1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)

60 430 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 507,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu đề tài - Xác định được liều lượng bón đạm và kali; Cách bón số lần và tỉ lệ bón đạm, lân, kali phù hợp nhằm nâng cao hiệu lực của phân bón, góp phần tăng năng suất, chất lượng v

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN MINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT BÓN PHÂN

CHO CÀ PHÊ VỐI (Coffea Canephora Pierre) GIAI ĐOẠN

KINH DOANH TRÊN ĐẤT BAZAN TẠI ĐẮK LẮK

Chuyên ngành : Khoa học cây trồng

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

HUẾ, NĂM 2014

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Anh Dũng

Vào lúc: giờ ngày tháng năm 2014

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia;

- Trung tâm học liệu - Đại học Huế;

- Thư viện Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đắk Lắk là tỉnh có điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi, đất đai màu mỡ, rất phù hợp cho cây cà phê sinh trưởng phát triển trên và được coi là “thủ phù” cà phê của Việt Nam Năm 2012, diện tích trồng cà phê của toàn tỉnh là 200.200 ha trong đó diện tích cà phê kinh doanh đạt 190.300 ha, năng suất trung bình 2,56 tấn/ha, với sản lượng đạt 487.700 tấn; Là tỉnh trồng cà phê lớn nhất cả nước chiếm 33 % về diện tích và 38% tổng sản lượng Trong những năm gần đây, ngành cà phê Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung đã có

sự phát triển vượt bậc góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia trồng cà phê vối có năng suất và sản lượng cao nhất thế giới Có được kết quả như vậy là nhờ chúng ta đã áp dụng thành công nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong đó kỹ thuật sử dụng phân bón đóng vai trò hết sức quan trọng và được xem là biện pháp hàng đầu để thâm canh tăng năng suất, chất lượng cà phê trong giai đoạn hiện nay

Tỉnh Đắk Lắk với diện tích đất đỏ bazan rộng lớn (311.000 ha), một trong những loại đất rất thuận lợi để mở rộng và phát triển diện tích các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, hồ tiêu và đặc biệt là cây cà phê Hiện nay, năng suất cà phê vối trên đất đỏ bazan tại Đắk Lắk cao nhất Việt Nam và Thế giới nhưng chất lượng cà phê nhân xuất khẩu và hiệu quả sản xuất cà phê vẫn chưa cao Vì vậy, làm thế nào để vừa tăng năng suất đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế cây cà phê vối của tỉnh cho tương xứng với tiềm năng đó là một vấn đề lớn cần phải quan tâm

Cà phê là cây công nghiệp dài ngày, quá trình ra hoa, thụ phấn và đậu quả diễn ra trong một thời gian dài chủ yếu trong mùa khô Đây là giai đoạn quan trọng nhất quyết định đến năng suất và chất lượng cà phê Giai đoạn này cây cà phê vối có nhu cầu không cao về dinh dưỡng đặc biệt là đạm, lân, kali và một số nguyên tố vi lượng thuận lợi cho quá trình ra hoa, đậu quả tập trung như kẽm và bo nhưng không thể thiếu Tuy nhiên, qui trình bón phân theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện nay chỉ có 20% tổng lượng đạm được bón vào giữa mùa khô, lân và kali không được bón

Cà phê là cây lâu năm, sinh khối cành lá rất lớn, cho rất nhiều quả, năng suất cao, hàng năm cây lấy

đi một lượng lớn chất dinh dưỡng từ đất Tôn Nữ Tuấn Nam và Trương Hồng, (1999) cho rằng trong điều kiện tại Đắk Lắk mỗi tấn cà phê nhân (kể cả vỏ quả khô) đã lấy đi từ đất (41 kg N; 6 kg P2O5 và 50 kg K2O) chưa kể lượng đạm, lân và kali cần thiết giúp cây sinh trưởng, phát triển bình thường Mặt khác khi bón phân vào đất, cây cà phê cũng không sử dụng hết lượng phân đã bón do quá trình rửa trôi, bốc hơi hoặc bón phân không đúng kĩ thuật đã làm thất thoát đi một lượng lớn phân bón, đặc biệt là đạm Trong khi đó, năng suất cà phê nhân bình quân cả nước ngày càng tăng cao, năm 2012 đạt (2,32 tấn/ha) tăng 57% so với năm 2002 (1,48 tấn/ha) Vì vậy, bón đạm, lân và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan theo quy trình khuyến cáo của Bộ NN&PTNT năm 2002 dường như không còn phù hợp với thực tế sản xuất hiện nay tại Đắk Lắk Việc bón tăng liều lượng và số lần bón đạm và kali cho cây cà phê là rất cần thiết góp phần giữ vững và nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cây cà phê, cây đã đóng góp trên 40% GDP của tỉnh và hàng triệu người dân sống nhờ vào việc sản xuất, kinh doanh cà phê

Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả về sử dụng phân bón đa lượng cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan như: Trương Hồng, Tôn Nữ Tuấn Nam, Trình Công Tư, Lê Hồng Lịch, Nguyễn Tiến Sĩ nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện đến phối hợp phân đạm, lân và kali cho

cà phê vối giai đoạn kinh doanh đặc biệt là trong mùa khô ở Đắk Lắk về liều lượng, số lần, tỉ lệ bón và nồng

độ phun bổ sung các yếu tố vi lượng như kẽm và bo Xuất phát từ đó, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cây cà phê vối (Coffea canephora Pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk” làm luận án Tiến sĩ của mình

Trang 4

2 Mục tiêu đề tài

- Xác định được liều lượng bón đạm và kali; Cách bón (số lần và tỉ lệ) bón đạm, lân, kali phù hợp nhằm nâng cao hiệu lực của phân bón, góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế đối với cây

cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk

- Xác định được nồng độ ZnSO 4 kẽm và Rosabor tối ưu cho khả năng sinh trưởng, phát triển, hàm lượng các sắc tố quang hợp, cường độ quang hợp, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

- Đề tài làm rõ tác động của việc bón phối hợp đạm và kali với liều lượng khác nhau trên nền lân cố định đến khả năng sinh trưởng phát triển, quang hợp, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk

- Đề tài làm sáng tỏ số lần và tỉ lệ giữa các lần bón đạm, lân và kali đến quá trình sinh trưởng phát triển, quang hợp, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh, đặc biệt trong mùa khô (giai đoạn cây cà phê ra hoa, thụ phấn và đậu quả) ở Đắk Lắk

- Đề tài đánh giá ảnh hưởng của nồng độ phun kết hợp giữa ZnSO4 và Rosabor đến khả năng sinh trưởng phát triển, quang hợp, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk

Ý nghĩa thực tiễn

- Đề tài góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón đa lượng và vi lượng cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trồng trên đất bazan tại Đắk Lắk làm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống cho nông dân trồng cà phê ở Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung

Lắk; Các nguyên tố vi lượng khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này

5 Những đóng góp mới của Luận án

- Đề tài đề cập đến vấn đề mới là bón đạm, lân và kali trong mùa khô với liều lượng, số lần và tỉ lệ nhất định cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan mà các nghiên cứu khác về phân bón cho cà phê chưa đề cập hoặc đề cập ở những khía cạnh khác

- Đề tài nghiên cứu sâu các chỉ tiêu về sinh lý quang hợp của cây cà phê vối như hàm lượng diệp lục, carotenoit, cường độ quang hợp, nồng độ CO2 trong gian bào, cường độ thoát hơi nước và độ mở khí khổng

là những minh chứng rõ ràng cho quá trình ảnh hưởng của đạm, lân và kali đến quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh

- Đề tài tập trung nghiên cứu sâu về kẽm và bo (hai nguyên tố vi lượng quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ra hoa, đậu quả tập trung dẫn tới ổn định và nâng cao năng suất, chất lượng cà phê) Kết quả nghiên cứu về hàm lượng kẽm và bo sau khi phân tích trong đất, bón bổ sung, phân tích trong lá và tương quan giữa diệp lục, quang hợp, sinh trưởng với năng suất và chất lượng cà phê nhân là các kết quả mới quan trọng về vai trò của kẽm và bo với cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới và trong nước

1.1.1 Trên thế giới

1.1.2 Ở Việt Nam

1.1.3 Tình hình sản xuất cà phê ở Tây Nguyên

1.1.4 Tình hình sản xuất, xuất khẩu cà phê ở Đắk Lắk

1.2 Ảnh hưởng các yếu tố sinh thái đến sinh trưởng, phát triển cây cà phê

1.4.1 Đạm đối với cây cà phê

1.4.2 Lân đối với cây cà phê

1.4.3 Kali đối với cây cà phê

1.4.4 Liều lượng bón đạm, lân và kali cho cà phê

1.5 Vai trò của kẽm, bo và những nghiên cứu trong, ngoài nước về kẽm và bo đối với cây cà phê

1.5.1 Kẽm đối với cây cà phê

1.5.2 Bo đối với cây cà phê

1.5.3 Bón kẽm và bo cho cà phê

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cây cà phê vối (Coffea canephora Pierre) giai đoạn kinh doanh 11 năm tuổi trồng trên đất bazan

(ferralsols) Mọi chế độ chăm sóc ngoài yếu tố thí nghiệm như: làm cỏ, tưới nước, tỉa cành tạo tán, phòng trừ sâu bệnh được thực hiện đồng nhất theo quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cà phê vối 10 TCN 478-2001 ban hành theo quyết định số 06/2002/QĐ-BNN ngày 9/01/2002 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Cây cà phê trong các thí nghiệm là cây thực sinh và vườn cà phê không có cây che bóng, năng suất bình quân trong 3 năm liên tục từ 2009 - 2011 là 3,0 tấn/ha

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Các thí nghiệm được bố trí tại vườn cà phê thuộc xã Eak’pam, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk Tọa lạc

ở vị trí địa lí 12 o 47’31’ N và 108 o 04’35’ E có độ dốc <5%, độ cao trung bình so với mặt biển là 500 m và cũng là huyện có diện tích trồng cà phê lớn nhất tỉnh (37.000 ha)

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu về liều lượng bón đạm và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan

- Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến hàm lượng một số chất trong đất và lá cà phê

- Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến quá trình quang hợp, sinh trưởng và phát triển của cây cà phê

- Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến năng suất, tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu

- Đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi tăng liều lượng đạm và kali cho cà phê vối

Trang 6

2.2.2 Nghiên cứu về cách bón (số lần và tỉ lệ) đạm, lân và kali đối với cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan

- Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng một số chất trong đất và lá cà phê

- Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến quá trình quang hợp, sinh trưởng và phát triển

- Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến năng suất, tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu

- Đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi bón đạm, lân, kali với số lần và tỉ lệ khác nhau

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đối với cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan

- Hàm lượng một số chất trong đất thí nghiệm

- Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê

- Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO 4 và Rosabor đến quá trình quang hợp, khả năng sinh trưởng và phát triển

- Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến năng suất, tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu

- Đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi phun ZnSO 4 và Rosabor với nồng độ khác nhau

180 m 2 (20 cây cà phê), giữa các ô được ngăn bằng tấm nylon từ mặt đất xuống độ sâu 30 cm

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu liều lượng bón đạm và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan

Theo quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cà phê vối 10 TCN 478-2001 của Bộ NN&PTNT lượng phân đạm, lân và kali cho cây cà phê vối GĐKD trên đất bazan là: 260 kg N + 95 kg P2O5+ 240 kg K 2 O (ha/năm) Chúng tôi đề xuất các công thức bón tăng lượng đạm, kali và lân không đổi (95 kg

P2O5) trên nền phân chuồng 10 tấn/ha được bón năm 2011, đối chứng bón theo quy trình của Bộ NN&PTNT

cụ thể như sau:

N2 N2K1 N2K2 N2K3 N2K4 N2K5 N3 N3K1 N3K2 N3K3 N3K4 N3K5 N4 N4K1 N4K2 N4K3 N4K4 N4K5 N5 N5K1 N5K2 N5K3 N5K4 N5K5 Trong đó: - N1: đối chứng bón 260 kg N K1: đối chứng bón 240 kg K 2 O

Trang 7

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu về cách bón (số lần và tỉ lệ) đạm, lân và kali cho cây cà phê vối giai đoạn

kinh doanh trên đất bazan

Theo quy trình của Bộ NN&PTNT lượng phân vô cơ bón cho cà phê vối GĐKD trên đất bazan là

(260 kg N + 95 kg P2O5 + 240 kg K2O) và 10 tấn phân chuồng được bón năm 2011 được bón theo số lần và

tỉ lệ như sau: Đạm bón 4 lần (1 lần mùa khô và 3 lần mùa mưa); lân bón 1 lần mùa mưa và kali bón 3 lần

trong mùa mưa Chúng tôi đề xuất 2 cách bón với số lần và tỉ lệ bón khác nhau, đối chứng là bón với số lần

và tỉ lệ theo quy trình của Bộ NN&PTNT như sau:

Tỉ lệ bón

Đây là thí nghiệm 1 nhân tố gồm 3 công thức thí nghiệm về số lầ và tỉ lệ bón, bố trí 3 lần lặp lại với

tổng cộng là 9 ô cơ sở (diện tích 1.620 m2), thực hiện trong năm 2012 và 2013 Trong đó bón lần 1 giữa mùa

khô vào cuối tháng 2, bón lần 2 cuối mùa khô vào đầu tháng 4 sau mỗi lần tưới Thời gian bón trong mùa

mưa vào cuối tháng 5, 7 và 9

Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ của ZnSO 4 và Rosabor đối với cây cà phê vối giai đoạn

kinh doanh trên đất bazan

Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đối với cà phê vối GĐKD trên đất

bazan được thực hiện trên nền phân bón với tỉ lệ và số lần theo đúng quy trình của Bộ NN&PTNT trong đó

10 tấn phân chuồng được bón năm 2011, chúng tôi đề xuất các công thức phun kết hợp ZnSO4 và Rosabor

với nồng độ như sau:

B1 B1Zn0 B1Zn1 B1Zn2 B1Zn3 B2 B2Zn0 B2Zn1 B2Zn2 B2Zn3 B3 B3Zn0 B3Zn1 B3Zn2 B3Zn3

Đây là thí nghiệm 2 nhân tố với 4 mức nồng độ ZnSO4 và Rosabor khác nhau gồm 16 công thức, bố

trí 3 lần lặp lại với tổng cộng là 48 ô cơ sở (diện tích 8.640 m2) ZnSO 4 và Rosabor được hòa trong nước,

mỗi lần phun 1.500 lít nước thuốc/ha chia làm 5 lần (2 lần trong mùa khô phun sau mỗi đợt tưới vào đầu

tháng 2 và cuối tháng 4 và 3 lần trong mùa mưa phun vào cuối tháng 5, 7 và 9) phun vào buổi chiều muộn

thực hiện trong 2 năm liên tục 2012 - 2013

Trang 8

2.3.2 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

+ Tính toán hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận = tổng thu - tổng chi và hiệu suất đầu tư phân bón đánh giá thông qua 2 chỉ tiêu (lợi nhuận và lợi nhuận/chi phí phân bón)

+ Xử lý số liệu: Các số liệu thu thập trong quá trình thí nghiệm ở tất cả các bảng biểu trong Luận án được lấy trung bình sau hai năm 2012 và 2013 sau đó tổng hợp, xử lý thống kê bằng chương trình Excel và phần mềm xử lý thống kê Minitab 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Nghiên cứu liều lượng bón đạm và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan

3.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê

- Hàm lượng đạm: Theo dõi số liệu phân tích về hàm lượng đạm trong lá cà phê các công thức bón phân sau 2 năm 2012 và 2013 cho thấy: Khi thay đổi lượng đạm bón cho cây cà phê từ mức N1 đến N5 đã có ảnh hưởng đến hàm lượng đạm trong lá cà phê tăng từ 3,40 % ở các công thức bón đạm với liều lượng đối chứng đến 3,62% ở các công thức bón đạm với lượng tăng lên 40% và có ý nghĩa thống kê ở mức 95%; Bón phân đạm cho cà phê ở các mức N4, N3 và N2 có sự sai khác về hàm lượng đạm trong lá cà phê nhưng không có ý nghĩa thống kê Tương tự, khi thay đổi lượng phân kali bón cho cây cà phê từ mức K1 đến K5 có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng đạm trong lá cà phê tăng từ 3,36 % ở các công thức bón kali với liều lượng đối chứng đến 3,59% ở các công thức bón kali với lượng tăng lên 40% và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với lượng kali bón theo công thức K4 và K5; Bón phân kali cho cà phê theo các công thức K3 và K2 có sự sai khác về hàm lượng đạm trong lá cà phê nhưng không có ý nghĩa thống kê (phụ biểu 1.11) Khi bón phối hợp giữa 2 nguyên tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã có ảnh hưởng tích cực đến hàm lượng đạm trong lá; Có 4 công thức bón phân là N4K4, N4K5, N5K4 và N5K5 cho kết quả hàm lượng đạm trong lá cao hơn đối chứng từ 11% đến 17% có ý nghĩa thống kê mức 95%

- Hàm lượng lân: Hàm lượng lân trong lá cà phê của các công thức bón phối hợp giữa đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk lắk sau hai năm thí nghiệm cho kết quả thấp nhất đạt 0,14%, cao nhất đạt 0,17% và sự sai khác về hàm lượng lân trong lá giữa các công thức bón phân đạm, phân kali hoặc bón phối hợp giữa phân đạm và kali với liều lượng khác nhau không có ý nghĩa thống kê

- Hàm lượng kali: Hàm lượng kali trong lá cà phê các công thức bón phân có sự khác nhau rõ rệt giữa các công thức bón riêng từng yếu tố kali hoặc đạm với liều lượng cao từ 40% đến 50% so với công thức đối chứng cho sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức 95% (phụ biểu 1.13) Khi bón phối hợp giữa đạm và kali với liều lượng tăng ở các mức khác nhau cho cà phê vối đã có ảnh trực tiếp đến hàm lượng kali trong lá

cà phê, trong đó có 7 công thức bón phối hợp phân đạm và kali cho hàm lượng kali trong lá cao hơn đối chứng từ 4% (N4K4 : 2,22%) đến 31% (N5K5: 2,46%) có ý nghĩa thống kê ở mức 95%

- Carotenoit: Khi thay đổi lượng phân đạm, phân kali từ 10% đến 40% so với đối chứng ở các công thức bón phân đã cho kết quả hàm lượng carotenoit trong lá tăng trung bình từ 1,09 mg/g lá tươi đến 1,36 mg/g lá tươi (đối với khi tăng lượng đạm ở các mức khác nhau và sự gia tăng này chỉ có ý nghĩa thống kê ở mức 95% đối với các công thức bón đạm tăng từ 20%) và từ 1,14 mg/g lá tươi đến 1,37 mg/g lá tươi (đối với khi tăng lượng kali ở các mức khác nhau và sự gia tăng này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% đối với các công thức bón kali tăng từ 30%) (phụ biểu 1.19) Tương tự, các công thức bón phân khác nhau khi thay đổi cả hai yếu tố đạm và kali đã làm tăng hàm lượng carotenoit trong lá từ 0,97 mg/g lá tươi (N1K1) đến 1,47 mg/g lá tươi (N4K5) và có 8 công thức bón phân cho hàm lượng carotenoit trong lá từ 1,32 mg/g lá tươi (tăng 36% so với đối chứng) có ý nghĩa thống kê

ở mức 95%

Trang 9

Bảng 3.1: Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê

Các chỉ tiêu theo dõi Công thức

(mg/g lá tươi)

Carotenoit (mg/g lá tươi)

kê ở mức 95% với lượng đạm bón theo công thức N4 và N5 Tương tự, khi thay đổi lượng phân kali bón cho cây cà phê từ mức bón K1 đến K5 có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng diệp lục a trong lá cà phê tăng từ 1,57 mg/g lá tươi ở các công thức bón kali với liều lượng đối chứng đến 1,83 mg/g lá tươi ở các công thức bón kali với lượng tăng lên 40% và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với lượng kali bón theo mức K4 và K5; Hàm lượng diệp lục a ở các công thức thí nghiệm có sự tương tác của hai yếu tố đạm và kali dao động từ 1,48 mg/g lá tươi đến 2,03 mg/g lá tươi và tăng từ 3% (N1K2 và N2K1) đến 37% (N5K5) so với đối chứng

Trang 10

Đồ thị 3.1: Tương quan giữa diệp lục a và năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali

cho cây cà phê vối

Như vậy, y = - 0,702 x 2 + 3,5268 x - 0,5419 là đường chuẩn cho tương quan giữa hàm lượng diệp lục

a trong lá cà phê với năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali với (r = 0,92) chứng tỏ mối tương quan này là rất chặt Kết quả này cũng phù hợp với kết luận của Phan Văn Tân, (2001) khi nghiên cứu về tương quan giữa diệp lục a và năng suất cà phê nhân tại Đắk Lắk cho rằng cho rằng tương quan giữa diệp lục

a và năng suất cà phê tươi là rất chặt (r = 0,91)

Sau hai năm thí nghiệm bón tăng lượng đạm và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk từ 10% đến 40% so với đối chứng trên nền phân lân và phân chuồng cố định cho thấy có

sự khác biệt rõ ràng về hàm lượng đạm, kali, diệp lục a carotenoit trong lá cà phê

3.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi nước, độ mở khí khổng, nồng độ CO 2 trong gian bào

- Cường độ thoát hơi nước của các công thức khi bón tăng lượng đạm từ mức bón N1 đến N5 dao động từ 1,00 mmol/m 2 /s đến 1,33 mmol/m 2 /s và các công thức bón tăng kali từ mức bón K1 đến K5 dao động từ 1,08 mmol/m 2 /s đến 1,28 mmol/m 2 /s (phụ biểu 1.20) Các công thức bón kết hợp giữa hai yếu tố đạm và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan sau hai năm thí nghiệm cho kết quả CĐTHN dao động thấp nhất đạt 0,93 mmol/m 2 /s đến cao nhất đạt 1,49 mmol/m 2 /s (bảng 3.4) nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

- Nồng độ CO2 trong gian bào: Kết quả đo nồng độ CO2 trong gian bào của lá cà phê vối ở các công thức bón phối hợp hai yếu tố đạm và kali với liều lượng khác nhau cho thấy nồng độ thấp nhất ở công thức bón phân (N1K5) đạt 314 μmol/m 2 /s và cao nhất ở công thức (N5K5) đạt 364 μmol/m 2 /s và sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê Khi tăng mức bón đạm từ 10% đến 40% cho cà phê sẽ dẫn tới nồng độ CO 2 trong gian bào dao động từ 318 μmol/m 2 /s đến 358 μmol/m 2 /s (phụ biểu 1.22) nhưng sự khác nhau này chỉ có ý nghĩa thống kê mức 95% khi bón tăng lượng đạm từ 20% trở lên so với đối chứng

- Độ mở khí khổng: Đối với các công thức bón kết hợp giữa hai yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan sau hai năm thí nghiệm cho kết quả trung bình về độ mở khí khổng dao động từ 1.154 mmol/m 2 /s (N1K1) đến 1.453 mmol/m 2 /s (N5K4) Mặc dù có sự chênh lệch về độ mở khí khổng trong lá cà phê khá lớn nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

Trang 11

Bảng 3.2: Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi

nước, độ mở khí khổng, nồng độ CO 2 trong gian bào

Các chỉ tiêu theo dõi Công thức Cường độ QH

(μmol/m 2/s)

Cường độ THN (mmol/m 2/s)

Độ mở KK (mmol/m 2/s)

Nồng độ CO2(μmol/m 2/s)

ở mức 95%

Trang 12

Đồ thị 3.2: Tương quan giữa CĐQH và năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali

Y = -0,0029 x 2 + 0,1743 x + 1,1959 là đường chuẩn cho tương quan giữa cường độ quang hợp với năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali với (r = 0,89) và đây là mối tương quan rất chặt

Sau hai năm thí nghiệm 2012 và 2013 cho thấy bón đạm và kali ở các mức khác nhau, đặc biệt là tăng lượng đạm từ 20% đến 40% so với đối chứng đã có ảnh hưởng rất rõ tới cường độ quang hợp trong lá cà phê; Đối với cường độ thoát hơi nước và độ mở khí khổng thì sự khác biệt là không rõ nét

3.1.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu

- Chiều dài cành dự trữ: Khi thay đổi lượng phân đạm bón cho cây cà phê với các mức bón từ N1 đến N5 có ảnh hưởng trực tiếp đến chiều dài cành dự trữ dao động trung bình từ 36,47 cm đến 39,98 cm và chỉ có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với lượng đạm bón cho cà phê tăng ở mức 30% so với đối chứng Tương

tự, khi thay các mức bón kali cho cây cà phê từ K1 đến K5 dẫn đến chiều dài cành dự trữ dao động từ 36,89

cm đến 39,01 cm và có ý nghĩa thống kê với mức bón kali từ K4 và K5 (phụ biểu 1.24) Khi bón phối hợp giữa 2 yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã có ảnh hưởng tích cực chiều dài cành dự trữ của cây cà phê dao động từ 35,31 cm đến 43,09 cm, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 4 công thức có chiều dài cành dự trữ tăng từ 15% (N4K4) đến 20% (N4K5) so với đối chứng ở mức ý nghĩa 95%

- Số cành khô/cây: Khi bón phối hợp giữa 2 yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh

đã có ảnh hưởng rất rõ đến số cành khô/cây giảm trung bình sau hai năm từ 12,23 cành xuống 9,54 cành, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 4 công thức bón phân đạm và kali có số cành khô/cây giảm từ 19% (N4K4) đến 28% (N5K5) so với đối chứng ở mức ý nghĩa 95%

- Khối lượng 100 quả tươi: Bón phân đạm cho cây cà phê với liều lượng tăng từ mức N1 đến N5 và

phân kali bón cho cây cà phê với liều lượng tăng từ mức K1 đến K5 sau hai năm thí nghiệm đã có ảnh đến khối lượng 100 quả tươi dao động tương ứng từ 121,22 g/100 quả tươi đến 133,36 g/100 quả tươi đối với các mức bón đạm và 122,56 g/100 quả tươi đến 132,14 g/100 quả tươi đối với các mức bón kali (phụ biểu 1.29) Khi bón phối hợp giữa 2 yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan đã có ảnh hưởng đến khối lượng 100 quả tươi trung bình sau hai năm tăng thấp nhất đạt 116,00 g/100 quả tươi (N1K1) đến cao nhất đạt 139,97 g/100 quả tươi (N5K4) nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

- Tỉ lệ tươi/nhân: Khi bón tăng lượng đạm cho cây cà phê từ mức N1 đến N5 và phân kali từ mức K1 đến K5 đã có ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ tươi/nhân giảm tương ứng từ 4,22 xuống 4,09 đối với các mức bón đạm và các mức bón kali (phụ biểu 1.30) Khi bón phối hợp giữa 2 yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh làm giảm tỉ lệ tươi/nhân cao nhất là 7% (N4K5) so với đối chứng nhưng sự sai khác

Trang 13

này không có ý nghĩa thống kê Tỉ lệ tươi/nhân của cà phê ngoài yếu tố dinh dưỡng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như: Đất đai, khí hậu thời tiết, thời điểm thu hoạch, kỹ thuật thu hái và chế biến

Bảng 3.3: Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và tỉ lệ

hạt cà phê nhân xuất khẩu

Các chỉ tiêu theo dõi Công thức Dài cành dự

trữ cm)

Số cành khô /cây (cành)

KL100 quả tươi (g)

Tỉ lệ tươi/nhân

Năng suất tươi (tấn/ha)

Tỉ lệ % xuất khẩu

N1K2 36,10 12,19 117,30 4,25 13,50 33,79 N1K3 37,12 12,18 118,71 4,24 13,70 35,47 N1K4 37,76 12,15 126,70 4,13 13,55 35,98 N1K5 35,31 12,16 127,38 4,21 14,05 36,17 N2K1 37,88 11,58 121,50 4,25 13,68 33,37 N2K2 36,91 11,28 121,07 4,20 13,74 34,80 N2K3 36,79 11,94 124,33 4,26 13,99 35,59 N2K4 36,92 11,39 126,62 4,10 13,66 36,26 N2K5 35,69 10,71 129,30 4,06 13,59 37,37 N3K1 36,27 12,31 124,10 4,20 13,55 33,98 N3K2 36,85 11,01 122,02 4,27 13,86 35,11 N3K3 38,35 12,80 123,39 4,17 13,66 39,33 N3K4 37,20 11,59 123,73 4,17 14,35 39,94 N3K5 37,65 11,42 125,95 4,12 14,40 40,76 N4K1 37,46 11,94 123,62 4,22 13,71 36,17 N4K2 37,85 11,20 129,38 4,10 13,56 37,92 N4K3 37,07 12,29 121,86 4,05 14,43 41,24 N4K4 41,44 10,23 130,76 4,08 14,87 43,38 N4K5 43,30 9,92 138,15 4,00 14,89 45,68 N5K1 36,77 11,35 127,80 4,14 13,75 37,20 N5K2 37,91 11,31 129,41 4,10 14,19 38,94 N5K3 39,46 10,04 129,69 4,13 14,67 43,16 N5K4 42,68 9,93 139,97 4,09 15,14 44,08 N5K5 43,09 9,54 139,94 4,06 15,20 45,67 CV(%) 10,29 14,68 10,85 8,33 10,72 -

Ghi chú: Tỉ lệ % xuất khẩu: Là tỉ lệ hạt cà phê nhân trên sàng S16 để xuất khẩu(hạng đặc biệt và hạng 1)

- Năng suất cà phê tươi: Khi thay đổi lượng phân đạm bón cho cây cà phê ở các mức bón từ N1 đến N5 có ảnh hưởng đến năng suất cà phê tươi dao động trung bình sau hai năm thí nghiệm đạt thấp nhất đạt 13,67 tấn/ha và cao nhất 14,59 tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% ở mức đạm tăng từ 30% trở lên so với đối chứng Tương tự, khi thay đổi mức bón phân kali cho cà phê từ K1 đến K5 có tác động đến năng suất

cà phê tươi dao động trung bình sau hai năm từ 13,63 tấn/ha đến 14,43 tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với mức bón kali cho cà phê tăng từ 30% so với đối chứng (phụ biểu 1.31) Khi bón phối hợp giữa hai

Trang 14

yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã làm năng suất cà phê tươi tăng từ 13,47 tấn/ha (N1K1) đến 15,20 tấn/ha (N5K5), sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 4 công thức có năng suất cà phê tươi tăng từ 10% (N4K4) đến 13% (N5K5) so với đối chứng ở mức ý nghĩa 95%

- Các công thức bón tăng lượng đạm và kali khác nhau cho tỉ lệ % hạt cà phê nhân hạng đặc biệt và hạng 1 dao động từ 32,12% (N1K1) đến 45,68% (N4K5) Đa số các công thức bón đạm và kali tăng cao, đặc biệt là kali cao đã làm tăng kích cỡ nhân trên sàng cao hơn các công thức còn lại và công thức đối chứng

Bảng 3.4: Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali năng suất cà phê nhân (tấn/ha)

sự sai khác về năng suất cà phê nhân nhưng không có ý nghĩa thống kê Phân tích số liệu về năng suất cà phê nhân khi bón phối hợp giữa hai yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk sau hai năm thí nghiệm cho kết quả năng suất cà phê nhân trung bình tăng từ 3,15 tấn/ha (N1K1) đến 3,74 tấn/ha (N5K5), sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 5 công thức cho năng suất cà phê nhân tăng từ 15% (N4K4 và N5K3) đến 19% (N5K5) so với đối chứng ở mức ý nghĩa 95%

Như vậy, sau hai năm thí nghiệm bón phân cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk với các mức bón đạm, kali hoặc phối hợp hai yếu tố đạm và kali tăng từ 10% đến 40% so với quy trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho thấy sự khác biệt khá rõ đối với năng suất cà phê tươi và năng suất cà phê nhân, đặc biệt khi bón tăng đạm và kali ở mức 30% trở lên so với đối chứng

3.1.4 Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi bón tăng lượng đạm và kali cho cây cà phê vối

- Giá trị sản lượng: Các công thức bón phân với liều lượng tăng đạm và kali cho kết quả giá trị sản lượng bình quân sau hai năm thí nghiệm là khác nhau thấp nhất là công thức N1K2 đạt 111,3 triệu đồng/ha/năm, cao nhất là công thức N5K5 đạt 130,9 triệu đồng/ha/năm (cao hơn đối chứng 19%)

- Tổng chi phí và chi phí phân bón: Các công thức bón phân với liều lượng tăng đạm và kali có sự khác nhau về tổng chi phí do tăng lượng phân đạm, kali tăng từ 1% đến 7% và công lao động tăng thêm do thu hái sản phẩm nhiều hơn Tính riêng với chi phí phân bón (CPPB) tăng từ 3% (công thức N1K2 và N2K1

- 18,52 triệu) đến 23% (công thức N5K5 - 22,21 triệu) so với đối chứng

Trang 15

Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi bón tăng lượng đạm và kali

Các chỉ tiêu theo dõi Công thức GTSL

N1K2 111.300 65.020 18.520 46.280 2,50 N1K3 113.050 65.540 19.040 47.510 2,50 N1K4 114.800 66.060 19.560 48.740 2,49 N1K5 116.900 66.580 20.080 50.320 2,51 N2K1 112.700 65.020 18.520 47.680 2,57 N2K2 114.450 65.540 19.040 48.910 2,57 N2K3 114.800 66.060 19.560 48.740 2,49 N2K4 116.550 66.580 20.080 49.970 2,49 N2K5 117.250 67.100 20.600 50.150 2,43 N3K1 113.050 65.540 19.040 47.510 2,50 N3K2 113.750 66.060 19.560 47.690 2,44 N3K3 114.450 66.580 20.080 47.870 2,38 N3K4 120.400 67.100 20.600 53.300 2,59 N3K5 122.500 67.620 21.120 54.880 2,60 N4K1 113.750 66.160 19.660 47.590 2,42 N4K2 115.850 66.680 20.180 49.170 2,44 N4K3 124.600 67.200 20.700 57.400 2,77 N4K4 127.400 67.720 21.220 59.680 2,81 N4K5 130.550 68.240 21.740 62.310 2,87 N5K1 116.200 66.630 20.130 49.570 2,46 N5K2 121.100 67.060 20.560 54.040 2,63 N5K3 127.400 67.670 21.170 59.730 2,82 N5K4 129.850 68.190 21.690 61.660 2,84 N5K5 130.900 68.710 22.210 62.190 2,80

Ghi chú: giá bán cà phê nhân trung bình năm 2012 và 2013: 35.000 đ/kg

- Lợi nhuận: Các công thức bón phân với liều lượng tăng đạm và kali cho lợi nhuận (LN) khác nhau,

thấp nhất là công thức N1K2 cho lợi nhuận cao hơn đối chứng 530.000 đồng/ha và cao nhất là công thức N4K5 (3,73 tấn/ha) đạt 16,56 triệu đồng/ha, cao hơn công thức bón phân N5K5 (3,74 tấn/ha) đạt lợi nhuận 16,44 triệu đồng/ha

- Lợi nhuận/chi phí phân bón: Các công thức bón phân với liều lượng tăng đạm và kali cho kết quả khác nhau về lợi nhuận/chi phí phân bón dao động từ 2,38 (N3K3) đến 2,87 (N4K5) Tỉ lệ này càng cao thể hiện hiệu quả đầu tư phân bón càng cao, cao nhất là công thức bón phân N4K5 cho giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón tăng 12% so với công thức đối chứng

3.1.5 Tóm tắt kết quả thí nghiệm 1

- Công thức bón phân N5K5 với liều lượng (364 kg N + 95 kg P2O5 + 336 kg K2O/năm/ha) có ảnh hưởng trực tiếp đến hấp thu dinh dưỡng khoáng làm tăng khả năng hấp thu N, K, Mg, Ca trong đất và lá cà phê; Có ảnh hưởng tích cực đến quá trình sinh trưởng phát triển, đặc biệt làm gia tăng hàm lượng diệp lục a

Trang 16

lên 37%, cường độ quang hợp tăng 66%, tăng 19% chiều dài cành dự trữ và giảm 28% số cành khô/cây so với đối chứng có ý nghĩa thống kê mức 95%

- Công thức bón phân N4K5 với liều lượng (338 kg N + 95 kg P 2 O 5 + 336 kg K 2 O/năm/ha) có hiệu quả nhất, tăng tỉ lệ cà phê nhân xuất khẩu lên 14%, giảm tỉ lệ tươi/nhân 7%, làm tăng 18% năng suất cà phê nhân so với đối chứng mức ý nghĩa 95% Công thức N4K5 cũng là công thức bón phân cho lợi nhuận cao nhất 62,31 triệu đồng/ha/năm và hiệu suất đầu tư phân bón tốt nhất với giá trị LN/CPPB đạt 2,87 lần

3.2 Ảnh hưởng cách bón (số lần và tỉ lệ bón) đạm, lân và kali đến cây cà phê vối

3.2.1 Ảnh hưởng số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến một số chất trong lá cà phê

- Hàm lượng đạm: Trong lá cà phê của các công thức thí nghiệm có sự khác nhau thấp nhất là công thức đối chứng (3,42%), cao nhất là CT3 (3,58%) Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa CT1

và CT3, giữa các cặp công thức còn lại sự sai khác không có ý nghĩa thống kê

- Hàm lượng lân: Hàm lượng lân trong lá cà phê của các công thức thí nghiệm thấp nhất đạt 0,15%

và cao nhất đạt 0,17%, có sự sai khác giữa các công thức nhưng không có ý nghĩa thống kê

- Hàm lượng kali: Hàm lượng kali trong lá cà phê của các công thức thí nghiệm có sự sai khác rõ rệt, thấp nhất là công thức đối chứng (1,71%), cao nhất là CT3 (1,95%) Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê

ở mức 95% giữa CT1 và CT3, giữa các cặp công thức còn lại sự sai khác không có ý nghĩa thống kê

- Hàm lượng CaO: CT2 hàm lượng CaO trong lá tăng 3% và CT3 tăng 13% so với đối chứng, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa CT3 với công thức đối chứng

Bảng 3.6: Ảnh hưởng số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê

Các công thức Chỉ tiêu

theo dõi

Trước thí nghiệm (%) CT1 (%) CT2 (%) CT3 (%) CV (%) LSD0,05

3.2.2 Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng các sắc tố và một số chỉ tiêu quang hợp trong lá cà phê

- Diệp lục a: Trong các phân tử diệp lục thì diệp lục a là chỉ tiêu quan trọng nhất và có liên quan chặt chẽ tới năng suất cây trồng Hàm lượng diệp lục a ở các công thức tăng từ 8% (CT2:1,63 mg/g lá tươi) đến 17% (CT3:1,77 mg/g lá tươi) và sự sai khác này có ý nghĩa thống kê giữa CT3 so với đối chứng ở mức 95%

- Diệp lục b: Hàm lượng diệp lục b ở các công thức bón đạm, lân, kali với số lần và tỉ lệ bón khác nhau tăng từ 0,95 mg/g lá tươi ở công thức đối chứng đến 1,05 mg/g lá tươi ở công thức bón phân (CT3) nhưng sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa công thức có hàm lượng diệp lục tăng từ 11% trở lên so với đối chứng

Trang 17

- Cường độ quang hợp: Ghi nhận về cường độ quang hợp của lá cà phê trong các công thức bón phân cho thấy thấp nhất là CT1 (16,07 μmol/m 2 /s) cao nhất là CT3 (19,78 μmol/m 2 /s) và sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% ở tất cả các công thức thí nghiệm so với đối chứng

Bảng 3.7: Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng các sắc tố quang hợp

trong lá cà phê

Các công thức Chỉ tiêu theo dõi

sự khác nhau này không có ý nghĩa thống kê mức 95%

- Cường độ thoát hơi nước và độ mở khí khổng: CĐTHN và ĐMKK của công thức 3 là cao nhất tương ứng 1,24 mmol/m 2 /s và 1.315 mmol/m 2 /s nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

3.2.3 Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất

và tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu

- Chiều dài cành dự trữ : Cây cà phê là cây dài ngày, khả năng cho năng suất cao và ổn định trong năm sau phụ thuộc rất lớn vào lượng phân bón cho cây năm trước để tạo một lượng cành dự trữ nhất định Kết quả cho thấy chiều dài cành dự trữ ở các công thức bón đạm, lân và kali là rất khác nhau và cao nhất là CT3 tăng 8% so với đối chứng

- Tỉ lệ tươi/nhân: Tỉ lệ tươi/nhân phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: giống, phân bón, kỹ thuật canh

tác… nhưng cùng một giống cà phê, kỹ thuật canh tác và lượng phân bón trên đơn vị diện tích như nhau thì

tỉ lệ tươi/nhân được quyết định bởi lượng đạm, lân và kali bón cho cây cà phê vào từng giai đoạn cụ thể với

số lần và tỉ lệ bón ở mỗi giai đoạn khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau Khi bón đạm và kali 5 lần/năm ở CT3 cho tỉ lệ tươi/nhân thấp nhất là (4,08) so với CT2 (4,13) và công thức đối chứng là (4,29) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa CT1 và CT3

- Năng suất cà phê tươi: Là một trong những chỉ tiêu quan trọng kết hợp với tỉ lệ tươi/nhân quyết định đến năng suất cà phê nhân Bón đạm, lân, kali với số lần và tỉ lệ khác nhau cho năng suất cà phê tươi khác nhau, bón phân theo CT2 đã làm tăng năng suất cà phê tươi 6%, theo CT3 làm tăng năng suất cà phê tươi so với đối chứng là 9%, sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa CT1 và CT3

- Năng suất cà phê nhân: Với một lượng phân bón nhất định trên một đơn vị diện tích khi chúng ta thay đổi số lần và tỉ lệ bón đạm, lân, kali khác nhau cho kết quả khác nhau: Bón phân theo CT2 cho năng suất cao hơn đối chứng là 10% và bón phân theo CT3 cho năng suất cao hơn đối chứng 15% Sự khác nhau

Trang 18

này có ý nghĩa thống kê giữa CT2 và CT3 với công thức đối chứng ở mức 95%, giữa công thức 3 so với công thức 2 mặc dù có sự chênh lệch về năng suất nhưng không có ý nghĩa thống kê

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng

suất và tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu

Các công thức Chỉ tiêu theo dõi

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong hàng biểu thị sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p<0,05; NS: Sai khác không có ý nghĩa

3.2.4 Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón với số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali khác nhau

- Giá trị sản lượng và tổng chi phí: Các công thức bón đạm, lân và kali với số lần và tỉ lệ khác nhau cho năng suất và giá trị sản lượng khác nhau: Bón phân theo CT2, tổng chi phí đầu tư cao hơn đối chứng là 3 triệu/ha, giá trị sản lượng cao hơn chứng là 11,20 triệu đồng/ha Bón phân theo CT3 tổng chi phí đầu tư hơn CT1 là 5,25 triệu/ha, giá trị sản lượng cao hơn CT1 là 16,10 triệu đồng/ha

- Lợi nhuận: Mong muốn cuối cùng của người sản xuất cà phê hiện nay ngoài việc giữ ổn định cho

vườn cây, lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất mà người trồng cà phê đặc biệt quan tâm Bón đạm, lân và kali theo tỉ lệ và số lần khác nhau cho lợi nhuận khác nhau: Bón phân theo CT2 cho lợi nhuận (8,2 triệu đồng/ha) cao hơn CT1 là 18% và bón phân theo CT3 đạt lợi nhuận (10,9 triệu đồng/ha) cao hơn 24% so với đối chứng

Bảng 3.9: Hiệu quả kinh tế, hiệu suất đầu tư phân bón với số lần và tỉ lệ bón

đạm, lân và kali khác nhau

Các công thức Chỉ tiêu

và 2013 35.000 đ/kg

Ghi chú: Chi phí phân bón ở 3 công thức như nhau để tính riêng hiệu suất đầu tư phân bón

- Lợi nhuận/chi phí phân bón: Các công thức bón phân đạm, lân và kali với số lần và tỉ lệ bón khác nhau cho kết quả khác nhau về giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón dao động từ 2,54 (CT1) đến 3,14 (CT3) Tỉ

lệ này càng cao thể hiện hiệu quả đầu tư phân bón càng cao, cao nhất là công thức bón phân theo công thức 3 cho tỉ lệ lợi nhuận/chi phí phân bón tăng 24% so với công thức đối chứng

3.2.5 Tóm tắt kết quả thí nghiệm 2

- Công thức bón đạm, kali 5 lần/năm (30% mùa khô và 70% mùa mưa) và bón lân 2 lần/năm (50%

mùa khô và 50% mùa mưa) - CT3 đã ảnh hưởng đến hấp thu dinh dưỡng khoáng làm tăng khả năng hấp thu đạm, kali, canxi, magie trong đất và lá cà phê; Có ảnh hưởng tích cực đến quá trình sinh trưởng phát triển,

Trang 19

tăng 17% hàm lượng diệp lục a, cường độ quang hợp tăng 23%, chiều dài cành dự trữ tăng 8% và giảm 18%

số cành khô trên cây so với đối chứng có ý nghĩa thống kê

- Công thức bón đạm và kali đạm 5 lần/năm (30% mùa khô và 70% mùa mưa) và bón lân 2 lần/năm (CT3) có hiệu quả nhất; giảm 5% tỉ lệ tươi/nhân, tăng 15% năng suất cà phê nhân và cũng là công thức bón phân cho lợi nhuận cao nhất, cao hơn đối chứng 10,9 triệu đồng/ha/năm, hiệu suất đầu tư phân bón tốt nhất với giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón đạt 3,14 lần và cải thiện được tỉ lệ cà phê nhân xuất khẩu

3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ của ZnSO 4 và Rosabor đối với cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan

3.3.1 Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê

- Hàm lượng đạm trong lá cà phê của các công thức phun ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau

có sự sai khác, thấp nhất là công thức đối chứng B0Zn0 (3,32%), cao nhất là công thức B2Zn3 (3,57%) nhưng không có ý nghĩa thống kê

- Hàm lượng lân: Hàm lượng lân trong lá cà phê thấp nhất đạt 0,13% và cao nhất đạt 0,15%; Có sự sai khác giữa các công thức nhưng không có ý nghĩa thống kê

- Hàm lượng kali: Kali là nguyên tố đối kháng với bo, nếu bón quá nhiều kali sẽ gây ức chế việc hút

bo của cây cà phê dẫn đến thiếu hụt, ngược lại khi bón hoặc phun quá nhiều bo dẫn tới cây cà phê bị ngộ độc

và khi đó bón kali với lượng cao lại giảm được ngộ độ bo Hàm lượng kali trong lá cà phê của các công thức phun phối hợp ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối có sự sai khác giữa, trong đó có 4 công thức phun ZnSO 4 và Rosabor với nồng cao đã có ảnh hưởng đến hàm lượng kali trong lá cao hơn đối chứng từ 19% (B2Zn2 : 2,28%) đến 23% (B3Zn3 : 2,37%) nhưng không có ý nghĩa thống kê

- Hàm lượng CaO và MgO: Đối với cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh canxi là nguyên tố nếu thiếu có thể làm giảm tỉ lệ nứt thân và gốc, đặc biệt là những vườn cây cà phê già cỗi Hàm lượng MgO trong

lá cà phê có tương quan chặt chẽ tới hàm lượng diệp lục, đặc biệt là diệp lục a và các sắc tố quang hợp Kết quả phân tích hàm lượng CaO và MgO trong lá cà phê của các công thức phun kết hợp ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối dao động từ 1,57% đến 2,29 % đối với hàm lượng CaO và từ 0,33% đến 0,39% đối với MgO nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

- Hàm lượng Zn: Các công thức phun ZnSO 4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan sau 2 năm 2012 và 2013 có ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng kẽm trong lá

cà phê Khi thay đổi nồng độ phun ZnSO 4 từ mức 0,3% đến 0,5% làm cho hàm lượng Zn trong lá cà phê tăng

từ 22,25 ppm lên 30,69 ppm (phụ biểu 2.16) và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với các công thức phun với nồng độ từ 0,4% trở lên Tương tự, khi thay đổi nồng độ Rosabor phun cho cây cà phê từ 0,15% đến 0,25% dẫn đến hàm lượng Zn trong lá cà phê tăng từ 22,74 ppm lên 31,51 ppm và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với nồng độ phun ở các công thức từ 0,20% trở lên (phụ lục 2.16) Khi phun phối hợp giữa ZnSO 4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh dẫn đến hàm lượng Zn trong lá thấp nhất là công thức đối chứng (19,27 ppm) và cao nhất là công thức B3Zn2 (35,91 ppm) Đa số các công thức thí nghiệm có phun ZnSO4 với nồng độ từ 0,4% đến 0,5% có hàm lượng kẽm trong lá cà phê cao hơn đối chứng từ 15% đến 86% có ý nghĩa thống kê ở mức 95%

Bảng 3.10: Ảnh hưởng của nồng độ ZnSO 4 và Rosabor đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê

Các chỉ tiêu theo dõi Công thức

N (%) P (%) K (%) CaO (%) MgO (%) Zn (ppm) B (ppm)

Trang 20

Đồ thị 3.3: Tương quan giữa hàm lượng Zn trong lá và năng suất cà phê nhân

Như vậy, Y = 0,0021 x2 - 0,08 x + 3,9235 là đường chuẩn cho mối quan hệ giữa hàm lượng kẽm trong lá cà phê với năng suất cà phê nhân với r = 0,97 và đây là tương quan tương rất chặt, chứng tỏ đất bazan trồng cà phê tại địa điểm thí nghiệm có thể thiếu kẽm và khi được bổ sung kẽm bằng cách phun ZnSO 4

với nồng độ khác nhau qua lá đã làm tăng năng suất cà phê vối rõ rệt Có rất ít công trình nghiên cứu về tương quan giữa hàm lượng Zn trong lá cà phê với năng suất cà phê vối nên sự so sánh và biện luận của chúng tôi về vấn đề này còn gặp nhiều hạn chế

- Hàm lượng B: Khi thay đổi nồng độ Rosabor phun cho cây cà phê từ 0,15% đến 0,25% giúp hàm lượng B trong lá cà phê tăng từ 32,92 ppm lên 43,56 ppm và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với tất cả các

Trang 21

công thức phun Rosabor, ngoại trừ công thức đối chứng (phụ biểu 2.17) Tương tự, khi thay đổi nồng độ phun ZnSO4 cho cây cà phê từ 0,3% đến 0,5% có ảnh hưởng đến hàm lượng B trong lá cà phê tăng từ 36,35 ppm lên 41,00 ppm (phụ biểu 2.17) và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với duy nhất ở nồng độ phun ZnSO 4

từ 0,5% Phun phối hợp giữa ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh

đã có ảnh hưởng tích cực đến hàm lượng B trong lá thấp nhất là công thức đối chứng (31,34 ppm) và cao nhất là công thức B3Zn3 (46,18 ppm) Đa số các công thức thí nghiệm có phun ZnSO4 và Rosabor nồng độ cao gồm 6 công thức có hàm lượng bo trong lá cao hơn đối chứng từ 31% (B2Zn1) đến 47% (B3Zn3) có ý nghĩa thống kê ở mức 95%

Tương quan giữa hàm lượng B trong lá với năng suất

Đồ thị 3.4: Tương quan giữa hàm lượng B trong lá và năng suất cà phê nhân

Như vậy, y = 0,0029 x 2 - 0,1878 x + 6,2807 là đường chuẩn cho quan hệ giữa hàm lượng bo trong lá

cà phê vối với năng suất cà phê nhân với (r = 0,98) và đây là tương quan tương rất chặt Tương quan này thể hiện trong đất bazan trồng cà phê tại địa điểm thí nghiệm và trong lá cà phê vối có thể thiếu bo, vì vậy khi phun bổ sung Rosabor với các nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan đã làm tăng năng suất cà phê nhân rõ rệt

Rõ ràng, sau 2 năm thí nghiệm phun kết hợp ZnSO 4 nồng độ từ 0,3% đến 0,5% và Rosabor với nồng

độ từ 0,15% đến 0,25% cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk trên nền phân bón theo quy trình của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho thấy sự khác biệt khá rõ về hàm lượng kẽm và bo trong lá cà phê

3.3.3 Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến quá trình quang hợp, sinh trưởng phát triển của cây cà phê

Kết quả theo dõi và đo đếm các chỉ tiêu khi phun ZnSO 4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối về cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi nước, độ mở khí khổng và nồng độ CO2 trong gian bào trung bình sau hai năm thí nghiệm bằng máy TPS-2 được ghi nhận tại (bảng 3.11) cho thấy:

- Cường độ quang hợp: Các công thức thí nghiệm phun kết hợp giữa ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê cho thấy cường độ quang hợp thấp nhất là 13,83 μmol/m2/s (B0Zn0 và B0Zn1) đến cao nhất đạt 21,77 μmol/m 2 /s (B3Zn2) Mặc dù có 4 công thức cho kết quả đo CĐQH gia tăng từ 38% (B2Zn2) đến 57% (B3Zn2) so với đối chứng nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

- Cường độ thoát hơi nước và nồng độ CO2 trong gian bào: Cường độ thoát hơi nước lá cà phê của các công thức phun ZnSO 4 và Rosabor với các nồng độ khác nhau dao động từ 0,99 mmol/m2/s đến 1,36 mmol/m 2 /s và nồng độ CO2 trong gian bào thấp nhất đạt 324 (μmol/m 2 /s) và cao nhất đạt 365 (μmol/m 2 /s), sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

Trang 22

Bảng 3.11: Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO 4 và Rosabor đến cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi

nước, độ mở khí khổng, nồng độ CO 2 trong gian bào

Các chỉ tiêu theo dõi Công thức Cường độ QH

(μmol/m 2/s)

Cường độ THN (mmol/m 2/s)

Độ mở KK (mmol/m 2/s)

Nồng độ CO2(μmol/m 2/s)

- Độ mở khí khổng: Độ mở khí khổng của các công thức phun kết hợp ZnSO4 và Rosabor với nồng

độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan dao động từ 1.158 mmol/m2/s (B0Zn0) đến 1.398 mmol/m 2 /s (B3Zn3) Mặc dù có nhiều công thức có kết quả đo độ mở khí khổng cao hơn đối chứng từ

14 % đến 23% nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

Thí nghiệm phun bổ sung ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk sau hai năm 2012 và 2013 cho thấy chưa có sự khác biệt về cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi nước, độ mở khí khổng và nồng độ CO2 trong gian bào

3.3.4 Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu

- Chiều dài cành dự trữ: Cà phê là cây dài ngày, khả năng cho năng suất cao và ổn định năm sau phụ thuộc rất lớn vào lượng phân bón cho cây năm trước để tạo một lượng cành dự trữ nhất định Số liệu về chiều dài cành dự trữ của các công thức phun ZnSO 4 hoặc Rosabor ở các nồng độ khác nhau cũng như phun kết hợp ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan dao động từ 35,62 cm (B0Zn0) đến 41,45 cm (B3Zn2) nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

- Số cành khô/cây: Theo dõi số cành khô trên cây của các công thức thí nghiệm cho thấy phun bổ sung kết hợp ZnSO 4 và Rosabor với nồng độ tăng dần đã giảm được tỉ lệ khô cành của cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh thấp nhất là 4% ở công thức (B0Zn1) và cao nhất là 17% ở công thức (B3Zn2) nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng

Trang 23

Bảng 3.12: Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO 4 và Rosabor đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất

và tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu

Các chỉ tiêu theo dõi Công thức Dài cành

dự trữ (cm)

Số cành khô /cây (cành)

KL100 quả tươi (g)

Tỉ lệ tươi/nhân

Năng suất tươi (tấn/ha)

Tỉ lệ % xuất khẩu

B0Zn1 35,99 12,25 124,70 4,20 13,41 33,42 B0Zn2 37,25 12,22 127,18 4,21 13,51 33,98 B0Zn3 36,78 12,01 130,39 4,26 13,73 34,78 B1Zn0 37,42 11,77 127,40 4,25 13,57 33,27 B1Zn1 37,85 12,13 129,84 4,26 13,74 34,85 B1Zn2 36,74 11,53 132,38 4,19 13,82 35,18 B1Zn3 37,94 11,52 132,81 4,10 13,69 37,17 B2Zn0 37,25 12,02 126,25 4,20 13,82 36,19 B2Zn1 36,34 11,76 130,81 4,13 13,87 38,57 B2Zn2 40,68 11,44 134,70 4,09 14,35 39,17 B2Zn3 40,64 11,20 135,87 4,04 14,69 42,21 B3Zn0 38,47 11,72 131,63 4,17 13,88 38,95 B3Zn1 37,06 11,28 134,47 4,10 13,69 41,38 B3Zn2 41,45 10,59 139,85 3,96 14,72 44,33 B3Zn3 40,16 10,64 138,22 3,98 14,72 43,90

Ghi chú: Tỉ lệ % xuất khẩu: Là tỉ lệ hạt cà phê nhân trên sàng S16 để xuất khẩu (hạng đặc biệt và hạng 1)

- Khối lượng 100 quả tươi: Phun ZnSO 4 với nồng độ từ 0,3% đến 0,5% cho cây cà phê và Rosabor với nồng độ từ 0,15% đến 0,25% đã có ảnh đến khối lượng 100 quả tươi đao động tương ứng từ 125,55 g/100 quả tươi đến 136,04 g/100 quả tươi đối với phun ZnSO 4 và 126,30 g/100 quả tươi đến 134,32 g/100 quả tươi đối với phun Rosabor (phụ biểu 2.31) Khi phun có sự kết hợp giữa ZnSO4 và Rosabor với các nồng

độ khác nhau cho cà cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã có ảnh hưởng đến trọng lượng 100 quả tươi trung bình qua hai năm tăng từ 119,92 g/100 quả tươi (B0Zn0) lên 139,85 g/100 quả tươi (B3Zn2) nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

- Tỉ lệ tươi/nhân: Cùng một giống cà phê, kỹ thuật canh tác, chăm sóc như nhau thì tỉ lệ này được quyết định bởi chế độ dinh dưỡng, tỉ lệ này càng thấp cho năng suất cà phê nhân càng cao và ngược lại Khi phun ZnSO4 với nồng độ từ 0,3% đến 0,5% cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk đã có ảnh đến tỉ lệ tươi/nhân giảm từ 4,23 xuống 4,10 và khi phun Rosabor với nồng độ từ 0,15% đến 0,25% đã làm giảm tỉ lệ tươi/nhân từ 4,24 xuống 4,05 (phụ biểu 2.32) Khi phun phối hợp giữa ZnSO4 và Rosabor cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã làm giảm tỉ lệ tươi/nhân trung bình sau hai năm cao nhất là 8% (B3Zn2) so với đối chứng nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê

- Năng suất cà phê tươi: Thí nghiệm về ảnh hưởng của nồng độ ZnSO 4 và Rosabor đến năng suất cà phê tươi trên đất bazan tại Đắk Lắk sau hai năm cho thấy: Khi thay đổi nồng độ phun ZnSO4 từ 0,3% đến 0,5% dẫn đến năng suất cà phê tươi dao động trung bình thấp nhất là 13,68 tấn/ha đến cao nhất đạt 14,21

Trang 24

tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với nồng độ phun từ 0,4% trở lên so với đối chứng Tương tự, khi thay nồng độ Rosabor phun cho cây cà phê từ 0,15% đến 0,25% dẫn đến năng suất cà phê tươi dao động trung bình từ thấp nhất đạt 13,55 tấn/ha đến cao nhất đạt 14,25 tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với nồng độ phun từ 0,20% trở lên so với đối chứng (phụ biểu 2.33) Khi phun phối hợp giữa ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk đã cho kết quả năng suất cà phê tươi dao động trung bình sau hai năm từ 13,41 tấn/ha (B0Zn1) đến 14,72 tấn/ha (B3Zn2 và B3Zn3), sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 4 công thức cho năng suất cà phê tươi tăng từ 6% (B2Zn2) đến 9% (B3Zn2 và B3Zn3) so với đối chứng ở mức ý nghĩa 95%

Tiêu chuẩn cà phê nhân xuất khẩu áp dụng theo TCVN 4193:2005 bao gồm cà phê nhân hạng đặc biệt và hạng 1 Các công thức thí nghiệm phun phối hợp ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk sau hai năm theo dõi cho tỉ lệ hạt cà phê nhân hạng đặc biệt dao động từ 4,27% đến 11,71%; hạng 1 dao động từ 28,07% (B0Zn0) đến 32,68% (B3Zn2) và tổng cộng tỉ lệ cà phê nhân xuất khẩu đạt mức thấp nhất 32,34% (B0Zn0) đến cao nhất 44,33% (B3Zn2) Đa số các công thức phun ZnSO4 và Rosabor với nồng độ tăng cao, đặc biệt là Rosabor cao đã làm tăng kích cỡ nhân trên sàng cao hơn các công thức còn lại và công thức đối chứng Như vậy, khi phun kẽm và bo cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan không những làm tăng năng suất mà còn giúp tăng kích cỡ hạt cà phê nhân xuất khẩu

Bảng 3.13: Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO 4 và Rosabor đến năng suất cà phê nhân (tấn/ha)

và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với nồng độ phun từ 0,20% trở lên so với đối chứng Phân tích số liệu về năng suất cà phê nhân khi phun phối hợp giữa ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh cho thấy năng suất cà phê nhân dao động trung bình từ thấp nhất đạt 3,16 tấn/ha (B0Zn0) đến cao nhất đạt 3,71 tấn/ha (B3Zn2), sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 3 công thức có năng suất cà phê nhân tăng từ 15% (B2Zn3) đến 17% (B3Zn2) so với đối chứng ở mức ý nghĩa 95%

3.3.5 Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi phun ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối

- Tổng chi phí và chi phí phân bón: Các công thức kết hợp ZnSO4 và Rosabor với nồng độ tăng lên

có sự khác nhau về tổng chi phí từ 1% đến 4% so với đối chứng và công lao động tăng thêm do thu hái sản phẩm nhiều hơn Với chi phí phân bón (CPPB) tăng từ 5% (B0Zn1 - 18,81 triệu) đến 16% (B3Zn3 - 20,85 triệu) so với đối chứng do tăng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor làm gia tăng chi phí phân bón nói chung

Trang 25

Bảng 3.14: Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi phun ZnSO 4 và Rosabor cho cà phê vối

Các chỉ tiêu theo dõi Công thức GTSL

B0Zn1 111.650 65.310 18.810 46.340 2,46 B0Zn2 112.350 65.580 19.080 46.770 2,45 B0Zn3 113.050 65.850 19.350 47.200 2,44 B1Zn0 111.650 65.400 18.900 46.250 2,45 B1Zn1 113.050 66.210 19.710 46.840 2,38 B1Zn2 115.500 66.480 19.980 49.020 2,45 B1Zn3 116.900 66.750 20.250 50.150 2,48 B2Zn0 115.150 65.700 19.200 49.450 2,58 B2Zn1 117.600 66.510 20.010 51.090 2,55 B2Zn2 122.500 66.780 20.280 55.720 2,75 B2Zn3 127.400 67.050 20.550 60.350 2,94 B3Zn0 116.550 66.000 19.500 50.550 2,59 B3Zn1 116.900 66.810 20.310 50.090 2,47 B3Zn2 129.850 67.080 20.580 62.770 3,05 B3Zn3 129.500 67.350 20.850 62.150 2,98

Ghi chú: Giá bán cà phê nhân trung bình năm 2012 và 2013: 35.000 đồng/kg

- Giá trị sản lượng: Các công thức thí nghiệm phun phối hợp ZnSO 4 và Rosabor với nồng độ khác

nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk sau hai năm theo dõi cho kết quả trung

bình dao động từ 110,6 triệu đồng (B0Zn0) đến 129,85 triệu đồng, thấp nhất là công thức B0Zn1 (tăng 1% so với đối chứng) và cao nhất là công thức B3Zn2 (tăng 17% so với đối chứng)

- Lợi nhuận: Các công thức phun ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn

kinh doanh trên đất bazan đã làm tăng lợi nhuận khác nhau, thấp nhất là công thức B0Zn1 cho lợi nhuận cao hơn đối chứng 240.000 đồng/ha và cao nhất là công thức B3Zn2 đạt 16,67 triệu đồng/ha, cao hơn công thức bón phân B3Zn3 (năng suất 3,70 tấn/ha) đạt lợi nhuận 16,05 triệu đồng/ha

- Lợi nhuận/chi phí phân bón: Trong thí nghiệm của chúng tôi, có 4 công thức phun phối hợp ZnSO4

và Rosabor theo thứ tự cho giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón hợp lý nhất từ cao xuống thấp là B3Zn2 (3,05);

B3Zn3 (2,98); B2Zn3 (2,94) và B2Zn2 (2,75) Tỉ lệ này càng cao thể hiện hiệu quả đầu tư phân bón càng cao, cao nhất là công thức B3Zn2 cho tỉ lệ lợi nhuận/chi phí phân bón tăng 19% so với công thức đối chứng

3.3.6 Tóm tắt kết quả thí nghiệm 3

- Công thức phun ZnSO4 0,4% + Rosabor 0,25% ảnh hưởng đến hấp thu dinh dưỡng khoáng trong lá

cà phê; Có ảnh hưởng tích cực đến quá trình sinh trưởng phát triển, đặc biệt làm gia tăng hàm lượng kẽm, bo, diệp lục a trong lá cà phê tương ứng (86%, 47% 36%); Gia tăng 57% cường độ quang hợp, 16% chiều dài cành dự trữ và giảm 17% số cành khô trên cây so với đối chứng

- Công thức phun ZnSO4 0,4% + Rosabor 0,25% có hiệu quả nhất; Giảm tỉ lệ tươi/nhân 8%, tăng 9% năng suất cà phê tươi và 17% năng suất cà phê nhân và cũng là công thức cho lợi nhuận cao nhất 62,77 triệu đồng/ha/năm, hiệu suất đầu tư phân bón tốt nhất với trị số lợi nhuận/chi phí phân bón đạt 3,05 lần và cải thiện được tỉ lệ cà phê nhân xuất khẩu

Trang 26

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1 Kết luận

- Công thức N4K5 bón đạm, lân và kali liều lượng 338 kg N + 95 kg P 2 O 5 + 336 kg K 2 O trên nền phân chuồng 5 tấn/ha/năm với số lần và tỉ lệ theo quy trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là thích hợp nhất cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk, đạt mức năng suất 3,73 tấn/ha, lợi nhuận cao hơn đối chứng 16,56 triệu đồng/ha/năm và hiệu suất đầu tư phân bón cao nhất với giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón đạt 2,87 lần; Cao hơn công thức bón phân N5K5 (364 kg N + 95 kg P 2 O 5 +

336 kg K2O) đạt năng suất 3,74 tấn/ha, lợi nhuận đạt 16,44 triệu đồng/ha và giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón đạt 2,80 lần

- Bón đạm, lân và kali cho cà phê vối trên nền phân bón theo quy trình của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (260 kg N + 95 kg P 2 O 5 + 240 kg K 2 O và 5 tấn phân chuồng/ha/năm) với số lần và tỉ lệ bón: Đạm và kali 5 lần/năm (30% trong mùa khô chia làm 2 lần và 70% mùa mưa chia làm 3 lần) và lân 2 lần/năm (50% mùa khô và 50% mùa mưa) - CT3 là công thức bón phù hợp nhất cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk, đạt mức năng suất 3,61 tấn/ha, lợi nhuận cao hơn đối chứng 10,85 triệu đồng/ha và hiệu suất đầu tư phân bón tốt nhất với giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón đạt 3,14 lần

- Phun ZnSO4 và Rosabor 5 lần/năm (2 lần mùa khô và 3 lần mùa mưa) với nồng độ ZnSO4 0,4% + Rosabor 0,25% (B3Zn2) trên nền 260 kg N + 95 kg P 2 O 5 + 240 kg K 2 O và 5 tấn phân chuồng/ha/năm với số lần và tỉ lệ bón theo quy trình của Bộ NN&PTNT là công thức phun bổ sung ZnSO4 và Rosabor tốt nhất cho

cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk đạt mức năng suất 3,71 tấn/ha, lợi nhuận cao hơn đối chứng 16,67 triệu đồng/ha/năm và hiệu suất đầu tư phân bón tốt nhất với giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón đạt 3,05 lần; Cao hơn công thức phun với nồng độ ZnSO 4 0,5% + Rosabor 0,25% (B3Zn3) đạt năng suất 3,70 tấn/ha, lợi nhuận đạt 16,05 triệu đồng/ha và lợi nhuận/chi phí phân bón đạt 2,98 lần

2 Đề nghị

- Thí nghiệm được thực hiện trong 2 năm liên tục 2012 và 2013 nên cần tiếp tục theo dõi thêm trong một vài năm tiếp theo để đánh giá đầy đủ và chính xác hơn bởi ảnh hưởng của phân bón tới cây cà phê cần thời gian khá dài từ 3 đến 5 năm

- Các kết quả về bón phân đa lượng và vi lượng cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh thực hiện trên đất bazan Vì vậy, cần tiếp tục thí nghiệm trên một số loại đất khác tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk để đưa ra khuyến cáo về bón phân cho cây cà phê vối phù hợp cho từng loại đất khác nhau

Trang 27

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Nguyễn Văn Minh, (2011) “Ảnh hưởng của thời điểm và phương pháp bón đạm, lân và kali đến năng suất

cà phê vối kinh doanh tại xã Quảng Hiệp, huyện CưMnga, tỉnh ĐăkLăk” Tạp chí Khoa học - Đại học Huế,

Số 67, tr 61 - 67

2 Nguyễn Văn Minh, (2011) “Ảnh hưởng của thời điểm và phương pháp bón đạm, lân và kali đến năng suất

cà phê vối kinh doanh tại xã Eakao, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐăkLăk” Tạp chí Khoa học Trường Đại

học Tây Nguyên, Số 8 năm 2011, tr 67 - 71

3 Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Anh Dũng và Lê Thanh Bồn (2013) “Nghiên cứu về số lần và tỉ lệ phân N, P,

K bón cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan (ferrasols) tại tỉnh Đắk Lắk” Tạp chí Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn Bộ NN&PTNT, Số 8 tháng 4 năm 2013, tr 53 - 59

4 Nguyễn Văn Minh, Lê Thanh Bồn và Nguyễn Anh Dũng (2013) “Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đa

lượng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan (ferrasols) tại tỉnh Đắk Lắk” Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bộ NN&PTNT, Số 16 tháng 8

năm 2013, tr 46 - 55

Trang 28

HUE UNIVERSITY

COLLEGE OF AGRICULTURE AND FORESTRY

NGUYEN VAN MINH

RESEARCH ON SOME FERTILIZING TECHNIQUES FOR ROBUSTA COFFEE PLANTATION (COFFEA CANEPHORA

PIERRE) IN FERRASOLS AREAS IN DAKLAK

Major : Crop science

SUMMARY OF PHD THESIS IN AGRICULTURE

HUE 2014

Trang 29

The research was completed at: College of Agriculture and Forestry – Hue University

Supervisor: Academic Supervisor: Associate Prof, Dr Nguyen Anh Dung

At: hour date month year (2014)

The thesis can be found at:

- National Library of Vietnam;

- Learning Resource center – Hue University;

- Library College of Agriculture and Forestry – Hue University

Trang 30

INTRODUCTION

1 Significance of the study

DakLak - a province with favorable weather conditions and fertile soil is seen as a place very suitable for the growth and development of coffee plants and is considered coffee “capital” of Vietnam In 2012, the total coffee-growing area of the province was 200,200 ha, of which business coffee area was 190,300 ha and the average yield and coffee output were 2.56 ton/ha and 487,700 ton respectively Daklak is the largest coffee growing province in the country, accounting for 33%

of the total area and 38% of the total coffee production In recent years, coffee industry of DakLak

in particular and that of the Central Highlands in general have experienced a remarkable development, thus contributing to turning Vietnam into a robusta coffee growing country with highest productivity and yield These results were attained owing to the fact that we have successfully applied a plenty of scientific and technological advances in coffee production, including the use of fertilizer technique - an absolutely essential one that is seen as a premium method for crop yield increase and quality improvement of coffee in the current period

DakLak province has a vast area of ferrasols (311,000 ha) - one of the most favorable types of soil for expanding and developing area of perennial crops with high economic value such as rubber, pepper, especially coffee Currently, in Viet Nam and around the world, Dak Lak ranks first in

terms of robusta coffee yield on ferrasols; however, the quality of coffee beans for export is still not

high Accordingly, the issue of how to both boost coffee production and to enhance quality and economic efficiency of robusta coffee to match the province’s potential must be taken into account

as a major issue

Coffee is a perennial industry plant with its flowering, pollination and fruiting lasting for a long period of time, mainly in dry season This is the most important phase deciding the productivity and quality of coffee During this phase, robusta coffee does not have high demand for nutrition, especially nitrogen, phosphorus, potassium and some trace minerals favorable for flowering and fruiting such as Zinc and boron, yet they are still indispensable However, according

to current process of fertilizer application as recommended by the Ministry of Agriculture and Rural Development, only 20% of Nitrogen is applied in mid-dry season while phosphorus and potassium are not

Coffee is a perennial plant with very large foliage biomass, high productivity and each year the tree extracts large amounts of nutrient from soil According to Ton Nu Tuan Nam and Truong Hong (1999), in the current situation of DakLak, each ton of coffee beans (including dried pods) takes away 41 kg of N; 6 kg P2O5 and 50 kg K2O from soil, not to mention the amount of nitrogen, phosphorus and potassium needed for a normal growth and development of the tree On the other hand, when applying fertilizers, coffee trees cannot use all of the fertilizers due to the process of leaching, evaporating and improper fertilizing technique, which wastes large amounts of fertilizers particularly nitrogen Meanwhile, the average productivity of coffee beans has grown year by year and reached 2.32 tons/ha in 2012, a 57% increase compared to 1.48 ha in 2002 Therefore, the process of applying fertilizers such as nitrogen, phosphorus and potassium for robusta coffee plantation on ferrasols as suggested by the Ministry of Agriculture and Rural Development in 2002 seems no longer suitable to the current production state in DakLak The increases in fertilizer dose and frequency of applying nitrogen and potassium for coffee tree play an essential role in

Ngày đăng: 18/08/2015, 09:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê (Trang 9)
Đồ thị 3.1: Tương quan giữa diệp lục a và năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
th ị 3.1: Tương quan giữa diệp lục a và năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali (Trang 10)
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi (Trang 11)
Đồ thị 3.2: Tương quan giữa CĐQH và năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
th ị 3.2: Tương quan giữa CĐQH và năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali (Trang 12)
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và tỉ lệ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và tỉ lệ (Trang 13)
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi bón tăng lượng đạm và kali - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi bón tăng lượng đạm và kali (Trang 15)
Bảng 3.6: Ảnh hưởng số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.6 Ảnh hưởng số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê (Trang 16)
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng các sắc tố quang hợp - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng các sắc tố quang hợp (Trang 17)
Bảng 3.9: Hiệu quả kinh tế, hiệu suất đầu tư phân bón với số lần và tỉ lệ bón - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế, hiệu suất đầu tư phân bón với số lần và tỉ lệ bón (Trang 18)
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng (Trang 18)
Đồ thị 3.3: Tương quan giữa hàm lượng Zn trong lá và năng suất cà phê nhân - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
th ị 3.3: Tương quan giữa hàm lượng Zn trong lá và năng suất cà phê nhân (Trang 20)
Đồ thị 3.4: Tương quan giữa hàm lượng B trong lá và năng suất cà phê nhân - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
th ị 3.4: Tương quan giữa hàm lượng B trong lá và năng suất cà phê nhân (Trang 21)
Bảng 3.12: Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO 4  và Rosabor đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối (coffea canephora pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk (TT)
Bảng 3.12 Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO 4 và Rosabor đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w