1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ô nhiễm môi trường công nghiệp, môi trường đô thị và tác động của chúng đến con người

20 925 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ô nhiễm môi trường công nghiệp, môi trường đô thị và tác động của chúng đến con người
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 158,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về ô nhiễm môi trường công nghiệp, môi trường đô thị và tác động của chúng đến con người

Trang 1

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP, MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ

VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN CON NGƯỜI

Môi trường sống là tổng hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội và văn hóa bao quanh con người Một môi trường lành mạnh, kết hợp hài hòa các yếu tố tự nhiên xã hội và văn hóa sẽ có đóng góp lớn cho sự phát triển con người và xã hội Trái lại, một môi trường không lành mạnh (bị ô nhiễm nặng) sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, làm suy giảm điều kiện tồn tại và phát triển của cộng đồng

Trong vài thập niên gần đây, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã đưa ra cảnh báo về tình trạng ô nhiễm môi trường mang tính toàn cầu, làm biến đổi khí hậu, gây hậu quả lớn cho phát triển bền vứng kinh tế - xã hội, văn hóa

và đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của con người

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng: ô nhiễm môi trường do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do các hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của con người gây ra; và ô nhiễm môi trường nặng nhất tập trung ở các đô thị đông dân cư và các khu công nghiệp Hiện nay, trên thế giới mỗi năm

có hơn 2 tỷ tấn rác thải công nghiệp mỗi năm (có nguy cơ suy giảm môi trường

và ảnh hưởng đến sức khỏe con người), khoảng 500 tỷ tấn nước bẩn thải ra tự nhiên (và cứ 10 năm thì con số này lại tăng lên gấp đôi) Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), có tới 80% bệnh tật do nguồn nước bẩn này gây ra Theo dự báo của Viện nghiên cứu năng lượng Hoa Kỳ, trong khoảng 50 năm đầu thế kỷ XXI, lượng CO2 trong không khí sẽ tăng lên gấp đôi, chủ yếu là do hoạt động công nghiệp gây ra Tác hại của chúng là làm nhiễm bẩn không khí dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu Đó là nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của hệ sinh thái và số phận loài người(1)

1 Nguồn: Theo http://www.vnn.vn

Trang 2

Có thể nói, ô nhiễm môi trường (nhất là môi trườn công nghiệp và đô thị) đã đang gây tổn hại đến sức khỏe con người và trở thành lực cản cho sự phát triển bền vững của cộng đồng Đặc biệt là ở các nước đang phát triển (nơi đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, trong khi chưa có đủ điều kiện để kiểm soát môi trường) đã và đang diễn ra tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề

Ở Việt Nam trong những năm qua, quá trình phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa và đô thị hóa đã hình thành những khu công nghiệp tập trung, những đô thị lớn Có thể nói, những khu công nghiệp và đô thị lớn này đã giữ vai trò quan trọng trong phát triển và tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống của người dân Tuy nhiên, chúng cũng bộc lộ những hạn chế - tình trạng ô nhiễm môi trường nặng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và cản trở sự phát riển của cộng đồng

I Ô nhiễm môi trường công nghiệp

I.1 Khái quát về các khu công nghiệp

Sự ra đời và phát triển của các khu công nghiệp gắn liền với đường lối đổi mới và chính sách mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Sau 18 năm xây dựng và phát triển (1991 – 2009), nước ta đã thành lập được 223 khu công nghiệp ở 56 tỉnh, thành phố với diện tích 57.264ha Trong đó, có 171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động (52 khu công nghiệp đang xây dựng) Các khu công nghiệp tập trung chủ yếu ở Hà Nội (11 KCN), Hải Dương (23 KCN), Đồng Nai (28 KCN), TP.Hồ Chí Minh (15 KCN), Long An (13KCN)

Trong những năm qua các khu công nghiệp đã giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống Năm

Trang 3

2008, các khu công nghiệp đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 33 tỷ USD (chiếm 38% GDP cả nước), giá trị xuất khẩu đạt hơn 16 tỷ USD (chiếm gần 26% tổng giá trị xuất khẩu cả nước), nộp ngân sách khoảng 2,6 tỷ USD, tạo việc làm cho gần 1,2 triệu lao động(2) Mặt khác, các khu công nghiệp còn là trung tâm thu hút vốn đầu tư ở trong và ngoài nước, trung tâm thu hút vốn đầu

tư ở trong và ngoài nước, trung tâm đào tạo rèn luyện góp phần xây dựng đội ngũ công nhân có tay nghề cao, có ý thức kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp

Tuy nhiên, hoạt động của các khu công nghiệp trong những năm qua đã bộc lộ những hạn chế, cả những vấn đề bức xúc trong lĩnh vực kinh tế xã hội, đời sống, văn hóa Cụ thể là, việc phát triển ồ ạt các khu công nghiệp gắn với việc thu hồi đất nông nghiệp làm ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của dân cư nông nghiệp, đời sống kinh tế và văn hóa của lực lượng công nhân làm việc trong các khu công nghiệp không cao (nếu không muốn nói là thấp), quyền lợi của người lao động được tôn trọng và bảo đảm… Đặc biệt là, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra trầm trọng và phức tạp làm ảnh hưởng tới sức khỏe của con người và suy giảm hệ sinh thái

1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường công nghiệp

Ô nhiễm môi trường công nghiệp là hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch

vụ và sinh hoạt công nghiệp thải ra môi trường các loại chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn, khói bụi, tiếng ồn…) làm ô nhiễm môi trường, ảnh hửơng đến đến sức khỏe con người và làm suy giảm sức sống của hệ sinh thái; Và do

đó, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước

1.2.1 Ô nhiễm môi trường do nước thải các khu công nghiệp

2 Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2009 – Môi trường khu công nghiệp Việt Nam

Trang 4

Theo báo cáo quốc gia môi trường Việt Nam năm 2009 (môi trường khu công nghiệp Việt Nam); lượng nước thải tại các khu công nghiệp ngày càng gia

tăng,tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp thuộc bốn vùng kinh tế trọng

điểm ở cả nước (vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng kinh tế trọng điểm miền

Trung,vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng

bằng sông Cửu Long)

Năm 2009, tổng lượng nước thải từ các khu nghiệp của 4 vùng kinh tế trọng điểm nói trên là 640.963 m3/ngày, trong đó, các chất ô nhiễm trong nước

thải là: các chất lơ lửng (SS) – 141.012 kg/ ngày, chất hữu cơ (COD) – 87.812

kg/ngày, chất hữu cơ (COD) – 204.467 kg/ngày, chất dinh dưỡng (tổng Nitơ) –

37.176 kg/ngày, chất dinh dưỡng (tổng Phốt pho) – 51.277 kg/ngày (Bảng 1)

Bảng 1 Tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước

thải từ các khu công nghiệp của 4 vùng KTTĐ năm 2009:

Lượng nước thải (m 3 /ngày)

Tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày)

5

23.977 33.072

ĐBSCL

13.700 3.014 1.877 4.370 795 1.096

Tổng cộng 640.963 141.012 87.812 204.46

7

37.176 51.277

(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2009 – Môi trường khu công nghiệp Việt Nam)

Bảng trên cho thấy, lượng nước thải từ các khu công nghiệp rất lớn, tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp thuộc vùng KTTĐ phía Nam (4113,400

m3/ngày, gần gấp đôi lượng nước thải của các khu công nghiệp thuộc 3 vùng

Trang 5

kinh tế trọng điểm còn lại, 227.563 m3/ngày) Hơn nữa, tổng lượng các chất ô nhiễm trong nước thải ở các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng là lớn nhất

Chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào việc nước thải có được xử lý không và xử lý như thế nào Hiện nay, các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải chỉ chiếm 43%, còn hơn 57% chưa có cơ sở xử lý nước thải đã qua xử lý chỉ đạt khoảng 30%, còn 70% của hơn 1triệu m3 nước thải/ngày từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận (không qua xử lý), chỉ có 4,26% nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, còn hơn 25% xử lý qua loa không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường Tình hình trên dẫn đến ô nhiễm nặng không chỉ môi trường nước mặt,

mà cả môi trường nước ngầm

Kết quả phân tích mẫu nước thải từ các khu công nghiệp cho thấy: nước thải có hàm lượng các chất lơ lưởng (SS) cao hơn QCVN từ 2 đến hàng chục lần, thậm chí có nơi cao hơn đến hàng trăm lần Giá trị các thông số BOD, COD, tổng N và tổng P cũng cao hơn nhiều lần QCVN(3)

Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của Chi cục bảo vệ môi trường Đông Nam Bộ từ tháng 8/2008 đến tháng 11/2008 cho thấy: Tất cả các khu công nghiệp chưa thu gom triệt để lượng nước thải từ các doanh nghiệp trong khu công nghiệp; 6/7 khu công nghiệp được kiểm tra có lượng nước thải

có độ ô nhiễm cao (Ví dụ: Công ty TNHH Việt Nam Northem Viking Technologies tại khu công nghiệp Tân Thới Hiệp, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải như COD vượt mức cho phép 20 lần, Coliorm vượt 18.600 lần; công ty cổ phần bia Sài Gòn – Bình Tây tại khu công nghiệp Vĩnh Lộc xả nước

3 Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2009 – Môi trường khu công nghiệp Viêt Nam.

Trang 6

thải có nồng độ BOD5 vượt mức cho phép gấp 145 lần, COD vượt mức cho phép 165 lần và Coliform vượt mức cho phép 1.000 lần)(4)

Tình trạng xả nuwocs thải công nghiệp thẳng ra môi trường (không qua

xử lý) đã làm ô nhiễm nặng cả nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm; hầu hết các con sông, hồ ao, kênh rạch ở khu vực Khu công nghiệp bị suy thoái, không bảo đảm chất lượng nước sinh hoạt, thậm chí nhiều địa phương có nguồn nước nhưng không sử dụng được cho bất kỳ mục đích nào Theo tài liệu của các tổ chức bảo vệ môi trường, hiện nay ở Việt Nam có tới 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% bãi biển đã bị ô nhiễm và suy giảm môi trường(5)

Trên thực tế, các nguồn nước thuộc lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn, sông Bến Nghé, kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Kênh Tàu Hũ ở TP.Hồ Chí Minh

và 111 hồ, 13 con sông chảy qua Hà Nội (nhất là 4 sông nội thành: Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét, Lử) đều bị ô nhiễm Ở đây, nước thải công nghiệp và các loại nước thải khác (sinh hoạt, y tế, làng nghề, chăn nuôi…) đều được xả trực tiếp vào cống rãnh sông hồ mà không qua xử lý nào(6) Đặc biệt là, dòng sông Thị Vải đã “chết” vì nước thải công nghiệp từ công ty Vedan

Ngoài ra, kênh Bàu Lăng (Quảng Ngãi), sông Hoài (Quảng Nam), lưu vực sông Cầu (địa phận Thái Nguyên), sông Cà Lồ, hạ lưu sông Công, lưu vực sông Nhuệ - Đáy… đều bị ô nhiễm ở mức độ khác nhau

1.2.2 Ô nhiễm môi trường từ khí thải công nghiệp

Các khí thải ô nhiễm phát sinh từ hoạt động công nghiệp chủ yéu do 2 nguồn gây ra: đốt nhiên liệu tạo năng lượng cho hoạt động sản xuất và rò rỉ chất

ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất Hiện nay ở Việt Nam, các cơ sở sản xuất có

4 Nguồn: Báo cáo kiểm tra, thanh tra về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở khu sản xuất kinh doanh, dịch vụ

và làng nghề trên lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn năm 2008 Tổng cục Môi trường năm 2009.

5 Diễn đàn dân trí.Email: thaolan@dantri.com.vn

6 Diễn đàn dân trí.Email: thaolan@dantri.com.vn Ngày 31/05/2010.

Trang 7

thể khống chế được ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu tạo năng lưỡng cho sản xuất, còn ô nhiễm không khí do rò rỉ chất ô nhiễm từ hoạt động sản xuất và tác động từ các loại khí thải hầu như vẫn không được kiểm soát Và, điều này gây

ra tác hại rất xấu cho môi trường và sức khỏe không chỉ của những người làm việc trong các khu công nghiệp, mà còn cả những khu dân cư rộng lớn chung quanh các khu công nghiệp

Các khí thải ô nhiễm rất đa dạng (phụ thuộc vào từng ngành sản xuất và từng loại công nghệ sản xuất), song tập trung chủ yếu ở các loại: Bụi, khí NO2,

CO và SO2

Nhiều nghiên cứu về môi trường gần đây cho thấy: lượng khí thải công nghiệp ở Việt Nam ngày một tăng, song tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm cả nước Đặc biệt là vùng KTTĐ phía Nam tập trung nhiều khu công nhiệp, cũng là nơi thải ra nhiều bụi, khí làm ô nhiễm môi trường nặng nhất

Năm 2009, thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các khu công nghiệp thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm là: 91.659kg bụi/ngày, 172.034kg NO2/ngày, 26.536kg CO/ngày và 1.644.711kg SO2/ngày (xem: Bảng 2)

Bảng 2: Thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN của 4 vùng

KTTĐ năm 2009.

Trang 8

4 Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL 1.959 3.677 567 35.154

(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2009 – Môi trường khu công nghiệp Việt Nam)

- Hiện nay, tình trạng ô nhiễm bụi ở hầu hết các khu công nghiệp đã trở thành phổ biến Chất lượng môi trường không khí, nhất là ở các khu công nghiệp cũ, công nghệ sản xuất lạc hậu và các khu công nghiệp chưa có hệ thống

xử lý khí thải đã và đang suy giảm nghiêm trọng Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí ở các khu công nghiệp đều vượt QCVN(7) Đặc biệt là ở khu công nghiệp Hòa Khánh (Đà Nẵng): nồng độ khí CO vượt từ 67 đến 100 lần QCVN; nồng độ khí NO2 vượt từ 2 đến 6 lần QCVN và nồng độ chì (Pb) vượt từ 40 đến 65,5 lần QCVN(8)

- Theo đánh giá của chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc, ở hầu hết các khu công nghiệp và đô thị Việt Nam, môi trường không khí đều bị ô nhiễm nồng độ bụi vượt trên chuẩn cho phép từ 1,3 đến 3 lần; thậm chí ở một số khu công nghiệp và đô thị nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần đến

20 lần Trong đó, các cơ sở sản xuất xi măng, cơ khí, luyện kim, hóa chất, phân bón, nhiệt điện, vật liệu xây dựng… có mức độ gây ô nhiễm nặng nề (Ngân hàng thế giới, 2008) Kết quả điều tra của Viện Nghiên Cứu quản lý kinh tế trung ương năm 2008 trên 275 doanh nghiệp (các ngành vật liệu xây dựng, hóa chất, luyện kim, cơ khí) cho thấy: 23% cơ sở sản xuất này có nồng độ khí thải độc hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 50 lần

Như vậy, mức độ ô nhiễm không khí ở hầu hết các khu công nghiệp trong nước (nhất là nồng độ bụi, khí NO2, CO và SO2) đều vượt mức tiêu chuẩn cho phép; thậm chí một số khu công nghiệp vượt rất nhiều lần Điều này gây

7 Xem: Báo cáo môi trường Quốc Gia 2009 – Môi trườn khu công nghiệp Viêt Nam.

8 Nguồn: Sở TN&MT Đà Nẵng, 2009.

Trang 9

hậu quả nghiêm trọng tới sức khỏe của người lao động tại các khu công nghiệp

và người dân sống trong vùng; đồng thời làm suy giảm môi trường

1.2.3 Ô nhiễm môi trường từ chất thải rắn công nghiệp

Hoạt động công nghiệp ở Việt Nam đã và đang thải ra một lượng ngày càng lớn các chất thải rắn, trong đó chất thải rắn độc hại chiếm khoảng 20%

Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2009 cho thấy: Tổng lượng chất thải rắn trung bình của cả nước đã tăng từ 25nghìn tấn/ngày (năm 1999) lên tới 30nghìn tấn/ngày (năm 2005) Trong những năm gần đây, lượng chất thải rắn công nghiệp tăng nhanh (từ 1triệu tấn/năm vào năm 2005 lên gần 2.500.000 tấn/năm vào năm 2008) Trong đó, lượng chất thải rắn độc hại cũng tăng khá cao (từ 200.000 tấn/năm vào năm 2005 tăng lên 500.000 tấn/năm 2008)

Lượng chất thải rắn từ hoạt động công nghiệp tăng nhanh phần lớn tập trung ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Chất thải rắn từ các khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tỉ trọng lớn nhất so với các vùng khác (3.000 tấn/ngày) Đồng thời, lượng chất thải rắn độc hại ở đây cũng chiếm tỉ trọng lớn nhất: nhiều gấp 3 lần lượng chất thải rắn độc hại ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và gấp 20 lần lượng chất thải rắn độc hại ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Bảng 3)

Bảng 3 Khối lượng chất thải rắn từ các khu công nghiệp phía Nam

năm 2008.

TT Tỉnh/Thành phố Khối lượng chất thải rắn công

nghiệp (tấn/ngày) Không nguy hại Nguy hại

Trang 10

3 TP Hồ Chí Minh 1.618 191

9 11 tỉnh ĐBSCL (không kể Long An

và Tiền Giang)

(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2009 – Môi trường khu công nghiệp Việt Nam)

Tại Bắc Ninh, lượng chất thải rắn công nghiệp có khoảng 450tấn/ngày, trong đó, chất thải độc hại khoảng 48 tấn/ngày (chiểm 10,7%), nhưng hầu hết các khu công nghiệp ở đây đều không có khu vực thu gom và xử lí chất thải rắn tập trung

Ở Hà Nội, tổng lượng chất thải rắn do Công ty Môi trường đô thị URENCO thu gom trong 1 tháng (năm 2009) là 2.700 tấn/tháng, trong đó lượng chất thải độc hại từ hoạt động sản xuất công nghiệp (dầu thải, bùn thải, dung môi, dung dịch tẩy rửa, bao bì hóa chất, pin, ắc quy…) là 2.100 tấn/tháng Điều

đó chứng tỏ tỉ lệ chất thải độc hại phát sinh từ sản xuất công nghiệp là rất cao

Như vậy, lượng chất thải rắn công nghiệp ở nước ta là rất lớn và ngày càng tăng lên; trong đó lượng chất thải độc hại chiến một tỷ lệ không nhỏ và ngày càng tăng lên Trong khi đó, hầu hết các khu công nghiệp chưa có khu tập trung thu gom và xử lý chất thải rắn (Một số khu công nghiệp đã thu gom và xử

lý chất thải rắn, nhưng do công nghệ không phù thuộc nên xử lý hiệu quả không cao)

Ngày đăng: 15/04/2013, 18:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước - ô nhiễm môi trường công nghiệp, môi trường đô thị và tác động của chúng đến con người
Bảng 1. Tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước (Trang 4)
Bảng 2: Thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN của 4 vùng - ô nhiễm môi trường công nghiệp, môi trường đô thị và tác động của chúng đến con người
Bảng 2 Thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN của 4 vùng (Trang 7)
Bảng 3. Khối lượng chất thải rắn từ các khu công nghiệp phía Nam - ô nhiễm môi trường công nghiệp, môi trường đô thị và tác động của chúng đến con người
Bảng 3. Khối lượng chất thải rắn từ các khu công nghiệp phía Nam (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w