Khuyến nông hỗ trợ đào tạo nghề, phát triển làng nghề, các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý và các chương trình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao các tiến bộ KHKT, tư vấn sản
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-o0o -
HÀ THỊ THƯƠNG
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA KHUYẾN NÔNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ MINH NGỌC – HUYỆN BẮC MÊ – TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2012 - 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2
i
LỜI CAM ĐOAN
Trong thời gian thực tập tại xã Minh Ngọc – huyện Bắc Mê – tỉnh
Hà Giang, tôi đã chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định của cơ quan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài: “Đánh
giá vai trò của khuyến nông trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã Minh Ngọc – huyện Bắc Mê – tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 - 2014” là
trung thực và chưa được sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Hà Thị Thương
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Cơ quan, Đơn vị, Nhà trường, các thầy, cô giáo cùng bạn bè
và người thân Đến nay, tôi đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & PTNT Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và
đặc biệt là cô giáo ThS Lưu Thị Thùy Linh người đã trực tiếp, tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bác, các cô, các chú, các anh và các chị đang công tác tại UBND xã Minh Ngọc đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc hướng dẫn, cung cấp các thông tin, tài liệu và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài của mình trong thời gian qua
Trong quá trình thực tập, bản thân tôi đã cố gắng hết sức nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chỉ bảo của các thầy, cô giáo, của bạn bè và người thân để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Hà Thị Thương
Trang 4iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Minh Ngọc năm 2014 27
Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động xã Minh Ngọc năm 2014 28
Bảng 4.3 Tình hình trồng trọt của xã qua 3 năm 2012-2014 30
Bảng 4.4: Tình hình chăn nuôi của xã qua 3 năm 2012-2014 32
Bảng 4.5 Kết quả xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới tại xã Minh Ngọc giai đoạn 2012 - 2014 35
Bảng 4.6 Số lượng các ấn phẩm khuyến nông được sử dụng qua 3 năm 2012 - 2014 41
Bảng 4.7 Kết quả hoạt động đào tạo - tập huấn qua 3 năm 2012 – 2014 43
Bảng 4.8 Các mô hình trình diễn qua 3 năm 2012 - 2014 45
Bảng 4.9 So sánh hiệu quả của các mô hình tốt với hiệu quả sản xuất đại trà .48
Bảng 4.10 Các cuộc tham quan – hội thảo được tổ chức qua 3 năm 2012 - 1014 49
Bảng 4.11 Kết quả tham quan - hội thảo qua 3 năm 2012- 2014 50
Bảng 4.12 Thu nhập bình quân đầu người/năm qua 3 năm 2012 - 2014 51
Bảng 4.13 Đánh giá của người dân sau khi tham gia các hoạt động khuyến nông trong xây dựng NTM 53
Bảng 4.14 Phân loại hộ nông dân theo mức thu nhập trong 3 năm 2012 – 2014 55
Bảng 4.15 Tình hình lao động xã Minh Ngọc qua 3 năm 2012 - 2014 57
Bảng 4.16 Giải quyết việc làm cho LĐ xã Minh Ngọc trong 3 năm 2012 - 2014 58
Bảng 4.17 Số lượng hợp tác xã hoạt động trên địa bàn xã qua 3 năm 2012 – 2014 60
Bảng 4.18 Đánh giá của người dân về sự tham gia các hoạt động khuyến nông trong giai đoạn XDNTM 65
Bảng 4.19 Đánh giá của người dân về vai trò của các hoạt động khuyến nông trong giai đoạn XDNTM 68
Bảng 4.20 Một số kiến nghị của người dân đối với hoạt động khuyến nông 71
Trang 5iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Vai trò của khuyến nông trong chuyển giao công nghệ 5 Hình 2.2: Vai trò của công tác khuyến nông trong sự nghiệp phát triển nông thôn 6
Trang 7vi
QĐ- UBND : Quyết định của ủy ban nhân dân
TT-BNNPTNT: Thông tư của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
VH - TT – DL: Văn hóa – Thể dục – Thể thao
Trang 8vii
MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát: 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Khái niệm về khuyến nông 4
2.1.2 Nội dung và vai trò của hoạt động khuyến nông 4
2.1.3 Nhiệm vụ của Khuyến nông trong thực hiện Xây dựng nông thôn mới 7
2.1.4 Vài nét về xây dựng mô hình nông thôn mới 10
2.2 Vai trò của khuyến nông đối với xây dựng nông thôn mới trong nước và trên thế giới 14
2.2.1 Vai trò của khuyến nông đối với xây dựng nông thôn mới trên thế giới 14
2.2.2 Vai trò của khuyến nông đối với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 16
2.2.3 Vai trò của khuyến nông trong xây dựng nông thôn mới tại Hà Giang 18 2.2.4 Vai trò của khuyến nông trong xây dựng nông thôn mới tại Bắc Mê 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
Trang 9viii
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 21
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Minh Ngọc 24
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
4.2 Công tác xây dựng nông thôn mới tại xã Minh Ngọc 34
4.3 Vai trò của khuyến nông trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới 39
4.3.1 Vai trò của hoạt động khuyến nông đối với nhóm tiêu chí thứ III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (Bộ tiêu chí xây dựng NTM) 40
4.3.2 Vai trò của khuyến nông viên thôn bản trong quá trình xây dựng nông thôn mới 69
4.3.3 Đánh giá của người dân về vai trò của khuyến nông trong quá trình xây dựng NTM 63
4.3.4 Một số kiến nghị của người dân đối với khuyến nông cơ sở 70
4.4 Phân tích SWOT: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của công tác khuyến nông trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã Minh Ngọc 73
4.5 Một số định hướng và giải pháp công tác khuyến nông 74
4.5.1 Định hướng 74
4.5.2 Giải pháp 74
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 101
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương lớn, có tầm chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước Trong thời gian qua, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp
và huy động tối đa các nguồn lực Sau hơn 4 năm thực hiện bước đầu đã thu được kết quả mong đợi Cùng chung tay vào xây dựng NTM khuyến nông có vai trò không nhỏ Khuyến nông hỗ trợ đào tạo nghề, phát triển làng nghề, các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý và các chương trình trình diễn
kỹ thuật, chuyển giao các tiến bộ KHKT, tư vấn sản xuất cho người dân trong xây dựng NTM từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân
Với hệ thống khuyến nông rộng khắp cả nước, trong những năm trở lại đây khuyến nông có những đóng góp lớn cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn Với vai trò là kết nối người sản xuất với ứng dụng công nghệ mới; người sản xuất với đào tạo; người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, công tác khuyến nông góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông thôn Đặc biệt trong 3 năm gần đây khuyến nông cùng đồng hành xây dựng NTM của cả nước đã tạo ra những thành quả cao Thông qua các hoạt động khuyến nông trình độ sản xuất của người dân được tăng lên, giúp người dân tiếp cận được với những tiến bộ KHKT, nâng cao năng suất, sản lượng, đào tạo nghề cho người dân, giúp cho họ có khả năng tiếp cận với những cái mới Mặt khác công tác khuyến nông không đơn thuần chỉ là hoạt động chuyên môn kỹ thuật nông nghiệp, mà còn là công tác chính trị, xã hội góp phần thay đổi nhận thức và tăng thu nhập cho nông dân, đào tạo nông dân nâng cao kỹ năng sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, tạo lập sinh kế cho người dân
Trang 112
Minh Ngọc là một xã nằm cách trung tâm huyện Bắc Mê 22km, có Quốc lộ 34 chạy qua Những năm gần đây, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên Là xã thuần nông phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, nhân dân trong xã đã thực hiện chủ trương chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng tăng năng suất, chất lượng, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi Ngoài cây lúa nhân dân trong xã còn chú trọng sản xuất vụ đông phát triển ngành nghề, dịch vụ do đó mang lại hiệu quả kinh tế khá cao
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Xã Minh Ngọc đạt 8/19 tiêu chí đó là: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, thủy lợi, điện, bưu điện, giáo dục, y tế , hệ thống chính trị và an ninh trật tự
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng NTM xã Minh Ngọc vẫn còn khó khăn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và việc đổi mới phát triển các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả tại địa phương Cụ thể như tiêu chí: Thu nhập, hộ nghèo, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên và hình thức tổ chức sản xuất Để giúp địa phương nhanh chóng đạt chuẩn các tiêu chí trên cần tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình
Câu hỏi được đặt ra là công tác khuyến nông của xã đã có vai trò gì trong quá trình xây dựng Nông thôn mới? Cụ thể, các tiêu chí trong nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất Và trên thực tế, khuyến nông đã làm được
gì và chưa làm được gì trong 4 tiêu chí này
Xuất phát từ tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu Tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Đánh giá vai trò của khuyến nông trong quá trình xây dựng Nông
thôn mới tại xã Minh Ngọc – huyện Bắc Mê – tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 – 2014” để đưa ra các hoạt động khuyến nông phù hợp nhằm xây dựng và phát triển
xã nông thôn mới
Trang 12- Đánh giá được thực trạng công tác xây dựng NTM tại xã Minh Ngọc
- Đánh giá được vai trò của khuyến nông trong lĩnh vực xây dựng NTM
- Phân tích được những thuận lợi và khó khăn của công tác khuyến nông trong xây dựng NTM
- Đề xuất được các giải pháp về khuyến nông trong xây dựng NTM
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp sinh viên củng cố lại kiến thức lý thuyết đã được học trên lớp
- Giúp sinh viên có phương pháp làm việc và nghiên cứu khoa học, tiếp thu thực tế để thấy rõ được những việc mà một cán bộ khuyến nông phải làm
- Bổ sung thêm kiến thức về các hoạt động khuyến nông cho sinh viên
- Bổ sung thêm tài liệu cho khoa, trường, cán bộ khuyến nông và các cơ quan trong ngành
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho cán bộ khuyến nông, cơ quan trong ngành có thêm căn cứ để lựa chọn phương án hoạt động khuyến nông phù hợp nhất để nâng cao hiệu quả các chương trình góp phần nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trang 134
PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung
để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn
Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là nông dân Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ
Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi Khuyến nông là quá trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc riêng Đây
là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân Nói cách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Nội dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân[3]
2.1.2 Nội dung và vai trò của hoạt động khuyến nông
2.1.2.1 Nội dung hoạt động khuyến nông
Nghị định 56/2005/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 26/4/2005 về công tác khuyến nông, khuyến ngư cũng nêu rõ 5 nội dung bao gồm:
(1) Thông tin, tuyên truyền;
(2) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo;
Trang 145
(3) Xây dựng mô hình và chuyển giao KHCN;
(4) Tư vấn và dịch vụ;
(5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông, khuyến ngư
Nghị định 02/2010/NĐ-CP của chính phủ ra ngày 08/01/2010 về công tác khuyến nông thay cho Nghị định 56 cũng nêu rõ 5 nội dung như sau:
(1) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo;
(2) Thông tin, tuyên truyền;
(3) Trình diễn và nhân rộng mô hình;
(4) Tư vấn và dịch vụ khuyến nông;
(5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông
2.1.2.2 Vai trò của hoạt động khuyến nông
* Vai trò trong chuyển giao công nghệ
Các tiến bộ kỹ thuật thường được phát minh bởi các nhà khoa học thuộc các trung tâm, các viện nghiên cứu, các trường Người nông dân rất muốn nắm bắt kịp thời những tiến bộ đó Nhờ có có cán bộ khuyến nông mà tiến bộ đó được chuyển dần đến nông dân qua nhiều cách khác nhau
ến
Hình 2.1: Vai trò của khuyến nông trong chuyển giao công nghệ
(Nguồn: Nguyễn Hữu Thọ, 2007)
Trong thực tiễn đời sống cho thấy nghiên cứu chỉ có hiệu quả khi nó có tính khả thi cao và được áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn đời sống, do đó khuyến nông là yếu tố trung gian để khâu nối các mối quan hệ đó Nhờ có các hoạt động khuyến nông mà tiến bộ khoa học kỹ thuật được chuyển giao tới bà
Trang 156
con nông dân và nhờ có khuyến nông nhà khoa học hiểu được nhu cầu của nông dân
* Vai trò đối với nhà nước
Khuyến nông, khuyến lâm là một trong những tổ chức giúp nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển Nông lâm nghiệp, Nông thôn và Nông dân
Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp Trực tiếp hoặc góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định, cải tiến đề ra được những chính sách phù hợp
* Vai trò trong sự nghiệp phát triển nông thôn
Trong sự nghiệp phát triển nông thôn, có thể coi khuyến nông là đòn bẩy cho sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và là một mắt xích không thể thiếu để tạo nên sự phát triển bền vững cho nông thôn Việt Nam
Hình 2.2: Vai trò của công tác khuyến nông trong sự nghiệp
phát triển nông thôn
(Nguồn: Nguyến Hữu Thọ, 2007)
Phát triển nông thôn
Tín dụng
Nghiên cứu,
công nghệ
Thị trường
Tài chính Giáo dục
Trang 16* Góp phần liên kết nông dân, thúc đẩy hợp tác nông dân với nông dân Việc đổi mới quản lý trong nông nghiệp, giao đất, giao rừng cho từng
hộ nông dân có ưu điểm cơ bản là khắc phục được sự ỉ lại, dựa dẫm vào nhau, hạn chế được tiêu cực khác phát sinh ở nông thôn [6]
2.1.3 Nhiệm vụ của Khuyến nông trong thực hiện Xây dựng nông thôn mới
Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước như chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra thì việc quan tâm chỉ đạo phát triển Tam Nông: Nông dân – Nông nghiệp và Nông thôn, đặc biệt xây dựng nông thôn mới là vấn đề mấu chốt Bởi vì 80% dân số nước ta là ở nông thôn, 70% lao động là nông nghiệp Mục đích cuối cùng của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng Tổ quốc Việt Nam với một chế độ tốt đẹp: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, vai trò của khoa học công nghệ nói chung và của khuyến nông nói riêng rất quan trọng; vì nó góp phần nâng cao giá trị của hàng hóa nông sản, nâng cao thu nhập cho người sản xuất Để hoàn thành trọng trách của mình hệ thống tổ chức khuyến nông cần phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và địa phương làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Về công tác tuyên truyền:
Trang 178
- Cán bộ khuyến nông các cấp phải nắm vững 19 tiêu chí xây dựng nông thốn mới và tuyên truyền cho bà con nông dân nắm vững để qua đó hưởng ứng thực hiện tốt các tiêu chí mà Chính phủ đã đề ra
- Hướng dẫn nhân dân nắm vững chủ trương hội nhập nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng, thấy rõ trách nhiệm của mình, muốn phát triển
và làm giàu chính đáng thì phải tự đổi mới; đổi mới cả trong nhận thức, cách nghĩ: từ bỏ những thói quen ích kỷ, tự ty, phong kiến, bảo thủ ở một số người Đổi mới trong cách làm: nhanh chóng thay đổi tập quán làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, cạnh tranh thiếu lành mạnh, làm ăn gian dối; phải lấy chữ tín làm đầu, nhất là trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt Tiếp tục tuyên truyền, vận động nông dân phát triển kinh tế hợp tác, chỉ có liên kết trong sản xuất, kinh doanh, làm ăn lớn mới tồn tại và phát triển
- Tuyên truyền cho bà con nông dân nắm vững qui hoạch vùng sản xuất nông sản hàng hớa tập trung, qua đó tự giác tuân thủ qui hoạch
Về tổ chức lại sản xuất:
- Vận động những hộ có kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, có khả năng huy động vốn nên mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh; phát triển theo qui
mô trang trại hay gia trại, theo hướng an toàn sinh học, sản xuất nông sản sạch
- Đẩy mạnh việc sản xuất theo hướng công nghệ cao như: cơ giới hóa, điện khí hóa trong sản xuất nông nghiệp
Về việc gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm:
- Tổ chức thu gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, để nâng cao giá trị sản phẩm
- Hướng dẫn cho người sản xuất chọn lựa phương án sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, áp dụng các biện pháp giảm giá thành sản xuất; liên kết với nhau trong sản xuất, kinh doanh với việc kết hợp" Bốn nhà", giữ chữ tín trong quan hệ giao dịch
Trang 189
Công tác đào tạo nghề và xóa đói giảm nghèo
- Nâng cao trình độ và kỹ năng sản xuất của người sản xuất
- Cần đào tạo nghề cho người sản xuất theo hướng chuyên sâu, để sản xuất ra sản phẩm tập trung theo mùa vụ với số lượng lớn, an toàn, độ đồng đều cao, giá thành hợp lý, mẫu mã sản phẩm bền, đẹp và phải có thương hiệu
Tiếp tục đẩy mạnh việc xã hội hóa công tác khuyến nông
- Kết hợp chặt chẽ hơn nữa với các Viện, các Trường Đại học, các doanh nghiệp, các cơ quan thông tin đại chúng, các ban, ngành, đoàn thể các cấp, các tổ chức kinh tế hợp tác, các tổ chức khuyến nông - khuyến ngư tự nguyện, các tổ chức tín dụng, các tổ chức khoa học phi chính phủ của nước ngoài (thông qua các Viện, Trường) để thực hiện một cách có hiệu quả việc
xã hội hóa công tác khuyến nông - khuyến ngư
- Đẩy mạnh công tác tư vấn và dịch vụ khuyến nông - khuyến ngư, đặc biệt là tư vấn về kinh tế hợp tác và thị trường
Đẩy mạnh mối liến kết” Bốn nhà”
Khuyến khích hỗ trợ đăng ký thương hiệu một số mặt hàng nông sản,
hỗ trợ một số doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nông sản hàng hóa chủ lực của tỉnh khi gặp rủi ro do biến động quá nhanh của giá cả thị tường, hỗ trợ đào tạo nghề cho nông dân, ngư dân một cách bài bản Hỗ trợ việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Đẩy mạnh kinh tế hộ gia đình, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp -Tự giác tuân thủ qui hoạch các tiểu vùng sản xuất do Nhà nước đề ra,
để khai thác có hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn một cách có hiệu quả và tránh rủi ro như bị nhiễm mặn nguồn nước tưới vào đầu mùa khô, bị hạn hán, úng lụt cục bộ hay sâu bệnh trên cây trồng, dịch bệnh đối với vật nuôi và gây hại trên diện rộng
Trang 192.1.4 Vài nét về xây dựng mô hình nông thôn mới
2.1.4.1 Khái niệm về nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới
là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;
cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 của Thủ tướng chính phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới và Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 4/10/2013 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn
mới[13]
Trang 20- Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung cả nước được định trước
- Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm
- Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng
- Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn
2.1.4.3 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta
Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản Những nội dung trong chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương trình lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở…đã bắt đầu tạo ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để xóa đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta đã và đang đưa nền nông nghiệp tự túc tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa
Trang 2112
Những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp nông thôn thời
kì đổi mới là rất to lớn, tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn nước ta vẫn tiềm
ẩn những mâu thuẫn, thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ như:
Thứ nhất: Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát
- Hiện nay nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23% xã
có quy hoạch nhưng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn, chất lượng chưa cao
- Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu
- Xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê bị pha tạp, lộn xộn, nhiều nét văn hóa truyền thống bị mai một
Thứ hai: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài
Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa mới đạt 25% Giao thông chất lượng thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt chuẩn quy định Hệ thống lưới điện hạ thế ở tình trạng chắp vá, chất lượng thấp, quản lý lưới điện ở nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao (22 - 25%), nông dân phải chịu giá điện cao hơn giá trần Nhà nước quy định Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ lệ đạt chuẩn về cơ sở vật chất thấp (32,7%) còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; Mức đạt chuẩn của nhà văn hóa và khu thể thao xã mới đạt 29,6%, hầu hết khác thôn không có khu thể thao theo quy định Tỷ lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp, có 77,6% số xã có điểm bưu điện văn hóa theo tiêu chuẩn, 22,5%
số thôn có điểm truy cập internet Cả nước hiện còn hơn hàng nghìn nhà ở tạm bợ (tranh, tre, nứa lá), hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch, quy chuẩn
Thứ ba: Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức thấp
Trang 2213
- Kinh tế hộ phổ biến quy mô nhỏ (36% số hộ có dưới 0,2 ha đất)
- Kinh tế trang trại chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông - lâm - ngư nghiệp trong cả nước
- Kinh tế tập thể phát triển chậm, hầu hết các xã đã có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác nhưng hoạt động còn hình thức, có trên 54% số hợp tác xã ở mức trung bình và yếu
- Đời sống cư dân nông thôn tuy được cải thiện nhưng còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng cao, thu thập bình quân đạt 16 triệu đồng/hộ (năm 2008) nhưng chênh lệch thu nhập giữa 10% nhóm người giàu và 10% nhóm người nghèo nhất là 13,5 lần
- Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn cao (16,2%)
Thứ tư: Các vấn đề về văn hóa - môi trường - giáo dục - y tế
- Giáo dục mầm non: Còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp,
- Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển
- Môi trường sống ô nhiễm
- Số trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia thấp, vai trò y tế dự phòng của trạm y tế còn hạn chế
Thứ năm: Hệ thống chính trị còn yếu (nhất là trình độ và năng lực điều hành)
- Trong hơn 81 nghìn công chức xã: 0,1% chưa biết chữ; 2,4% tiểu học; 21,5% trung học cơ sở; 75,5% trung học phổ thông
- Về trình độ chuyên môn: Chỉ có 9% có trình độ đại học, cao đẳng; 32,4% trung cấp; 9,8% sơ cấp; 48,7% chưa qua đào tạo
- Về trình độ quản lý nhà nước: Chưa qua đào tạo là 44%, chưa qua đào tạo tin học là 87%
Góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết của Đảng về nông thôn đi vào cuộc sống, một trong những việc cần làm trong
Trang 232.2 Vai trò của khuyến nông đối với xây dựng nông thôn mới trong nước
và trên thế giới
2.2.1 Vai trò của khuyến nông đối với xây dựng nông thôn mới trên thế giới
Xây dựng NTM từ phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP) của Nhật Bản
Ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào OVOP đó là, địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực
Với những nguyên tắc này nhấn mạnh vai trò của chính quyền và tổ chức khuyến nông trong việc: cải thiện kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, cải thiện các tiêu chuẩn sống của cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn và giáo dục thế hệ trẻ ở nông thôn Từ đó, hệ thống thông tin điện tử trong khuyến nông được hình thành xuất phát từ nhu cầu cung cấp thông tin trong các dịch
vụ khuyến nông và sự bùng nổ của xã hội internet Hệ thống đó được gọi là
“Mạng thông tin mở rộng, EI-net” Các EI-net bao gồm nhiều cơ sở dữ liệu về
kỹ thuật, chính sách, bản tin, hệ thống e-mail để tư vấn kỹ thuật…
Đối tượng sử dụng hệ thống thông tin điện tử EI-net không chỉ là nông dân, chủ trang trại, cán bộ khuyến nông, các nhà cố vấn chuyên môn, mà còn
có các nhà hoạch định chính sách, người làm công tác nghiên cứu, các nhà kinh doanh và hệ thống thông tin điện tử khuyến nông được xem là một
Trang 2415
mạng lưới giúp cho việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan khuyến nông, cán
bộ khuyến nông và nông dân một cách nhanh nhất[18]
Phong trào Samuel Udong của Hàn Quốc
Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ
thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn"[14]
Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Đặc biệt, vào mùa đông khi không canh tác được nông nghiệp, những nông dân sẽ được đào tạo, tập huấn các kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến các sản phẩm nông sản, đào tạo sử dụng các loại máy canh tác, chế biến… bên cạnh đó tại các Trung tâm khuyến nông còn đào tạo các nghề phụ để nâng cao kỹ năng, tạo điều kiện để nông dân có thể thu nhập thêm từ các nghề phụ như đào tạo nấu ăn, đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ… Bên cạnh hoạt động đào tạo, các Trung tâm khuyến nông còn triển khai các dịch
vụ như cho thuê máy cơ giới trong làm đất, thu hái, chế biến nông sản với giá rẻ[ 19]
Xây dựng NTM ở Thái Lan
Vốn là một nước nông nghiệp truyền thống Thái Lan thực hiện chương trình Phát triển vùng nông thôn với mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng người Thái và tạo điều kiện để người dân tự vươn lên giúp chính mình
Trong chương trình này cán bộ khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động khuyến nông như: hoạt động đào tạo huấn luyện và thông tin tuyên truyền, tư vấn dịch vụ và là người gần gũi với dân nhất Hiện tại, mỗi xã có 1-2 cán bộ khuyến nông và được Bộ Nông nghiệp và
Trang 2516
HTX Thái Lan bổ nhiệm như những cán bộ đại diện cho Bộ điều phối và hoạt động ở địa phương với các nhiệm vụ về tư vấn; cung cấp kiến thức; cung cấp dịch vụ; quản lý kiến thức và điều phối [20]
2.2.2 Vai trò của khuyến nông đối với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Chương trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định
số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 Đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế-xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, được thực hiện trên phạm vi toàn quốc với nhiều nội dung, bao gồm cả những chương trình mục tiêu khác và các chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang thực hiện trên địa bàn nông thôn Các nội dung của chương trình nhằm thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 và Quyết định số 342/QĐ-TTG ngày
20 tháng 02 năm 2013 về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Để thực hiện được các tiêu chí này đòi hỏi phải kiên trì thực hiện trong thời gian dài, với sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và phát huy cao độ vai trò chủ thể của người dân, cùng với sự nỗ lực của các cấp chính quyền ở địa phương nhất là cấp cơ sở Đặc biệt, trong tiến trình thực hiện mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, có 4 tiêu chí trong 19 tiêu chí (thuộc 5 nhóm tiêu chí) có liên quan trực tiếp đến vai trò, nhiệm vụ của khuyến nông đó là tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 11 về hộ nghèo, tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, tiêu chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất Để góp phần giúp các xã phấn đấu đạt các tiêu chí này, công tác khuyến nông cần tập trung thực hiện một số nội dung như sau: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập nhằm đạt yêu cầu tiêu chí số 10,12:
Trang 2617
Tuyên truyền vận động các địa phương tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa
có hiệu quả kinh tế cao
Tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh việc ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho từng đối tượng cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khuyến nông thông qua các hình thức như: Đào tạo bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn, hội thảo tham quan đầu
bờ, sinh hoạt câu lạc bộ khuyến nông; áp dụng phương pháp tập huấn có sự tham gia lấy học viên làm trung tâm, phương pháp tập huấn kết hợp lý thuyết với thực hành tại hiện trường theo chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây trồng vật nuôi Xây dựng và nhân rộng các mô hình khuyến nông có hiệu quả Xã hội hóa công tác khuyến nông tạo điều kiện và huy động các cấp các ngành, các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế (nhất là các doanh nghiệp) tham gia làm công tác khuyến nông
Đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Xây dựng các mô hình ứng dụng cơ giới hóa trong các khâu trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi cho các sản phẩm hàng hóa tập trung
Chú trọng công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, tạo điều kiện để thu hút các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp đầu tư trên địa bàn, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
Giảm tỷ lệ hộ nghèo nhằm đạt tiêu chí số 11:
Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch khuyến nông hàng năm tại các xã Chú trọng công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng cầm tay
Trang 2718
chỉ việc, lý thuyết gắn với thực hành giúp nông dân dần thay đổi nhận thức trong cách làm, mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo
Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn nhằm đạt tiêu chí số 13:
Cùng với phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, phải đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã Xây dựng
và nhân rộng mô hình tổ chức hợp tác, liên kết với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp để tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo hướng hàng hóa, theo hợp đồng tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức tập huấn nghiệp vụ, chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp cho các tổ hợp tác, hợp tác xã có đủ năng lực tổ chức cung ứng dịch vụ vật tư đầu vào cho sản xuất, giải quyết tiêu thụ sản phẩm đầu ra theo hướng liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm
Xác định nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng nông thôn mới là tăng thu nhập cho nông dân thì công tác khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho các địa phương xây dựng và thực hiện có hiệu quả các dự án phát triển sản xuất; đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; tổ chức liên kết sản xuất gắn với tiêu thuản phẩm … nhằm giúp cho người dân nâng cao thu nhập, giảm tỷ lệ hộ nghèo, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mang tính bền vững, ổn định góp phần quan trọng trong việc đẩy nhanh tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở địa phương [ 21]
2.2.3 Vai trò của khuyến nông trong xây dựng nông thôn mới tại Hà Giang
Với phương châm “Lấy phát triển sản xuất, tạo thu nhập làm trọng tâm”, trung tâm khuyến nông tỉnh Hà Giang đóng vai trò là lực lượng chủ
Trang 28- Tái cơ cấu, quy mô sản xuất Nông Lâm nghiệp nông thôn theo hướng phát triển mạnh các nhóm sở thích, tổ hợp tác và hợp tác xã [22]
2.2.4 Vai trò của khuyến nông trong xây dựng nông thôn mới tại Bắc Mê
Ở huyện Bắc Mê, bộ mặt nông thôn ngày một thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Để có sự thay đổi đó, bên cạnh vai trò của lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức của Đảng bộ và chính quyền địa phương, còn có sự đóng góp không nhỏ của người dân và CBKN trong việc chung tay xây dựng Nông thôn mới
Trong những năm qua, Bắc Mê bắt tay vào XDNTM với nhiều khó khăn và thách thức Vượt qua những khó khăn đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy truyền thống tự lực, tự cường, tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ và đã đạt được những thành tựu quan trọng Trong năm 2014, BCĐ xây dựng NTM các
xã, thị trấn trên địa bàn huyện tiếp tục phát động phong trào thi đua “Quyết tâm phấn đấu hoàn thành mục tiêu XDNTM giai đoạn I trong năm 2014 - 2015”, với phương châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm”; “Việc dễ làm trước, việc khó làm sau” được đông đảo nhân dân tích cực ủng hộ và tham gia
Đặc biệt khuyến nông là lực lượng đóng vai trò chủ lực trong xây dựng NTM, cụ thể:
Trang 2920
- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập nhằm đạt yêu cầu tiêu chí số 10,12 thông qua việc
+ Tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh việc ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho từng đối tượng cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
+ Đào tạo bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn, hội thảo tham quan đầu bờ, sinh hoạt câu lạc bộ khuyến nông; xây dựng và nhân rộng các mô hình khuyến nông có hiệu quả
- Vận động nhân dân thực hiện chủ chương chính sách của Nhà nước với phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo nhằm đạt tiêu chí số 11 bằng cách chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng cầm tay chỉ việc, lý thuyết gắn với thực hành giúp nông dân dần thay đổi nhận thức trong cách làm, mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở các
xã nhằm đạt tiêu chí số 13 như chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng bằng việc hỗ trợ mua máy cày [ 22]
Trang 3021
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Những hoạt động khuyến nông liên quan đến chương trình xây dựng NTM tại xã Minh Ngọc – huyện Bắc Mê – tỉnh Hà Giang
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá các hoạt động khuyến nông trong lĩnh vực xây dựng NTM Các hoạt động khuyến nông đã và đang được triển khai thực hiện tại xã Minh Ngọc giai đoạn 2012 – 2014
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã xã Minh Ngọc – huyện Bắc Mê – tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 – 2014
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 05 năm 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Minh Ngọc
- Công tác xây dựng NTM tại xã Minh Ngọc
- Vai trò của khuyến nông trong lĩnh vực xây dựng NTM
- Những thuận lợi và khó khăn của công tác khuyến nông trong xây dựng NTM
- Giải pháp về khuyến nông trong xây dựng NTM
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
* Thông tin thứ cấp: Thu nhập từ UBND xã Minh Ngọc
Trang 3122
- Báo cáo điều kiện tự nhiên xã Minh Ngọc
- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
- Đề án xây dựng NTM xã Minh Ngọc
- Các tài liệu khác có liên quan
- Sách báo, tài liệu qua mạng internet
* Thông tin sơ cấp:
- Phỏng vấn bán cấu trúc cán bộ khuyến nông xã và 11 cán bộ khuyến nông viên thôn bản
- Điều tra nông hộ: Tiến hành điều tra ngẫu nhiên 60 hộ nông dân trên địa bàn xã Minh Ngọc Với hệ thống các câu hỏi đã được định sẵn trong bảng hỏi
Cách chọn mẫu đơn vị điều tra:
Xã Minh Ngọc gồm 11 thôn: Nà thàng, Nà Cau, Nà Sài, Nà Lá, Khuổi Lùng, Lùng Xuôi, Lũng Lầu, Kim Thạch, Khau Lừa, Lùng Càng, Lùng Hảo trong đó chọn 6 thôn:
+ Thôn Nà Sài và Nà Cau là 2 thôn nằm gần trung tâm xã có hộ buôn bán, dịch vụ nhỏ, có HTX đóng trên địa bàn Cây trồng, vật nuôi chính là lúa, ngô, trâu, gà
+ Thôn Kim Thạch là thôn nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của lòng
hồ thủy điện Na Hang ( Tuyên Quang) chủ yếu là các hộ thuần nông làm nông nghiệp Cây trồng, vật nuôi chính là lúa, ngô, trâu, lợn, gà
+ Thôn Lùng Càng và Lùng Hảo là 2 thôn khó khăn nhất của xã Minh Ngọc, thôn Lùng Càng nằm cách trung tâm xã hơn 10 km, thôn Lùng Hảo nằm cách trung tâm xã 17 km chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông và là các hộ thuần nông Cây trồng vật nuôi chính là lúa, ngô, trâu, dê, lợn, gà
Trang 3223
+ Thôn Khuổi Lùng là thôn có tiềm năng phát triển giống chè Shan tuyết sản xuất theo hướng thị trường hàng hóa, cây trồng vật nuôi chính là lúa, ngô, chè, lợn gà
Cách chọn mẫu các hộ điều tra gồm 60 hộ: Trong 6 thôn đã nêu trên
chọn ngẫu nghiên 10 hộ trong mỗi thôn để tiến hành điều tra, phỏng vấn
3.3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Từ các số liệu thu thập được qua quá trình điều tra tiến hành tổng hợp
và phân tích số liệu, biểu diễn số liệu trên các bảng biểu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: sử dụng phương pháp này
để tổng hợp các số liệu thu thập được sau đó xử lý trên bảng excel, phân tích
và đánh giá tình hình thực hiện
- Phương pháp đánh giá phân tích thông qua phân tích lấy ý kiến của cán bộ
xã và của nông dân về các hoạt động khuyến nông đối với xây dựng nông thôn mới
- Phương pháp phân tích SWOT: phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội và thách thức của hoạt động khuyến nông trong xây dựng nông thôn mới
Trang 3324
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Minh Ngọc
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Minh ngọc là một xã vùng II nằm về phía Tây nam của huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang, cách trung tâm huyện 22 km, địa giới hành chính được xác định như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Minh Sơn, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang
+ Phía Nam giáp xã Thượng Tân, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang
+ Phía Đông giáp xã Lạc Nông, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang
+ Phía Tây giáp xã Yên Định, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang
Tổng diê ̣n tích đất tự nhiên của toàn xã là 9.194,56 ha
4.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Minh ngọc là xã có địa hình khá phức tạp, có độ cao trung bình từ 300- 700m so với mực nước biển địa hình bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe sâu
có độ dốc lớn, cao từ hai phía Tây và đông
* Địa mạo vùng ven sông suối: Đây là vùng thấp nhất, đất đai vùng này
phần lớn là đất phù sa thích hợp cho trồng cây hàng năm, cây ăn quả
* Địa mạo vùng núi thấp: gồm các thôn Nà thàng, Nà cau, Nà sài, Nà
các thung lũng tương đối bằng phẳng, là vùng dân cư đông đúc, đất đai phù hợp cho nhiều loại cây trồng như lúa, ngô, sắn, đậu đỗ, cây công nghiệp lâu
phát triển trồng rừng
* Địa mạo vùng núi cao: gồm các thôn: Khuổi lùng, Lùng xuôi, Lũng
lầu, Khau lừa, Lùng càng, Lùng hảo Địa mạo núi cao trên 200m, có đỉnh
Trang 3425
này chủ yếu phát triển lâm nghiệp, bảo vệ rừng đầu nguồn và các động thực vật quý hiếm
Địa hình đồi núi thấp, ven sông suối có các cánh đồng nhỏ màu mỡ, đất đai nhìn chung thuận lợi cho phát triển sản xuất các sản phẩm nông, lâm sản hàng hoá, đặc biệt là sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp Tuy nhiên ở những khu vực đồi núi cao địa hình bị chia cắt mạnh khả năng tập trung dòng chảy về mùa mưa rất lớn Sự chia cắt phức tạp và sự chênh lệch về độ cao của địa hình, địa mạo ảnh hưởng rất lớn đến việc phân chia các khu vực sản xuất
và quản lý sử dụng đất đai
4.1.1.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới thời tiết trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa ít thường dưới 50mm/tháng, lượng nước bốc hơi lớn nên thường gây ra khô hạn, thiếu nước cho sản xuất sinh hoạt mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng
10, thời tiết nóng ẩm, lượng mưa lớn chiếm 80% lượng mưa cả năm, trong đó lượng mưa lớn nhất vào tháng 6,7,8 tổng số ngày mưa trung bình từ 167 –
168 ngày Nhiệt độ trung bình năm 22,3 độ, nhiệt độ trung bình thấp nhất 12,6 độ, sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất 19,8
độ Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.437 giờ, trong đó tháng nắng nhiều nhất là tháng 8, tháng nắng ít nhất là tháng 2 Chế độ gió có 2 mùa gió chính, gió mùa đông bắc xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; Gió mùa đông nam từ tháng tư đến tháng 9 hàng năm, các thôn vùng cao có khí hậu lạnh hơn các thôn vùng thấp
Trang 3526
4.1.1.4 Sông ngòi, thủy văn
Suối Nậm Chì là nguồn nước mặt chủ yếu của xã Minh Ngọc, lượng nước mặt của xã rất ít, chưa có hồ chứa nước, lượng nước phụ thuộc vào các khe suối vào mùa khô các khe suối cạn kiệt do vậy rất khó khăn về nguồn nước sinh hoạt và sản xuất Mùa mưa lưu lượng nước tăng nhanh, nước lũ tràn
về đột ngột gây ra tình trạng ngập lụt Dọc hệ thống suối là những cánh đồng sản xuất nông nghiệp chính của xã Ngoài ra còn có sự ảnh hưởng của công trình thủy điện Na Hang (Tuyên Quang) do dòng sông Gâm chạy qua danh giới của xã và con suối Nậm Chì đổ ra sông Gâm nên sang tháng 8 hàng năm khi đóng đập thủy điện lại nước sẽ ngập toàn bộ diện tích đất sản xuất lúa, ngô của thôn Kim Thạch do đó tại thôn này chỉ sản xuất được một vụ lúa Tuy nhiên đó lại là một cơ hội khác cho người dân phát triển lĩnh vực khác như: Đánh bắt cá trên hồ, nuôi cá lồng một lứa Đồng thời khi nước rút lượng đất mùn, đất phù
sa màu mỡ làm tiền đề cho cây trồng phát triển tốt
4.1.1.5 Tình hình sử dụng đất đai
Việc sử dụng đất đai một cách hợp lý là một vấn đề quan trọng có liên quan mật thiết đến hiệu quả của sản xuất nông nghiệp và chất lượng môi trường sống của con người Để thấy rõ hiện trạng sử dụng đất đai xã Minh Ngọc ta nghiên cứu bảng sau:
Trang 3627
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Minh Ngọc năm 2014
(Nguồn: UBND xã Minh Ngọc)
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2014 xã Minh Ngọc có tổng diện tích tự nhiên là 9.194,56ha Trong đó đất nông nghiệp có 851,60ha chiếm 9,26% tổng diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp có 7.949,37ha chiếm 86,47%, đất phi nông nghiệp có 341.56ha chiếm 3,71% và đất chưa được sử dụng có 37.99ha chiếm 0,41% Còn lại là diện tích đất bán sử dụng với
14,04ha chiếm 0,15% tổng diện tích tự nhiên
Qua bảng 4.1 ta thấy tổng diện tích đất lâm nghiệp chiếm phần lớn Bởi
vì xã Minh Ngọc nằm trong khu vực rừng đặc dụng đồng thời nhân dân trong
xã tích cực trồng rừng vừa để sản xuất vừa để phủ xanh đồi trọc, chống xói mòn đất, gây lũ quét, lũ ống thiệt hại mùa màng…
Đất sản xuất nông nghiệp đứng thứ 2 trong đó có 515,73 ha chiếm 60,56% diện tích đất nông nghiệp nchủ yếu là trồng lúa nước, ngô, cây ăn quả, cây chè ngoài ra còn trồng đậu tương, lạc và sắn Còn lại 39,44% là diện tích đất nuôi trồng thủy sản
Trang 3728
Đất phi nông nghiệp chủ yếu dùng vào mục đích xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, công trình xã hội, đất trụ sở cơ quan có diện tích là 257,05ha chiếm 75,25% đất phi nông nghiệp, còn lại là đất ở; đất nghĩa trang
và đất sông suối mặt nước chuyên dùng…để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân và thúc đẩy ngành kinh tế phát triển
Diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều vì vậy cơ cấu sử dụng đất không đem lại hiệu quả kinh tế cao cho xã Trong giai đoạn tới sẽ tiếp tục khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp và dành cho mục đất phi nông nghiệp
Hiện nay, đất đai đang dần được khai thác đúng hướng, làm tăng diện tích đất sử dụng được, đưa vào sản xuất phục vụ đời sống của nhân dân Chính quyền
và nhân dân trong địa bàn xã cần phát huy tiềm năng và thế mạnh của địa phương để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng tăng năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác Gắn sản xuất với bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.1 Lao động làm việc trong nông, lâm nghiệp Người 1.793 80,51
2.1.2
Lao động dịch vụ thương mại, tiểu thủ
công nghiệp, công nhân viên chức nhà
nước
(Nguồn: UBND xã Minh Ngọc, 2015)
Qua bảng số liệu ta thấy, dân số toàn xã năm 2014 là 4.161 nhân khẩu,
861 hộ gia đình Với lực lượng lao động khá dồi dào là 2.227 người, chiếm
Trang 3829
53.52% dân số toàn xã Trong đó, lao động nông, lâm nghiệp chiếm đa số với 1,793 người, chiếm 80.51% lực lượng lao động của xã; 327 lao động dịch vụ thương mại, tiểu thủ công nghiệp, công nhân viên chức nhà nước, chiếm 14,68%; còn lại 107 người lao động khác chiếm 4,80% lực lượng lao động của xã
Là một xã không có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, ngành TTCN và dịch vụ, tuy nhiên trong những năm qua các ngành trên cũng đang dần được phát triển, bên cạnh đó cần đầu tư phát triển sản xuất
để đảm bảo an toàn lương thực
Trong những năm tới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cần đặc biệt chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân và
ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn xã
4.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế
Cùng với xu thế phát triển chung của cả nước những năm gần đây nền kinh tế xã hội của huyện Bắc Mê nói chung và xã Minh Ngọc nói riêng đã thu được nhiều thành quả vượt bậc Trong những năm qua nền kinh tế của xã
đã có bước chuyển biến tích cực theo hướng CNH – HĐH Cụ thể được thể hiện qua các lĩnh vực sau:
* Lĩnh vực nông, lâm nghiệp
- Trồng trọt
Trang 3930
Bảng 4.3 Tình hình trồng trọt của xã qua 3 năm 2012-2014
(Nguồn: UBND xã Minh Ngọc)
Qua bảng 4.3 ta thấy tình hình trồng trọt của xã có những biến động tích cực cụ thể:
Cây lúa: Năm 2012 diện tích trồng lúa của xã là 232ha, cho NSTB 56,5
tạ/ha và SLTB là 13.108 tấn; Năm 1013 diện tích trồng lúa được mở rộng với 242,2ha, NSTB tăng lên 56,7 tạ/ha và SLTB thu được là 13.721,4 tấn; đến năm 2014 diện tích sản xuất lúa của xã tăng lên 244,6 ha, nhưng NSTB lại giảm xuống đáng kể chỉ được 56,1 ta/ha, do diện tích mở rộng chủ yếu là ruộng bậc thang mới khai mở nên cho năng suất thấp, tuy nhiên SLTB vẫn tăng do diện tích sản xuất tăng
Cây Ngô: Ngô là cây trồng chính chiếm diện tích lớn, trong 3 năm trở lại
đây cây ngô đem lại hiệu quả kinh tế khá cao do đó người dân đồng loạt tập trung sản xuất ngô Năm 2012 diện tích trồng ngô của xã là 240 ha, NSTB là 29,3 tạ/ha, cho SLTB là 7.032 tấn; năm 2013 diện tích tăng lên 254,1 ha, NSTB không thay đổi, đem lại SLTB là 7.445,13 tấn; năm 2014 diện tích tăng lên 257,4 ha, tuy nhiên nă NSTB giảm chỉ cho khoảng 28,6 ta/ha do đó kéo theo SLTB giảm xuống còn 7.361,64 tấn
SLTB (tấn)
DT (ha)
NSTB (tạ/ha)
SLTB (tấn)
DT (ha)
NSTB (tạ/ha)
SLTB (tấn)
Trang 4031
Cây lạc: Được chú trọng sản xuất với diện tích khá lớn trên đị bàn xã,
đây là 1 trong những cây trồng sản xuất theo hướng hàng hóa nông sản và có hiệu quả cao Diện tích có xu hướng tăng, năm 2012 có 112 ha và SLTB đạt 1.334 tấn đến năm 2014 diện tích trồng lạc đã tăng lên 126,6 ha, NSTB đạt 13,6 tạ/ha và kéo theo SLTB cũng tăng đạt 1.721,67 tấn Như vậy chỉ trong vòng 2 năm mà cả diện tích, năng suất và sản lượng của cây lạc đạt được những kết quả đáng kể như vậy
Cây đậu thương: Cũng là loại cây trồng được sản xuất theo hướng sản phẩm
hàng hóa tuy nhiên, 3 năm trở lại đây do điều kiện thời tiết không ủng hộ và giá cả thị trường biến động nên cây trồng này có xu hướng giảm Cụ thể năm 2012 diện tích là 62,4 ha, NSTB đạt 13,65 tạ/ha, SLTB đạt 85.176 tấn nhưng đến năm
21014 diện tích giảm còn 30,1 ha kéo theo sản lượng giảm chỉ còn 38,08 tấn
Cây sắn: Năm 2012 số lượng không đáng kể do đó không có thống kê,
năm 2013 diện tích là 54ha đến năm 2014 tăng lên 56ha NSTB đạt 90 tạ/ha do đó SLTB đạt 5.152 tấn chủ yếu sản xuất để phục vụ chăn nuôi trong gia đình
Cây lâm nghiệp: Diện tích có xu hướng giảm dần cụ thể năm 2012 là
949 ha đến năm 2014 đã giảm xuống chỉ còn 927 ha Sở dĩ có sự biến động như vậy là vì người dân khai phá mở rộng diện tích trồng ngô và chuyển đổi những khoảng đất có thể mở ruộng bậc thang sang trồng lúa
- Chăn nuôi