Chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Krông Năng hiện nay chưa đồng bộ, chất lương dạy học nhìn chung còn thấp so với mặt bằng chung của các trường THPT trong tỉnh Đắk Lắk
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại Cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay, tiềmnăng trí tuệ trở thành nền móng và động lực chính cho sự phát triển, tăngtrưởng kinh tế- xã hội Giáo dục- Đào tạo (GD& ĐT) được coi là nhân tốquyết định cho sự thành bại của mỗi quốc gia trên trường quốc tế, trong đógiáo dục phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằngdân trí, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia.Ngày nay, với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và côngnghệ, việc nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng khu vực và thế giới đòi hỏigiáo dục phổ thông phải có những bước tiến mới mạnh mẽ nhằm giúp họcsinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹnăng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủnghĩa, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống laođộng, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trong thế giới hiện đại, mọi người đều biết rằng bất cứ công cụsản xuất nào dù tinh vi hiện đại đến đâu cũng đều là sản phẩm của conngười, do con người sử dụng và được con người tiếp tục hoàn thiện Pháttriển lực lượng sản xuất trong đều kiện hiện nay, cần phải hiểu là pháttriển con người là trước hết Đó là nhân tố đảm bảo phát triển các yếu tốcủa lực lượng sản xuất Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ươngĐảng khoá VIII đã khẳng định” Thực sự coi GD &ĐT là quốc sách hàngđầu, Là động lực phát triển kinh tế xã hội" và đồng thời chỉ rõ nhiệm vụcủa “Giáo dục và đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanhchóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo,nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưagiáo dục- đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước Thực hiện nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp
Trang 2xây dựng và phát triển đất nước" Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đãkhẳng định: "Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mớinội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thốngquản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá".
Bàn đến giáo dục, vấn đề mấu chốt nhất quan trọng nhất, thườngxuyên nhất đó là chú trọng việc nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quảgiáo dục Chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học là sợi chỉ đổ xuyên suốtquá trình giáo dục cũng như qua trình dạy học ở các trường học trong hệthống giáo dục quốc dân Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạyhọc nói riêng là sự tồn tại và phát triển của sự nghiệp giáo dục, của mỗi cơ
sở giáo dục, của mỗi trường học Nâng cao chất lượng giáo dục và chấtlượng dạy học vấn đề cốt tử của ngành giáo dục và của các trường học, làtâm trí của mọi nhà giáo, mọi thành viên trong xã hội
Đối với các trường THPT việc nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm
vụ quan trọng nhất, cũng là nhiệm vụ cơ bản đầu tiên của các nhà trường,đây chính là điều kiện quyết định để nhà trường tồn tại và phát triển và cũng
là thương hiệu của nhà trường đó đối với địa phương Thực chất của côngtác quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, công việc này đượctiến hành thường xuyên, liên tục qua từng giờ dạy học, qua các học kỳ vàtừng năm học, đây là điều kiện tất yếu để nhà trường đáp ứng yêu cầu củamục tiêu giáo dục là: “ Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồidưỡng nhân tài”
Chất lượng dạy học ở các trường THPT hiện nay, và chất lượng đàotạo nói chung đã có nhiều tiến bộ trên một số mặt … Nhiều nơi đã xuất hiệnnhững nhân tố mới, phong trào học tập sôi nổi, dân trí từng bước được nânglên Tuy nhiên chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học nóiriêng còn nhiều yếu kém, bất cập Đáng quan tâm là chất lượng, hiệu quảdạy học còn thấp, chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao về nhân
Trang 3lực của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thựchiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN Trình
độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học và thể lựccủa đa số học sinh còn yếu
Đội ngũ quản lý giáo dục năng lực còn hạn chế, không theo kịp với sự
đa dạng và phức tạp của các hoạt động giáo dục trong quá trình đổi mớiquản lý giáo dục, quản lý nhà trường để nâng cao chất lượng dạy học
Đối với Krông Năng là huyện vùng cao của tỉnh Đắk Lắk, thực tiễntrong những năm qua được sự quan tâm của cấp ủy đảng và sự đầu tư cóhiệu quả của chính quyền các cấp GD & ĐT có những tiến bộ đáng trântrọng: Hệ thống giáo dục được hoàn thiện hơn với các cấp học và bậc học,trình độ đào tạo các loại hình và phương thức giáo dục Quy mô giáo dụctăng nhanh, mạng lưới giáo dục mở rộng đến tận các xã, việc nâng cao chấtlượng dạy học ở các trường THPT đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tuynhiên chưa đồng đều ở các trường trong cả huyện Số học sinh trúng tuyểnvào các trường đại học, cao đẳng còn thấp, số học sinh đạt giải trong các kỳthi học sinh giỏi tỉnh, quốc gia chưa cao, tỷ lệ học sinh yếu kém còn cao, tỷ
lệ học sinh khá giỏi thấp qua các năm học… Vấn đề đặt ra cho những ngườilàm công tác quản lý nhà trường là phải tổng kết, đúc rút kinh nghiệm,nghiên cứu tìm ra những biện pháp quản lý hữu hiệu nhằm nâng cao chấtlượng dạy học, nhanh chóng đáp ứng những yêu cầu đổi mới của địaphương và đất nước Việc đổi mới quá trình dạy học cũng là khâu đột phá đểnâng cao chất lượng ở các trường THPT huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắknhằm khắc phục dần khoảng cách không đồng đều giữa các trường hiện nay
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nêu và từ những lý do nêu trên, tácgiả chọn đề tài: " Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chấtlượng dạy học ở các trường THPT huyện Krông Năng - tỉnh Đắk Lắk" vớimong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc xây dựng các biện pháp
Trang 4quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT đáp ứng yêu cầungày càng cao của toàn xã hội, thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của nhà trường
mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở cáctrường THPT huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk cũng như góp phần nâng caochất lượng dạy học ở các trường THPT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do điều kiện thời gian và năng lực còn hạn chế tác giả chỉ tập trungnghiên cứu những biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chấtlượng dạy học ở các trường THPT huyện Krông Năng - tỉnh Đắk Lắk., cụthể nghiên cứu ở ba trường THPT trên địa bàn huyện Krông Năng, đó là cáctrường sau đây:
1 Trường THPT Phan Bội Châu;
2 Trường THPT Lý tự Trọng;
3 Trường THPT Nguyễn Huệ
Và thời gian khảo sát trong ba năm học: 2007-2008; 2008- 2009;2009-2010
Trang 55 Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Krông Năng hiện naychưa đồng bộ, chất lương dạy học nhìn chung còn thấp so với mặt bằngchung của các trường THPT trong tỉnh Đắk Lắk và vẫn còn rất nhiều hạnchế hạn chế, bất cập Nếu áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ cácbiện pháp quản lý được đề xuất trong đề tài nghiên cứu thì chất lượng dạy ởcác trường này sẽ từng bước được nâng cao
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý nhằm nâng cao chấtlượng dạy học
5.2 Khảo sát đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động dạy học vàchất lượng dạy học ở các trường THPT của huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc ở các trường THPT huyện Krông Năng - tỉnh Đắk Lắk
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp hệ thống hoá lý thuyết
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục
7.3 Sử dụng Phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu nhận được.
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo vàphụ lục, luận văn đơực cấu trúc thành 3 chương:
Trang 6Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý năng cao chất lượng dạy học ởtrường THPT
Chương 2: Thực trạng chất lượng dạy học và quản lý nâng cao chấtlượng dạy học ở các trường THPT huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học
ở các trường THPT huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk
Trang 7NỘI DUNG Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CAO CHẤT LƯƠNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG THPT 1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, việc nâng cao chấtlượng dạy học trong nhà trường nói chung và nhà trường phổ thông nóiriêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới trong đó
có Việt Nam
Dạy học là hoạt động lao động xã hội xuất hiện từ lúc con người cónhu cầu truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của thế hệ trước Quản
lý ra đời khi có sự phân công lao động xã hội Quản lý DH là một quá trình
xã hội đặc thù Thực tiễn và lý luận về quản lý DH được hình thành và pháttriển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người
Ngay từ thời cổ đại, tư tưởng về DH và quản lý DH đã được thể hiệntrong những quan điểm của nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục.Đức Khổng Tử (551- 479 TCN) đã giúp học trò phát triển bằng cách khuyếnkhích sở trường và phê bình sở đoản, phương châm chính của dạy học làkhải phát (gợi mở) Socrates (469 - 399 TCN) đã đề xuất thực hiện phươngpháp dạy học và được sử dụng cho đến ngày nay J.A.Komenxki (1592 -1670) đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra cácbiện pháp dạy học buộc học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bảnchất của sự vật hiện tượng J.J.Rousseau (1717 - 1778) chủ trương giáo dụctrẻ em một cách tự nhiên và người học sẽ tự khám phá tích luỹ kiến thứcthông qua chính hoạt động của mình
Nhiều nhà giáo dục tiêu biểu xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XIX, đầuthế kỷ XX như John Dewey (1859 - 1952), A.Macarenco (1888 - 1938),
Trang 8Jean Piaget (1896 - 1980),… cũng có quan điểm hướng đến sự tích cực hóahoạt động nhận thức của người học.
Vào nửa đầu thế kỷ XX, T.Makiguchi (Nhật Bản) đã nêu lên quá trìnhphát triển của giáo dục tương ứng với nó là sự thay đổi vai trò của ngườithầy trong quá trình giáo dục, dạy học Dạy học phải hướng vào người học,dạy học tích cực, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học Xu thế dạyhọc hiện nay hoàn toàn phù hợp với tư tưởng này
Ở Liên Xô (cũ), trong những thập kỷ gần đây đã có một số công trìnhnghiên cứu hệ thống các vấn đề về PPDH mà tiêu biểu là công trình của cácnhà khoa học: V.V.Davưdop, N.A.Menchinskaia, M.N.Statkin, I.Ia.Lecne, trong đó việc công nghệ hóa quá trình dạy học của Giáo sư Viện sĩV.V.Davưdop đã được tổ chức vận dụng tại Việt Nam
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộccách mạng khoa học và công nghệ; sự bùng nổ thông tin khoa học và côngnghệ; những tư tưởng trên không những vẫn giữ nguyên giá trị của nó màcòn được tiếp tục kế thừa và phát triển Giáo dục của thế giới đã trải qua bacuộc cải cách, theo đó là cuộc cải cách về giáo dục Đặc biệt, cuộc cải cáchlần thứ hai vào những năm 1950 và cuộc cải cách lần thứ ba vào những năm
1980 đã tập trung vào vấn đề đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tíchcực chủ động, sáng tạo của người học
Ở nước ta, ngay những ngày đầu của nền giáo dục cách mạng ViệtNam, trong thư gửi cho HS nhân ngày khai trường, Bác Hồ đã viết: “Từ giờphút này trở đi, các cháu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam(…) làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu.” [24, tr.11] Nộidung bức thư như là một định hướng cho sự phát triển của PPDH
Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đếngiáo dục Định hướng đổi mới PPDH đã được nêu ra trong Nghị quyết Hộinghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khoá VII, lần thứ hai khoá
Trang 9VIII, lần thứ sáu khoá IX, được thể chế hoá trong Luật Giáo dục: “Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sángtạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồidưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềmvui, hứng thú học tập cho học sinh”, [27, tr.22] được cụ thể hoá trong quyếtđịnh 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” và các chỉ thị thựchiện nhiệm vụ năm học của Bộ GD & ĐT
Trong những năm gần đây, đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục đàotạo nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng, nhiều nhà nghiêncứu trong đó có những nhà giáo dục học, tâm lý học như Trần Hồng Quân,Phạm Minh Hạc, Phan Trọng Luận, Vũ Văn Tảo, Đỗ Đình Hoan, TrịnhXuân Vũ, Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng đã đi sâu nghiên cứu vấn
đề đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoahọc với thục tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy học sinh làm trung tâmtrong hoạt động dạy học
Xét ở góc độ nghiên cứu lý luận quản lý giáo dục, dựa trên quan điểmcủa chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa họcnước ta đã tiếp cận quản lý giáo dục (QLGD) và quản lý (QL) trường học để
đề cập đến việc phát triển công tác QL trường học; các tác phẩm tiêu biểu
như: Phương pháp luận khoa học giáo dục của Phạm Minh Hạc; Khoa học Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Trần Kiểm
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học từ lâu đã dược các nhànghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Từ những năm cuối thế kỷ XXkhi xã hội sắp bước vào một giai đoạn phát triển mới thì hơn bao giờ hết,vấn đề này được quan tâm nhiều hơn và nó trở thành mối quan tâm chungcủa toàn xẫ hội, đặc biệt là của những nhà nghiên cứu giáo dục Ý kiến của
Trang 10các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung mà chúng ta thấytrong các công trình nghiên cứu họ là khẳng định: vai trò quan trọng củacông tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp học và
ở các bậc học Đây cũng chính là một trong những tư tưởng mang tínhchiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta “ Đổi mơi mạnh mẽ nội dung,phương pháp và quản lý giáo dục đào tạo”
Giáo dục Đắk Lắk trong nhiều năm gần đây đã quan tâm đến công tácgiảng dạy của giáo viên trên lớp Ngành giáo dục đã tổ chức các lớp bồidưỡng thường xuyên cho giáo viên Hàng năm có tổ chức các hội thi giáoviên dạy giỏi ở các cấp học, bậc học Việc làm này đã kích thích được tinhthần học hỏi, nâng cao chuyên môn cho giáo viên Tuy nhiên để nâng caochất lượng dạy học cho đại đa số giáo viên thì rất cần có các biện pháp nângcao chất lượng giảng dạy của giáo viên
Quản lý hoạt động dạy học(HĐDH) thực sự là vấn đề bức xúc đã dượcquan tâm nghiên cứu và cần tiếp tục nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng caochát lượng daỵ học trong nhà trường
Quản lý HDDH là nội dung hoạt động trung tâm của người hiệu trưởng
ở các nhà trường Đồng thời cũng là nội dung cơ bản, quan trọng nhất trongcông tác quản lý trường học Chính vì lẽ đó, vấn đề quản lý HĐDH luônđược các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục đề cập trong các côngtrình nghiên cứu khoa học Giáo trình giảng dạy của trường ĐH sư phạm
Hà Nội, Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo(nay là học viện Quản lýgiáo dục) có các công trình nghiên cứu và giảng dạy về chuyên đề quản lýHĐDH trong trường phổ thông Các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lýgiáo dục cũng đã có một số tác giả viết đè tài: “Biện pháp quản lý HĐDHcủa hiệu trưởng” như đề tài: “ Biện pháp quản lý HDDH của hiệu trưởngtrường tiểu học tại thành phố Thanh Hóa của tác giả Viên Thị Dung; đề tài:
“Những biện pháp QL của hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả HĐDH ở
Trang 11các trường THPT tại thành phố Đà Nẵng’ của tác giả Nguyễn Hữu Dũng Các công trình nghiên cứu, các luận văn thạc sỹ này chủ yếu dừng lại ởnhững vấn đề lý luận vĩ mô mang tính định hướng, chỉ đạo còn vấn đềQLHĐDH ở từng khu vực, riêng từng trường THPT thì còn rất ít nghiêncứu, nhất là ở địa bàn vùng núi Tây nguyên.
Nhìn tổng thể, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứunào đề cập đến các biện pháp quản lý của HT, nhằm nâng cao chất lượngdạy học ở các trường THPT một cách có hệ thống và phù hợp với điều kiệnthực tế của huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk
Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu thực trạng, xác lập cácbiện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPThuyên Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk là cần thiết, nó góp phần nâng cao chấtlượng dạy - học trong nhà trường, đáp ứng được yêu cầu giáo dục của tỉnhnhà nói riêng và mục tiêu giáo dục THPT nói chung
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
a Khái niệm
Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài
người Nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công, hợp tác lao động QL là
một dạng hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát triển
xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liênquan đến mọi người Có thể nói QL là một trong những loại hình lao động
có hiệu quả nhất, quan trọng nhất
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xãhội của lao động
Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm đã biết phối hợp các
nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống Từ khi xuất hiện nềnsản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên Bất
Trang 12cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân,hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đếnmột tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao giờ cũng có haiphân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lýđược C Mác viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nàotiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉđạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vậnđộng của những cơ quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ
tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng".(C Mác và Ăngghen - Toàn tập, tập 23 trang 34-NXB Chính trị Quốc gia)
Như vậy C.Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động laođộng để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quátrình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt độngphổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đếnmọi người Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộngđồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạtmột mục tiêu chung
Khi bàn đến Khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau:Theo giáo sư Hà Sĩ Hồ: Quản lý là một quá trình tác động có địnhhướng (có chủ định) có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có,dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữcho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tớimục đích đã định
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mụcđích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nóichung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến"[20,tr35]
Trang 13Như vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: Phải có mục tiêu đặt
ra cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt độngcủa tổ chức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện và kế hoạch hànhđộng, một môi trường nhất định
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việcquyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thểđạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Ứng với những mụctiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau Nhờ tổ chứchiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực
và các nguồn lực khác Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy đượcnăng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạchthành hiện thực
- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng củamình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗlực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người chỉ đạo làphải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướngmọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị
Trang 14- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản
lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý Nhờ có hoạtđộng kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn,điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kếhoạch, tổ chức, chỉ đạo
c Các nguyên tắc quản lý
Các nguyên tắc quản lý là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩnhành vi mà các cơ quan quản lý, các nhà lãnh đạo phải tuân thủ trongquá trình quản lý
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học
có sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan quyền lực với sức mạnh sángtạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý Tậptrung trong quản lý được hiểu là toàn bộ hoạt động của hệ thống được tậptrung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối,chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơbản, chủ yếu để tiến hành thực hiện
Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông qua chế độ một thủ trưởng người chịu trách nhiệm trước tập thể cán bộ, công nhân viên về toàn bộ hoạtđộng của đơn vị, tổ chức mình Dân chủ trong quản lý được hiểu là sự huyđộng trí lực của mọi thành viên trong tổ chức để tiến hành quản lý Dân chủđược thể hiện ở chỗ: Các chỉ tiêu, phương án đều được tập thể tham gia bànbạc, kiến nghị các biện pháp thực thi trước khi đi đến quyết định Các tổchức quần chúng, người lao động còn được tham gia thực hiện các chứcnăng quản lý: tham gia xây dựng kế hoạch, kiểm tra, giám sát
-Tập trung và dân chủ có quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau,
có dân chủ phát huy tốt sức sáng tạo của quần chúng, động viên quần chúngtích cực lao động và tham gia bàn bạc thống nhất hành động thì tập trung
Trang 15càng cao và ngược lại Tuy nhiên, trong thực tiễn, nguyên tắc này thườngnảy sinh hai thái cực: Tập trung quá dẫn tới quan liêu, độc đoán, chuyênquyền và dân chủ quá dẫn tới vô chính phủ Cả hai thái cực này dẫn đến làmsuy yếu hiệu lực quản lý Bởi vậy, để thực hiện tốt chức năng lãnh đạo,người quản lý phải phối hợp hài hoà nguyên tắc tập trung và dân chủ.
Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích xã hội
Quản lý trước hết là quản lý con người Con người có những lợiích, những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định, do đó một trongnhững nhiệm vụ quan trọng của quản lý là chú ý đến lợi ích của conngười để khuyến khích, kích thích tính tích cực của họ Lợi ích là mộtđộng lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của con người vìvậy trong quản lý phải kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể
và lợi ích chung toàn xã hội
Nguyên tắc hiệu quả
Hiệu quả là cơ sở kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của một tổchức Vấn đề đặt ra là làm thế nào để một cơ sở vật chất kỹ thuật, mộtnguồn tài sản, một lực lượng lao động hiện có của tổ chức có thể tạo ramột thành quả lớn nhất, chất lượng tốt nhất và hiệu quả cao nhất Hiệuquả không những là nguyên tắc quản lý mà còn là thước đo trình độ tổchức, lãnh đạo và tài năng quản lý
Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu
Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải có khả năng phân tíchchính xác các tình thế của hệ thống trong quá trình xây dựng và phát triển đểtìm ra các khâu, các việc chủ yếu, những vấn đề then chốt có ý nghĩa quantrọng trong sự thành bại của tổ chức Nắm vững nguyên tắc này người quản
lý khắc phục được tình trạng dàn trải chung chung, tập trung vào nhữngvấn đề then chốt quyết định trong việc quản lý tổ chức thực hiện mục tiêu
Nguyên tắc kiên định mục tiêu
Trang 16Đây là nguyên tắc đòi hỏi người quản lý các tổ chức có ý chí kiênđịnh thực hiện cho được mục tiêu đã xác định Bởi vì một tổ chức dù có mụctiêu đúng đắn nhưng không phải lúc nào cũng được xã hội chấp nhận, đồngtình ủng hộ Nếu người quản lý thiếu tự tin, không quyết tâm thì mục tiêukhông dễ đạt được.
d Các phương pháp quản lý
Phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có chủ địnhcủa chủ thể quản lý lên đối tượng nhằm thực hiện các mục tiêu đã định.Phương pháp quản lý có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý Quá trìnhquản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng nguyên tắc,nhưng các nguyên tắc đó lại được vận dụng và được thông quan các phươngpháp quản lý nhất định Vì vậy vận dụng các phương pháp quản lý có hiệuquả là một nội dung của quản lý Mục tiêu, nhiệm vụ chỉ được thực hiệnthông qua các tác động của phương pháp quản lý, vai trò của phương phápcòn ở chỗ nhằm khơi dậy những động lực, kích thích tính năng động, sángtạo của mỗi cá nhân
Thực tiễn quản lý cho thấy không có phương pháp nào là vạn năng,phương pháp nào cũng có mặt ưu điểm, mặt nhược điểm Bởi vậy, chủ thểquản lý cần biết phối hợp các phương pháp một cách linh hoạt nhằm khaithác được những mặt mạnh, hạn chế được những nhược điểm của từngphương pháp Vận dụng các phương pháp có thành công hay không phụthuộc vào tài năng của nhà quản lý, nghệ thuật sử dụng các phương pháp đòihỏi nhà quản lý sự sáng tạo, còn bản thân các phương pháp không phải là cáiquyết định thành công của nhà quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
a Quản lý giáo dục
Khoa học quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn:Tâm lý học, Xã hội học, Triết học…
Trang 17Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lýnói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là mộtkhoa học tương đối độc lập.
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục làkhái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý cácphân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học)
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theođường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất củanhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạyhọc- giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạngthái mới về chất” [ 20, tr11 ]
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức cáchoạt động dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiệnđược các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủnghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dụccủa Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu củanhân dân, của đất nước” [11, tr9]
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đếnkhách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạttới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất Quản lý giáo dục theonghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằmđẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựngnhững nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ởtầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở,phòng giáo dục, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường
Trang 18Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình
kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mụcđích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội phải có một lựclượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợpnhững tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh vàcán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng
xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩymạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế
hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhàtrường tiến lên trạng thái mới".[21,tr43]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động củacác cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, họcsinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồnlực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”
".[31, tr23]
Trang 19Tóm lại: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục củaĐảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hànhtheo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đốivới ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.
Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt độngdạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng tháikhác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở nhữngquy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó.Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởibản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạyhọc, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lývừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường lànhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng vàrèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận
Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và pháttriển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thànhcông hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhàtrường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy muốn thựchiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lý phải xem xét đến những điềukiện đặc thù của nhà trường, phải trú trọng tới việc cải tiến công tác quản lý giáodục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường
1.2.3 Khái niệm dạy học và quản lý hoạt động dạy học
a Khái niệm dạy học
Theo Phạm Minh Hạc "Dạy học là một chức năng xã hội, nhằmtruyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được,nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực
cá nhân" [11,tr18]
Trang 20Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: "Quá trình dạy học là một quátrình sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển giáodục và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữangười dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thốngnhững tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành".[18,tr25]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: Dạy học được nghiên cứu theo quan điểm
là một quá trình Dạy học bao gồm hai quá trình đó là quá trình dạy củathày và quá trình học của trò Hai quá trình này có mối quan hệ biện chứng,tồn tại vì nhau, sinh ra vì nhau và thúc đẩy nhau phát triển
- Học là quá trình tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoahọc của học sinh biến nó từ kho tàng văn hóa xã hội thành học vấn riêng củabản thân, học sinh sẽ hình thành cho mình một thái độ mới trong việc đánhgiá các giá trị tinh thần vật chất của thế giới khách quan, một phẩm chất đạođức mới, dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên Đó là quá tình tự điềukhiển tối ưu, sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thànhcấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện
- Dạy học là sự tổ chức điều khiển quá trình học sinh chiếm lĩnh, lĩnhhội tri thức hình thành và phát triển nhân cách Quá trình dạy học có vai tròchủ đạo được thể hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự học tập củahọc sinh giúp học sinh nắm kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ Dạy cóchức năng kép là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạtđộng khác trong nhà trường Do đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất
để giúp học sinh lĩnh hội tri thức của loài người
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa họcmột cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết tronghọc tập, lao động và đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc
Trang 21lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hànhđộng của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòngyêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường vàđịnh hướng hoạt động của học sinh.
Vì vậy, có thể nói hoạt động dạy học trong nhà trường đã tô đậm chứcnăng xã hội của nhà trường, đặc trưng nhiệm vụ của nhà trường và là hoạtđộng giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục kháctrong nhà trường
b Quản lý hoạt động dạy học
Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm củanhà trường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp của nhà trường đều hướngvào hoạt động trung tâm đó Vì vậy trọng tâm của việc quản lý trường học làquản lý hoạt động dạy học và giáo dục Đó chính là quản lý hoạt động laođộng sư phạm của người thầy và hoạt động học tập, rèn luyện của trò mà nóđược diễn ra chủ yếu trong hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình xã hội, một quátrình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống, bao gồm nhiều thành
tố cấu trúc như: Mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phươngpháp dạy học và phương tiện dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạtđộng học tập, kết quả dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơbản sau đây:
- Cụ thể hoá mục tiêu dạy học qua các nhiệm vụ dạy học nhằm nângcao tri thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ và hình thành phát triển những nănglực phẩm chất tốt đẹp cho người học
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung dạy học Nội dung dạyhọc phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo màngười học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học
Trang 22- Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên (Biên soạn giáo trình,giáo án, chuẩn bị đồ dụng dạy học, lên lớp, kiểm tra học sinh học tập ).
- Quản lý hoạt động học tập của học sinh (nề nếp, thái độ, kết quả học tập)
- Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động dạy học
1.2.4 Khái niệm chất lượng, chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học
a Chất lượng
Chất lượng: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa "Chấtlượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật,chỉ rõ nó là cái gì? Tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sựvật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng đượcbiểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là sự liên kết các thuộc tínhcủa sự vật lại làm một, gắn bó các sự vật như một tổng thể, bao quáttoàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bảnthân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi về chất lượngkéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật baogiờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồntại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của
số lượng và chất lượng" [33,tr 19]
"Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sựvật, sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tạicủa một sự vật, phân biệt nó với sự vật khác" [ 33,tr7]
b Chất lượng giáo dục
- Chất lượng giáo dục phổ thông: "Chất lượng giáo dục phổ thông
là chất lượng sản phẩm cuối cùng của quá trình giáo dục phổ thông, đó
là chất lượng học vấn của cả một lớp người mà bộ phận lớn là vào đờingay sau khi ra trường, sự kế tiếp của bộ phận này sau mỗi năm học tạo
ra sự chuyển hoá từ lượng sang chất của trình độ dân trí, bộ phận còn lạinhỏ hơn được tiếp nhận vào quá trình đào tạo chuyên nghiệp, sự kế tiếp
Trang 23của bộ phận này tạo ra sự chuyển hoá từ lượng sang chất của đội ngũnhân lực có hàm lượng trí tuệ cao với tất cả dấu ấn nhân cách của họ,của quá trình giáo dục phổ thông".[7,tr9]
- "Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêugiáo dục đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người học và của sự phát triểntoàn diện của xã hội".[7,tr7]
- "Chất lượng là mức độ của các mục tiêu được đáp ứng Chất lượngcàng cao nghĩa là gia tăng về hiệu quả Chất lượng giáo dục là một phạm trùđộng thay đổi theo thời gian, không gian và theo bối cảnh Chất lượng giáodục có thể đặc trưng riêng cho từng đối tượng, quốc gia, địa phương, cộngđồng, nhà trường Tuỳ theo từng đối tượng mà cách nhìn chất lượng, hiệuquả khác nhau".[7, tr8]
Chất lượng giáo dục được nhìn dưới góc độ nguồn lực và các loại đầuvào khác (số liệu nguồn lực vật chất, số lượng và trình độ giáo viên, tìnhhình trang thiết bị)
Chất lượng giáo dục nhìn từ góc độ nội dung, biểu hiện qua các thuộctính (khối lượng kiến thức, trình độ học vấn, kỹ năng, những thông tin cần
Trang 24dục gắn với hiệu quả trong và hiệu quả ngoài của giáo dục & đào tạo Chấtlượng giáo dục có tính không gian, thời gian và phù hợp với sự phát triển.
c Chất lượng dạy học
Giáo dục phổ thông được tiến hành bằng nhiều hình thức, nhưng hìnhthức đặc trưng cơ bản nhất của giáo dục phổ thông là hình thức dạy học Kếtquả trực tiếp của quá trình dạy học là học vấn bao gồm cả phương phápnhận thức, hành động và năng lực chuyên biệt của người học “Chất lượngdạy học chính là chất lượng của người học hay tri thức phổ thông mà ngườihọc lĩnh hội được Vốn học vấn phổ thông toàn diện vững chắc ở mỗi người
là chất lượng đích thực của dạy học ”.[7,tr10]
Khái niệm chất lượng dạy học liên quan mật thiết với khái niệm hiệuquả dạy học Nói đến hiệu quả dạy học tức là nói đến mục tiêu đã đạt được ởmức độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường, chi phí tiền của,sức lực và thời gian cần thiết ít nhất nhưng lại mang lại kết quả cao nhất.Chất lượng dạy học được nhìn từ góc độ là giá trị tăng thêm, cách nhìn nàymuốn nói lên tác động ảnh hưởng của nhà trường với người học Chất lượngdạy học được đánh giá bởi sự phát triển của các yếu tố cấu thành nên quátrình dạy học, sao cho các yếu tố đó càng tiến sát mục tiêu đã định bao nhiêuthì kết quả của quá trình ấy càng cao bấy nhiêu Để thực hiện việc đánh giá,người ta chuyển mục tiêu dạy học sang hệ thống tiêu chí Thông thường dựatrên 3 tiêu chí cơ bản cơ bản: Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ
Chất lượng dạy học ở trường phổ thông được đánh giá chủ yếu về haimặt học lực và hạnh kiểm của người học Các tiêu chí về học lực là kiếnthức, kỹ năng vận dụng và thái độ Về bản chất, hạnh kiểm phản ánh trình
độ phát triển của ý thức trong mối quan hệ với những người khác, nhàtrường, gia đình, xã hội và bản thân Có 4 tiêu chí: Sự hiểu biết về các chuẩnmực hiện hành, năng lực nhận dạng hành vi, các tác động chi phối hànhđộng, sự thể hiện thái độ tình cảm
Trang 25Đánh giá chất lượng dạy học là việc rất khó khăn và phức tạp, cần cóquan điểm đúng và phương pháp đánh giá khoa học Khi đánh giá chấtlượng dạy học phải cần căn cứ vào mục tiêu dạy học của từng cấp học, bậchọc đối chiếu sản phẩm đào tạo được đối với mục tiêu của cấp học, bậc học.Chất lượng dạy học càng cao càng làm phong phú thêm kiến thức, kỹ năng,thái độ, giá trị và hành vi của người học.
Chất lượng dạy học liên quan chặt chẽ đến yêu cầu kinh tế xã hội củađất nước Sản phẩm dạy học được xem là có chất lượng cao khi nó đáp ứngtốt mục tiêu giáo dục mà yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra với giáo dục THPT.Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi cả về cơ cấu và cơ chế quản lý
Các lĩnh vực của đời sống xã hội đổi mới toàn diện và sâu sắc đòi hỏingành giáo dục phải tạo ra được chất lượng mới khác trước Trong côngcuộc đổi mới, ngành học phổ thông đã và đang triển khai thực hiện nhữngchủ trương, biện pháp về đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, quytrình dạy học và đã cố gắng từng bước tăng cường điều kiện và phương tiện
để đảm bảo nâng cao chất lượng dạy học
1.3 Yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT trong giai đoạn mới
1.3.1 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của trường THPT trong sự nghiệp giáo dục đào tạo
Bậc trung học phổ thông là bậc học nối tiếp của trung học cơ sở, họcsinh đã có kiến thức cơ bản của chương trình phổ thông cơ sở Một số họcsinh không có đủ điều kiện học tiếp, trực tiếp tham gia lao động trong cáclĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, còn lại đa số các em tiếp tục học lêntiếp trương trình trung học phổ thông, hoàn thiện về tri thức, để dự tuyểnvào các trường Đại học, cao đẳng và các trường trung học chuyên nghiệp
Bậc trung học phổ thông có một số đặc điểm cần lưu ý:
Trang 26- Học sinh đã có một lượng vốn kiến thức cơ bản nhất định, sử dụngcách học đã chiếm lĩnh được để học các môn học cơ bản, các môn học nàyđược xây dựng trên những cơ sở khoa học, được hình thành trong lịch sửloài người và của thế hệ đi trước, chúng được xây dựng phù hợp với đặcđiểm của từng môn học, phát triển tâm lý và trí tuệ của lứa tuổi.
- Giáo dục trung học phổ thông đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều loại hình,được đa dạng hoá, đa số học sinh trong độ tuổi được huy động đến trường Họcsinh tốt nghiệp bậc trung học phổ thông được phân luồng như sau:
+ Tiếp tục học ở các trường đại học, cao đẳng
+ Tiếp tục học ở các trường trung học nghề
+ Vào đời tham gia lao động trong các lĩnh vực khác nhau của đờisống xã hội
Vì vậy giáo dục THPT có nhiệm vụ: “Giúp học sinh củng cố và pháttriển những kết quả giáo dục của trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổthông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếptục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học nghề hoặc đivào cuộc sống” [15,tr18]
Vị trí của bậc trung học phổ thông:
- Đây là bậc học đang chuyển sang sự đa dạng về loại hình, đa dạnghoá các trường học, ở cấp học này, cần phải tính đến sự nối kết liên tụcchương trình giáo dục trung học cơ sở, với chương trình mà học sinh sẽđược học ở bậc trung học phổ thông
- Là bậc học có nhiệm vụ tạo nguồn đáng kể cho đào tạo ở cấp trunghọc nghề, cao đẳng, đại học nhằm phục vụ cho công nghiệp hoá- hiện đạihoá đất nước, cần có sự tăng cường trong nội dung giáo dục, nội dung đàotạo và giáo dục hướng nghiệp…
Vai trò của trường trung học phổ thông trong sự nghiệp GD- ĐT:
Trang 27Báo cáo chính trị đại hội Đảng IX đã nêu: “Phát triển GD& ĐT làmột trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lựccon người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững” [29,tr32]
Để đạt được những mục tiêu cơ bản của phát triển KT- XH của đấtnước, giáo dục trung học phổ thông đóng vai trò hết sức quan trọng trongviệc đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế quốc dân
Chính vì vậy, văn kiện Đại hội Đảng VIII đã nêu rõ: “ Phương hướng chung của lĩnh vực GD&ĐT trong những năm tới là phát triển nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH tạo điều kiện cho nhân dân đặc biệt là
thanh niên có việc làm”.
Giáo dục phổ thông trực tiếp góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho xãhội Trên nền tảng đã đạt được ở các bậc học dưới, giáo dục trung học phổthông tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần nhân cách học sinh lên một tầmcao mới theo hướng phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam Bởivậy mục tiêu đào tạo ở cấp độ này phải được quan tâm đặc biệt là:
- Hình thành ở người học một hệ thống tri thức phổ thông toàn diện,theo kịp trình độ tiên tiến của thế giới hiện đại, đồng thời kế thừa truyềnthống tốt đẹp của dân tộc
- Học sinh hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, hìnhthành kỹ năng lao động theo hướng kỹ thuật- tổng hợp và những kỹ năngnghề nghiệp phù hợp điều kiện kinh tế- xã hội hiện đại
- Hình thành động cơ học tập vì ngày mai lập nghiệp, vì mục tiêu dângiàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Chỉ có như vậy, giáo dục trung học phổ thông mới hoàn thành sứmạng là chuẩn bị một cách tốt nhất cho học sinh bước vào đời, với đầy đủbản lĩnh con người mới của xã hội hiện đại
Trang 28Giáo dục trung học phổ thông là khâu đặc biệt quan trọng, giúphọc sinh củng cố và phát triển kết quả giáo dục trung học cơ sở, hoànthành học vấn phổ thông, hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướngnghiệp Giáo dục trung học phổ thông giữ vai trò “bản lề” của cả mộtđời người Tuỳ theo kết quả học tập, rèn luyện, sự phấn đấu và nguyệnvọng, học sinh có thể lựa chọn một hướng đi thích hợp cho mình Nhàtrường có nhiệm vụ chuẩn bị một cách tốt nhất, dù cho lựa chọn hướng
đi nào, học sinh cũng có đủ trình độ, bản lĩnh vững vàng, sẵn sàng họctập và công tác tốt Bậc trung học phổ thông là nơi tạo ra những hạtgiống tốt cho các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học và đội ngũ laođộng có văn hoá cho địa phương, đất nước, đó chính là nguồn lực người.Hiện nay, chất lượng giáo dục là một vấn đề mà toàn xã hội đã và đangquan tâm Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất nước taphải đối diện với yêu cầu của sự phát triển KT- XH nhanh, mạnh trênmọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đứng trước một thử thách cạnh tranhvới các nước trong khu vực và thế giới Do vậy giáo dục phải đổi mới và
đi trước một bước, tạo tiền đề cho sự phát triển KT- XH Bậc trung họcphổ thông đóng vai trò hết sức quan trọng và cần phải được trú trọngnâng cao hơn nữa vai trò của trung học phổ thông trong hệ thống giáodục quốc dân
1.3.2 Yêu cầu của việc quản lý chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông trong giai đoạn mới
Nghị quyết Đại hội Đảng IX khẳng định “Tiếp tục nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệthống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục” Nâng cao chất lượng làthực hiện tốt 3 nhiệm vụ: Cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hìnhthành thái độ Thực hiện tốt các nhiệm vụ này chính là nâng cao chất lượngdạy học, đó là hiệu quả của giờ lên lớp
Trang 29Giáo dục& Đào tạo nước ta đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về mụctiêu, nội dung, phương pháp, nhằm phù hợp với nền khoa học công nghệđang phát triển mạnh mẽ Việc quản lý dạy học trong các trường trung họcphổ thông cũng cần có những thay đổi phù hợp, không những đáp ứngnhững đòi hỏi mới của nền kinh tế mà còn trước một bước những yêu cầucủa nền KT- XH đang phát triển Để nâng cao chất lượng dạy học, các nhàquản lý cần quan tâm tới các yêu cầu quản lý dạy học sau:
- Chú trọng tới việc lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, chuẩn mực vàthông qua đó, các biện pháp thực hiện mục tiêu phải được tiến hành ngay từtrong quá trình xây dựng kế hoạch năm học của nhà trường, chỉ đạo các bộphận, từng cá nhân lập kế hoạch cụ thể, đúng qui trình, phù hợp với nhiệm
vụ và điều hành hoạt động theo kế hoạch Các kế hoạch này phải xác địnhđược nhiệm vụ, lý do tồn tại và phát triển, cần thấy được các điều kiện bêntrong cũng như bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình thực hiện, những biệnpháp, cách thức, hướng đi và các biện pháp ưu tiên thực hiện để đạt mụctiêu Các kế hoạch phải dự báo được khả năng về các điều kiện, các nguồnlực Kế hoạch hành động được xây dựng để cụ thể hoá các bản kế hoạch,mục tiêu và chuẩn mực của sản phẩm giáo dục, qua đó có cơ sở để so sánh,phân tích, đánh giá chất lượng của dạy học
- Xây dựng qui chế, kỷ luật dạy học, thực hiện các chức năng chínhtrong dạy học, chú ý đến việc xây dựng nề nếp, kỷ cương trong dạy học, đưacác hoạt động vào nề nếp bằng các hệ thống nội qui, qui chế, qui định chặtchẽ Xây dựng ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm cá nhân, sự cộng tác vàgiúp đỡ, học hỏi lẫn nhau trong quá trình dạy học, tạo dựng trạng thái tinhthần, không khí sư phạm lành mạnh làm cho hoạt động dạy học đi vào chiềusâu, có hiệu quả và có tác dụng trực tiếp đến chất lượng dạy học
- Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượngđồng bộ về cơ cấu, đặc biệt xây dựng đội ngũ giáo viên nòng cốt của nhà
Trang 30trường, của địa phương, tạo điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ giáoviên Xây dựng bồi dưỡng đội ngũ quản lý là tiêu chuẩn hàng đầu để xâydựng và nâng cao chất lượng dạy học nhằm xây dựng nhà trường vữngmạnh toàn diện.
- Làm tốt công tác tuyển sinh, nâng cao chất lượng đầu vào, thực hiệnchặt chẽ qui chế tuyển sinh, sàng lọc đánh giá đúng chất lượng học sinh, có
sự phân loại nhằm tiến hành các biện pháp giảng dạy phù hợp với từng loạiđối tượng học sinh, cho các em khả năng học được, phù hợp với quá trìnhnhận thức từng đối tượng để nâng cao chất lượng dạy học
- Xây dựng và quản lý cơ sở vật chất- trang thiết bị là điều kiện quantrọng để nâng cao chất lượng, động lực để khuyến khích đội ngũ giáo viên,học sinh Một trong những hình thức thúc đẩy, động viên việc dạy tốt, họctốt, đảm bảo và nâng cao chất lượng giờ dạy
- Đặc biệt là chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tínhtích cực của học sinh Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII cũng là nhấnmạnh tới việc đổi mới phương pháp dạy học và chỉ ra những định hướng: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD&ĐT, khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học… từng bước ápdụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảođiều kiện thời gian tự học tự nghiên cứu của học sinh ” Dạy cho học sinhcách tự học, tự tìm tòi phát huy nội lực sáng tạo trong quá trình học tập, làchức năng, nhiệm vụ của thầy giáo để nâng cao chất lượng học sinh
- Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra, kết quả các tiêu chuẩn kiểm tra,đánh giá phải đạt được các yêu cầu: Kiểm tra đánh giá phù hợp với mục tiêunội dung, phương pháp dạy học, đồng thời có các bậc thang điểm cho mỗiloại thông số, hàm chứa các chuẩn mực nhằm cho giáo viên và học sinh cóthể tự kiểm tra đánh giá bản chất, chất lượng thông qua tiêu chuẩn có sẵn,tạo điều kiện cho người quản lý đảm bảo sự lãnh đạo và quản lý chính xác
Trang 31- Tăng cường công tác thi đua trong nhà trường, tạo thành phong tràothi đua rộng khắp và sôi nổi trên tất cả mọi mặt công tác.
- Tăng cường xã hội hoá công tác giáo dục, thu hút và phát huy tối đasức mạnh cộng đồng tham gia góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Như vậy, yêu cầu của quản lý trong trường trung học phổ thông tronggiai đoạn hiện nay là quán triệt mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạchdạy học Xây dựng các điều kiện nguồn lực cần thiết, các biện pháp có tínhkhả thi cao, đặc biệt là cải tiến và đổi mới phương pháp dạy học, nâng caochất lượng dạy học- chất lượng giáo dục
1.3.3 Những yếu tố tạo nên chất lượng dạy học
Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố, mỗi thành tố có
vị trí xác định, có chức năng riêng, tác động qua lại với nhau và vận độngtheo qui luật chung, tạo nên chất lượng toàn diện của hệ thống Chúng tathường xuyên nghiên cứu để hoàn thiện từng thành tố của quá trình dạy học,nâng cao chất lượng của chúng, góp phần thúc đẩy chất lượng của toàn bộ
hệ thống mà tựu chung là chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục
Dạy học có chất lượng chính là thực hiện tốt các nhiệm vụ: Cung cấpkiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ Thực hiện tốt 3 nhiệm vụ
đó sẽ làm cho hiệu quả dạy học ngày càng cao, chất lượng dạy học ngàycàng được nâng lên
Chất lượng dạy học ổn định và phát triển, nó quy tụ lại ở những yếu
tố sau:
- Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất - trang thiết bị dạy học, nguồn tàichính và môi trường sư phạm
- Mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học
- Qui mô phát triển học sinh
- Hoạt động dạy học của thầy trong mối quan hệ không thể tách rờivới hoạt động học của trò
Trang 32- Cơ chế tổ chức quản lý.
- Cơ chế cộng đồng phối hợp trong và phối hợp ngoài
- Hiệu quả dạy học
Trên cơ sở đó, các nhà quản lý cần tìm ra các biện pháp khả thi để quản
lý hoạt dộng giáo dục trong nhà trường, mà trọng tâm là hoạt động dạy học
1.4 Quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT
1.4.1 Quản lý hoạt động dạy của thầy
Hoạt động dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học,quản lý hoạt động này bao gồm: Quản lý việc thực hiện trương trình dạyhọc, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, quản lý giờ lên lớp của giáoviên, quản lý việc dự giờ và phân tích bài học sư phạm, quản lý hoạt độngkiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh…
a Quản lý việc thực hiện chương trình
Thực hiện trương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theomục tiêu của nhà trường phổ thông, nó là pháp lệnh của Nhà nước do BộGiáo dục & Đào tạo ban hành Yêu cầu đối với hiệu trưởng là phải nắmvững chương trình, tổ chức cho giáo viên tuân thủ một cách nghiêm túc,không được tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương trình dạy học(nếu có thay đổi, bổ sung phải theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục& Đào tạo,
Sở Giáo dục &Đào tạo địa phương)
Sự nắm vững chương trình dạy học là việc đảm bảo để hiệu trưởngquản lý thực hiện tốt chương trình dạy học, bao gồm:
- Nắm vững những nguyên tắc cấu tạo chương trình, nội dung vàphạm vi kiến thức dạy học của từng môn học, cấp học
- Nắm vững phương pháp dạy học của từng môn học, từng khối lớptrong cấp học
- Không được giảm nhẹ, nâng cao hoặc mở rộng so với yêu cầu nộidung, phạm vi kiến thức quy định của từng chương trình môn học
Trang 33- Phương pháp dạy đặc trưng của bộ môn, của bài học phù hợp vớitừng loại lớp học, từng loại bài của cấp học.
- Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, kết hợp giữa cáchình thức dạy học trên lớp, ngoài lớp, thực hành, tham quan… một cách hợp lý
- Dạy học và coi trọng tất cả các môn học theo quy định của phânphối chương trình- nghiêm cấm việc cắt xén, dồn ép bài học, thêm bớt tiếthọc với bất cứ môn học nào, lớp học nào, dưới bất kỳ hình thức nào
Để việc quản lý thực hiện chương trình dạy học đạt kết quả, đảm bảothời gian cho việc thực hiện chương trình dạy học, hiệu trưởng phải chú ý sửdụng thời khoá biểu như là công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến
bộ thực hiện chương trình dạy học, để thường xuyên, kịp thời điều chỉnhnhững lệch lạc trong quá trình thực hiện chương trình dạy học
b Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp
Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của giáo viêncho giờ lên lớp, tuy nó chưa dự kiến hết các tình huống trong qua trình lênlớp nhưng soạn bài thực sự là lao động sáng tạo của từng giáo viên, nó thểhiện sự suy nghĩ, lựa chọn, quyết định của giáo viên về nội dung, phươngpháp giảng dạy, hình thức lên lớp phù hợp với đối tượng học sinh và đúngvới yêu cầu của chương trình
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp phải đảm bảo những yêucầu cần thiết đó là:
- Đảm bảo tính tư tưởng, tính giáo dục của bài giảng
- Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, soạn bài chu đáo trước khilên lớp, chống việc soạn bài để đối phó với kiểm tra
- Đảm bảo nội dung, tri thức khoa học mang tính giáo dưỡng Đưa việcsoạn bài, chuẩn bị lên lớp vào nề nếp, nghiêm túc và phải đảm bảo chất lượng
- Chỉ đạo không rập khuôn máy móc, đảm bảo và khuyến khích tínhtích cực, tự giác và sáng tạo của giáo viên
Trang 34Để soạn bài chuẩn bị lên lớp của giáo viên có thể thực hiện theo một
kế hoạch đồng bộ và có hiệu quả, hiệu trưởng nhà trường cần phải phâncông trách nhiệm cụ thể cho cán bộ giáo viên trong nhà trường, tạo mọi điềukiện để họ thực hiện tốt việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, có kế hoạchthường xuyên kiểm tra, theo dõi để khuyến khích kịp thời, đồng thời điềukhiển những sai lệch nhằm thực hiện đúng những quy định đề ra
c Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Hoạt động dạy và học trong nhà trường phổ thông hiện nay được thựchiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp, với những giờ lên lớp và
hệ thống bài học cụ thể Nói cách khác, giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơbản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học trong nhà trường để thực hiệnmục tiêu cấp học
Chính vì vậy trong quá trình quản lý dạy và học của mình, hiệutrưởng phải có những biện pháp tác động cụ thể, phong phú và linh hoạt đểnâng cao chất lượng giờ lên lớp của giáo viên, đó là những việc làm củahiệu trưởng, là trách nhiệm của người quản lý
Quản lý giờ lên lớp của giáo viên phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếulà:
- Xây dựng được “chuẩn” giờ lên lớp để quản lý tốt giờ lên lớp củagiáo viên Chuẩn này, ngoài những quy định chung của ngành như Thông tư13/TT- GD- ĐT ngày 12/9/1994 Thông tư 12/TT GD- ĐT ngày 4/8/1997của Bộ GD- ĐT, cần thường xuyên bổ sung, điều chỉnh để thể hiện được sựtiến bộ chung của trường và của giáo viên trong trường
- Phải xây dựng nề nếp giờ lên lớp cho thầy và trò nhằm đảm bảo tínhnghiêm túc trong mọi hoạt động hết sức nhịp nhàng của nhà trường, gópphần nâng cao chất lượng dạy học
- Phải tác động đến giờ lên lớp một cách tích cực và càng trực tiếpcàng tốt để mọi giờ lên lớp góp phần thực hiện mục tiêu
Trang 35- Phải yêu cầu cụ thể từng đối tượng thực hiện đầy đủ, nghiêm túcnhững quy định của nhà trường, thực hiện nghiêm túc quy chế có liên quanđến giờ lên lớp.
Để đảm bảo được những yêu cầu quản lý giờ lên lớp, hiệu trưởng cầnquy định và rõ chế độ thực hiện và kiểm tra, sử dụng thời khóa biểu nhằmkiểm soát các giờ lên lớp, duy trì nề nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạyhọc và tạo nên bầu không khí sư phạm trong nhà trường
d Quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học
Nét đặc thù cơ bản làm cho quản lý trường học khác với dạng quản lýkhác là trong quản lý trường học có hoạt động dự giờ và phân tích sư phạm bàihọc Đây chính là chức năng trung tâm của hiệu trưởng để chỉ đạo hoạt độngdạy và học, và là biện pháp quan trọng hàng đầu trong quản lý giờ lên lớp
Để việc quản lý giờ và phân tích sư phạm bài học có hiệu quả, hiệutrưởng cần phải quán triệt đầy đủ những yêu cầu cơ bản sau đây:
- Phải nắm vững được lý luận dạy học và lý thuyết về bài học, nắmvững những quan điểm trong phân tích sư phạm bài học
- Nắm vững các bước trong việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học
để chỉ đạo tất cả giáo viên trong trường thực hiện
- Tổ chức tốt việc dự giờ trong trường, có chế độ dự giờ rõ ràng, có kếhoạch cụ thể, đặc biệt phải có chuẩn đánh giá phù hợp, có đầy đủ hồ sơ dựgiờ và có thái độ cầu thị khách quan để đánh giá đúng tình hình giờ lên lớpcũng như đánh giá đúng chất lượng giờ lên lớp, trên cơ sở đó, tìm ra nhữngbiện pháp thích hợp cho công tác quản lý giờ lên lớp của mình
Để nâng cao chất lượng dự giờ, phân tích sư phạm bài học, cần tổchức các chuyên đề về giờ lên lớp, như trao đổi về nội dung và phương phápgiảng dạy, xây dựng giờ dạy mẫu, tổ chức dạy thử, tổ chức kiến tập, thaogiảng… nhằm giúp giáo viên nắm vững lý thuyết, rút kinh nghiệm vềphương pháp giảng dạy, về các bước trong dự giờ và phân tích sư phạm bài
Trang 36học… Trên cơ sở đó khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên và đây cũng
chính là hoạt động đặc trưng cho nghề nghiệp của giáo viên, hiệu trưởng
nhà trường cần phải tổ chức tốt để tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khảnăng của mình nhằm nâng cao chất lượng dạy học
e Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả việc học tập của học sinhKiểm tra đánh giá là bộ phận hợp thành, không thể thiếu được trongquá trình giáo dục ở tất cả các môn học, ở GVCN lớp Kiểm tra đánh giá kếtquả học tập của học sinh được tồn tại đồng thời với quá trình dạy học, đó làquá trình thu nhập và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiệnnhiệm vụ học tập của học sinh, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợpgiúp học sinh học tiến bộ
Chính vì qua việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá học sinhcủa giáo viên, người quản lý sẽ nắm bắt được chất lượng dạy và học ởtừng giáo viên một, nó vừa là cơ sở để đánh giá quá trình và hiệu quảcủa người dạy lẫn người học, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi tìnhtrạng học thêm, dạy thêm tràn lan, khi trình độ chuyên môn của một
số giáo viên còn hạn chế thì việc quản lý hoạt động kiểm tra kết quảhọc tập của học sinh là điều rất quan trọng
Việc kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh, là việc làm hết sức cầnthiết của hiệu trưởng nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên thực hiện đầy đủ
và chính xác quá trình kiểm tra đánh giá, thúc đẩy quá trình nâng cao hiệuquả dạy học theo mục tiêu Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả họctập của học sinh phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây:
- Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn trong nhà trườngthông qua điểm số, đánh giá chất lượng học của học sinh và giảng dạy củagiáo viên, từ đó rút ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh, uốn nắn và
bổ sung, giúp cho người quản lý chỉ đạo hoạt động này một cách đầy đủ,chặt chẽ hơn
Trang 37- Phải thực hiện đầy đủ nghiêm túc các văn bản hướng dẫn về đánhgiá xếp loại học sinh.
- Phải đánh giá xếp loại học sinh một cách công bằng chính xác, tránhnhững biểu hiện không đúng trong việc đánh giá xếp loại học sinh Trongquá trình thực hiện, hiệu trưởng cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đốitượng như hiệu phó chuyên môn, tổ trưởng và giáo viên, yêu cầu họ lập kếhoạch kiểm tra đánh giá học tập một cách đầy đủ theo yêu cầu của chươngtrình Đồng thời hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiệnnhiệm vụ của các đối tượng để đảm bảo công việc đã đề ra, từng bước nângcao chất lượng toàn diện của quá trình dạy học
g Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên là phương tiện phản ánh quá trìnhquản lý có tính khách quan và cụ thể, giúp hiệu trưởng nắm chắc hơn, cụ thểhơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên
Có thể nói hồ sơ chuyên môn của giáo viên là một trong những cơ sởpháp lý để nói lên việc thực hiện nề nếp chuyên môn, việc chuẩn bị, đầu tưcho công việc của giáo viên
Nhưng hồ sơ chuyên môn của giáo viên không thể xem đồng nghĩavới năng lực giảng dạy của giáo viên trên lớp Nó chỉ là điều kiện cần chứkhông phải đủ
Hồ sơ của giáo viên phục vụ cho hoạt động dạy theo Điều 25.2 củaĐiều lệ nhà trường Phổ thông bao gồm các loại hồ sơ sau:
- Giáo án (bài soạn)
- Các loại sổ: Sổ dự giờ, sổ chủ nhiệm (đối với giáo viên làm công tácchủ nhiệm lớp), sổ công tác
- Các loại sách: Sách giáo khoa, sách hướng dẫn, phân phối chươngtrình, các tài liệu tham khảo
Trang 38Trong quá trình quản lý, hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể yêu cầucủa từng loại hồ sơ, cùng với hiệu phó chuyên môn và tổ trưởng chuyênmôn thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điềuchỉnh những sai lệch trong hoạt động dạy và học.
h Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng giáo viên là một yêu cầu, một mụctiêu không thể thiếu được trong quá trình quản lý nhà trường, nó thể hiện cụthể ở hai nội dung sau:
- Sử dụng đội ngũ giáo viên: Phân công hợp lý trong chuyên môn,phối hợp với năng lực chuyên môn trên cơ sở có chú ý đến điều kiện củatừng giáo viên trong trường
- Bồi dưỡng đội ngũ: Bao gồm việc bồi dưỡng thường xuyên theochương trình của Bộ GD&ĐT theo hình thức bồi dưỡng tại trường hoặctham gia các lớp bồi dưỡng do cấp trên mở, bồi dưỡng nâng cao trình độnhằm chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, bồi dưỡng nâng chuẩn…
Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có vai trò quantrọng, nó ảnh hưởng quyết định đến chất lượng giảng dạy và giáo dục củanhà trường, vì vậy hiệu trưởng phải có chương trình, kế hoạch, chủ độngtrong việc bồi dưỡng giáo viên, nhằm từng bước nâng cao trình độ và nănglực sư phạm cho giáo viên
Tóm lại: Quản lý hoạt động dạy của thầy là quản lý một quá trình chủđạo của người thầy trong quá trình dạy học, đòi hỏi hiệu trưởng nhà trườngphải hiểu hết nội dung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết địnhquản lý vừa mang tính nghiêm chỉnh, chính xác, nhưng lại vừa mềm dẻolinh hoạt để đưa hoạt động dạy của thầy vào nề nếp kỷ cương nhưng vẫnphát huy được khả năng sáng tạo khoa học của giáo viên trong việc thựchiện nhiệm vụ của mình
Trang 39Tuy nhiên hoạt động dạy của thầy sẽ hoàn thành trọn vẹn khi màngười thầy tổ chức tốt hoạt động của trò Đó là sự liên tục của hoạt động dạyhọc, là trách nhiệm của người thầy đối với " Sản phẩm đào tạo" của mình
1.4.2 Quản lý hoạt động học tập của trò
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động song song tồn tạicùng với hoạt động dạy của thầy giáo
Vì vậy, quản lý hoạt động học tập của học sinh cần phải đạt đượcnhững yêu cầu chủ yếu sau đây:
- Phải làm cho học sinh có động cơ và thái độ đúng đắn trong học tập,rèn luyện, ham thích đến trường đến lớp, ham học các bộ môn Tự giác tìmtòi phát hiện vấn đề, chủ động lĩnh hội kiến thức, biến quá trình giáo dụcthành tự giáo dục
- Phải tổ chức hướng dẫn học sinh học tập, giúp học sinh học tập cóphương pháp, nắm được các phương pháp học tập ở từng bộ môn
- Phải làm cho học sinh có nề nếp thói quen học tập tốt, làm cho hoạtđộng học tập của nhà trường có kỷ luật, trật tự
- Kết quả điểm kiểm tra, xếp loại phản ảnh được khả năng học tập củahọc sinh Kết quả này phải giúp cho học sinh nhận ra mặt mạnh, mặt hạn chế
để vươn lên đồng thời nó giáo dục cho học sinh tính trung thực trong họctập, trong cuộc sống
Việc quản lý hoạt động học tập của học sinh phải được thực hiện đầy
đủ, toàn diện và mang tính giáo dục cao Nội dung cơ bản của nó bao gồm:
a Quản lý việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh
Phương pháp học tập là vấn đề hết sức quan trọng trong việc nâng caochất lượng học tập của học sinh Vì vậy, quản lý việc giáo dục phương pháphọc tập cho học sinh cần phải đạt được những yêu cầu chủ yếu là:
- Làm cho học sinh nắm được kỹ năng chung của hoạt động học tập
- Làm cho học sinh có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn
Trang 40- Giúp học sinh có phương pháp học tập ở lớp.
- Giúp cho học sinh có phương pháp học tập ở nhà
Để đạt được những yêu cầu trên, hiệu trưởng phải tổ chức học tậpnghiên cứu, bồi dưỡng để toàn thể giáo viên trong nhà trường nắm vững vàthống nhất các phương pháp học tập và trách nhiệm của các đối tượng trongtrường với việc hướng dẫn học tập cho học sinh, từ đó hiệu trưởng vạch ra
kế hoạch chỉ đạo thực hiện và thường xuyên kiểm tra đôn đốc điều chỉnh,uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai lệch nhằm thực hiện có hiệu quả việcgiáo dục phương pháp học tập cho học sinh
b Quản lý nề nếp thái độ học tập cho học sinh
Nề nếp học tập, kỷ luật học tập của học sinh là những điều quy định
cụ thể về tinh thần, thái độ, hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tậpđược hoạt động nhịp nhàng và có hiệu quả Nề nếp học tập sẽ quyết địnhnhiều đến hiệu quả học tập Vì vậy cần phải xây dựng và hình thành đượcnhững nề nếp học tập sau đây:
- Phải xây dựng cho học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyêncần, chăm chỉ, có nề nếp học bài và làm bài đầy đủ
- Giúp học sinh có nề nếp tổ chức học tập ở trường cũng như ở nhà vànhững nơi sinh hoạt văn hoá…
- Nề nếp sử dụng, bảo quản và chuẩn bị đồ dùng học tập
- Xây dựng được nề nếp về khen thưởng kỷ luật, chấp hành nề nếp nộiquy học tập cho học sinh
Nề nếp học tập tốt, sẽ duy trì mọi hoạt động học tập tốt, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục Vì vậy, hiệu trưởng nhà trường phải thườngxuyên theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thực hiện nề nếp và phân côngtrách nhiệm cụ thể cho các đối tượng để phối hợp thực hiện, tạo ra bầukhông khí thuận lợi cho sự giáo dục của nhà trường