1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng

78 640 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 914,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành - lý luận gắn với thực tiễn”, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS D

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG TRẦN BÌNH

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG SINH KẾ VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN XÃ NGỌC CÔN, HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG TRẦN BÌNH

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG SINH KẾ VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN XÃ NGỌC CÔN, HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Dương Văn Sơn

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện, mỗi sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường ngoài những kiến thức lý thuyết đã được học thì thực hành thực tập là khâu vô cùng quan trọng Việc trang bị kiến thức thực tế cho sinh viên là rất cần thiết, qua đó giúp sinh viên có điều kiện kiểm tra, kiểm nghiệm, áp dụng những kiến thức đó một cách có khoa học, linh hoạt vào thực tế sản xuất, giúp sinh viên có được thời gian nhất định để học hỏi, bổ sung hoàn chỉnh những kiến thức đã tiếp thu ở trường, giúp củng cố lại kiến thức đã học, sau này có thể áp dụng vào thực tiễn để trở thành người cán bộ Khuyến nông có năng lực tốt, trình độ chuyên môn cao đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của xã hội Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành - lý luận gắn với thực tiễn”, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát

triển nông thôn, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Dương Văn Sơn,

tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã Ngọc Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Dương Văn Sơn, người đã tâ ̣n tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình đi thực tế

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Kinh tế & PTNT đã dạy dỗ tôi trong những năm tháng học tập tại trường

Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ UBND xã Ngọc Côn, các hộ điều tra ở Ngọc Côn đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập

số liệu và kiểm nghiệm những kết quả nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2015

Tác giả đề tài

Hoàng Trần Bình

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Cấu trúc phân loại hộ điều tra theo các thôn 24

Bảng 4.2: Bảng Thống kê vật nuôi của xã Ngọc Côn qua 3 năm 32

Bảng 4.3: Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính và độ tuổi của các hộ điều tra phân theo thôn 37

Bảng 4.4: Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính và độ tuổi của các hộ điều tra phân theo nhóm hộ 37

Bảng 4.5: Thông tin chung của hộ điều tra về giới tính của chủ hộ

phân theo nhóm hộ 38

Bảng 4.6: Phân loại nghề nghiệp của các chủ hộ 38

Bảng 4.7: Bình quân diện tích canh tác phân theo nhóm hộ 39

Bảng 4.8: Bình quân diện tích canh tác theo thôn (m2/hộ) 40

Bảng 4.9: Bình quân (%) thu nhập về nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ 42

Bảng 4.10: Bình quân (%) Thu nhập về trồng trọt theo thôn và nhóm hộ 43

Bảng 4.11: Số hộ trồng và bình quân diện tích trồng từ các cây trồng chủ yếu tại xã Ngọc Côn 45

Bảng 4.12: Bình quân phần trăm thu nhập từ các cây trồng chính phân theo nhóm hộ tại địa bàn xã Ngọc Côn 46

Bảng 4.13: Bình quân % thu nhập về chăn nuôi phân theo thôn và nhóm hộ 47

Bảng 4.14: Bình quân phần trăm Thu nhập về các loại vật nuôi chính trong chăn nuôi theo nhóm hộ 48

Bảng 4.15: Bình quân phần trăm Thu nhập về các loại vật nuôi chính trong chăn nuôi theo thôn 48

Bảng 4.16: số lượng vật nuôi chính theo phân loại kinh tế hộ của xã Ngọc Côn 50 Bảng 4.17: Tổng số vật nuôi chính tại địa bàn xã Ngọc côn theo phân loại kinh tế hộ 44 Bảng 4.18: Bình quân (%) thu nhập về phi nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ 45

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế 7Hình 4.1: Bản đồ hành chính huyện trùng khánh 26

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

DFID Bộ phát triển Quốc tế

FFI Tổ chức bảo tồn động thực vật hoàng dã Quốc tế

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NG – ĐS – TB Nà Giáo – Đông Si – Tẩu Bản

PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng

PRCF Tổ chức con người tài nguyên và bảo tồn

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1.Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 4

2.1.3 Thu nhập 11

2.2 Cơ sở thực tiễn 14

2.3 Hộ và kinh tế hộ 16

2.4 Quá trình phát triển và một số nghiên cứu về sinh kế 18

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 22

3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.2 Nội dung nghiên cứu 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 23

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Ngọc Côn có liên quan đến sản xuất nông nghiệp 26

4.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 29

4.2 Các hoạt động sinh kế và thu nhập của cộng đồng dân tộc xã Ngọc Côn 36

4.2.3 Các hoạt động sinh kế và thu nhập về nông nghiệp 41

Trang 8

4.2.4: Các hoạt động sinh kế và thu nhập về phi nông nghiệp 45

4.2.5 Các hoạt động sinh kế khác 48

4.3 Giải pháp cải thiê ̣n sinh kế nâng cao đời sống người dân 49

4.3.1 Giải pháp chung 49

4.3.2 Giải pháp cụ thể đối với từng nhóm hộ 52

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Khuyến nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 9

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang từng bước hội nhập nền kinh tế thế giới, giành được nhiều thành tựu trong tất cả các lĩnh vực đời sống văn hóa – kinh tế - xã hội Chất lượng cuộc sống mọi mặt của người dân nó chung và người nông dân nói riêng không ngừng được cải thiện Đặc biệt là vấn đề sinh kế bền vững và thu nhập của người dân đang là mối quan tâm hàng đầu Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển nâng cao đời sồng của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên

Bên cạnh đó trong giai đoạn hiện nay khi điều kiện nguồn lực còn hạn chế, nhà nước xóa bỏ cơ chế tổ chức bao cấp Hoạt động sản xuất nông nghiệp ngày càng đa dạng, phát triển theo hướng hàng hóa Mà sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc trong nền kinh tế hàng hóa đã tạo nên sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc trong xã hội, vấn đề sinh kế và thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn ngày càng rõ rệt Với hơn 70% dân số ở các vùng nông thôn đây là nguồn lao động dồi dào nhưng lại chưa được sử dụng hợp lý Trên thực tế cho thấy việc lựa chọn hoạt động sinh kế và việc tăng thu nhập cho hộ gia đình phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên, xã hội, yếu tố con người, vật Do đó việc nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân là yêu cầu cấp thiết và cần

có sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, chất, cơ sở hạ tầng,… Tình trạng đất đai phục vụ cho sản xuất, làm nhà ở cho người dân thì có hạn mà dân số thì ngày lại một tăng lên Cho nên việc lựa chọn hoạt động sinh kế và việc tăng thu nhập cho hộ gia đình đã khó lại càng khó hơn

Do đó việc nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân là yêu cầu cấp thiết và cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, các đoàn thể

Trang 10

giúp ta thấy được cuộc sống người dân như thế nào, thu nhập ra sao, đã hiệu quả và ổn định chưa

Trong những năm gần đây hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân

xã Ngọc Côn đã có những thay đổi lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của chính hộ gia đình Cộng đồng người dân chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng nên cuộc sống còn nhiều khó khăn khiến, phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng rất lớn khiến cho việc quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên tại đây gặp không ít khó khăn Bên cạnh đó tại địa bàn xã đã có rất nhiều các hoạt động hỗ trợ sinh kế đã và đang triển khai thực hiện tại đây và hiệu quả ra sao, cuộc sống người dân thay đổi như thế nào, người dân đã được hưởng lợi những gì khi tham gia vào công tác bảo tồn, tác động của các giải pháp sinh kế ra sao? Đó là những vấn đề mà chúng ta cần nghiên cứu để có những giải pháp mang tính bền vững cho người dân nơi đây giúp cho việc quản lý sử dụng tài nguyên một cách hợp lý

và thông minh, giúp người dân có những định hướng đúng đắn trong sản suất

Từ những yêu cầu trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân tại xã Ngọc Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”

1.2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương có

liên quan đến sản xuất nông nghiệp

Trang 11

- Nghiên cứu, đánh giá được các hoạt động sinh kế và thu nhập của cộng

đồng các dân tộc địa phương

- Đề xuất được một số giải pháp cải thiê ̣n sinh kế cô ̣ng đồng đi ̣a phương

1.3 Ý nghĩa của đề tài

+ Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Giúp bản thân có thể vận dụng được những kiến thức đã học được để viết báo cáo tốt nghiệp phục vụ cho học tập nghiên cứu khoa học

Nâng cao kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân

+ Ý nghĩa trong thực tiễn

Đánh giá được đúng thực trạng các hoạt động sinh kế của người dân tại xã để

đề ra các giải pháp phù hợp phát triển xã

- Là căn cứ giúp cho các cấp chính quyền địa phương có những giải

pháp và định hướng cho việc lựa chọn nguồn sinh kế bền vững và tăng thu nhập ổn định cho người dân trên địa bàn nghiên cứu

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan

2.1.1 Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế

- Khái niệm sinh kế:

Theo mô ̣t số tác giả , sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người (Scoones, 1998)

Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người , được thể hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiê ̣p

Hoạt động nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt (lúa, ngô, khoai, sắn, lạc,…), chăn nuôi (lợn, gà, trâu, bò,…) và lâm nghiệp (trồng keo, bạch đàn, mỡ,…) Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ , buôn bán và các ngành nghề khác

Như vâ ̣y, trong pha ̣m vi báo cáo này , sinh kế của người dân nông thôn được hiểu là các hoạt động sản xuất nông nghiệp để nuôi sống cho chính gia đình ho ̣

- Tiếp cận sinh kế:

Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thúc truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp…) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi với điều kiền tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ

và cho các thế hệ tiếp theo

Trang 13

diễn ra (nguồn lực xã hội)

+ Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống

+ Sinh kế của con người phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng của những nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận Sự thành công của các chiến lược và hoạt động sinh kế tùy thuộc và mức độ hiểu biết mà con người có thể kết hợp cũng như quản lý những nguồn lực mà họ có Vì thế, bàn về sinh kế và sinh kế bền vững có rất nhiều ý kiến, cách tiếp cận khác nhau

+ Có ý kiến cho rằng sinh kế là phương tiện/ cách thức để kiếm sống

Có ý kiến cho rằng sinh kế của một hộ gia đình hay của một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai, là cách thức kiếm sống Hoặc sinh kế là thu nhập ổn định có được nhờ áp dụng các phương thức/ biện pháp khác nhau Và có ý kiến cho rằng sinh kế có thể được miêu tả như những quyết định, những hàng động mà họ sẽ được thực hiện không những để kiếm sống mà còn để đạt được những ước vọng của họ

+ Ta có thể miêu tả một sinh kế như là sự kết hợp các hoạt động được thực hiện để sử dụng các nguồn lực để duy trì cuộc sống Các nguồn lực có thể bao gồm các khả năng và kỹ năng cá nhân (nguồn lực con người), đất đai, tiền tích luỹ và các thiết bị (nguồn lực tự nhiên, tài chính, và vật chất) và các nhóm trợ giúp chính thức hay các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều kiện cho các hoạt động được diễn ra (nguồn lực xã hội)

Trang 14

+ Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi

ở Mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kĩ năng,

các mối quan hệ,….(Wallmann, 1984) Sinh kế cũng được xem như là “sự tập

hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”(DFID) Về cơ bản các hoạt động sinh kế

là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan

hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng

Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như

dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi

sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai

Trang 15

- Chiến lược sinh kế:

Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêu nguyện vọng của họ

2.1.2 Cơ sở lí luận về sinh kế

* Khung phân tích sinh kế bền vững theo DFID (2003)

Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế

Bối cảnh tổn thương

- Sốc và khủng hoảng

- Những xu hướng kinh tế, xã hội và môi trường

- Sự dao động theo

thời vụ

Những thay đổi trong thực trạng tài sản và chiến lược

Thể chế, chính sách

- Chính sách và pháp luật

- Các cấp chính quyền

- Dịch vụ Nhà nước, tư nhân

- Luật tục, tập quán

- Thể chế cộng đồng

Kết quả sinh kế

- Thu nhập tốt hơn

- Đời sống nâng cao

- Khả năng tổn thương giảm

Trang 16

* Khái niệm chiến lược sinh kế

Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn

và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn

và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêu nguyện vọng của họ

* Khái niệm các nguồn vốn sinh kế

đó được hiểu như sau:

+ Nguồn vốn con người:

Con người là cơ sở nguồn vốn này Vốn con người bao gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc được kế thừa trong gia đình ), những kỹ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả năng lãnh đạo, sức khỏe, tâm sinh lí của các thành viên trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức phân công lao động Đây là một yếu tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lí các nguồn vốn khác

Trang 17

+ Nguồn vốn tự nhiên:

Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương pháp kiếm sống của con người Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên Từ các hành hóa công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụng trực tiếp trong sản suất như: Đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi,…

+ Nguồn vốn tài chính:

Tài chính là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào Các hoạt động sinh kế của người dân nông thôn cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của các nhân tố vốn sản xuất (tài chính)

Trước đây vốn của các hộ sản xuất thường là vốn tự có của từng gia đình

hoặc vay mượn của bà con họ hàng, láng giềng nên quy mô sản xuất không được mở rộng Ngày nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi hỏi các hộ sản xuất phải có lượng vốn nhiều hơn để đầu tư, cải tiến công nghệ, đưa thiết bị máy móc tiên tiến vào một số khâu, công đoạn, công việc này có thể thay thế kỹ thuật lao động thủ công được, nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm

để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

+ Nguồn vốn vật chất

Nguồn vốn vật chất được phân chia làm 2 loại: Tài sản của cộng đồng

và tài sản của hộ Tài sản của cộng đồng trong nghiên cứu này xem xét các cơ

sở vật chất cơ bản phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi, thông tin liên lạc Tài sản của hộ trong nghiên cứu này khá phong phú bao gồm cả các tài sản phục

vụ sản xuất và các tài sản phục sinh hoạt của hộ

Trang 18

+ Nguồn vốn xã hội:

Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ hàng, người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn hóa, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau,… Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ thông qua sự tương tác giữa cá các cá nhân

* Quan điểm lý thuyết cấu trúc chức năng

Cơ cấu chức năng được các nhà xã hội học như A.Comte và H.Spencer, E.Durkheim khởi xướng, sau được các nhà xã hội học hiện đại phát triển thành một trong những chủ thuyết của xã hội học hiện đại Chủ thuyết chức năng hay còn gọi là cấu trúc chức năng được nhắc đến với tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể Trong hệ thống đó mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần làm nên sự tồn tại với 2 mặt tĩnh

và động, tồn tại trong sự vận động biến đổi nhưng lại là một thực thể thống nhất trong đa dạng H.Spencer đưa thuyết sinh vật học vào để giải thích sự tồn tại của xã hội và cho rằng xã hội tồn tại như một cơ thể sống, nó có đầy đủ các bộ phận và thực hiện các chức năng khác nhau trong một cơ thể thống nhất, tiến hóa từ đơn giản đến phức tạp

Lý thuyết này sẽ được vận dụng để giải thích các mối quan hệ kinh tế -

xã hội trong đời sống của người dân 5 thôn Từ đó đưa ra giải thích hợp lí cho lựa chọn hợp lí các hoạt động sinh kế của họ Việc vận dụng lý thuyết sẽ được đưa vào trong từng phần của bài nghiên cứu Thôn được xem như là một

Trang 19

chỉnh thể xã hội thống nhất trong hệ thống quản lí chức năng đoàn thể Thôn nằm trong sự kiểm soát và quản lí của một hệ thống xã hội lớn hơn là UBND

xã Ngọc Côn Xét về phạm vi tổ chức, cư dân trong thôn được quản lý trực tiếp bởi ban điều hành như thôn trưởng, thôn phó, đội trưởng đơn vị, ban công

an, ban mặt trận, ban dân sự,… Là một chỉnh thể thống nhất, các hộ gia đình trong thôn đều tồn tại với vai trò và chức năng riêng song đều nằm trong mỗi liên kết chặt chẽ với những mối quan hệ hàng xóm láng giềng thân thích và môi trường sống xung quanh

* Quan điểm lý thuyết lựa chọn hợp lý

Lý thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học, nhân học thế kỷ XVIII - XIX đại diện là các nhà xã hội học như: G.Simmel, Hormans, J.Elster Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào việc cho rằng con người luôn hành động có chủ đích với những hành động xã hội Khi làm việc gì, người ta cũng suy nghĩ để lựa chọn phương án nhằm sử dụng các nguồn lực có được để đạt được kết quả tối đa với chi phi thấp nhất Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh sự cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng phương tiện tối ưu nào mà đạt được kết quả cao trong một điều kiện nguồn lực khan hiếm Bắt nguồn từ việc vận dụng quy luật này để giải thích các hiện tượng kinh tế, các nhà xã hội học áp dụng vào nhằm giải thích các hành động xã hội Vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài nghiên cứu để giải thích cho việc tại sao người dân ở địa bàn nghiên cứu lại lựa chọn phương thức sinh kế hiện tại

mà không phải lựa chọn phương thức sinh kế khác, với lựa chọn phương thức

đó liệu họ có đạt được hiệu quả tối đa trong cuộc sống hay không Ngoài ra quan điểm về lựa chọn hợp lý sẽ được lồng ghép phân tích và vận dụng trong việc đưa ra các giải pháp cho một chiến lược sinh kế bền vững

2.1.3 Thu nhập

2.1.3.1 Khái niệm về thu nhập

Thu nhập là khoản tiền thu từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản xuất trong 1 thời kỳ nhất định

Trang 20

Cơ cấu thu nhập bao gồm: Thu nhập từ kết quả lao động ( tiền công, tiền lương: bao gồm lương hưu,các khoản trợ cấp và bao gồm cả học bổng )

và thu nhập tài chính ( lãi do gửi tiết kiệm, lãi do mua bán đầu tư chứng khoán, thu từ các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác

Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhận được do đã bỏ ra sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế

Thu nhập từ lao động của người lao động bao gồm:

Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chất như lương: gồm tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp thường xuyên mang tính chất cố định và tiền thưởng trong lương; các khoản phụ cấp và thu nhập khác của người lao động được tính vào chi phí sản xuất, vào giá thành của sản phẩm như: phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, phụ cấp tiền điện thoại cố định, phụ cấp xăng xe, tiền công tác phí, ăn giữa ca( trường hợp thuê dịch vụ ăn uống bên ngoài không tính vào yếu tố này), trợ cấp thuê nhà

….và các khoản phụ cấp thường xuyên khác cho người lao động, bao gồm các hình thức trả bằng tiền, bằng hiện vật như: thực phẩm, đồ uống, nhiên liệu, quần áo( trừ quần áo bảo hộ lao động)

Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:

Là các khoản chi phí trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chi phí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác( quà tặng, thưởng của cấp trên…)

2.1.3.2 Phân loại thu nhập

Phân loại theo hình thức thu nhập có:

 Thu nhập trực tiếp: Là thu nhập của lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm

Trang 21

 Thu nhập gián tiếp từ phân phối lại : Là thu nhập của những lao động làm công việc tiêu thụ sản phẩm như những người đi buôn…những người này không trực tiếp tạo ra sản phẩm

Phân loại theo mức thu nhập thì có :

- Thu nhập cao

- Thu nhập trung bình

- Thu nhập thấp

2.1.3.3 Tầm quan trọng của thu nhập

Trong thực tế cuộc sống thu nhập là một yếu tố rất quan trọng, nó biểu hiện ở số tiền, hay các sản phẩm do quá trình lao động mà chúng ta tạo ra và

nó có giá trị cho cuộc sống Để duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, con người cần phải có thu nhập và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong đời sống hàng ngày thu nhập quan trọng như thế nào Với mỗi người, với các mức thu nhập khác nhau thì có thể nói rằng chất lượng cuộc sống mà họ được hưởng cũng khác nhau, với những mức thu nhập cao thì sẽ có được cuộc sống với chất lượng của các dịch vụ và sự sinh hoạt hàng ngày tốt hơn chẳng hạn như: Bữa ăn hàng ngày sẽ đủ chất dinh dưỡng hơn, các đồ dùng sinh hoạt cũng tốt hơn, con cái được học tập trong những ngôi trường chất lượng tốt hơn, nói tóm lại sẽ có được những thứ gần với sự mong muốn hơn, ngược lại những người có thu nhập thấp, những người nghèo thậm chí là đói thì với thu nhập thấp đó họ có thể ăn không đủ no, mặc không đủ ấm chứ nói gì đến việc

sử dụng các dịch vụ mà cần đến tiền mới có được

Mặt khác, mức sống của người dân bắt nguồn từ thu nhập Thu nhập là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức sống của một gia đình nông thôn

Tăng thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải thiện và nâng cao mức sống, là cơ sở để tăng tích lũy và tăng đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp

Trang 22

theo Tăng thu nhập cho mỗi người dân đồng nghĩa với việc thu nhập bình quân đầu người mỗi khu vực tăng lên và từ đó thu nhập bình quân quốc gia tăng lên, điều đó thể hiện sự tăng trưởng của mỗi vùng, mỗi quốc gia

2.2 Cơ sở thực tiễn

Nghiên cứu này được thực hiện ở xã Ngọc Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu phương thức sinh kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người, và nguồn vốn tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và những nguồn tài nguyên khác như: Tài nguyên nước, tài nguyên rừng…tác động đến hoạt động sinh kế của người dân Ngoài ra, đề tài cũng vẽ nên một bức tranh về cuộc sống của người dân qua các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chỉ tiêu, tình hình giáo dục y tế, tình hình kinh tế- xã hội của địa phương

Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm

Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển sinh kế nông hộ của các nước đã có nhiều kinh nghiệm để chúng ta học tập

* Thái Lan: Là một nước trong khu vực Đông Nam Á của châu Á,

chính phủ Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa đất nước từ lạc hậu trở thành nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một số chính sách có liên quan đến việc phát triển sinh kế vùng núi ban hành (Từ 1950 đến năm 1980)

+ Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn Mạng lưới đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập

Các vùng ở xa (Bắc, Đông bắc, Nam…), đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng

+ Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở

Trang 23

vùng núi phía Đông Bắc

+ Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu như: Ngô, sắn,… sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản

+ Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân vay tiền với lái suất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá trị định trước,… cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Hàng năm có khoảng 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo thời vụ ngày càng gia tăng

* Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh

vực đầu tư cho nông nghiệp nông thôn Một trong những thành tựu của Trung Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao Nguyên nhân của thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng ,vật nuôi, vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông

* Malaysia: Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp

hiện đại, sản xuất hàng hóa có giá trị cao Vì thế chính sách nông nghiệp của Malaysia tập trung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng Bên cạnh đó chính phủ nước này cũng chú trọng tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản Nhờ đó

Trang 24

một vài năm gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao

Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một

mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”

Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có

xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”

Tại cuộc thảo luận Quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan

năm 1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có

liên quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”

Theo Raul Ituna, một nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp Lisbon, khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số

nươc Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết

tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân của họ và cộng đồng”

Theo Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010): Hộ gia đình là khái niệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính

và địa lý Còn gia đình là một nhóm người, một cộng đồng người mà các

Trang 25

thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng tư của các cá nhân, vừa thoả mãn nhu cầu

xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác lẫn tinh thần Gia đình là một hệ thống phức tạp các vị trí và vai trò xã hội mà các thành viên chiếm giữ

và thực hiện, là những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục, giữa các thành viên

- Hộ nông dân:

Theo ông Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá

và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”

Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có su hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”

Theo Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011 cho rằng: “hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”

- Kinh tế hộ nông dân:

Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình,

Trang 26

sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”

Tác giả T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Áthuộc trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, cho rằng: “Ở các nước Châu Á hầu hết người ta qua niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”

“Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn, của gia đình mình là chính

2.4 Quá trình phát triển và một số nghiên cứu về sinh kế

2.4.1 Quá trình phát triển sinh kế hộ nông dân ở một số địa phương nước ta

* Trong thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này đại bộ phận nông dân đi

làm thuê cho địa chủ, một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ theo kiểu cổ truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ Trong thời kỳ này Chính phủ đưa ra chính sách giảm tô cho nông dân, vận động gia tăng sản xuất thực hiện tiết kiệm nhờ vậy mà sản lượng quy thóc năm 1954 đạt 3 triệu tấn tăng 13,70% so với năm 1946

* Tờ năm 1955 đến năm 1959: Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải

phóng, Đảng và Chính phủ ta đã thực hiện chính sách cải cách với mục đích

„„Người cày có ruộng‟‟ Năm 1957 cải cách ruộng đất cơ bản được hoàn thành cải cách ruộng đất đã chia 81 vạn hecta ruộng, 74 nghìn con trâu bò cho 2,1 triệu hộ nông dân Kết quả là nông dân có đất canh tác, trâu bò để sản xuất đời sống kinh tế có phần cải thiện

* Từ 1960 đến 1980: Đây là giai đoạn chúng ta tiến hành cải cách

ruộng đất, thực hiện tập thể hóa một cách ồ ạt, xong đây cũng là tập thể thể

Trang 27

hiện rõ tính yếu kém của mình, thời kì này kinh tế nông hộ không được coi trọng Đây là thời kỳ xuống dốc của nền kinh tế nước ta

* Từ 1981 đến 1987: Chỉ thị 100CT/TW được ban bí thư trung ương

Đảng ban hành, quyết định chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đây là việc làm có ý nghĩa trong việc thực hiện quyền tự chủ trong sản xuất hộ nông dân đời sống của nhân dân phần nào được cải thiện, nhờ vậy mà sản lượng lương thực tăng lên liên tiếp (mỗi năm tăng gần 1 triệu tấn Năm 1985 đạt 15,875 triệu tấn)

* Từ 1988 đến 2003: Ngày 5/5/1988 Bộ Chính Trị và Ban chấp hành

Trung ương Đảng đã ban hành nghị quyết 10 về „„Đổi mới quản lý kinh tế bản trong nông nghiệp và nông thôn‟‟ Thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn đổi mới Hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất lâu dài, hộ trở thành đơn vị kinh tế độc lập Hàng loạt những chính sách đổi mới đó đã tạo được động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Kết quả là sản lượng lương thực từ chỗ dưới 18 triệu tấn năm 1984 - 1987 đã đạt 21,5 triệu tấn vào năm 1989 bình quân giai đoạn 1986 - 1990 sản lượng lương thực tăng 13,50% năm Từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu lương thực, năm 1989 xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo, năm 1990 được 1,6 triệu tấn gạo, Đến năm 2003 Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan

* Từ 2009 đến nay: Đã cho thấy kinh tế hô ̣ có nguồn thu nh ập rất đa dạng, bao gồm cả sản xuất nông nghiê ̣p và phi nông nghiê ̣p Viê ̣c tâ ̣p chung phát triển kinh tế hô ̣ mang la ̣i nhiều lợi ích do hô ̣ là đơn vi ̣ kinh tế nhỏ , năng

đô ̣ng, có khả năng ứng phó nhanh với những cú sốc thị trườn g, trợ giúp kinh tế hô ̣ cũng dễ đảm bảo tính công bằng hơn Ngoài ra, đối với cấp hô ̣ cũng dễ

áp dụng nông nghiệp xanh , hạn chế việc sử dụng phân bón hóa học , thuốc trừ sâu trên diê ̣n rô ̣ng

Trang 28

2.4.2 Một số nghiên cứu về sinh kế

- Sinh kế của các hộ dân tái định cư ở vùng bán ngập huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng, sinh kế của các hộ dân tái định

cư vùng bán ngập của công trình thủy điện Sơn La Trên cơ sở đánh giá phân tích, đề xuất một số giải pháp tạo sinh kế nhằm ổn định sản xuất và đời sống của các hộ dân di chuyển đến nơi ở mới

- Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đakrong - Quảng Trị (Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này nghiên cứu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với chiến lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đề tài cũng đưa ra những điểm được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các hoạt động sinh kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế bền vững

để người dân tự xây dựng và phát triển chiến lược sinh kế cho bản thân và gia đình vừa đảm bảo điều kiện sống hiện tại vừa bảo đảm cho sự phát triển vững chắc cho tương lai

- Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững tại xã Phong Mỹ, miền Trung Việt Nam của trường Đại học Khoa học & đời sống Praha - Czech

Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Phong Mỹ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, đề tài này nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt đi sâu tìm hiểu phương thức sinh

kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người và nguồn vốn tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và nguồn tài nguyên khác: nước, rừng,… tác động đến hoạt động sinh kế của người dân Ngoài ra, đề tài cũng vẽ lên một bức tranh về cuộc sống của người dân qua các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chi tiêu, tình hình giáo dục - y tế, tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương

- Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền núi thôn 1 - 5, Cẩm

Trang 29

Sơn, Anh Sơn, Nghệ An (Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này phân tích các hoạt động sinh kế của người dân miền núi Qua đó xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao động sản xuất của người dân nhằm tìm ra một số giải pháp khả thi cho chiến lược sinh

kế bền vững phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương

Nhận xét về các công trình nghiên cứu về sinh kế trên đây: Đây là

những công trình nghiên cứu mới tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực, thay đổi nhận thức của người dân trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình Trên cơ sở đó giúp người dân thay đổi được nhận thức, tư duy, phương thức, tập quán sản xuất Tất cả các nghiên cứu trên đây đều đi từ việc phân tích hiện trạng sinh kế để từ đó đề xuất các can thiệp và giải pháp nhằm phát triển sinh

kế bền vững, cải thiện và nâng cao giá trị sản xuất tại địa phương, giúp người dân ổn định cuộc sống

Trang 30

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Là các hộ dân cùng với các hoạt động sinh kế và thu nhập của họ tại xã Ngọc Côn –huyện Trùng Khánh – tỉnh Cao Bằng

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Các hoạt động sinh kế của hộ tạo ra thu nhập cho hộ bao gồm cả hoạt động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp) và hoạt động phi nông nghiệp

Nghiên cứu chọn mẫu 60 hộ trong địa bàn xã tại 5 thôn: Phia Siểm, Nà Giáo - Đông Si – Tẩu Bản, Pò Peo, Phia Mạ, Bó Hay – Pác Ngà

3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại xã Ngọc Côn – huyện Trùng

Khánh – tỉnh Cao Bằng

- Thu thập số liệu điều tra nông hộ được thực hiện từ tháng 3 năm

2015: Thu thập các số liệu thứ cấp và phân tích số liệu được thực hiện từ ngày 26/02/2015 đến ngày 20/05/2015

3.2 Nội dung nghiên cứu

+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương có liên quan đến sản xuất

nông nghiệp

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế xã hội

- Tình hình sản xuất nông nghiệp

Trang 31

+ Các hoạt động sinh kế, thu nhập của người dân xã Ngọc Côn

- Thông tin về các hộ điều tra tại xã Ngọc Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

- Diện tích đất canh tác, đất rừng

- Thu nhập về nông nghiệp và phi nông nghiệp của nông hộ

- Số hộ trồng và thu nhập về trồng trọt

- Số hộ nuôi và thu nhập về chăn nuôi

+ Những khó khăn , trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân để đề xuất một số giải pháp cải thiê ̣n sinh kế tại địa bàn nghiên cứu

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thu thập thông tin số liệu thứ cấp

Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập các thông tin số liệu đã có sẵn từ tất cả các nguồn có thể tiếp cận được Đó là các số liệu, tài liệu được thu thập từ UBND xã Ngọc Côn, từ thư viện của Khoa Kinh tế và PTNT (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), từ các trang mạng khai thác trên Internet thông qua công cụ tìm kiếm Google,…

Đây là những nguồn tài liệu có giá trị để xây dựng tổng quan, cũng như những thông tin cơ bản liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp của địa phương

3.3.2 Thu thập thông tin số liệu sơ cấp

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu để thu thập số liệu liên quan đến đề tài Một bảng hỏi (xem phụ lục) được hình thành, gồm nhiều bộ phận khác nhau, từ những thông tin cơ bản của chủ hộ,

an ninh lương thực, sinh kế và thu nhập nông hộ, những liên quan đến tác động của can thiệp trong sản xuất sắn, những tác động liên quan đến chế biến thức ăn chăn nuôi và phát triển chăn nuôi trâu bò và lợn, thị trường,…

Trang 32

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích và đánh giá các hoạt động sinh kế, thu nhập và thời gian giành cho các hoạt động sinh kế (nông nghiệp và phi nông nghiệp) của cộng đồng địa phương Đây là cơ sở để

có các tác động của can thiệp liên quan nhằm cải thiện sinh kế của cộng đồng địa phương

Số liệu được thu thập tại năm thôn xác định Phia Siểm, Nà Giáo - Đông Si – Tẩu Bản, Pò Peo, Phia Mạ, Bó Hay – Pác Ngà Tổng số có 60 phiếu điều tra

đã được thu thập tại 60 hộ trong 5 thôn trên Nghiên cứu chọn mẫu dựa trên phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có điều kiện

Bảng 3.1: Cấu trúc phân loại hộ điều tra theo các thôn

Tỷ

lệ (%)

Số

hộ

Tỷ

lệ (%)

Số

hộ

Tỷ

lệ (%)

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2015)

Theo tiêu chí phân loại hộ thì tại địa bàn xã số hộ nghèo, cận nghèo còn cao đa phần là hộ nghèo và cận nghèo

Trong tổng số 60 hộ điều tra lựa chọn 20 hộ nghèo, 20 hộ cận nghèo,

20 hộ khá giả để chia đều theo tỉ lệ số hộ nghèo, cận nghèo và khá ở các thôn

Trong đó có thôn Bó Hay – Pác Ngà có số dân nhiều nhất và được chọn nghiều hộ điều tra nhất chiếm 30% số phếu điều tra Sau đó đến thôn Phia Mạ

Trang 33

chiếm 20,0%, ba thôn còn lại có số hộ tương đối như nhau nên số hộ lựa chọn cũng bằng nhau chiếm 16,7% tổng số hộ điều tra

Mục tiêu của hoạt động điều tra thực địa nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện

và chính xác các thông tin về đời sống sinh hoạt, các hoạt động sản xuất - kinh doanh, tư tưởng, ý thức của người dân

- Ngoài ra, để hoàn thành đề tài này, chúng tôi còn sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp để ghi nhận những hành vi của bà con nông dân và lý giải những kết quả đánh giá liên quan đến đề tài

3.3.3 Phương pháp phân tích sử lý số liệu

- Các thông tin số liệu thứ cấp được tổng hợp, phân tích và sử dụng theo các phương pháp phân tích tài liệu thông dụng

- Số liệu điều tra bảng hỏi được nhập vào máy tính trên Excel

Trang 34

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Ngọc Côn có liên quan đến sản xuất nông nghiệp

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện trùng khánh

a Vị trí địa lý

Ngọc Côn là một xã thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam Xã có vị trí:

Bắc giáp Trung Quốc

Đông giáp xã Ngọc Khê

Nam giáp xã Ngọc Khê, xã Phong Nặm

Tây giáp xã Phong Nặm

Trang 35

Ngày 13 tháng 12 năm 2007, xã Ngọc Côn được thành lập trên cơ sở điều chỉnh 2.367,63 ha diện tích tự nhiên và 2.226 người của xã Ngọc Khê

Ngọc Côn có tỉnh lộ 213 chạy qua và nối đến cửa khẩu Pò Peo trên biên giới với Trung Quốc Trên địa bàn xã Ngọc Côn có núi Lũng An, núi Lũng Khuốt, núi Lũng Qua, núi Lũng Thoang, núi Pò Dao, núi Tôm Đeng Ngọc Côn là nơi sông Quây Sơn chảy vào lãnh thổ Việt Nam

là - 30C Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, có nhiệt độ trung bình 24,20C; cao tuyệt đối là 36,30C

Lượng mưa bình quân trong năm là 1665,5 mm; lượng mưa cao nhất đạt 2870,6 mm, lượng mưa thấp nhất là 1188 mm; lượng mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8 hàng năm

Độ ẩm bình quân năm là 81% Từ tháng 11 đến tháng 1 có độ ẩm từ 14%

9-Mùa đông có gió mùa đông bắc (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau) 9-Mùa

hè có gió nam và đông nam

Trang 36

Tổ chức thi công xong đường bê tông ra vùng sản xuất tại xóm Nà Giáo

và Kéo Giáo, Pác Ngà – Bó Hay được 210m rộng 2,2m do nhân dân đóng góp vật liệu và ngày công, Nhà nước hỗ trợ si măng; Giải phóng mặt bằng đường

ra đồng được 50m ở Khưa Hoi và Phia Muông

Khảo sát chuyển vị trí công trình đường bê tông thuộc CT 135 từ Lũng Thoang sang Pác Ngà – Đông Si

Đề nghị Huyện cấp dầm sắt để làm cầu dân sinh cho nhân dân, trình UBND huyện, phòng Công Thương xem xét tu sửa Cầu Treo Pác Ngà (chưa thực hiện được do huyện chưa duyệt)

Phối hợp vs huyện nghiệm thu đường Nà Nhi – Mốc 785, nhưng chất lượng bê tông không đạt nên chưa bàn giao được, đề nghị sửa chữa, khắc phục lại

Thực hiện kế hoạch số 324 của Ban CHQS huyện về việc phân công công tác chuẩn bị diễn tập, chỉ đạo ban CHQS xã phối hợp với Đồn Biên Phòng, Đoàn thanh niên và bà con nhân dân tổ chức sửa chữa cầu, làm đường giao thông được 370 công, với tổng chiều dài 370m, rộng 2,2m

Trang 37

- Nạo vét được 1.100m các tuyến mương nội đồng với 900 công Tiếp

tục xây dựng kế hoạch thực hiện các công trình kiên cố hóa kênh mương

+ Năng lượng điện: Hệ thống điện lưới và vấn đề sử dụng điện đảm

bảo đủ cho sản xuất, tiêu dùng 100% người dân sử dụng điện lưới quốc gia

+ giáo dục và y tế:

- Giáo dục: UBND xã đã chỉ đạo các trường chú trọng nâng cao công

tác giáo dục, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, vận động con em đến trường đạt 100% thường xuyên phát động và thực hiện tốt th đua “dạy tốt học tốt”, làm tốt công tác bán trú tại trường tiểu học và mầm non Ngọc Côn

ở bậc tiểu học có 19 giáo viên với tổng số học sinh là 190 trong đó có giỏi 38 em, khá 72 em, trung bình 76 em và 04 em học sinh khuyết tật(không đánh giá) ở bậc mầm non có 01 quản lý, 10 giáo viên trong đó có 03 giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 07 giáo viên dạy giỏi cấp trường Toàn trường có 121 cháu học sinh

- Y tế: thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban

đầu cho nhân dân và chuyển tiếp kịp thời Duy trì chuẩn quốc gia về y tế Giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 11,4% (giảm 2%) giảm tỷ lệ suất sinh 6,6/000 Chỉ đạo nghành y tế tổ chức kiểm tra An toàn vệ sinh thực phẩm được 03 đợt tại các điểm bán hàng trên xã

Tổng số lần khám chữa bệnh trong năm là 2316 lượt người, trong đó: Khám trẻ dưới 6 tuổi 393 trẻ; Khám thai cho 112 trường hợp; Tiêm chủng đầy

đủ 8 loại vắc xin cho 51 trẻ; Tiêm phụ nữ có thai UV2+ cho 31 trường hợp…

4.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội

a Tình hình dân số và lao động

 Dân số:

Tổ chức giao ban định kỳ vào ngày 27 hàng tháng quán triệt, triển khai các văn bản cấp trên, kế hoạch thực hiện các mục tiêu quốc gia về dân số, nắm tình hình biến động dân số, vận động các cặp vợ chồng thực hiện biện pháp tránh thai để thực hiện chính sách dân số, trong năm có 02 trường hợp

Trang 38

sinh con thứ ba Công tác chăm sóc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được quan tâm thường xuyên và kịp thời

 Biến động dân số trong năm :

Toàn xã có 568 hộ với 2435 nhân khẩu trong đó số nhân khẩu nữ là

1219 nhân khẩu, tổng nhân khẩu từ 14 tuổi trở lên là 1903 nhân khẩu Số trẻ

em được sinh ra là 30 trẻ, số người chết là 14

 Công tác giảm nghèo:

Triển khai công tác rà soát hộ nghèo năm 2014, hiện nay đang hoàn thiện các hồ sơ, theo báo cáo sơ bộ tỷ lệ hộ nghèo thoát được khoảng 40 hộ nghèo, 30 hộ cận nghèo chiếm khoảng 9% Số liệu cụ thể có báo cáo riêng sau khi đợt rà soát

 Lao động và việc làm:

Thông báo triển khai học nghề lao động nông thôn năm 2014 theo đề

án 1956 của chính phủ và thông báo tuyển chọn thực tập sinh tại Nhật Bản tới các xóm Thông báo tuyển lao động đi học và làm việc tại các công ty theo công văn số 14 của trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Triển khai thông báo của sở lao động thương binh và xã hội, trung tâm giới thiệu việc làm v.v…

Về tuyển lao động đi làm việc tại các công ty, doanh nghiệp trong nước, trong tỉnh và xuất khẩu lao động tới các xóm Thông báo tuyển điều dưỡng viên, hộ lý sang Nhật Bản làm việc lần III

Trang 39

b Tình hình sản xuất kinh tế của xã

* Thông tin về trồng trọt:

Bảng 4.1: Diện tích, năng suất, một số cây trồng chính qua 3 năm 2012, 2013,

2014 tại địa bàn xã Ngọc Côn

(Nguồn từ UBND xã Ngọc Côn)

Qua bảng 4.1 ta thấy một số loại cây trồng chính đó là lúa, ngô, đậu tương, sắn, thuốc lá Nhìn chung các cây trồng đều có diện tích giảm chỉ trừ cây thuốc lá có diện tích qua các năm tăng bởi vì sản xuất thuốc lá có hiệu quả kinh tế cao có đầu ra đảm bảo và có hỗ trợ của nhà máy Quyết Thắng

Tổng sản lượng lương thực năm 2014 đạt: 1844,6/1561 tấn, bằng 118%

so với kế hoạch giao bằng 107% so với cùng kỳ năm trước Tổng sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 757,5kg/người/năm bằng 111% so với

Ngày đăng: 18/08/2015, 09:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Hình 2.1 Khung phân tích sinh kế (Trang 15)
Bảng 3.1: Cấu trúc phân loại hộ điều tra theo các thôn - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 3.1 Cấu trúc phân loại hộ điều tra theo các thôn (Trang 32)
Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện trùng khánh - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện trùng khánh (Trang 34)
Bảng 4.1: Diện tích, năng suất, một số cây trồng chính qua 3 năm 2012, 2013, - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.1 Diện tích, năng suất, một số cây trồng chính qua 3 năm 2012, 2013, (Trang 39)
Bảng 4.2: Bảng Thống kê vật nuôi của xã Ngọc Côn qua 3 năm. - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.2 Bảng Thống kê vật nuôi của xã Ngọc Côn qua 3 năm (Trang 40)
Bảng 4.3: Trung bình  số nhân khẩu, số lao động chính và độ tuổi của các - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.3 Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính và độ tuổi của các (Trang 45)
Bảng 4.4 :Trung bình  số nhân khẩu, số lao động chính và độ tuổi của các - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.4 Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính và độ tuổi của các (Trang 45)
Bảng 4.6:Phân loại nghề nghiệp của các chủ hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.6 Phân loại nghề nghiệp của các chủ hộ (Trang 46)
Bảng 4.7: Bình quân diện tích canh tác phân theo nhóm hộ - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.7 Bình quân diện tích canh tác phân theo nhóm hộ (Trang 47)
Bảng 4.11: Số hộ trồng và bình quân diện tích trồng từ các cây trồng chủ yếu tại xã Ngọc Côn - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.11 Số hộ trồng và bình quân diện tích trồng từ các cây trồng chủ yếu tại xã Ngọc Côn (Trang 53)
Bảng 4.12: Bình quân phần trăm thu nhập từ các cây trồng chính phân - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.12 Bình quân phần trăm thu nhập từ các cây trồng chính phân (Trang 54)
Bảng 4.13: Bình quân % thu nhập về chăn nuôi phân theo thôn và nhóm hộ. - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.13 Bình quân % thu nhập về chăn nuôi phân theo thôn và nhóm hộ (Trang 55)
Bảng 4.16: số lƣợng vật nuôi chính theo phân loại kinh tế hộ của xã  Ngọc Côn - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.16 số lƣợng vật nuôi chính theo phân loại kinh tế hộ của xã Ngọc Côn (Trang 58)
Bảng 4.17: Tổng số vật nuôi chính tại địa bàn xã Ngọc côn - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.17 Tổng số vật nuôi chính tại địa bàn xã Ngọc côn (Trang 59)
Bảng 4.18: Bình quân (%) thu nhập về phi nông nghiệp theo thôn và - Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã ngọc côn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng
Bảng 4.18 Bình quân (%) thu nhập về phi nông nghiệp theo thôn và (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w