Câu trả lời được xem xét cách ứng xửcủa doanh nghiệp theo sự lựa chọn phương án kinh doanh ở những trường hợpsau : a Quyết định thay đổi định phí và doanh thu Trong điều kiện nhu cầu tăn
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TỔ CHỨC THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Tư VẤN CHO CÁC TÌNH HUỐNG QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Trang 2Chủ nhiệm đề tàiThư ký đề tàiThành viên -
Trang 3Chương 1 Quyết định ngắn hạn và thông tin kế toán quản trị phục vụ cho
các quyết định ngắn hạn
1.1- Quyết định ngắn hạn và đặc điểm quyết định ngắn hạn trong quản trị doanh nghiệp.
1.1.1-Khái quát về quyết định kinh doanh ngắn hạn :
Ra quyết định là một trong những chức năng cơ bản của các nhà quảntrị doanh nghiệp, nó được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động củadoanh nghiệp
Quyết định kinh doanh là lựa chọn một phương án kinh doanh có hiệuquả, phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp từ nhiều phương ánkinh doanh khác nhau
Quyết định kinh doanh gắn liền với những hành động và kết quả kinhdoanh trong tương lai, quyết định kinh doanh sẽ không bao giờ thay đổi đượcquá khứ, quyếtđịnh kinh doanh chỉ được kiểm định, chứng minh trong tươnglai, vì vậy quyết định kinh doanh của các nhà quản trị điều hành hiện tại chính
là kết quả, hệ quả cho các nhà quản trị kế thừa
Các nhà quản trị doanh nghiệp thường phải đứng trước những lựa chọn
có tính chất trái ngược nhau Mỗi phương án được xem xét là một tính huốngkhác nhau với các thông tin về thu nhập, về chi phí Về kết quả rất khác nhau
Vì vậy khi lựa chọn quyết định kinh doanh, nhà quản trị phải xem xét đếnnhiều mục tiêu khác nhau như : cần đạt được sự cực đại về lợi nhuận, cực đại
về doanh số, giảm thiểu chi phí, tăng chất lượng phục vụ, sự tồn tại, ổn địnhcủa doanh nghiệp
Tuy nhiên, xét về phương diện kinh tế, một phương án kinh doanh đượcchọn phải tạo ra sự gia tăng lợi nhuận, hay tăng thu nhập, giảm thiểu chi phí
Trang 4Quyết định kinh doanh thường ảnh hưởng đến nhu cầu tài chính khácnhau, ảnh hưởng đến các chu kỳ kinh doanh khác nhau Nếu căn cứ vào thờigian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi quyết định kinh doanh, chúng ta
có thể chia quyết định kinh doanh thành hai loại
Quyết định kinh doanh ngắn hạn: là những quyết định kinh doanh màthời gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi thường chỉ liên quan đếnmột thời kỳ (kỳ kế toán) hoặc dưới một năm Xét về mặt vốn đầu tư thì quyếtđịnh kinh doanh ngắn hạn là các quyết định không đòi hỏi vốn đầu tư lớn
Quyết định kinh doanh dài hạn : là những quyết định kinh doanh màthời hạn hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi dài vượt quá giới hạn một
kỳ kế toán hoặc một năm; Vốn đầu tư đòi hỏi một khối lượng lớn
Việc sắp xếp các quyết định kinh doanh nào là quyết định kinh doanhngắn hạn, quyết định kinh doanh nào là quyết định kinh doanh dài hạn chỉmang tính chất tương đối Bởi lẽ, để đo lường thời gian ảnh hưởng, thời gianhiệu lực và thực thi của các quyết định kinh doanh là rất khó khăn và phức tạp
về đo lường thời gian, chúng ta thường xem xét đến điều kiện về nguồn vốntài trợ cho các quyết định kinh doanh Một quyết định kinh doanh ngắn hạnthường gắn liền với nguồn tài chính (vốn) tài trợ ngắn hạn, hoặc chúng ta cóthể sử dụng nguồn vốn hiện thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh để trangtrải cho quyết định này
1.1.2- Đặc điểm của quyết định kinh doanh ngắn hạn.
Từ những phân tích khái quát về quyết định kinh doanh nói chung vàquyết định kinh doanh ngắn hạn nói riêng cho phép chúng ta có thể rút ra một
số đặc điểm cơ bản liên quan đến quyết định kinh doanh ngắn hạn như sau :
- Mỗi tình huống trong quyết định ngắn hạn đều ảnh hưởng đến thunhập, chi phí trong thời gian được xác định là ngắn hạn Vì vậy phương án lựachọn phù hợp cho quyết định ngắn hạn là phương án mà lợi nhuận trong năm(hoặc dưới một năm tiếp theo) thu được phải cao hơn các phương án khác
Trang 5- Mỗi tình huống trong quyết định ngắn hạn đều liên quan đến vấn đề sửdụng năng lực sản xuất hiện thời của doanh nghiệp, không cần thiết phải đầu
tư mua sắm hoặc trang bị thêm tài sản cố định để tăng thêm năng lực sản xuất,năng lực hoạt động Vì vậy phương án lựa chọn phải là phương án có khả năngsinh lời nhiều nhất trong việc sử dụng công suất, năng lực sản xuất hiện có
1.1.3- Các loại quyết định kinh doanh ngắn hạn và các tình huống quyết định.
1.1.3.1- Quyết định điều chỉnh chi phí, giá cả, khối lượng tiêu thụ để tối
đa hoá lợi nhuận.
- Mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là lợi nhuận Để đạt được mục tiêunày, trước sự biến đổi của biến phí, định phí, sản lượng tiêu thụ, đơn giá bán,các nhà quản trị ứng xử như thế nào? Câu trả lời được xem xét cách ứng xửcủa doanh nghiệp theo sự lựa chọn phương án kinh doanh ở những trường hợpsau :
a) Quyết định thay đổi định phí và doanh thu
Trong điều kiện nhu cầu tăng thêm của thị trường đối với sản phẩm củadoanh nghiệp đã được xác định, doanh nghiệp không có điều kiện để thay đổichi phí biến đổi và giá bán sản phẩm Để tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ từ
đó phấn đấu tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, các nhà quản trị cóthể thực hiện quyết định lựa chọn phương án thay đổi định phí và doanh thu,bằng cách :
- Tăng thêm chi phí quảng cáo, khuyến mại và tiếp thị
- Mở rộng và tăng thêm các cửa hàng giới thiệu, bán sản phẩm
Mô hình tổng quát lựa chọn phương án kinh doanh trong trường hợpthay đổi định phí và doanh thu như sau :
- Xác định tỷ lệ tăng doanh thu hoặc sản lượng tiêu thụ do tăng định phí
Mức gia tăng lãi
trên Doanh thu phương
Tỷ lệ tăng Tỷ suất lãi trên
biến phí do tăng
sản
(X 1 ) = án cũ x doanh thu x biến phí của lượng tiêu thụ phương án cũ
Trang 6- Mức tăng định phí phương án mới là X0
- So sánh :
+ Nếu (X1- X0) > 0 : Nên tiến hành phương án mới, vì phương án mớilàm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Nếu (X1 - X0) ≤ 0 : Không nên tiến hành phương án mới, vì phương
án mới lợi nhuận không gia tăng mà giảm một khoản (X1 - X0)
b) Quyết định thay đổi biến phí và doanh thu
Quyết định này được đưa ra để lựa chọn phương án kinh doanh khi thayđổi biến phí làm thay đổi doanh thu, trong khi các yếu tố khác không có điều kiện thay đổi
Phương án kinh doanh này có thể thực hiện bằng một trong các trườnghợp sau :
- Tăng biến phí bằng cách tăng biến phí trực tiếp hoặc sử dụng nguyênvật liệu thay thế với chất lượng cao hơn, làm tăng chất lượng sản phẩm, từ đó
có điều kiện để tăng sản lượng tiêu thụ, tăng doanh thu và lợi nhuận của doanhnghiệp
- Tăng các khoản biến phí gián tiếp (như tăng chi phí hoa hồng bánhàng ) tạo điều kiện để tăng sản lượng tiêu thụ, từ đó tăng doanh thu và lợinhuận
- Giảm bớt chi phí biến đổi bằng cách sử dụng nguyên vật liệu thay thếvới chất lượng thấp hơn, hoặc cắt giảm các khoản biến phí gián tiếp Điều này
có thể dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, sản lượng tiêu thụ sẽ giảm, tác độngđến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
Dù thực hiện theo trường hợp nào thì mô hình phân tích tổng quát lựachọn phương án kinh doanh khi thay đổi biến phí, sản lượng tiêu thụ (doanhthu) khi các nhân tố khác không đổi như sau :
- Xác định tỷ lệ tăng (giảm) sản lượng tiêu thụ hoặc doanh thu :
Lãi trên biến phí
100% Tỷ lệ tăng Tỷ lệ tăng (giảm) sản lượng x tiêu thụ
Lãi trên biến phí đơn vị phương
án mới
Trang 7- Lãi trên biến phí phương án cũ là X0
c- Quyết định thay đổi định phí , giá bán và doanh thu
Trong trường hợp cạnh tranh gay gắt, thị trường tiêu thụ sản phẩm cókhả năng bị thu hẹp; doanh nghiệp không có điều kiện để tăng biến phí, tăngchất lượng sản phẩm Để thu hút khách hàng các nhà quản trị doanh nghiệp cóthể lựa chọn phương án kết hợp tăng định phí băng cách tăng cường quảngcáo, tiếp thị, đồng thời thực hiện giảm giá bán để tăng sản lượng tiêu thụ
Mô hình tổng quát lựa chọn phương án kinh doanh khi thay đổi địnhphí, sản lượng tiêu thụ, giá bán và các nhân tố khác không đổi như sau :
- Xác định tỷ lệ tăng sản lượng tiêu thụ do tăng định phí và giảm giá bán
Lãi trên biến phí
phương án mới (X 1 )
=
Sản lượng tiêu thụ theo phương x
- Lãi trên biến phí phương án cũ là X0
- Mức tăng định phí phương án mới là Đ.Đ
Trang 8Về một lý thuyết trong điều kiện không bị ràng buộc bởi các yếu tốđịnh phí, biến phí và giá bán sản phẩm, các nhà quản trị doanh nghiệpcó thểquyết định lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh : thay đổi định phí, biếnphí, thậm chí kết hợp cả sự thay đổi giá bán của sản phẩm để tăng sản lượngtiêu thụ, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Các tình huống cụ thể của phương án này có thể được thực hiện bao gồm :
- Tăng định phí, tăng biến phí để tăng chất lượng sản phẩm,từ đó có thểtăng giá bán, để tăng sản lượng tiêu thụ, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Giảm định phí, song tăng biến phí tạo điều kiện tăng chất lượng sảnphẩm, tăng giá bán để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
- Giảm định phí, giảm biến phí, có thể làm giảm chất lượng sản phẩm,
hạ giá bán sản phẩm - từ đó tăng sản lượng tiêu thụ, tăng lợi nhuận
- Tăng định phí, giảm biến phí, hạ giá bán để tăng sản lượng tiêu thụ,tăng lợi nhuận
Dù thực hiện theo tình huống nào thì mô hình phân tích để lựa chọnphương án kinh doanh khi thay đổi định phí, biến phí, giá bán và doanh thu cóthể tổng quát như sau :
- Xác định tỷ lệ tăng (giảm) sản lượng tiêu thụ
Lãi trên biến
án cũ x
Tỷ lệ tăng sản 100% + lượng
tiêu thụ
Lãi trên biến phí đơn vị
x phương án mới
- Lãi trên biến phí phương án cũ : X0
- Mức tăng (giảm) định phí Đ.Đ
- So sánh
Trang 9+ Nếu (X1 - X0) - Đ > 0 : Nên tiến hành phương án mới vì phương ánĐ.mới gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Nếu (X1 - X0) - Đ Đ ≤ 0 : không tiến hành vì phương án mức không giatăng lợi nhuận mà giảm một khoản ( X1 - X2 - Đ).Đ
1.1.3.2- Quyết định điều chỉnh kết cấu mặt hàng hoặc điều chỉnh cơ cấu tổ chức kinh doanh để tối đa hoá lợi nhuận.
a- Quyết định loại bỏ hay kinh doanh một bộ phận hay một mặt hàng Quyết định về vấn đề có nên loại bỏ một dây chuyển sản xuất, một bộphận kinh doanh hay một mặt hàng là một trong những vấn đề phức tạp đốivới nhà quản trị Quyết định này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau.Tuy nhiên xét về phương diện kinh tế, công việc chọn lựa cuối cùng của nhàquản trị là sự tồn tại hay huỷ bỏ một dây chuyền sản xuất, một bộ phận kinhdoanh ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Việc phân tích để đưa ra quyết định lựa chọn phương án loại bỏ haytiếp tục kinh doanh một bộ phận, 1 sản phẩm có thể xảy ra các tình huống sau:
Trường hợp 1 : nếu doanh nghiệp chưa có mặt hàng kinh doanh thaythế, lúc này sự chọn lựa gắn liền với việc phân tích thông tin thích hợp đểchọn lựa một trong hai phương án :
- Tiếp tục duy trì sản xuất kinh doanh bộ phận, mặt hàng đó
- Xoá bỏ sản xuất kinh doanh bộ phận, mặt hàng đó
Trường hợp 2 : Nếu doanh nghiệp có mặt hàng thay thế , lúc này sựchọn lựa gắn liền với phân tích thông tin thích hợp để quyết định một tronghai phương án :
- Tiếp tục duy trì phương án sản xuất kinh doanh cũ
- Mở ra sản xuất kinh doanh một mặt hàng mới
b- Quyết định tự sản xuất hay mua ngoài
Thông thường sản phẩm sản xuất ở các doanh nghiệp được thực hiệnbởi nhiều giai đoạn công nghệ, nhiều bộ phận, chi tiết Sự hợp nhất tất cả các
Trang 10công đoạn, bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh, sẽ tạo cho doanh nghiệp những thế mạnh nhất định.
- Tính độc lập trong sản xuất kinh doanh cao, ít bị phụ thuộc vào cácdoanh nghiệp bên ngoài về cung ứng linh kiện, bán thành phẩm
- Giữ được bí quyết công nghệ trong sản xuất kinh doanh
- Kiểm soát tốt hơn chất lượng hệ thống SXKD của doanh nghiệp
Tuy nhiên, sự hợp nhất đôi khi cũng gây cho doanh nghiệp không ítkhó khăn như vốn đầu tư, dễ bị cô lập với khách hàng
Với những lợi ích và hạn chế mà các nhà quản trị doanh nghiệp luôngặp phải sự chọn lựa giữa việc tự sản xuất hay mua ngoài các linh kiện, chitiết để lắp ráp, chế tạo sản phẩm
Trên phương diện kinh tế, để xem xét việc sản xuất hay mua ngoài, nhàquản trị cần phải xem xét phương án nào ảnh hưởng tốt đến lợi nhuận củadoanh nghiệp và phải gắn với các tính huống cụ thể :
- Trường hợp 1 : Doanh nghiệp đã hoạt động hết công suất không cómặt hàng khác thay thế
- Trường hợp 2 : Doanh nghiệp đã hoạt động hết cống suất và có mặthàng thay thế
- Trường hợp 3 : Doanh nghiệp chưa hoạt động hết công suất và không
có phương án kinh doanh thay thế
- Trường hợp 4 : Doanh nghiệp chưa hoạt động hết công suất cơ sởphương án kinh doạnh thay thế
- Trường hợp 5 : Xem xét chi phí cơ hội khi lựa chọn phương án tự sảnxuất hay mua ngoài
c- Quyết định nhận hay từ chối đơn đặt hàng mới
Quyết định kinh doanh này được đưa ra để lựa chọn phương án kinhdoanh khi có đơn đặt hàng mới (hoặc đơn đặt hàng đặc biệt) với gía bánthấp hơn giá bán thông thường, trong điều kiện doanh nghiệp chưa sử dụnghết năng lực sản xuất sẵn có
Trang 11Trên phương diện kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải xemxét phương án nếu chấp nhận đơn đặt hàng mới thì sẽ ảnh hưởng như thế nàođến lợi nhuận của doanh nghiệp để quyết định Tuy nhiên cũng cần phải xemxét đến các yếu tố định tính xung quanh hợp đồng này như khu vực thị trường,phản ứng của các khách hàng khác.
d- Quyết định mở thêm mặt hàng kinh doanh
Quyết định về vấn đề có nên mở thêm mặt hàng kinh doanh mới haykhông là một trong những vấn đề phức tạp dối với nhà quản trị Quyết địnhnày chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác nhau, song tất nhiên được xemxét trong điều kiện doanh nghiệp chưa sử dụng hết năng lực sản xuất sẵn có.Xét về phương diện kinh tế, công việc chọn lựa cuối cùng của nhà quản trị làviệc mở thêm mặt hàng kinh doanh mới, ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuậncủa doanh nghiệp Vì vậy tiêu chuẩn kinh tế để chọn lựa quyết định mở thêmmặt hàng kinh doanh hay không là mức đóng góp lợi nhuận của phương ánđến mục tiêu chung của doanh nghiệp
e- Quyết định nên bán ngay nửa thành phẩm hay tiếp tục sản xuất.Các quyết định nên bán ngay nửa thành phẩm hay tiếp tục sản xuất ởcác giai đoạn kế tiếp rồi mới bán thường gặp ở các doanh nghiệp có quy trìnhcông nghệ sản xuất phức tạp, gồm nhiều giai đoạn chế biến kế tiếp nhau hoặcnhững doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất sử dụng cùng loạinguyên vật liệu chung, qua quá trình chế biến cho nhiều bán thành phẩm khácnhau Bán thành phẩm ở từng cùng đoạn có thể được bán ngay hoặc sẽ tiếp tụcchế biến thành phẩm rồi bán
Đặc trưng cơ bản của những quy trình chế biến này là ở giai đoạn đầuchi phí phát sinh liên quan đến nhiều loại sản phẩm khác nhau Chi phí nàyđược phân chia, phân bổ cho từng bán thành phẩm ở một điểm tách biệt nào
đó của quy trình sản xuất Sau điểm phân chia, một số sản phẩm có thể bánngay hoặc có thể tiếp tục hế biến rối mới bán Những quyết định liên quan đến
Trang 12việc bán hay tiếp tục chế biến tại thời điểm phân chia được gọi là quyết định nên bán hay tiếp tục chế biến rồi bán.
Về phương diện kinh tế, để chọn lựa phương án nào chúng ta phải dựavào kết quả so sánh giữa thu nhập tăng thêm và chi phí tăng thêm
- Nếu thu nhập tăng thêm lớn hơn chi phí tăng thêm thì sẽ quyết địnhtiếp tục sản xuất rồi bán
- Nếu thu nhập tăng thêm thấp hơn chi phí tăng thêm thì sẽ quyếtđịnhnên bán tại thời điểm phân chia, kết thúc một công đoạn sản xuất
1.1.3.3 Quyết định thay đổi tài sản để tối đa hoá lợi nhuận.
Trong các doanh nghiệp các quyết định liên quan đến thay đổi tài sản
để tối đa hoá lợi nhuận phát sinh rất đa dạng, phong phú:
- Quyết định có nên mua máy mới để làm giảm các chi phí không?
- Quyết định có nên mở rộng thêm nhà máy, kho tàng và các máy mócthiết bị khác để làm tăng năng lực sản xuất, tăng doanh thu không?
- Quyết định về lựa chọn máy móc: Máy A, máy B hay máy C? máy nào
có hiệu quả nhất
- Quyết định nên mua máy móc thiết bị hay nên thuê?
- Quyết định nên thay máy cũ ngay không?
Những quyết định liên quan đến thay đổi tài sản thường đòi hỏi mộtlượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm kéo dài nhiều năm vì vậy liênquan đến quyết định thay đổi tài sản thường là quyết định dài hạn Tuy nhiênviệc sắp xếp các quyết định kinh doanh nào là quyết định kinh doanh ngắnhạn, quyết định kinh doanh nào là quyết định kinh doanh dài hạn chỉ mangtính chất tương đối Do đó trong một vài tình huống cụ thể về thay đổi tài sản
ví dụ: Quyết định có nên bán máy móc cũ để mua máy mới ngay hay không?
có thể coi là quyết định ngắn hạn vì khi xem xét để đưa ra quyết định trongtình huống này một trong những vấn đề phải xem xét là chi phí hoạt động củacác phương án lựa chọn mà chi phí hoạt động phát sinh hàng năm khác nhaugiữa các phương án khác nhau Mặt khác nếu xem xét về nguồn tài trợ thì
Trang 13quyếtđịnh bán máy cũ để mua máy mới có thể sử dụng nguồn tài chính hiệnthời để trang trải vì trong đó có 1 phần nguồn tài chính là khoản thu do bánmáy cũ Để đi đến quyết định có thay đổi tài sản hay không nói chung vàquyết định đổi mới tài sản trong tình huống cụ thể này, phương án được chọn
là phương án phải đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Mục tiêu của mộtdoanh nghiệp thường hướng tới một số vấn đề: cực đại về lợi nhuận ,cực tiểu
về chi phí, cực đại về chất lượng, cực đại về doanh thu, duy trì sự tồn tại củadoanh nghiệp
Tình huống này xảy ra trong thực tế các doanh nghiệp, có thể có một sốmáy móc thiết bị đang sử dụng nhưng hiệu quả không cao Nhà quản trị doanhnghiệp đang đứng trước sự lựa chọn là nên bán máy móc thiết bị đang sử dụng
để mua máy móc thiết bị mới hay không? Vì khi bán máy móc thiết bị đang
sử dụng thường doanh nghiệpbao giờ cũng bị lỗ trước mắt Mặt khác tâm lýcủa nhà QTDN là đã đầu tư thì phải cố gắng thu hồi đủ vốn tức là sẽ sử dụngđến khi hư hỏng phải thanh lý Nên không dễ gì nhà QTDN sẵn sàng chấpnhận ngay bán máy cũ để mua máy mới mặc dù sử dụng máy mới hiêụ quảhơn Do đó trong tình huống này KTQT phải thu thập phân tích và cung cấpcác thông tin giúp cho nhà QTDN xem xét và nhận thấy cần phải lựa chọnphương án nào để đi đến quyết định Thông tin cần thu thập để phân tích liênquan đến quyết định này bao gồm:
- Thông tin về quá khứ: Nguyên giá máy móc, thiết bị cũ, thời gian sửdụng máy móc, thiết bị cũ, chi phí hoạt động hàng năm, giá trị còn lại củathiết bị cũ, thu nhập hàng năm
- Thông tin dự đoán tương lai: giá mua máy móc thiết bị mới, thời gian
sử dụng thiết bị mới, chí phí hoạt động sẽ chi ra hàng năm, giá bán máy mócthiết bị cũ, giá trị thanh lý máy móc thiết bị sau thời gian sử dụng Trên cơ
sở các thông tin liên quan đã thu thập được, kế toán quản trị sẽ khảo sát và lậpbáo cáo kết quả kinh doanh cho 2 phương án theo mẫu sau:
Báo cáo tóm tắt kết quả kinh doanh
Trang 14Các phương án đầu tư
Chỉ tiêu Phương án: Sử dụng
Máy móc thiết bị cũ
Phương án: Mua máy móc thiết bị mới
Căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh này để so sánh giữa hai phương
án và phương án được lựa chọn là phương án đem lại lợi nhuận cao
bị giới hạn Năng lực sản xuất kinh doanh có thể bị giới hạn bởi các nhân tốbên trong doanh nghiệp: giờ máy chạy, giờ công lao động, VLĐ
Hoặc năng lực sản xuất kinh doanh bị giới hạn bởi các nhân tố bênngoài doanh nghiệp: số lượng sản phẩm tiêu thụ, nguồn cung cấp vật tư khanhiếm, các chính sách của Nhà nước
Tuỳ theo từng doanh nghiệp, tuỳ theo từng thời kỳ mà doanh nghiệp cóthể chỉ bị giới hạn bởi một nhân tố hoặc có thể đồng thời bị giới hạn bởi nhiềunhân tố Mà mục tiêu doanh nghiệp theo đuổi cuối cùng vẫn là tối đa hoá tổnglợi nhuận
Trang 15Để đưa ra được quyết định trong trường hợp này cần phân tích theo từngtrường hợp như sau:
* Trường hợp chỉ có một hoặc hai nhân tố giới hạn: Để đưa ra đượcquyết định chọn cơ cấu sản xuất sản phẩm như thế nào để đạt được mục tiêuthì cần phải phân tích các thông tin qua các bước
ư ớc 3: Sắp xếp thứ tự khả năng sinh lời của từng loại sản phẩm hàng
hoá ⇒ xác định thứ tự ưu tiên trên cơ sở khả năng sinh lời của từng loại sảnphẩm tính trên một đơn vị nhân tố chủ yếu có giới hạn)
* Trong trường hợp có nhiều nhân tố bị giới hạn cùng một lúc:
Có thể các nhân tố này là: số giờ máy chạy hạn chế, số giờ công lao
động hạn chế hoặc vật tư khan hiếm, mức sản lượng tiêu thụ hạn chế NhàQTDN cần phải đưa ra quyết định nên sản xuất theo một cơ cấu như thế nào?
Để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất Để đưa ra quyết định trong tình huốngnày, KTQT phải vận dụng thuật toán kinh tế để tìm ra phương án tối ưu: cụthể là việc áp dụng hệ phương trình tuyến tính để đạt được lợi nhuận cao nhất
mà vẫn thoả thoả mãn các điều kiện giới hạn Trình tự quy trình xử lý thôngtin như sau:
B
ư ớc 1: Xác định hàm mục tiêu và biểu diễn theo dạng phương trình
đại số Phương trình này là phương trình kinh tế thể hiện những ẩn số của kếtcấu sản phẩm sản xuất sẽ mang lại tổng lãi trên biến phí là cao nhất Với tổnglãi trên biến phí là cao nhất trong trường hợp này tổng định phí chưa thay đổilên làm cho tổng lợi nhuận là lớn nhất Hoặc trong số trường hợp có thể xác
Trang 16định hàm mục tiêu là tổng doanh thu, và tổng doanh thu phải là lớn nhất Ta
có phương trình:
f(LB) → Max
f = a1x1 + a2x2 + a3x3 → maxTrong đó a1a2a3 là lãi trên biến phí đơn vị của sản phẩm X1X2X3
x1x2x3 là số lượng từng loại sản phẩm X1X2X3 mà doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ
ư ớc 2: Xác định các điều kiện giàng buộc các nhân tố giới hạn, biểu
diễn chúng qua hệ phương trình đại số dạng:
cij xj ≤ bi
Trong đó: Ci là mức tiêu hao nhân tố giới hạn i cho sản phẩm j , bi lànhân tố giới hạn i
B
ư ớc 3: Biểu diễn hệ phương trình tuyến tính trên mặt phẳng tọa độ và
xác định vùng sản xuất tối ưu trên đồ thị
B
ư ớc 4: Căn cứ vào vùng sản xuất tối ưu đã biểu diễn trên đồ thị chọn
điểm kết cấu sản phẩm sản xuất làm cho tổng lãi trên biến phí của hàm mụctiêu là cao nhất Xác định bằng cách lập bảng phân tích hàm mục tiêu f(x) tạinhững điểm toạ độ giới hạn vùng sản xuất tối ưu đó chọn ra điểm tọa độ màtại đó hàm mục tiêu f(x) đạt kết quả lớn nhất
+ Thu thập thông tin:
Để đưa ra được quyết định trong điều kiện năng lực sản xuất kinhdoanh bị giới hạn thì các thông tin được sử dụng là thông tin về chi phí đượcphân loại theo biến phí, định phí để xác định lãi trên biến phí, thông tin vềđịnh mức lao động, định mức vật tư, định mức giờ máy, nhu cầu về thị trường,khả năng về vốn lưu động
* Ngoài ra doanh nghiệp cần phải đ ư a ra quyết định thúc đẩy :
Trang 17Thực tế trong điều kiện DNSXKD nhiều mặt hàng khác nhau, ngoàinhững hoạt động và kết quả về sản xuất và tiêu thụ theo kết cấu khối lượngcác mặt hàng bình thường mà doanh nghiệp đang thực hiện thì doanh nghiệpcòn có những nhân tố dư thừa có giới hạn: những nhân tố đó có thể là nhân tốphát sinh trong doanh nghiệp hoặc phát sinh ngoài doanh nghiệp như đã nêu ởtrên Trong trường hợp này doanh nghiệp phải đưa ra quyết định là sẽ thúc đẩyvào sản xuất thêm sản phẩm nào để có lợi nhuận tăng thêm đạt được là caonhất để đưa ra được quyết định thúc đẩy sản xuất thêm theo cơ cấu sản phẩmnhư thế nào thì trình tự thu thập phân tích xử lý thông tin cũng tương tự nhưtrên, được chia làm hai trường hợp.
Trường hợp 1: Nếu chỉ có dư thừa từ 1 hoặc 2 nhân tố giới hạn.
Trường hợp 2: Có dư thừa nhiều nhân tố có giới hạn.
Các bước của quá trình xử lý thông tin hoàn toàn giống trường hợp trên
Vì cuối cùng vẫn là xác định cơ cấu sản xuất sản phẩm Nhưng chỉ khác làtrong trường hợp này quyết định thúc đẩy là xác định cơ cấu để sản xuất thêmkhi có các yêú tố dư thừa có giới hạn Còn ở trường hợp trên là xác định cơcấu sản xuất sản phẩm ngay từ khi bắt đầu kế hoạch sản xuất trong điều kiệncác nhân tố có giới hạn
1.1.3.5 Các quyết định khác phổ biến trong doanh nghiệp:
* Quyết định về giá bán
Giá bán sản phẩm hàng hoá là nhân tố có ảnh hưởng lớn trực tiếp đếndoanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường mặc dùgiá bán sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp chịu sự tác động trực tiếp củacác quy luật: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị Tuynhiên trong những phạm vi và điều kiện nhất định doanh nghiệp vẫn có thểchủ động xác định giá bán sản phẩm hàng hoá của mình để đạt được nhữngmục tiêu nhất định Những quyết định liên quan đến giá thường là nhữngquyết định ngắn hạn tuỳ theo từng tình huống cụ thể doanh nghiệp có thể xác
Trang 18định giá bán để đạt được mục tiêu lợi nhuận, đạt được mục tiêu hoà vốn, mụctiêu thu hồi chi phí trực tiếp hoặc có thể xác định giá bán linh hoạt đối vớinhững đơn đặt hàng đặc biệt.
* xác định giá bán để đạt được lợi nhuận mục tiêu
Trong cơ chế thị trường lợi nhuận giữ vị trí quan trọng nó quyết định sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp Lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tếquan trọng đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, là mục tiêu mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũngtheo đuổi
Lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc vào doanh thu bán hàng và chiphí cho khối lượng sản phẩm, hàng hoá đã tiêu thụ, lợi nhuận được xác địnhtheo công thức
hay LN = SL x g - bp x SL - ĐP (2)
Trong đó: LN: lợi nhuận CP: tổng chi phí
DT: doanh thu SL: sản lượng sp hàng hoá tiêu thụbp: Biến phí đơn vị
g: giá bán đơn vịĐP: định phíThông thường muốn tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp thì doanhnghiệp hoặc là phải phấn đấu giảm chi phí để hạ giá thành sản phẩm hànghoá hoặc phải tăng thêm khối lượng sản phẩm tiêu thụ đồng thời nâng caochất lượng sản phẩm Nhưng trong thực tế có một số tình huống mà doanhnghiệp có thể đặt ra mức lợi nhuận mục tiêu và phải xác định gía bán để đạtđược lợi nhuận mục tiêu đó Các tình huống này có thể là:
- doanh nghiệp đang có nhiều lợi thế trong chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ
- Doanh nghiệp có những đơn đặt hàng phụ trội
- sản phẩm của doanh nghiệp là mới trên thị trường
Trang 19Để xác định giá bán sản phẩm trong trường hợp công thức xác định giávẫn tuân theo công thức xác định giá bán thông thường:
Giá bán = giá gốc + chi phí cộng thêm (3)
Để đạt được lợi nhuận mục tiêu đã dự kiến thì mô hình phân tích xử lýthông tin được xác định như sau:
Giá bán (g) = bp + DP LN
- Như vậy giá gốc là bp đơn vị
- CP cộng thêm phải đủ để bù đắp phần ĐP phân bổ cho một đơn vịsản phẩm và đạt được mức lợi nhuận mong muốn cho 1 đơn vị sản phẩm
Để xác định được giá bán sản phẩm hàng hoá trong trường hợp nàyphải xác định được các thông tin
- Biến phí đơn vị - Mức sản lượng dự kiến tiêu thụ
* Mục đích:
- Thông qua mô hình xác định giá bán ở công thức (4) giúp cho nhàQTDN xác định được với sản lượng sản phẩm hàng hoá dự kiến tiêu thụ và vớimức chi phí thực tế đã xác định được thì doanh nghiệp cần phải bán với giánào để đạt được mức LN đã dự kiến Từ đó có thể so sánh với giá trị thị trường
để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường cũng như đểđiều chỉnh chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
- Thông qua mô hình xác định giá bán đó để kế toán quản trị xác địnhcác thông tin cần thu thập để tính giá trong tình huống cụ thể này
* xác định giá bán để đạt được mục tiêu hoà vốn
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu bán sản phẩm hàng hoá củadoanh nghiệp đủ để bù đắp chi phí bỏ ra
- xác định điểm hoà vốn có nhiều ý nghĩa đối với nhà quản trị doanhnghiệp bởi vì tại điểm hoà vốn doanh nghiệp biết được mức độ hoạt động tốithiểu cần thiết để doanh nghiệp có lãi
Trang 20- Là cơ sở cần thiết để đưa ra các quyết định khi lựa chọn phương ánđầu tư vào mục đích sản xuất sản phẩm mới hoặc mở rộng phạm vi sản xuất sản phẩm hiện hành.
Thông thường khi xác định điểm hoà vốn là xác định sản lượng hoàvốn, doanh thu hoà vốn hoặc công suất hoà vốn Song trong trường hợp doanhnghiệp muốn dự kiến trước khối lượng sản phẩm định bán để đạt được mụctiêu hoà vốn thì lại phải xác định mức giá cần thiết để đạt được mục tiêu hoàvốn Xuất phát từ công thức (1) ta có mô hình phân tích xử lý thông tin để xácđịnh giá bán đạt được mục tiêu hoà vốn như sau:
SLh Trong đó: SLh: sản lượng hoà vốn
Trong công thức xác định giá bán này: CP gốc xác định là biến phí đơn
vị do đó cp cộng thêm chỉ cần đủ để bù đắp phần định phí phân bổ cho mộtđơn vị sản phẩm
Để xác định được giá bán sản phẩm, hàng hoá trong tình huống nàyphải xác định được các thông tin
- Thông qua mô hình này để KTQT xác định các thông tin cần thu thập
để tính giá bán đạt mục tiêu hoà vốn
* xác định giá bán với mục tiêu thu hồi chi phí trực tiếp
Trang 21Trong thực tế có những tình huống doanh nghiệp phải tiến hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh để giải quyết những vật tư tồn đọng với mục đíchthu hồi lại vốn hoặc để khai thác hết công suất của máy móc thiết bị Nêntrong trường hợp này doanh nghiệp xác định giá bán chỉ cần đủ để bù đắp chiphí trực tiếp hoặc thậm chí có thể chỉ tính đến chi phí nguyên vật liệu để thuhồi giá trị nguyên vật liệu mà không cần quan tâm đến các chi phí khác cũngnhư lợi nhuận Do đó giá bán được xác định theo công thức:
Giá bán = biến phí (chi phí trực tiếp) (6)
Như vậy giá bán được xác định chỉ phụ thuộc vào biến phí hoặc giá trịnguyên vật liệu trực tiếp, nên giá bán nhỏ hơn chi phí thực tế, giá bán sẽ cósức cạnh tranh cao, dễ dàng đạt được mục tiêu thu hồi lại vốn cho doanhnghiệp
- Với mô hình xác định giá như vậy giúp cho nhà QTDN dễ dàng xácđịnh được ngay giá bán để đạt được mục tiêu thu hồi vốn (chi phí trực tiếp) vàchỉ cần xác định được biến phí (CPNVL) là đã xác định được ngay giá bán
* xác định giá bán với những đơn đặt hàng đặc biệt (phụ trội)
ở các doanh nghiệp ngoài các hợp đồng, các đơn đặt hàng với cáckhách hàng thông thường thì có thể phát sinh các hợp đồng (đơn đặt hàng) đặcbiệt: thị trường tiêu thụ mới, khối lượng đơn đặt hàng nhiều, khách hàng nướcngoài, hoặc gặp khó khăn trong chiếm lĩnh thị trường Vấn đề đặt ra ở đây làdoanh nghiệp phải xác định giá bán sản phẩm hàng hoá như thế nào trong cáctình huống trên Trong những trường hợp này giá bán được xác định rất linhhoạt, vẫn theo công thức (3) xác định giá bán thông thường ở trên Nhưngthường lấy giá gồc là biến phí còn phần chi phí cộng thêm sẽ là phạm vi giálinh hoạt tuỳ theo từng yêu cầu, mục đích cụ thể của từng tình huống mà chiphí cộng thêm có thể được xác định như sau:
- Nếu trường hợp: phải xác định giá bán để đạt được mục tiêu LN thìchi phí cộng thêm = DP LN
SL giống như tình huống đầu tiên
Trang 22- Nếu trường hợp: năng lực sản xuất chưa tận dụng hết thì giá bán đượcxác định có thể thấp hơn giá bán thông thường và chỉ cần đạt mục đích giábán > biến phí.
1.2- Thông tin kế toán quản trị phục vụ cho các quyết định ngắn hạn
1.2.1- Mối quan hệ giữa thông tin kế toán quản trị với các quyết định ở doanh nghiệp.
Kế toán cung cấp các thông tin kinh tế tài chính về một tổ chức Kếtoán quản trị là loại kế toán dành cho người làm công tác quản lý Kế toánquản trị được coi như một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý xử lý các sốliệu kế toán để đạt được mục tiêu thiết lập các thông tin cho việc lập dự toánsản xuất kinh doanh trong một thời kỳ hoạt động, kiểm soát một cách có hiệuquả tình hình hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp
Với chức năng của mình là : chức năng phân tích, chức năng kiểm tra
và chức năng dự đoán kế hoạch, kế toán quản trị cung cấp thông tin hữu íchđáp ứng yêu cầu quản lý của các nhà quản lý trong doanh nghiệp
Tất cả các quyết định của nhà quản lý đều phải dựa vào nền tảng thôngtin, chất lượng của quyết định trong quản lý phản ánh chất lượng của thông tin
đã nhận, đặc biệt là thông tin do kế toán quản trị cung cấp
Trang 23Nhu cầu về thông tin kế toán quản trị trong việc thực hiện chức năng quản lý ở doanh nghiệp có thể được khái quát qua sơ đồ :
Kế hoạch SXKD điều hànhTổ chức Kiểm tra Ra quyếtđịnh
dự đoán
Qua đó cho thấy trong quá trình thực hiện chức năng quản lý của doanhnghiệp, Nhà quản lý cần rất nhiềuthông tin để có thể ra các quyếtđịnh đúngđắn Để phục vụ cho việc ra quyết định, thông tin kế toán quản trị đặt trọngtâm trong tương lai, nhấn mạnh đến sự thích hợp và linh hoạt, cho nên thôngtin này thông thường không có sẵn Trên cơ sở thông tin đã thu thập được, kếtoán phải phân tích lựa chọn những thông tin thích hợp, trình bày thông tin nódưới dạng dễ hiểu nhất và giải thích rõ quá trình phân tích thông tin cho nhàquản lý, từ đó nhà quản lý có thể sử dụng thông tin đó để ra quyếtđịnh đúngđắn
Quyết định kinh doanh bao gồm các quyết định ngắn hạn và quyếtđịnh dài hạn Một quyết định được xem xét là quyết định ngắn hạn nếu nó chỉliên quan đến thời kỳ 1 năm hoặc ngắn hơn, và không đòi hỏi vốn đầu tư lớn.Các quyết định kinh doanh nói chung, quyết định ngắn hạn nói riêng liên quanchủ
Trang 24yếu đến các thông tin về chi phí và giá thành Lĩnh vực kế toán quản trị cầntính toán chi phí, nắm bắt chi phí của từng mục đích cụ thể, tìm ra những giảipháp tác động tới các chi phí đó thông qua việc tác động vào những hoạt độnglàm phát sinh chi phí đó Hiển nhiên vai trò của việc mô hình hoá chi phí là rấtquan trọng với các sự lựa chọn ngắn hạn, bởi vì các quyếtđịnh đang xem xét sẽ
có thể được định hướng tốt hơn nếu những người chịu trách nhiệm có đượcphương tiện đánh giá trước được kết quả có thể của quyết định này Khichuyển từ dài hạn sang ngắn hạn,một số chi phí có vẻ như cố định trong thờigian một năm nay ngắn hơn, cho nên xét trên quan điểm tài chính, việc đặt ramục tiêu cho thời hạn ngắn thường lựa chọn những phương án hành động cókhả năng trang trải chi phí cố định và mang lại lợi nhuận, người ta quan tâmtới chi phí biến đổi và tính giá thành theo bíên phí hơn là giá thành toàn bộ.Như vậy, cách tiếp cận cơ bản về thông tin kế toán quản trị phục vụ cho quản
lý doanh nghiệp, đặc biệt là phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn, là nhậndiện và thu thập các loại chi phí xác định các chỉ tiêu giá thành khác nhau.Trong quá trình ra quyết định, các chi phí cơ bản được xem xét xoay quanhbốn câu hỏi :
- Những chi phí nào thuộc về quyết định đang xem xét? (chi phí có ảnhhưởng)
- Đơn vị phải từ bỏ gì nếu chọn giải pháp này thay vì chọn giải phápkhác (chi phí cơ hội)
- Những chi phí đi kèm với giải pháp được chọn sẽ như thế nào? (chiphí biến đổi? chi phí cố định?)
- Có thể tác động tới chi phí bằng cách nào? (chi phí kiểm soát được,chi phí không kiểm soát được)
Mỗi một tình huống cần quyết định khác nhau trong quá trình quản lýcủa doanh nghiệp sẽ có những câu trả lời khác nhau cho các câu hỏi trên.Thông tin phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn là rất phong phú, linh hoạt.Mỗi tình huống trong quyết định ngắn hạn, cần thu thập được những thông tin
Trang 25về dòng thu nhập, về chi phí được xem xét và lượng hoá cho các phương ánqua việc trả lời bốn câu hỏi ở trên Thông qua những thông tin đã xác định chotừng phương án đang xem xét và lựa chọn cho một tình huống quyết địnhngắn hạn mà kế toán quản trị cung cấp, nhà quản lý sẽ cân nhắc và lựa chọnphương án tối ưu Phương án được lựa chọn cho một quyết định ngắn hạn làphương án có khả năng sinh lời nhiều nhất trong việc sử dụng năng lực sảnxuất hiện có, và tất nhiên phương án hành động đó cũng phải phù hợp vớichiến lược chung của doanh nghiệp.
1.2.2- Các loại thông tin kế toán quản trị và đặc điểm của chúng
1.2.2.1- Thông tin quá khứ và thông tin dự đoán tương lai
* Thông tin quá khứ :
Thông tin quá khứ là nguồn thông tin kế toán quản trị thu nhận được từnhững sự kiện kinh tế đã phát sinh trong quá trình hoạt động của doanhnghiệp Thông tin này được thu nhận, xử lý và tổng hợp thông qua các phươngpháp theo từng khâu công việc của kế toán :
- Trước hết, các thông tin này thể hiện trên các chứng từ kế toán, qua hệthống hạch toán ban đầu kế toán quản trị thiết lập nên những mô hình, kết cấuthông tin khác nhau theo yêu cầu của nhà quản lý
- Vận dụng phương pháp tài khoản để xử lý thông tin : hiện nay có 2quan điểm tổ chức hệ thống tài khoản phục vụ cho kế toán quản trị :
Quan điểm 1 : Trong trường hợp kế toán tài chính (kế toán pháp quy)thuộc loại hình "kế toán tĩnh, tính thuế", các tài khoản chi phí giá thành đượctách khỏi hệ thống tài khoản chung của kế toán tài chính, do đó người ta xâydựng những tài khoản riêng biệt để phản ánh thông tin của kế toán quản trịtheo nhu cầu quản lý
Quan điểm 2 : Trong trường hợp kế toán tài chính (kế toán pháp quy)thuộc loại hình "kế toán động", các thông tin chi tiết theo từng đối tượng vàtheo từng yêu cầu quản lý sẽ được phản ánh thu nhận bằng cách sử dụng rộngrãi kết quả của kế toán chi tiết để có được những thông tin quá khứ cần thiết
Trang 26Hệ thống kế toán pháp quy của Việt Nam hiện nay thiên về kế toánđộng nên sẽ lựa chọn theo quan điểm 2.
- Thông qua thông tin về chi phí của từng trung tâm, từng bộ phận đểtính giá thành cho từng loại sản phẩm Tuỳ theo yêu cầu của nhà quản lý để kếtoán quản trị xác định giá thành toàn bộ, hay giá thành có phân bổ hợp lý địnhphí, hay giá thành theo biến phí Bên cạnh đó kế toán quản trị cũng xác địnhphương pháp xử lý, cung cấp thông tin cụ thể với các đối tượng khác
- Tiếp đó kế toán quản trị lập các báo cáo bộ phận chi tiết theo yêu cầuquản lý doanh nghiệp
Thông tin quá khứ mà kế toán quản trị cung cấp theo quan điểm lựachọn của kế toán Việt nam nhìn chung có những sự phù hợp nhất định với sốliệu của kế toán tài chính, đây là luồng thông tin cần thiết trong quá trình quản
lý doanh nghiệp:
- Thông tin quá khứ mà kế toán quản trị cung cấp là luồng thông tinthực hiện cung cấp chi tiết cụ thể cho từng bộ phận, từng mục tiêu theo yêucầu của nhà quản lý, phản ánh một cách đầy đủ chi tiết những họat động kinh
tế đã phát sinh tróng quá trình tổ chức điều hành thực hiện kết hoạch sản xuấtkinh doanh ở nhiều cấp độ quản lý khác nhau Luồng thông tin này mang tínhtin cậy ở mức độ nhất định vì các thông tin này được thu nhận, xử lý và cungcấp dựa trên số liệu từ hệ thống hạch toán ban đầu trong hệ thống kế toán củadoanh nghiệp
- Trên cơ sở thông tin quá khứ đã thu nhận được, kế toán quản trị tiếnhành so sánh với thông tin kế họach dự toán, từ đó phân tích chênh lệch, tìm
ra nghuyên nhân của những hạn chế giúp nhà quản lý khắc phục, điều chỉnhkịp thời nhằm quản lý ngày càng hiệu lực và hiệu quả hơn
- Thông qua quá trình thu nhận, cung cấp thông tin quá khứ của kế toánquản trị mà kiểm soát được quá trình điều hành thực hiện, ngăn chặn và kiểmtra phát hiện những sai sót, đánh giá trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm
Trang 27vụ ở từng cấp độ quản lý, từng bộ phận, khắc phục sai sót, hạn chế để quản lýtốt hơn.
- Luồng thông tin quá khứ là một trong những cơ sở khoa học để xâydựng dự toán chi phí sản xuất kinh doanh Hơn nữa có một số thông tin rất khónhận diện hoặc đòi hỏi tính chính xác ở mức độ cao để phục vụ cho công tác
dự toán, phải được quan sát qua thực tế nhiều kỳ, chẳng hạn như thông tin vềbiến phí, định phí
Thông tin quá khứ mà kế toán quản trị cung cấp giúp cho kế toán quảntrị thực hiện tốt hơn các chức năng phân tích, đánh giá và dự đoán, giúp chonhà quản lý kiểm soát, phân tích và đánh giá trách nhiệm quản lý trong việcthực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, đúc rút kinh nghiệm làm cơ sở choviệc dự đoán thông tin tốt hơn trong các kỳ hoạt động tiếp theo Tuy vậy,trong một tình huống cụ thể của quyết định ngắn hạn thì những thông tin quákhú sẽ không thể thay đổi cho dù người quản lý quyết định lựa chọn phương
án nào, vì vậy thông tin quá khứ không phải là thông tin được sử dụng trựctiếp để xem xét trong quá trình lựa chọn phương án kinh doanh cụ thể trongquyết định ngắn hạn
Thông tin tương lai mà kế toán quản trị cung cấp có được thông quachức năng dự đoán của kế toán quản trị, như dự toán chi phí sảnxuất kinh doanh trên cơ sở tình hình sản xuất kinh doanh thực tế,hàng loạt các dự đoán về tình hình sản xuất kinh doanh trong tươnglai cũng như tình hình về thị trường: dự toán về chi phí, thu nhậpcho từng phương án đang xem xét trong một tình huống quyết địnhngắn hạn
Một trong những thông tin tương lai quan trọng mà kế toán quản trịcung cấp là định mức chi phí, chi phí tính trước, theo đó người ta xác địnhtrước chi phí mong muốn và so sánh với chi phí thực tế tìm ra chênh lệch, bảnchất của các chênh lệch và tìm những nguyên nhân giả định cho những chênh
Trang 28lệch đó, hơn thế nữa là để có những thông tin thực sự hữu ích, thích hợp tư vấncho nhà quản lý ra quyết định.
Thông tin tin tương lai có rất nhiều ưu điểm:
- Trong những trường hợp áp dụng hệ thống hạch toán linh hoạt, khi giảđịnh đã tính trước cho một thời kỳ nào đó thì có thể tạm ghi chép vào sổ sách
kế toán ngay khi biết rõ số lượng mà không cần chờ cho đến khi tính được giáthực tế
- Nghiên cứu số liệu được ghi nhận từ việc phân tích chênh lệch giữathông tin quá khứ với thông tin tương lai để rút kinh nghiệm cho quản lý cũngnhư dự đoán ngày càng chính xác hơn
- Theo quan điểm kinh tế, một kết quả dự tính được ngay từ đầu có saibiệt một chút còn hơn là biết chắc chắn chính xác mà phải chờ đợi một thờigian lâu dài
- Quan trọng hơn nữa, dự toán được thu nhập, chi phí và kết quả mộtcách nhanh chóng, linh họat sẽ giúp cho nhà quản lý giải quyết nhanh chóngcác đơn đặt hàng cùng như các tình huống cụ thể trong việc ra quyết địnhngắn hạn
Các thông tin tương lai được sử dụng rộng rãi trong quá trình ra quyếtđịnh ngắn hạn Tuy vậy, không phải bất cứ thông tin tương lai nào cũng làthông tin thích hợp cho ra quyết định ngắn hạn Thông tin khác nhau dùng chocác mục đích khác nhau, chỉ những thông tin tương lai liên quan trực tiếp đếnviệc có thể dự toán về chi phí, thu nhập và kết quả phù hợp cho từng phương
án để xem xét lựa chọn
1.2.2.2- Thông tin thích hợp và thông tin không thích hợp
Các quyết định có trước khi xảy ra hành động và sau đó các hoạt độngnày dẫn đến những hậu quả hay kết quả Xét về mặt kinh tế thì tiêu chuẩn lựachọn trong quyết định ngắn hạn là phương án có thu nhập cao nhất hoăc chiphí thấp nhất
Trang 29Thông tin về chi phí và thu nhập là thông tin thích hợp cho việc raquyết định ngắn hạn thì phải đạt hai tiêu chuẩn cơ bản:
- Thông tin đó phải liên quan đến tương lai
- Thông tin đó phải có sự khác biệt giữa các phương án đang xem xét vàlựa chọn
Các thông tin không thoả mãn cả hai hoặc một trong hai tiêu chuẩn trên
là các thông tin không thích hợp đối với quyết định ngắn hạn, cụ thể:
- Thông tin không liên quan đến tương lai, nói cách khác đó là nhữngthông tin quá khứ: một khoản đã thu, hoặc đã chi ra trong quá khứ có liênquan tới tình huống đang xem xét, như phân tích ở nội dung trên, sẽ khôngthay đổi được cho dù quyết định như thế nào Chẳng hạn như những khoản chiphí đã chi ra được gọi là chi phí chìm, loại chi phí này luôn tồn tại dưới mọiphương án, chúng luôn bằng nhau và do đó khi so sanh những dòng chi phícủa các phương án đang xem xét lựa chọn, khoản chi phí này triệt tiêu nhau, vìvậy chi phí chìm luôn là thông tin không thích hợp cho việc ra quyết địnhngắn hạn
- Thông tin không có sự khác biệt giữa các phương án đang xem xét vàlựa chọn:
Thông tin về chi phí, thu nhập đã phát sinh trong quá khứ luôn là thôngtin không có tính chênh lệch, và không phải là thông tin thích hợp Còn nhữngthông tin về thu nhập và chi phí cho dù có liên quan đến tương lai song không
có sự khác biệt giữa các phương án đang xem xét thì chúng luôn triệu tiêunhau khi so sánh dòng chi phí và dòng thu nhập của các phương án đó, chonên những thông tin này không có ý nghĩa trong so sánh, và vì vậy chúng lànhững thông tin không thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn
Việc nhận diện thông tin thích hợp giúp cho nhà quản lý nhìn nhậnnhanh chóng những vấn đề chủ yếu thông qua những thông tin đã chọn lọcnhưng vẫn đảm bảo tính khoa học, để có quyết định nhanh chóng, đúng đắn từ
đó có thể chiếm lĩnh lợi thế cạnh tranh
Trang 30Trong những tình huống cụ thể của quyết định ngắn hạn (Tiếp tục hayloại bỏ kinh doanh một bộ phận; mua ngoài hay tự sản xuất; tiếp tục sản xuấtthành thành phẩm rồi mới bán hay bán ngay nửa thành phẩm; chấp nhận mộtđơn đặt hàng đặc biệt, .) cần có những thông tin khác nhau, đòi hỏi kế toánquản trị luôn phải thu thập thông tin, xử lý phân tích thông tin để loại bỏnhững thông tin không thích hợp, sau đó trình bày những thông tin thích hợpvới các phương an đang xem xét dưới dạng so sánh giúp cho nhà quản lý lựachọn phương án tối ưu phù hợp với mục tiêu quản lý và tiêu chuẩn lựa chọnquyết định ngắn hạn
Trang 31Chương 2
Tổ chức thu nhận thông tin và quy trình xử lý thông tin trong một số
loại tình huống quyết định ngắn hạn trong doanh nghiệp
2.1 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán quản trị phục vụ cho các tình huống quyết định ngắn hạn
Để tồn tại và phát triển, nhà quản lý doanh nghiệpluôn đứng trước cáctình huống khác nhau đòi hỏi phải ra quyết định.Vì vậy, họ rất cần thông tin
Kế toán quản trị có nhiệm vụ thu nhận và cung cấp thông tin phục vụ các nhàquản trị doanh nghiệp kiểm soát hoạt động và hoạch định chính sách Nhữngthông tin mà kế toán quản trị cần tổ chức thu nhận là thông tin quá khứ (thôngtin thực hiện) và thông tin tương lai
2.1.1 Tổ chức thu nhận thông tin quá khứ: Thông tin quá khứ là
thông tin về hiện tượng và sự kiện kinh tế đã xảy ra, đã phát sinh Nhữngthông tin này cho thấy tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong thời kỳ đãqua Điều đó giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được hiệu quả củaviệc thực hiện các quyết định, đánh giá mức độ kiểm soát các hoạt động củadoanh nghiệp của chính các nhà quản trị, làm cơ sở, tiền đề hoạch định cácchính sách trong tương lai Vì thế, việc thu nhận và cung cấp thông tin qúakhứ là nhiệm vụ quan trọng và không thể thiếu của kế toán quản trị
Thu nhận thông tin quá khứ trong kế toán quản trị có thể được thực hiện theo quy trình sau đây:
sự kiện
kinh tế
Phân tích ảnh hưởng, Hạch toán
và ghi sổ
Xếp loại và tổng hợp
Báo cáo theo yêu cẩu quản lý
Trang 32Theo quy trình trên, tất cả các sự kiện kinh tế phát sinh trong nội bộdoanh nghiệp hay phát sinh trong mối quan hệ với bên ngoài đều được kế toánquản trị phân tích ảnh hưởng của nó đến hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ
sở phân tích ảnh hưởng đó mà tổ chức hạch toán và ghi sổ ảnh hưởng của các
sự kiện này, sau đó xếp loại và tổng hợp các thông tin đã được ghi sổ Cuốicùng tuỳ theo yêu cầu của nhà quản trị mà báo cáo thông tin dưới dạng phùhợp giúp các nhà quản trị hoạch định chính sách
Để tổ chức thu nhận thông tin quá khứ, trước hết cần xem xét, phân tíchcác nhân tố ảnh hưởng đến quy trình tổ chức thu nhận và cung cấp thông tin.các nhân tố có thể kể đến là:
1 Loại hình kế toán đang áp dụng tại doanh nghiệp
2 tính chất và loại hình kinh doanh
3 Quy mô và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp
4 đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm cũng như đặc điểm tổ
chức sản xuất và tính chất sản phẩm sản xuất , kinh doanh
5 Yêu cầu và trình độ quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp.
6 loại quyết định mà nhà quản trị cần đưa ra.
Sau khi phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến quy trình thu nhậnthông tin, kế toán quản trị tiến hành vận dụng các phương pháp của kế toán đểthu nhận thông tin quá khứ Các phương pháp được sử dụng cụ thể là: Phươngpháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tổng hợpcân đối thông qua việc tổ chức hạch toán ban đầu, tổ chức vận dụng tàikhoản, thiết kế hệ thống sổ kế toán và hệ thống báo cáo theo cầu quản lý vàmục đích ra quyết định
2.1.1.1 Tổ chức hạch toán ban đầu: Đây là khâu đầu tiên của mọi hệ
thống kế toán khi thu thập thông tin quá khứ Hạch toán ban đầu được thực
Trang 33hiện thông qua việc lập các chứng từ kế toán Lập và ghi chép đầy đủ, chínhxác các sự kiện kinh tế phát sinh vào chứng từ ban đầu sẽ giúp cho các khâu kếtoán tiếp theo tiến hành được thuận lợi, đảm bảo cung cấp thông tin đượcnhanh chóng, đáp ứng yêu cầu phù hợp, hữu ích và kịp thời.
Phục vụ cho các tình huống ra quyết định, kế toán quản trị không chỉ sửdụng hệ thống chứng từ bắt buộc mà cần sử dụng rộng rãi các chứng từ hướngdẫn để thu nhận thông tin quá khứ chi tiết theo từng mục tiêu quản lý và raquyếtđịnh Doanh nghiệpcần cụ thể hoá hệ thống chứng từ hướng dẫn, chọnlọc, bổ sung, ửa đổi các chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợp với nội dung kếtoán quản trị, thiết kế thêm các chứng từ kế toán cần thiết để phản ánh các nộidung thông tin thích hợp theo yêu cầu và mục đích của các quyết định quản trịdoanh nghiệp
2.1.1.2 Tổ chức tài khoản kế toán: Việc tổ chức tài khoản kế toán để
thu thập thông tin quá khứ phục vụ các tình huống ra quyết định cần được tiếnhành một cách có hệ thống và khoa học, vừa đảm bảo cung cấp thông tin chitiết theo yêu cầu quản trị, vừa đảm bảo khả năng đối chiếu giữa thông tin chitiết với thông tin tổng hợp liên quan của các đối tượng kế toán cụ thể trongtừng doanh nghiệp
Để đáp ứng mục tiêu trên, kế toán quản trị cần dựa vào hệ thống tàikhoản nhà nước ban hành, trên cơ sở mục đích và yêu cầu quản lý chi tiết vớitừng đối tượng để mở các tài khoản chi tiết ( tài khoản cấp 2, 3, 4 ) để chi tiếthoá các tài khoản của kế toán tài chính và theo dõi chi tiết từng đối tượng kếtoán Trên tài khoản chi tiết cần kết hợp sử dụng thước đo giá trị với các thước
đo khác
2.1.1.3 Sử dụng hệ thống sổ kế toán: Sổ kế toán là hình thức đặc biệt
quan trọng được sử dụng trong kế toán quản trị để thu thập chẳng những thôngtin quá khứ mà cả thông tin tương lai Hệ thống sổ kế toán, đặc biệt là các sổ
Trang 34chi tiết được sử dụng để phản ánh và thu nhận thông tin hữu ích một cách chi tiết về từng đối tượng kế toán phù hợp với mục đích và yêu cầu quản lý cụ thểđồng thời để có được những thông tin hữu ích thể hiện trên các báo cáo kếtoán quản trị đặc thù để có thể tổng hợp theo nhiều yêu cầu khác nhau.
Để thu nhận thông tin với mục đích trên, hệ thống sổ kế toán quản trịcần được thiết kế cụ thể mẫu sổ với số lượng các chỉ tiêu cụ thể được sắp xếptheo trình tự hợp lý và khoa học theo yêu cầu quản lý cũng như sự tiện lợi củaviệc trình bày, tổng hợp, baó cáo và sử dụng thông tin Khi thiết kế mẫu sổcần xem xét trình độ trang bị công nghệ xử lý thông tin ở doanh nghiệp, yêucầu quản lý chi tiết từng đối tượng kế toán, quá trình vận động của từng đốitượng và khả năng xử lý thông tin trong từng tình huống ra quyết định
2.1.1.4 Lập báo cáo kế toán quản trị: Trên cơ sở toàn bộ thông tin đã
tập hợp, kế toán quản trị thiết lập hệ thống báo cáo bao gồm các báo cáothường xuyên, báo cáo định kỳ, báo cáo nhanh, báo cáo đột xuất Khi thiết kế
và soạn thảo các báo cáo kế toán quản trị cần chú ý:
Các thông tin trên báo cáo được phân chia thành các chỉ tiêu phù hợpvới từng tiêu chuẩn đánh giá thông tin
Số lượng các chỉ tiêu trong báo cáo phải đáp ứng được yêu cầu kiểmsoát và hoạch định chính sách của nhà quản trị
Các chỉ tiêu phải có quan hệ chặt chẽ, logic với nhau và được xắp xếptheo một trình tự khoa học đảm bảo tiện lợi cho quá trình sử dụng thông tin
Các chỉ tiêu trong báo cáo thực hiện cần được cụ thể theo yêu cầu quản
lý chi tiết theo thời gian, địa điểm phát sinh, theo từng hoạt động, từng nặthàng
Hình thức kết cấu của báo cáo cần đa dạng, linh hoạt tuỳ thuộc vào tiêuchuẩn đánh giá thông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống cụthể
Trang 35Các báo cáo cần được thiết kế dưới dạng so sánh được, phù hợpvới những huống khác nhau
2.1.2 Tổ chức thu thập thông tin dự đoán tương lai
Theo quy trình thu thập, thông tin tương lai được chia thành: thông tin
sơ cấp(ban đầu) và thông tin thứ cấp:
Thông tin sơ cấp là thông tin được thu thập lần đầu cho một mục đích cụthể nào đó
Thông tin thứ cấp là thông tin đã có ở đâu đó và trước đây đã được thuthập cho các mục tiêu khác
Trình tự và phương pháp thu thập thông tin liên quan đến tương lai: các nhà quản trị thực hiện thu thập thông tin liên quan đến tương lai phải
hiểu rõ đặc thù của nó để biết cách nhận được thông tin cần thiết với chi phíchấp nhận được Nếu không có thể xảy ra tình trạng thu thập thông tin khôngcần thiết hoặc thông tin cần thiết nhưng với chi phí lớn và giải thích sai lệchkết quả nhận được
Trình tự nghiên cứu thông tin tương lai có thể khái quát qua sơ đồ sau:
Thuthậpthôngtin
Phântíchthông tinthu thậpđược
Báo cáokết quả
và tư vấn
ra quyếtđịnh
Theo trình tự này, giai đoạn đầu tiên kế toán quản trị phải quan tâm làphát hiện vấn đề và xác định mục tiêu: nhà quản trị muốn có thông tin đem lạilợi ích thì thông tin phải có quan hệ trực tiếp với vấn đề đặt ra trước doanhnghiệp và đòi hỏi phải giải quyết Việc thu thập thông tin sẽ rất tốn kém nếuxác định vấn đề không rõ ràng hay sai lệch Sau đó, kế toán quản trị phải xác
Trang 36định mục tiêu thu thập thông tin Mục tiêu đó có thể là thăm dò, tức là dự kiếnthu thập số liệu sơ bộ nhằm làm sáng tỏ vấn đề và có thể giúp cho việc đưa racác gỉa thiết Mục tiêu cũng có thể là mô tả những hiện tượng và sự kiện nhấtđịnh, chẳng hạn xác định số người tiêu dùng tiềm năng, hay số người đượcnghe nói về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp Cũng có khi mụctiêu là những thử nghiệm, tức là các dự kiến kiểm tra một giả thiết về mốiquan hệ nhân quả nào đó, chẳng hạn việc giảm giá một lượng nhất định sẽ làmtăng số lương sản phẩm tiêu thụ lên bao nhiêu
Lựa chọn nguồn thông tin: Đây là giai đoạn thứ hai kế toán quản trịthực hiện để thu thập thông tin tương lai Trong giai đoạn này kế toán quản trịphải xác định loại thông tin mà nhà quản trị quan tâm và phương pháp thuthập thông tin có hiệu quả nhất Tuỳ theo đó là thông tin thứ cấp hay sơcấp(ban đầu) hoặc đồng thời cả 2 mà thu thập, ghi chép, và trình bày phù hợp
Thu thập các thông tin, số liệu thứ cấp: thông tin thứ cấp là thông tin
đã có ở đâu đó và trước đây đã thu thập cho các mục tiêu khác để thu thậpnhững thông tin này kế toán quản trị quản trị tập hợp các nguồn thông tin hiện
có trong các báo cáo nội bộ (như báo cáo về các cuộc nghiên cứu trước đây,các báo biểu thống kê nội bộ, báo cáo của các nhân viên khác, báo cáo về tàisản công nợ và khả năng thanh toán ), cũng có thể thu thập thông tin bênngoài (như các ấn phẩm của cơ quan nhà nước, tạp chí, sách, dịch vụ của các
Trang 37Thu thập thông tin số liệu sơ cấp: Rất nhiều các thông tin tương lai
được thu thập từ đầu mà chưa có ở bất cứ đâu Không thiếu nhà quản trị chorằng việc thu thập những thông tin sơ cấp chỉ là việc đưa ra một số câu hỏi vàtìm cách trả lời chúng bằng kinh nghiệm nà hiểu biết của mình hoặc tìm ngườiphỏng vấn Những thông tin thu thập được như vậy có thể là không có íchhoặc làm lạc hướng dẫn đến các quyết định sai lầm
Để thu thập thông tin sơ cấp phải có kế hoạch đặc biệt nghiên cưú thuthập Kế hoạch này phải thể hiện những nội dung cụ thể như: phương pháp thuthập, công cụ thu thập, mẫu thu thu thập, cách thức liên hệ
Tuỳ theo nội dung thông tin cần thu thập, kế toán quản trị sử dụngnhững phương pháp thu thập và trình bày khác nhau Các phương pháp được
sử dụng để thu thập thông tin ban đầu là: quan sát, thực nghiệm và thăm dò dưluận Các kỹ thuật được sử dụng trong khi thu thập thông tin là: phân tổ, chọnmẫu, tổng hợp và ước tính
Quan sát: là một trong các phương pháp thu thập thông tin, số liệu ban
đầu được áp dụng khi người thu thập tiến hành quan sát trực tiếp hoàn cảnh vàcon người Tuỳ thuộc vào nội dung thông tin mà kết quả được phản ánh thôngqua mô tả hay số liệu cụ thể
Thực nghiệm: phương pháp này đòi hỏi phải phân loại các nhóm thông
tin có thể so sánh được với nhau, tạo ra cho nhóm đó hoàn cảnh, điều kiệnkhác nhau, kiểm tra những thành phần biến động và xác định mức độ quantrọng của các đặc điểm được quan sát mục tiêu của việc vận dụng phươngpháp này là tìm ra mối quan hệ nhân quả bằng cách sàng lọc những giải thíchmâu thuẫn nhau về các kết quả quan sát được
Thăm dò dư luận: Đây là phương pháp nằm giữa thực nghiệm và quan
sát quan sát thích hợp nhất đối với việc thu thập thông tin mang tính thăm
Trang 38dò,thực nghiệm thì phù hợp với việc tìm kiếm mối liên hệ nhân quả, còn thăm
dò dư luận lại được thực hiện phù hợp nhất đối với thông tin cần thiết phải mô
tả thăm dò dư luận để có những thông tin về tri thức, chính kiến, sở tích củangười tiêu dùng và mức độ thoả mãn của họ Trên cơ sở đó xác định cầu vềmột loại sản phẩm hàng hoá và khả năng đáp ứng của bản thân doanhnghiệp
Ngoài các thông tin trên, liên quan đến tương lai, các nhà quản lý mongmuốn nhận được và kế toán quản trị phải cung cấp những thông tin khác nhưthông tin về công nghệ kết hợp các yếu tố đầu vào, thông tin về lựa chọnphương án trong điều kiện năng lực sản xuất có giới hạn
Thông tin về công nghệ kết hợp các yếu tố đầu vào: công nghệ kết hợp
các yếu tố đầu vào là mối quan hệ vật chất thể hiện cách thức chuyển đổi cácđầu vào (như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động) thành các sảnphẩm đầu ra (sản phẩm phục vụ tiêu dùng cả tiêu dùng trong sản xuất lẫn tiêudùng cá nhân) Trong sản xuất có nhiều phương án kết hợp các yếu tố đầu vàokhác nhau Mỗi phương án kết hợp cho hiệu quả kinh doanh nhất định trongđiều kiện nhất định Vì vậy để có quyết định phù hợp trong tương lai khôngthể xem nhẹ những thông tin loại này
Thu thập thông tin kiểu này trước hết người ta mô tả quan hệ giữa cácđầu vào của quá trình sản xuất với các sản phẩm đầu ra bằng một hàm số gọi làhàm sản xuất Hàm sản xuất cho biết mức sản lượng mà một doanh nghiệp cóthể sản xuất được ứng với một tổ hợp các đầu vào nhất định Trong nhiềutrường hợp để đơn giản ta có thể giả định có 2 đầu vào là lao động và vốn.Khi
đó hàm sản xuất có dạng: Sl = f(l,v) trong đó Sl là một biến phụ thuộc thểhiện mức sản lượng có thể sản xuất được l, v là các biến độc lập thể hiện sốlao động và vốn tham gia vào quá trình sản xuất Sau đó xem xét đến cácphương án kết hợp lao động và vốn cùng cho mức sản lượng đầu ra như nhau
Trang 39Cần chú ý là phương trình trên áp dụng cho một tình trạng công nghệ chotrước ( có nghĩa là một trình độ cho trước của các kiến thức về những phươngpháp khác nhau có thể sử dụng để chuyển hoá đầu vào thành đầu ra) Khicông nghệ được nâng cao thì hàm sản xuất sẽ thay đổi, khi đó một tổ hợp đầuvào như cũ doanh nghiệp có thể sản xuất được nhiều sản lượng hơn Để thiếtlập hàm sản xuất cần tính toán và xác định mức sản lượng tăng thêm khi mộtđơn vị lao động tăng thêm và mức chi phí tăng thêm khi một đơn vị sảnlượng tăng thêm Điều đó được thực hiện thông qua số liệu hạch chi tiết củatừng bộ phận sản xuất trong doanh nghiệp
Thông tin về nguồn lực bị giới hạn: Các yếu tố nguồn của quá trình sản
xuất không bao giờ là vô hạn mà thường có giới hạn trong những điều kiệnnhất định Để có quyết định trong trường hợp đó đòi hỏi phải sử dụng phươngtrình tuyến tính, tìm phương án tối ưu với mục tiêu xác định Mục tiêu kinhdoanh cuối cùng của doanh nghiệp suy cho cùng là tìm kiếmlợi nhuận tối đatrong phạm vi có thể Do đó trong trường hợp các nguồn lực bị giới hạn cầntìm cách thiết lập phương trình tuyến tính thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuậnhoặc chi phí với các yếu tố nguồn của quá trình sản xuất kinh doanh, tìmphương án tối ưu để tối đa hoá lợi nhuận hoặc tối thiểu hoá chi phí
Cũng cần phải chú ý là những thông tin liên quan đến tương lai pháttriển của doanh nghiệp không chỉ là những thông tin chưa xảy ra mà còn có cảnhững thông tin quá khứ (đã xảy ra) Bởi lẽ chính quá trình hình thành và pháttriển đến thời điểm hiện tại sẽ ảnh hưởng lớn (trong nhiều trường hợp nó cònquyết định) đến tương lai phát triển của doanh nghiệp
định
2.2- Quy trình xử lý thông tin trong một số loại tình huống quyết
2.2.1- Các quyết định điều chỉnh chi phí, giá bán, khối lượng tiêu thụ
để tối đa hoá lợi nhuận.
Trang 402.2.1.1- Quy trình thu thập xử lý thông tin :
Hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường các doanhnghiệp luôn lấy lợi nhuận làm thước đo hiệu quả : Lợi nhuận nói lên sự khoahọc trong tổ chức sản xuất, sự tài ba trong quản lý và sự năng động nhạy béntrong môi trường kinh doanh
Để tối đa hoá lợi nhuận có nhiêu con đường khác nhau mà các nhà quảntrị doanh nghiệp có thể lựa chọn đi đến quyết định Xong muốn thực hiệnđược mục tiêu đó trước hết phải biết được những nhân tố nào tác động trựctiếp đến lợi nhuận, những nhân tố này có thể tác động riêng rẽ hoặc cũng cóthể đồng thời tác động đến lợi nhuận
Nếu xét trong mối quan hệ giữa lợi nhuận với giá bán và khối lượng sảnphẩm, hàng hoá tiêu thụ và dịch vụ cung cấp thì lợi nhuận có quan hệ tươngquan tỷ lệ thuận với giá bán và khối lượng tiêu thụ, trong điều kiện chi phíkhông đổi khi giá bán tăng và khối lượng tiêu thụ tăng thì đương nhiên lợinhuận sẽ tăng lên Ngay cả trong trường hợp chi phí tăng nhưng mức độ hoặc
tỷ lệ tăng chi phí thấp hơn mức độ và tỷ lệ tăng giá bán và tăng khối lượng tiêuthụ thì lợi nhuận vẫn tăng, ngược lại nếu chi phí giảm, giá bán và khối lượngsản phẩm tiêu thụ không đổi thì lợi nhuận vẫn tăng Trường hợp chi phí giảm,giá bán tăng, khối lượng tiêu thụ tăng thì tất yếu lợi nhuận sẽ tăng cao, đây làđiều rất lý tưởng mà các doanh nghiệp hằng mong muốn
Để có thông tin đáng tin cậy trước khi phân tích đánh giá phải tiến hànhthu thập xử lý thông tin một cách khoa học
- Thông tin cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp phải là thông tin đầy
đủ và thích hợp, nghĩa là thông tin đó phải đảm bảo về số lượng và chất lượng
có như vậy thì người ra quyết định mới có được quyết sách đúng đắn Đâycũng chính là yêu cầu cần đạt được khi thu thập xử lý thông tin
* Đối với thông tin về chi phí :