàn không đơn giản Nếu nền kinh tế càng phát triển, trình độchuyên môn hoá càng cao thì họ không còn chỉ là các cửa hàng nhỏ bé, cácquầy bán hàng đơn giản, độc lập Xu thế đã và đang hình thành các siêu thị,các tập đoàn phân phối hàng hoá rất mạnh về tiềm lực và tiến hành nhiều loạihàng hoá đồng thời nh vận chuyển, bảo quản làm tăng giá trị và phối phôihàng hoá dịch vụ một cách nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm…hiện tại và tqua đó tác động
đến uy tín, khả năng tiêu thụ sản phẩm của nhà sản xuất
Các hãng dịch vụ marketing nh Công ty t vấn, tổ chức nghiên cứumarketing, các Công ty quảng cáo, đài phát thanh, vô tuyến, báo, tạp chí…hiện tại và tgiúp cho Công ty tập trung và khuyếch trơng sản phẩm của mình đúng đối t-ợng, đúng thị trờng, đúng thời gian Lựa chọn và quyết định sẽ cộng tác vớihãng cụ thể nào để mụa dịch vụ của họ là điều mà doanh nghiệp phải cân nhắc
Trang 8hết sức cẩn thận, nó liên quan đến các tiêu thức nh chất lợng dịch vụ, tínhsáng tạo và chi phí…hiện tại và t.
1.2.1.4 Khách hàng
Khách hàng là đối tợng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Bởi vì khách hàng tạo nên thị ờng, quy mô khách hàng tạo nên quy mô thị trờng Khách hàng sẽ bao hàmnhu cầu, bản thân nhu cầu lại không giống nhau giữa các nhóm khách hàng vàthờng xuyên biến đổi Nhu cầu và sự biến đổi nhu cầu lại chịu chi phối củanhiều yếu tố, đến lợc mình nhu cầu và sự biến đổi của nó lại ảnh hởng đếntoàn bộ các quyết định marketing của doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệpphải thờng xuyên theo dõi khách hàng và tiên liệu những biến đổi về nhu cầucủa họ Để việc nắm và theo dõi thông tin về khách hàng, doanh nghiệp thờngtập trung vào năm lại thị trờng khách hàng sau:
tr-+ Thị trờng ngời tiêu dùng: cá nhân và hộ tiêu dùng mua hàng hoá vàdịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân
+ Thị trờng khách hàng doanh nghiệp là: các tổ chức và các doanhnghiệp mua hàng hoá và dịch vụ để gia công chế biến thêm hoặc để sử dụngvào một quá trình sản xuất khác
+ Thị trờng các cơ quan và tổ chức của Đảng và Nhà nớc mua hàng hoá
và dịch vụ cho mục đích sử dụng trong lĩnh vực quản lý và hoạt động côngcộng hoặc để chuyển giao tới các tổ chức, cá nhân đang có nhu cầu sử dụng.+ Thị trờng quốc tế: Khách hàng nớc ngoài bao gồm ngời tiêu dùng, ngờisản xuất, ngời mua trung gian và chính phủ ở các quốc gia khác Nhu cầu vàcác yếu tố tác động đến nhu cầu của khách hàng trên các thị trờng trên làkhông giống nhau Do đó tính chất ảnh hởng đến hoạt động marketing của cácdoanh nghiệp cũng khác, bởi vậy chúng cần đợc nghiên cứu riêng tuỳ vào mức
độ tham gia vào các thị trờng của mỗi doanh nghiệp
có thể phản ánh một xu hớng tiêu dùng, và do đó tạo ra cơ hoịo hay đe doạhoạt động marketing của doanh nghiệp
- Cạnh tranh mong muốn tức là với cùng một lợng thu nhập, ngời ta cóthể dùng vào các mục đích khác nhau: xây nhà, mua phơng tiện, đi dulịch khi dùng vào mục đích này có thể thôi không dùng vào mục đích khác,
Trang 9dùng cho mục đích này nhiều sẽ hạn chế dùng vào mục đích khác Cơ cấu chitiêu đó có thể phản ánh một xu hớng tiêu dùng, và do đó tạo ra cơ hội hay đedoạ hoạt động marketing của doanh nghiệp.
- Cạnh tranh giữa các loại sản phẩm khác nhau để cùng thoả mãn mộtmong muốn Mong muốn về phơng tiện đi lại có thể gây ra sự cạnh tranh giữacác hãng bán xe con, xe gắn máy, các hãng vận tải khách
- Cạnh tranh trong cùng loại sản phẩm
- Cạnh tranh giữa các nhãn hiệu
Đó là các đối thủ cạnh tranh có mặt hàng giống nh mặt hàng của doanhnghiệp hoặc các mặt hàng có thể thay thế lẫn nhau
1.2.2 Môi trờng vĩ mô.
1.2.2.1 Môi trờng nhân khẩu học.
Nhân khẩu học nghiên cứu các vấn đề dân số và con ngời nh quy mô,mật độ, phân bố dân c, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, tuổi tác, giới tính, sắc tộc, nghềnghiệp…hiện tại và tmôi trờng nhân khẩu học là mối quan tâm lớn của các nhà hoạt độngthị trờng, bởi vì nó bao hàm con ngời và con ngời tạo ra thị trờng cho doanhnghiệp
Từ môi trờng nhân khẩu của doanh nghiệp nghiên cứu để phân phối cácsản phẩm của mình cho phù hợp với nhu cầu của từng lớp ngời, từng lứa tuổi
Sự thay đổi về cơ cấu tuổi tác trong dân c sẽ dẫn đến tình trạng thay đổicơ cấu khách hàng tiềm năng…hiện tại và t
1.2.2.2 Môi trờng công nghệ kỹ thuật.
Môi trờng công nghệ kỹ thuật bao gồm các nhân tố gây tác động ảnh ởng đến công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trờng mới Kỹ thuậtcông nghệ mới bắt nguồn từ thành quả của công cuộc nghiên cứu khoa học,
h-đem lại những phát minh và sáng tạo làm thay đổi bộ mặt thế giới và là mộtnhân tố quan trọng nhất tạo ra thời cơ và đe doạ các doanh nghiệp Nhữngphát minh từ sáng kiến khoa học công nghệ tạo ra xu thế mới trong ngời tiêudùng, nhiều sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ Công cuộc cạnh tranh về kỹthuật công nghệ mới không chỉ cho phép các Công ty chiến thắng trên phạm
vi có tính toàn cầu mà còn làm thay đổi bản chất của sự cạnh tranh Bởi vìchúng tác động mạnh mẽ đến cp sản xuất và năng suất lao động, ảnh hởng đếnviệc thực thi các giải pháp cụ thể của marketing
Công nghệ sinh học và vật liệu mới sẽ thực sự giúp chúng ta tiến xa hơnnữa Bên cạnh đó là việc tập trung vào cải tiến và hoàn thiện các sản phẩmhàng hoá dịch vụ hiện có, dù chỉ là những chi tiết rất nhỏ bé tởng chừng nh ít
đợc để ý Chính những điều nh: thay đổi kiểu dáng, bao bì nhãn hiệu, thêmvào một số đặc tính mới, copy và cải tiến sản phẩm của đối thủ cạnh tranh…hiện tại và t
Trang 10đã làm kéo dài vòng đời sản phẩm, đa nó vào một pha phục hồi hay tăng trởngmới, mở rộng đợc thị trờng và thu về các khoản lợi nhuận không nhỏ.
Các doanh nghiệp cần phải nắm bắt và hiểu rõ đợc bản chất của nhữngthay đổi trong môi trờng công nghệ kỹ thuật cùng nhiều phơng thức khác nhau
mà một công nghệ mới có thể phục vụ cho nhu cầu của con ngời, mặt khác họphải cảnh giác kịp thời phát hiện các khả năng xấu có thể xảy ra, gây ra thiệthại tới ngời tiêu dùng hoặc các khía cạnh đối lập có thể phát sinh
1.2.2.3 Môi trờng văn hoá xã hội.
ảnh hởng trực tiếp đến cuộc sống và hành vi của con ngời qua đó nó ảnhhởng đến hành vi mua sắm của khách hàng Vì vậy văn hoá xã hội là công cụsắc bén để các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh sản phẩm của mình trên thịtrờng, bao gồm:
Trang 11Ch ơng II:
Thực trạng về khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
2.1 Thực trạng xuất khẩu của sản phẩm da giày Việt Nam.
Sản phẩm da giày là một trong mời mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ViệtNam ra thị trờng thế giới Do đó, ngành công nghiệp da giày có một vị trí rấtquan trọng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển đất nớc, góp phần tạo
ra việc làm, tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đặc biệt tăngthu ngoại tệ đẩy mạnh xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu năm 2000 sản phẩmdày da đứng thứ 3 sau dầu thô và dệt may Hiện tại, toàn ngành đang cókhoảng 233 doanh nghiệp với khoảng 4000 lao động, trong đó có 76 doanhnghiệp Nhà nớc, 80 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và 77 doanh nghiệp cóvốn đầu t nớc ngoài Tổng năng lực sản xuất giày dép các loại hàng năm đạtkhoảng 420 triệu đôi Trong đó doanh nghiệp đầu t nớc ngoài chiếm khoảng47,5%, doanh nghiệp Nhà nớc chiếm khoảng 27,5%, doanh nghiệp ngoài quốcdoanh chiếm 25%
Ngành công nghiệp da giày của Việt Nam đang phát triển rất nhanh và
đ-ợc xem là một trong những ngành công nghiệp chính đa nền kinh tế của ViệtNam phát triển Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng nhanh Từ năm 1992 đến
2002, riêng năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD, toàn ngành đa ra
kế hoạch đạt kim ngạch xuất khẩu là 3,1 tỷ USD trong năm 2004 Xét về tốc
độ tăng trởng trong 10 năm qua, tổng Công ty da giày Việt Nam có mức tăngbình quân 26,4%/ năm trong đó tốc độ xuất khẩu 23,53%/ năm
Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam (triệu USD)
1500
2000
2500
1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Nguồn: Chuyên san kinh tế 2002 - 2003 Việt Nam và thế giới.
Trong những năm trở lại đây kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm dày dépluôn tăng, thị trờng chấp nhận sản phẩm đợc mở rộng do Nhà nớc có chính
Trang 12sách mở rộng quan hệ hợp tác, bình đẳng toàn diện với mọi quốc gia trên thếgiới.
- Về sản lợng xuất khẩu: Theo thống kê thì sản lợng xuất khẩu dày dépluôn tăng nhanh Cụ thể:
Đơn vị: triệu đôi
Nguồn: http: // www dpi hochiminh city gov Việt Nam.
Nhìn vào bảng số liệu trên thì sản lợng sản phẩm dày da của năm 2000 làtăng trởng nhanh nhất: tăng 62 triệu đôi bằng 125,7% so với năm 1999.Những năm tiếp theo tốc độ tăng trởng bị giảm sút Nguyên nhân chủ yếu là
do sự bất ổn thị trờng xuất khẩu Các thị trờng xuất khẩu Việt Nam liên tục bịkhủng hoảng và nhiều nguyên nhân thuộc tàu phân ngành Việt Nam đang
đứng thứ 8 vễ và đứng thứ 4 về xuất khẩu da giày trong 10 nớc hàng đầu thếgiới Nếu chỉ tính trong khu vực châu á thì xuất khẩu da giày của Việt Namxếp thứ 3 sau Trung Quốc và Hồng Kông Số lợng da giày của Trung Quốc
đang chiếm hơn 50% tổng số lợng da giày thế giới và xấp xỉ 6 tỷ đôi/ năm
- Về thị trờng xuất khẩu:
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa có định hớng củaNhà nớc thì thị trờng tiêu thụ các mặt hàng xuất khẩu ngày càng mở rộng, chứkhông chỉ quan hệ với các nớc thuộc phe xã hội chủ nghĩa nh những năm trớc
đây Song cũng gặp khó khăn do thị trờng mới là tự do, năng động, luôn tồntại sự đào thảo nếu nh các doanh nghiệp của chúng ta không chịu đổi mới,nâng cao chất lợng sản phẩm
Thị trờng EU:
Năm năm trớc đây, từ chỗ chỉ gia công dày đơn thuần cho các nớc Đông
Âu và Liên Xô cũ, đến nay các doanh nghiệp sản xuất dày đã có dây chuyềnsản xuất hoàn chỉnh với nhiều chủng loại phong phú và những nhãn hiệu dàynổi tiếng: Nike, Adidas, Bitis…hiện tại và tHiện nay, ngành da giày Việt Nam chủ yếuxuất khẩu sang liên minh Châu Âu (EU) chiếm 80% kim ngạch xuất khẩutoàn ngành Dày dép xuất sang EU chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu của côngnghiệp Việt Nam
Bảng giá trị xuất khẩu của sản phẩm da giày vào thị trờng EU.
Đơn vị: triệu USD
Trang 13Nguồn: Theo Econet
Qua bảng số liệu giá trị xuất khẩu vào thị trờng EU Năm 2000 tăng gấp2,5 lần so với năm 1995 Các Công ty 100% vốn nớc ngoài và liên doanh cógiá trị xuất khẩu cao hơn Giày dép xuất khẩu sang thị trờng EU chủ yếu giàythể thao, giày vải, giày nữ, giày da và cả dép đi trong nhà Kim ngạch xuấtkhẩu vào các nớc là khác nhau Kết quả xuất khẩu của mặt hàng này trong 2năm gần đây cho thấy nớc Anh là nớc nhập khẩu giày dép cao nhất, tiếp đến là
Bỉ, Hà Lan, Pháp, Đức…hiện tại và t
* Thị trờng Mỹ:
Hiện nay Mỹ là nớc nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới, với mức tăngtrởng bình quân mỗi năm từ 75 đến 81 triệu đôi giày dép Các doanh nghiệpViệt Nam xuất khẩu giày dép sang thị trờng Mỹ chiếm 0,67% so với tổng sốgiày dép nhập khẩu hàng năm của Mỹ Khi hiệp định thơng mại Việt - Mỹ kýkết có hiệu lực, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tăng nhanh kim ngạch xuấtkhẩu giày dép trong những năm tới Thị trờng Mỹ là thị trờng lớn, cạnh tranhquyết liệt Do Mỹ có nền công nghiệp và khoa học kỹ thuật phát triển, ngờidân có mức sống cao, mức tiêu thụ hàng hoá lớn Riêng giày dép tiêu thụ theo
đầu ngời 6 đôi/ năm Đây là thị trờng hết sức hấp dẫn động viên các nhà sảnxuất giày dép
Bảng số liệu xuất khẩu giày dép vào thị trờng Mỹ
Đơn vị: triệu đôi
Nguồn: tạp chí kinh tế và dự báo số 36/2002
Tính chung số giày xuất khẩu vào Mỹ thờng chiếm 90% tổng số tiêu thụhàng năm trong nớc Hiện nay, Trung Quốc là nớc đứng đầu thế giới về xuấtkhẩu các loại giày dép vào thị trờng Mỹ, giày dép của năm 2000 chiếm 77,6%tổng số giày dép nhâph khẩu cảu Mỹ, giày dép của Trung Quốc vào Mỹ gần
nh chiếm lĩnh toàn bộ thị phần nớc này về các loại giày dép thông dụng chomọi lứa tuổi với chát lợng trung bình trở xuống, bán với giá rất rẻ, làm cho các
đối thủ khác khó lòng cạnh tranh nổi Các nớc Inđônêxia, Thái Lan và vùnglãnh thổ Đài Loan đã xuất khẩu các loại giày dép sang thị phần Mỹ từ nhiềunăm nay, nhng tại thời điểm này chiếm thị phần không lớn Hiệp định AFTA
đã tạo điều kiện thuận lợi cho Canada và Mehicô trở thành các nớc xuất khẩu
Trang 14giày dép vào thị trờng Mỹ ngày càng lớn và trở thành đối thủ cạnh tranh đốivới các nớc bạn hàng khác.
Năm 1995, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu các loại giày dép vào thị trờng
Mỹ nhng với số lợng còn rất khiêm tốn Đến năm 2000, Việt Nam xuất khẩugiày dép sang Mỹ đạt kim ngạch gần 100 triệu USD Nói chung, giày dép ViệtNam xuất khẩu vào thị trờng Mỹ thời gian qua cha đợc hởng thuế u đãi, thờngchịu mức thuế xuất cao, khả năng cạnh tranh thấp, mức độ tăng trởng chậm.Các thị trờng xuất khẩu khác hiện nay mức sản lợng còn ít
2.2 Thực trạng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm da giày Việt Nam.
2.2.1 Khả năng cạnh tranh về chất lợng sản phẩm.
Sản phẩm phải không ngừng đổi mới để đáp ứng nhu cầu của con ngời
Đặc biệt, sản phẩm giày dép là mặt hàng thời trang rất nhạy cảm với thị hiếucủa ngời tiêu dùng Do đó, việc sáng tạo, thiết kế sản phẩm với kiểu dáng tínhnăng mới là đòi hỏi cần thiết để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc
So với tổng kimngạch XK %
Nguồn: Tạp chí kinh tế phát triển số 114/2003
Các mặt hàng về giày dép xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là giày thểthao, giày da, dép xăng đan và dép nhựa Trong đó giày thể thao là mặt hàngxuất khẩu chủ lực, chiếm tỷ lệ cao trong tổng giá trị sản lợng xuất khẩu Đểcấu thành nên sản phẩm phải kể đến đó là chất lợng, mẫu mã, kiểu dáng và sựyêu thích của ngời tiêu dùng
Hiện tại, chất lợng các sản phẩm của ngành da giày Việt Nam chỉ ở mứctrung bình so với các nớc sản xuất mặt hàng này trên thế giới Công nghệ kỹthuật ảnh hởng trực tiếp tới chất lợng sản phẩm, vì vậy với trình độ công nghệ
- kỹ thuật lạc hậu, thiếu tính đồng bộ nh hiện nay của ngành da giày Việt Namthì khó có thể làm ra các sản phẩm có chất lợng Trong số các doanh nghiệp
có khả năng cạnh tranh bằng chất lợng sản phẩm có thể kể đến là các mặthàng giày dép trẻ em của Bitís Bình Tiên, giày vải và giày thể thao của Thợng