Từ cái nhỏ bé đơn sơ, thơ hai cư của Ba-sô làm rungđộng từng cảm giác tinh vi nhất của con người, đọc thơ Hai-cư tâm hồn ta như đượclắng đọng, ta như có thêm những chiêm nghiệm sâu sắc,
Trang 1CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÃ LÀM GIÚP HỌC SINH
HỨNG THÚ KHI TIẾP CẬN THƠ HAI-CƯ TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN 10 (SGK CƠ BẢN TẬP 1) 10
2.2 Định hình, dẫn dắt các bước để học sinh tìm hiểu văn bản 16
2.2.3 Cảm thụ cụ thể tác phẩm thông qua việc cắt nghĩa và 17
hệ thống câu hỏi
2.3.2 Thơ hai-cư của Ba-sô và thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du 22
4 Hoạt động ngoại khóa ”Hai-cư – Ba-sô và bạn yêu thơ” 27
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34
Trang 2vô hình thành hữu hình, trừu tượng thành cụ thể… và đem đến cho người đọc một sựliên tưởng phong phú về vạn vật Từ cái nhỏ bé đơn sơ, thơ hai cư của Ba-sô làm rungđộng từng cảm giác tinh vi nhất của con người, đọc thơ Hai-cư tâm hồn ta như đượclắng đọng, ta như có thêm những chiêm nghiệm sâu sắc, thi vị về cuộc sống xungquanh, đó là một cách làm phong phú, tươi đẹp hơn đời sống tinh thần của mỗi chúngta.Vì vậy, thơ hai cư trở thành linh của người Nhật Còn người đưa tên tuổi thơ hai cưlên đỉnh cao là thiền sư Ba-sô.
Hiện nay trên thế giới, người yêu thích văn thơ đang rất ưa chuộng thơ hai-cưNhật Bản nói chung và thơ hai-cư của Ba-sô nói riêng Sách ngữ văn lớp 10 cũng lầnđầu tiên đưa vào giảng dạy thơ Hai-cư của Nhật Bản cho học sinh Song để giáo viêndạy tốt, học sinh cảm nhận được sâu sắc vẻ đẹp lấp lánh của thể thơ này quả không dễ.Bởi đây là thể thơ cô đọng, hàm súc, tả ít mà gợi nhiều. Hai-cư còn là một thể thơ cócấu tứ mới lạ, khó hiểu Hơn nữa những bài thơ ấy còn có khoảng cách rất xa chúng tanhiều thế kỉ và ngôn ngữ, văn hóa Nhật khá xa lạ với cả giáo viên và học sinh Đểgiúp học sinh vượt qua những rào cản đó, sau một thời gian giảng dạy và nghiên cứu
tôi đã mạnh dạn chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp giúp học sinh chủ động, hứng thú khi tiếp cận thơ hai-cư của Ba-sô trong chương trình ngữ văn
10 cơ bản”
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nền văn học Nhật Bản nói chung, thơ hai-cư nói riêng cũng được nhiều dịchgiả, giới nghiên cứu và bạn đọc trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam Có thể
Trang 3thông Việt Nam đã thực sự đánh dấu một bước dài cho chân trụ vững chắc của thơhai-cư ở Việt Nam
Thơ hai-cư được giới thiệu trên một số trang báo của Tài hoa trẻ, Tạp chí Vănhọc, Báo Văn học và Tuổi trẻ hay bài viết của các tác giả nổi tiếng ở Việt Nam như:Nhật Chiêu, Đoàn Lê Giang, Nguyễn Thị Bích Hải
Sách giáo viên và sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình chuẩn và nâng cao
do GS Phan Trọng Luận tổng chủ biên, Đoàn Lê Giang biên soạn phần: hướng dẫn
giảng dạy “Thơ hai-cư của Ba-sô” đã không quên tôn vinh “Ba sô là ông tổ của thể thơ này.”
Trên Tạp chí văn học số 2 năm 2003, thầy Giang từng khẳng định “Nói đến thơ
ca Nhật Bản, người ta nghĩ ngay đến Mat-su-ô Ba-sô/ Tùng Vĩ Ba Tiêu, nhà thơ lớn nhất mọi thời của xứ sở Phù Tang” Đồng thời so sánh điểm gần gũi giữa hồn
thơ hai-cư của Ba-sô với những nhà thơ lớn của chúng ta, nhất là với Nguyễn Trãi vàNguyễn Du.”
Nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu trên Tạp chí văn học và tuổi trẻ cũng từng
ngợi ca về thể thơ nhỏ bé, dung dị này: “Hai-cư đồng nghĩa với nghệ thuật và đạo Với tôi, thơ Hai-cư thật kỳ diệu, bởi lẽ cái tài của nhà thơ không nằm ở việc vẽ rồng, phụng mà vẽ những sự vật gần gũi, hiện thực mà phải vượt qua hiện thực.”
Những bài viết trên là những tư liệu cần thiết và bổ ích cho giáo viên và họcsinh tìm hiểu và tiếp cận thơ hai-cư
Trong nhà trường nhiều thầy cô tâm huyết với nghề cũng trăn trở nhiều về thểthơ này mà chưa tìm được một hướng đi thích hợp với thời gian và đối tượng học sinhcủa mình Thậm chí có thầy cô còn lung túng chưa biết khai thác như thế nào Bằngtrải nghiệm từ những năm dạy thơ hai- cư tôi hi vọng mình mình sẽ có những giảipháp hợp lí để cùng đồng nghiệp tháo gỡ khó khăn trên
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Sáng kiến tập trung khám phá tìm hiểu chùm thơ hai cư của Ba sô trong chương
Trang 43.2 Phạm vi và địa bàn nghiên cứu:
Học sinh lớp 10a8, 10a9, năm học 2011-2012 và 10a5,10a6 năm 2010- 2011 trường THPT Phan Chu Trinh – Eahleo- Đắk Lắk
4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Qua việc phân tích thực trạng của giáo viên và học sinh trong giảng dạy và hiểu thơhai cư, tôi mạnh dạn đưa một số định hướng, giải pháp để tiếp cận thơ hai cư hiệu quảhơn Đồng thời hi vọng sẽ đem đến cho các em học sinh những rung động thẩm mỹsâu xa về vẻ đẹp của thơ hai cư – một nét đặc sắc của văn hóa Nhật
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa vào đối tượng, mục đích nghiên cứu, người viết đã sử dụng một hệ thống những phương pháp cụ thể như sau:
Phương pháp tập hợp - khảo sát tư liệu
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp hệ thống
6- CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Đề tài được chia bố cục theo các phần sau:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị, đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THƠ HAI-CƯ
Chương 2: THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÃ LÀM GIÚP HỌC SINH CHỦ ĐỘNG, HỨNG THÚ KHI TIẾP CẬN THƠ HAI-CƯ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 CƠ BẢN
PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƠ HAI-CƯ
Trang 51.Nguồn gốc và quá trình phát triển của thơ hai-cư:
- Chữ "hai" nghĩa là "bài", "cư" hay “cú” là "câu" Hai cư là bài cú Đây là loại thơ độcđáo, rất thịnh hành của Nhật Bản và là loại thơ ngắn nhất trên thế giới
- Thơ hai-cư bắt nguồn từ thể thơ đoản ca (Tanka) xuất hiện ở thế kỉ III Đoản ca(Tanka) gồm 31 âm tiết chia làm hai vế, vế đầu có ba câu 17 âm tiết (5-7-5), vế sauhai câu 14 âm tiết (7-7) Đoản ca là loại thơ xướng họa Vế đầu có một người khởixướng, vế sau do người khác họa theo, những người sau đó lại nối tiếp như kiểu củahai người trước, cứ thế mà kéo dài hàng trăm, hàng ngàn câu được gọi là liên ca(renga)
Loại thơ này phổ biến đầu tiên trong cung đình, nội dung thường mang tính giảitrí, mua vui trào lộng, nhiều khi dung tục tầm thường, về sau được phổ biến trong cáctầng lớp xã hội
Đến thế kỉ XVII, Mat-su-ô Ba-sô cách tân thể thơ này Ông rút vế đầu 17 âmtiết xây dựng thành một bài thơ độc lập mang đậm chất suy tư, trữ tình
Trong vườn thơ Nhật Bản, thơ hai-cư gắn liền với các tên tuổi tiêu biểu như:Buson (1716-1784) “thi sĩ của mùa xuân”, là Issa (1762-1826) “nhà thơ của nhântình”, là shiki (1867-1902), Onitsura (1660-1738), là Ryokan – “kẻ đại ngu” Đối với
họ sáng tác thơ hai-cư không chỉ là niềm vui mà còn là lối sống
Hiện nay, Nhật Bản “tiếp tục” phát triển thơ hai-cư.Thơ hai-cư đã tỏa ra thế giới
và trở thành một dòng thơ của thế giới, ảnh hưởng đến thơ ca hiện đại Thơ ca phươngTây trong những tìm kiếm và thể nghiệm của mình, đã nhiều lần đi theo phong tháihai-cư” Thơ hai-cư được mọi người đón nhận nồng nhiệt Người ta dịch thơ hai-cư từtiếng Nhật, rồi nghiên cứu, khám phá những gì mà linh hồn thơ hai-cư chất chứa Giớiyêu thơ còn sáng tác thơ hai-cư bằng tiếng dân tộc mình như tác giả Nhật Chiêu đãtrình bày
2 Đặc điểm thơ hai-cư:
- Hình thức: Hai-cư là thể thơ ngắn nhất thế giới, mỗi bài thường chỉ có 17 âm tiết
(có thể ngắn hoặc dài hơn một vài âm tiết) Trong nguyên bản tiếng Nhật, 17 âm tiết
Trang 6này thường được viết thành một dòng nhưng khi phiên âm la-tinh lại ngắt thành 3dòng 5-7-5:
+ Dòng 1: giới thiệu
+ Dòng 2: Tiếp tục ý trên và chuẩn bị cho dòng 3
+ Dòng 3: Ý thơ kết lại nhưng không rõ ràng, mở ra những suy ngẫm, cảm xúc chongười đọc ngân nga, lan tỏa
- Một bài thơ hai-cư phải thể hiện được cảm thức về thời gian qua quý ngữ
(kigo) Quý ngữ có thể là từ miêu tả các mùa xuân, hạ, thu, đông hoặc là các hình ảnh,hoạt động mang đặc trưng của mùa
- Thủ pháp tượng trưng: Một bài thơ chỉ gồm 17 âm tiết nên các thi sĩ hai-cư thường
bắt đầu từ những điểm nhìn đơn lẻ, chớp lấy một khoảnh khắc có thần của thực tại,đẩy lên đỉnh điểm của cảm xúc và sáng tạo theo nguyên lý mùa và tính tương quanhình ảnh Trong một bài thơ hai-cư thường có một hình ảnh lớn (vũ trụ) tương xứngvới một hình ảnh nhỏ (đời thường) Hai-cư không mô tả cảm xúc mà chủ yếu ghi lại
sự việc xảy ra trước mắt
- Ngôn ngữ: Nhà thơ ít dùng tính từ và trạng từ làm hạn chế sự tưởng tượng của
người đọc, vì thế, hai-cư rất giàu sức gợi Ở thơ hai-cư, ta bắt gặp bút pháp của tranhthủy mặc, thiên về thần thái hơn là đường nét Kết cấu bỏ lửng của thơ hai-cư chính làcái hư không bảng lảng khó nắm bắt của tinh thần Thiền tông
- Thơ hai-cư thấm đẫm tinh thần Thiền tông (Phật giáo) và tinh thần văn hóa phương đông: Trời đất, con người, vạn vật là một; sự vật, hiện tượng trong thiên
nhiên có thể tương giao chuyển hóa lẫn nhau theo qui luật bí ẩn của tự nhiên Cảmthức thường rất riêng, rất tinh tế Thơ Hai cư đề cao cái vắng lặng, cái đơn sơ, cái uhuyền, cái mềm mại, nhẹ nhàng Thiên nhiên trong thơ hai-cư thường là những cảnhvật bình dị, nhỏ bé, tầm thường và dễ bị lãng quên như chú ếch, con quạ, chú khỉ nhỏ
bé, chim đỗ quyên, tiếng ve, đóa hoa dại nở bên bờ suối, hòn đá…và hai-cư cố gắngtìm cái đẹp từ trong cái bình thường ấy
Trang 7CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI:
1.Thuận lợi:
- Hai-cư là thể thơ dung dị, nhỏ xinh, ngôn từ hàm súc với nhiều vẻ đẹp lấp lánh Đọcthơ hai-cư ta như chạm được cái đẹp không lời, có khả năng khơi gợi ở người đọcnhiều liên tưởng, cảm xúc Những điều ấy sẽ kích thích cái khát khao khám phá của cảthầy và trò về thể thơ đặc biệt này
Ví dụ:
Trăng mùa hè chiếu lên sóng không bụi dòng Sông Trong
(Đoàn Lê Giang dịch thơ)
Đấy là hình ảnh dòng thác, hay dòng Sông Trong trong sạch không bụi, lấp lánhsóng bạc khi trăng mùa hạ chiếu lên trông thật nguyên sơ, thanh sạch Một bức tranhtuyệt đẹp của dòng sông lấp lánh dưới trăng mùa hạ
- Thơ hai-cư lần đầu tiên được đưa giảng dạy vào chương trình ngữ văn THPT vàtrong số hàng trăm bài thơ của Ba-sô, tác giả sách giáo khoa đã lựa chọn 8 bài có tínhnhân văn, tính thẩm mĩ cao, có tác dụng lớn trong bồi đắp tư tưởng và tình cảm chohọc sinh để các em có ý thức vươn tới hoàn thiện nhân cách cho mình Hai-cư còn làtác phẩm có giá trị nghệ thuật, đạt trình độ mẫu mực được viết ra bởi tài nghệ bậc thầycủa thi hào Ba-sô nên tạo điều kiện cho giáo viên dạy tốt, học sinh hứng thú học hơn
Trang 8ức một thời đã xa đã vĩnh viễn mất đi chỉ còn đọng lại trong nỗi nhớ khi nghe tiếngchim kêu báo hiệu mùa hè Đó là nỗi nhớ quê hương da diết, không nguôi của Ba-sô.Cảm nhận được những điều ấy lòng mỗi chúng ta lại dợn lên tình yêu quê hương, yêunhững kỉ niệm tuổi thơ tuyệt đẹp.
- Sách giáo khoa và sách giáo viên đã có một hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu bàikhá rõ ràng Đặc biệt, Sách giáo viên đã có những hướng dẫn cụ thể cho từng bài họcgiúp giáo viên định hướng được chính xác nội dung bài giảng
- Hơn nữa trong chương trình năm nay theo phân phối mới của bộ giáo dục quy địnhthì chúng ta không phải khai thác hết 8 bài mà chỉ tập trung vào 4 bài tiêu biểu là1,2,3,6 với thời lượng lên lớp là 1,5 tiết Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác tácphẩm sâu hơn
2 Khó khăn:
Có thể nói rằng việc giảng dạy văn bản nước ngoài ở trường phổ thông bìnhthường cũng đã là một việc rất khó khăn bởi nhiều lý do, đặc biệt khi dạy ở trườngmột trường mà đối tượng học sinh dân tộc thiểu số chiếm hơn 30% mỗi lớp thì giáoviên giảng văn lại gặp khó khăn gấp bội Trong quá trình tiến hành dạy thơ hai-cư tôicũng như các đồng nghiệp và các em học sinh gặp những khó khăn sau:
- Khó khăn đầu tiên đối với việc tiếp nhận tác phẩm thơ hai-cư là vấn đề ngôn ngữ,văn hóa Nhật và nguyên tắc mĩ học truyền thống chi phối đến quá trình sáng tác thơhai-cư Chúng ta đều biết, để tiếp cận thấu đáo một bài thơ hai-cư chúng ta phải nắmđược những yếu tố cơ bản trên nhưng một thực tế cho thấy cả giáo viên và học sinhđều khá mơ hồ về nó Chính khoảng cách về vốn sống, về tầm hiểu biết, tầm văn hóa
đã gây không ít trở ngại trong quá trình dạy học
Chẳng hạn nếu gặp bài thơ hai-cư chỉ bằng tiếng Nhật hoặc phần phiên thì cả thầy vàtrò hẳn sẽ khó khăn vô cùng
Phiên âm: Furuikeya
Kawazu tobikomu
Mizu no oto
Trang 9( Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao.)
- Tính chất ước lệ của các hình thức biểu hiện cũng khiến cho học sinh gặp nhiều trởngại Cũng có khi đó là nguyên nhân dẫn đến việc học sinh không thể phát hiện vàkhẳng định giá trị của những bài thơ hai-cư Thậm chí còn hiểu sai về chúng
Ví dụ: Hình ảnh làn sương thu trong bài thơ số 3 mơ hồ, đa nghĩa Đó có thể làhình ảnh gợi nỗi buồn trống trải; tóc mẹ bạc như sương, giọt lệ như sương…
- Tư liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh về thơ hai-cư cho giáo viên, học sinhthiếu nhiều, từ đó có xảy ra tình trạng giáo viên dạy chay, học sinh học chay, giáoviên mải miết thuyết trình, học sinh thì cắm cổ ghi chép bài giảng khó sinh động,không gây được những ấn tượng thẩm mỹ tốt đẹp cho học sinh Đây còn là một tácphẩm trước đây thuộc phần đọc thêm, lại được sắp xếp cuối chương trình kì 1 nênnhiều giáo viên và học sinh chủ quan
- Khi giảng chùm bài thơ hai-cư trao đổi với một số giáo viên, chúng tôi thấy không ítgiáo viên lúng túng, tự bản thân còn chưa biết dạy như thế nào cho phù hợp, vì thế khitruyền đạt tới học sinh chắc chắn không thể tránh khỏi sự khiên cưỡng
- Về phía học sinh thì thụ động, không hiểu bản chất, chiều sâu, vẻ đẹp lấp lánh củathơ hai-cư Vì các em quen với kiểu tư duy trực quan sinh động nên khi tìm hiểu thơhai-cư vốn hàm súc, cô đọng, phải vận dụng trí tưởng tượng phong phú, cùng vốnsống linh hoạt thì mới có thể cảm thụ được cái hay cái đẹp của bài thơ thì khó khăntrên là không thể tránh khỏi Nhiều giáo viên sau khi dạy xong hỏi lại học thì nhiều
em vẫn không hiểu gì hoặc hiểu một cách lơ mơ Đặc biệt là những học sinh dân tộcthiểu số tại chỗ
Trong năm học trước tôi đã khảo sát 2 lớp học sinh có điểm trung bình môn văntương đương với năm học này bằng hình thức phát phiếu trắc nghiệm để học sinh bộc
lộ cảm xúc khi học xong thơ hai-cư và kết quả cho được là:
Trang 10Từ kết quả nói trên chúng tôi nhận thấy rằng:
+ Phần lớn học sinh có thái độ bình thường và không thích học thơ hai-cư, còn số học sinh thích học chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều
+ Sự hiểu biết của học sinh về các tác giả cũng như các tác phẩm còn rất hạn chế.+ Khả năng tiếp thu và cảm nhận tác phẩm mơ hồ, hời hợt Số lượng học sinh đạt mức
độ giỏi không có, khá rất ít, trong khi đó trung bình và yếu kém chiếm đa số
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÃ LÀM GIÚP HỌC SINH CHỦ ĐỘNG, HỨNG THÚ KHI TIẾP CẬN THƠ HAI-CƯ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 (SGK CƠ BẢN TẬP 1)
1 Bước tiền tiếp nhận: Đây là công việc quan trọng, vì thời gian phân phối không
nhiều vì vậy để chuẩn bị cho học sinh “tâm thế” vững vàng khi bước vào khâu tiếpnhận chính trên lớp thì cả giáo viên và học sinh cần làm một số việc sau:
1.1 Dặn dò học sinh chuẩn bị bài học một cách chi tiết, cụ thể, đầy đủ và cẩn thận
theo hướng dẫn học bài SGK Lưu ý phần dặn dò này được thực hiện ở tiết trước,
Trang 11trước khi học văn bản Kết thúc tiết học hôm trước, giáo viên nên dành thời giankhoảng 3 phút cho phần hướng dẫn và dặn dò này
1.2 Phải am hiểu sâu sắc văn hóa Nhật Bản
Sự hiểu biết về tác giả, về thời đại, về đất nước đã sản sinh ra tác phẩm và những đặcsắc về thiên nhiên, về tập tục xã hội, nhất là về tâm lý dân tộc sẽ giúp ta hiểu và cảmtác phẩm một cách sâu sắc, có căn cứ Với thơ hai-cư, trước hết giáo viên và học sinhphải am hiểu văn hóa Nhật Bản Đây là công việc khá vất vả song không khó bởichúng ta có sự hỗ trợ đắc lực của mạng Internet Chỉ cần một thao tác nhỏ trên Google
ta sẽ hiểu được nhiều điều về văn hóa xứ sở hoa anh đào Khi tìm hiểu văn hóa Nhật,chúng ta cần lưu ý tìm hiểu ở một số lĩnh vực sau:
* Tìm hiểu đời sống tinh thần của người Nhật.
- Người Nhật rất yêu thích thiên nhiên Tâm hồn họ luôn hướng về vẻ đẹp của thiênnhiên, muốn hòa nhập với thiên nhiên và điều đó cũng in đậm dấu ấn trong thơ Thơhai-cư là thơ của thiên nhiên, tức bài thơ phải có quí ngữ (từ ngữ báo hiệu mùa) Thiênnhiên Nhật mỗi mùa có biểu tượng riêng Tùy từng bài thơ hai-cư, "quí ngữ" sẽ xuấthiện khác nhau Chẳng hạn mùa xuân có hoa anh đào, hoa tử đằng, hoa trà, hoa cẩmchướng, hoa diên vĩ… Mùa hạ về mang theo sứ giả ve sầu, chim cu, chim đỗ quyênhay những bông hoa quỳ, hoa mẫu đơn… khoe sắc tô điểm Khi cây phong thay đổimàu sắc như: vàng, cam, đỏ rực là lúc mùa thu đã về và những bông hoa dâm bụt,đinh hương, phù dung, hoa cúc cũng hé nụ chào đón mùa thu Hay khi không khíchợt thoáng lạnh, tuyết rơi, vạn vật cỏ cây đều chìm trong lòng tuyết trắng Đó lànhững hình ảnh, màu sắc xuất hiện trong thơ hai-cư mùa đông
- Người Nhật còn coi trọng vẻ đẹp tâm hồn, họ luôn hướng về sự thanh cao, thuầnkhiết, hướng về cuộc sống bình dị, an lạc Người Nhật rất thích lễ hội, thích viếngthăm chùa chiền để thanh lọc tâm hồn
* Hiểu được những nguyên tắc mĩ học truyền thống chi phối quá trình sáng tác thơ hai-cư
Trang 12+ Nguyên tắc mỹ học là giá trị về cái đẹp và cái đẹp là tiêu chí của văn hóa Nó thấm
nhuần trong tư tưởng người Nhật Nó trở thành "đạo" và mọi thứ đều gắn với đạo như:Thơ đạo, Trà đạo, Hoa đạo, Kiếm đạo
+Nguyên tắc ấy được chi phối bởi các yếu tố sau:
- Sabi (tịch lặng) mang tính chất đơn sơ, tao nhã, trầm lắng, u buồn, tịch liêu nhưng
không chán chường, bi lụy, oán đời Đó là vẻ đẹp con người hòa nhập vào chốn thanhcao, tịch lặng, hư không của thế giới Sabi bắt nguồn từ tinh thần thiền tông trong phậtgiáo.Chính sự tịch lặng của Sabi gợi cho ta cảm giác u huyền (yugen) tức cái chúng tacảm nhận được nhưng không phân tích được Ba-sô cảm nghiệm cái sabi của sự vật
như sau:
Ôi tiếng ve kêu thấu xuyên vào đá trong cõi quạnh hiu
Niềm cô tịch của thiên nhiên được thể hiện qua âm thanh của tiếng ve Tiếng ve làmxuyên thủng không gian, thời gian và đến tận cõi hư vô Ta cảm nhận được cái uhuyền sâu thẳm của tiếng ve mà không thể giải thích hết thành lời Và từ cái nhìn sâuthẳm của một sự vật huyền diệu nào đó trong khoảnh khắc, khiến cho tâm ta xaoxuyến ngất ngây, khát khao hòa nhập, đem tâm ta chìm đắm vào thế giới lãng đãng,mênh mang, u huyền
- Wabi (bình dị) là cách thể hiện cái đẹp trong sự bình dị Giữa cảnh vật xung quanh
ta như một cành lá, một bông hoa trong lọ, một hòn đá trơ trọi xù xì, một thân câykhô, một cành lá héo, người ta có thể tìm thấy sự sống và cái đẹp ở trong đó Nhà thơhai phải biết chọn lọc, mô tả những sự vật đơn sơ, bình dị, tránh sự chói lọi rực rỡ,làm sao gây ấn tượng để người đọc thả được hồn mình vào đó, nhà thơ hai-cư cònphải biết lựa chọn sự vật đơn sơ, giản dị, ít chữ mà đủ ý, tránh lời hoa mĩ, phù phiếm,khoa trương Tính chất đó bắt nguồn từ lí tưởng thẩm mĩ của người phương Đông chorằng trong cái xấu vẫn có cái đẹp, trong cái ác vẫn có cái thiện, trong cái nhỏ bé vẫn
có cái lớn lao
Trang 13- Aware (bi) tức là nỗi buồn của sự vật, là bi cảm, một cảm thức xao xuyến trước mọi
cái đẹp của sự vật Nó chịu ảnh hưởng tư tưởng "vô thường" của Phật giáo Aware còn
là cảm thức thâm trầm trước cái đẹp não lòng của sự vật vì sự vật nào cũng vậy có lúcrực rỡ, cũng có lúc tàn phai Aware mang màu sắc lãng mạn và chú trọng khoảnhkhắc Nhưng khoảnh khắc ấy làm nên xúc cảm thẩm mỹ chớ không phải là "cái bi lụyngông cuồng của lãng mạn hay nỗi bi tráng ngất trời của bi kịch" Bài thơ sau của
Basho là một ví dụ:
Tiếng ve mải mê không hề để lộ cái chết gần kềĐấy là xúc cảm trước cái đẹp của tiếng ve ngân vang điệp khúc mùa hè Tiếng vetượng trưng cho sự sống Còn cái chết sắp đến với ve không là bi kịch mà đó là điều
tự nhiên của sự sống và cái chết Khoảnh khắc sống và chết không là gì cả, là "vôthường" Bi cảm aware là thế đấy
Karumi ( khinh) là niềm khinh thanh, dịu nhẹ, là phong thái tự do, ung dung trướccuộc đời
Tóm lại, nguyên tắc thẩm mỹ Nhật Bản chi phối tất cả nghệ thuật văn hóa Nhật, nhất
là văn chương Thơ hai-cư của Ba-sô thấm đẫm nguyên tắc thẩm mỹ này
Hiểu được những nét cơ bản trong đời sống văn hóa của người Nhật như vậy để giải
mã những cái lạ, cái hay, cái đẹp trong những câu thơ hai-cư cực ngắn của thơ hai cưnói chung và thơ hai kư của Ba-sô nói riêng
2 Bước tiếp nhận trên lớp:giúp học sinh tiếp cận văn bản thơ hai-cư một cách chủđộng, hứng thú, người giáo viên cần thực hiện những giải pháp sau:
2.1 Sử dụng phương tiện nghe nhìn:
Sử dụng phương tiện nghe nhìn vào dạy học giúp cho học sinh có khả năng giớithiệu kiến thức một cách sinh động, dễ hiểu, dễ nhớ Không chỉ hình ảnh mà những
mà những dòng chữ nhiều màu sắc đã giúp cho học sinh nắm vững kiến thức một cách
tự giác, nhanh, hứng thú và bền vững
Trang 14Ví dụ trước khi giới thiệu về tác giả Ba- sô có thể giới thiệu những hình ảnh đặc trưngcủa văn hóa Nhật.
(Hoa anh đào là hồn hoa Nhật Bản, gắn liền với tinh thần võ sĩ đạo.)
( Núi Phú Sĩ – ngọn núi thiêng của đất nước Nhật)
Trang 15( Hình ảnh của thiền sư Ba sô)
Hay dạy bài thơ số 3- một bài thơ rất cảm động về tình mẫu tử, ta có thể sử dụng hìnhảnh dưới đây và có thể kết hợp với việc trình bạy lời bình của các em
( Nỗi đau khôn xiết khi không còn mẹ)
Hay khi bình, phân tích bài số 6 ta có thể lồng hình ảnh này:
( Hoa anh đào rụng xuống hồ Bi oa)
Cách gây ấn tượng bằng hình ảnh sinh động, kết hợp với âm nhạc và giọng đọc diễncảm đã có tác động toàn diện đến tri giác, cảm xúc, tư duy và tâm hồn người học Và
do đó cùng với sự gợi ý phân tích của giáo viên học sinh cảm nhận bài học sâu sắchơn
2.2 Định hình, dẫn dắt các bước để học sinh tìm hiểu văn bản:
Thơ hai-cư là loại thơ cực ngắn, ngắn nhất so với các loại thơ ngắn khác trênthế giới Vì nó cực ngắn cho nên ngôn ngữ trong thơ hai-cư được tinh lọc trở thành tínhiệu ngôn ngữ Do đó, người đọc phải suy ngẫm, liên tưởng, đào sâu suy nghĩ qua
Trang 16tầng lớp nghĩa được tiềm ẩn trong bài thơ Giáo viên phải khai thác tác phẩm theo cácbước sau:
2.2.1 Dẫn nhập:
Có nhiều cách khác nhau nhưng quan trọng nhất đó là lời vào bài của giáo viên
Yêu cầu của lời vào bài là ngắn gọn, súc tích, cốt yếu là nêu vài điểm một cách ấntượng, xác định rõ ràng đối tượng tiếp nhận cho học sinh Có hai dạng chủ yếu là lờivào bài trực tiếp và lời vào bài gián tiếp
Ví dụ: Nói đến Nhật Bản người ta không chỉ nhớ tới hoa anh đào duyên dáng, tuyệtđẹp, mà còn cả thơ hai-cư Thơ hai-cư trở thành tâm hồn người Nhật được cả thế giớibiết đến Và người thơ hai-cư lên đỉnh cao là thiền sư Ba-sô Hôm nay chúng ta sẽ tìmhiểu vẻ đẹp của chùm thơ ấy
2.2.2 Đọc sáng tạo, gợi tìm:
Muốn thực hiện khâu này trước hết cần phải tìm hiểu về tác giả, tác phẩm vàhoàn cảnh ra đời của tác phẩm Đây là cơ sở đầu tiên làm tiền đề cho việc tiếp nhậnthuận lợi hơn
Đọc tác phẩm là chiếc cầu nối giữa tác giả với bạn đọc thông qua văn bản, dovậy việc đọc không chỉ đọc đúng câu, đúng chữ mà có phải có sự phân tích, bình giátác phẩm, phát hiện những chi tiết nghệ thuật độc đáo Trong giảng văn, giọng đọc củagiáo viên là rất quan trọng Với giọng đọc của mình, giáo viên có thể đã và đangtruyền thụ được cái hồn của tác phẩm cho học sinh Nhiều đoạn thơ, đoạn văn thầy côkhông cần giảng, bình mà chỉ đọc đã có thể mở ra cho trò bao nhiêu điều thú vị Cònvới các em học sinh thì khi đã biết đọc tác phẩm tức là các em tái hiện được hìnhtượng, nội dung chứa đựng trong tác phẩm, để trên cơ sở đó giúp các em phân tích cáihay, cái đẹp của nó Khi các em thực sự biết đọc một tác phẩm thì một tác phẩm xa lạhóa ra gần gũi, quen thuộc, nội dung bên ngoài sẽ được chuyển hóa thành nội dungbên trong Nhờ đó tác phẩm tác động sâu sắc, để lại dấu ấn bền chặt trong tâm hồnngười đọc Khi đọc thơ hai-cư các em cần phải đọc bằng giọng chậm, trầm, nhẹ
Trang 17nhàng, trữ tình, mỗi dòng thơ là một lần ngắt nhịp, theo đúng cách chia đoạn của thơhai-cư:
2.2.3.Cảm thụ cụ thể tác phẩm thông qua việc cắt nghĩa và hệ thống câu hỏi:
* Cảm thụ thông qua cắt nghĩa, giải mã các kí hiệu ngôn ngữ được coi là nhãn
tự của bài thơ:
Cắt nghĩa là để tìm ra ý nghĩa của văn bản Thông qua việc cắt nghĩa các yếu tố,các hình ảnh, các từ, câu…trong chỉnh thể mạch thơ, làm cho chúng lộ ý, đồng thờitìm được câu trả lời của tác giả gửi đến bạn đọc Để cắt nghĩa được chính xác và cóhiệu quả thơ hai-cư, giáo viên phải hiểu đặc trưng văn hóa Nhật, về thi pháp, về nhữngphương tiện nghệ thuật…
Cắt nghĩa và phân tích phải đi liền với nhau Quá trình cắt nghĩa là làm sáng tỏnhững điểm sáng tạo độc đáo của tác phẩm
Ví dụ 1: Trong bài thơ thứ nhất “ Đất khách mười mùa sương – về thăm quê ngoảnhlại – Ê đô là cố hương” ta có thể cắt nghĩa các từ “đất khách” là nơi xa lạ, gợi cảmgiác cô đơn lạc lõng Đi giữa phố đông mà mình cảm thấy lẻ loi vô cùng Hay , “ mùasương” là mùa thu, cái lãng đãng và lạnh lẽo của sương thu gợi bao nỗi buồn đau cho
kẻ li hương Hoặc “ cố hương” là quê cũ, gắn bó máu thịt như nơi chôn nhau cắt rốncủa mình Vậy từ “đất khách” chuyển thành “ cố hương” là một quá trình, nó diễn ra
âm thầm trong lòng người Để rồi người đọc cảm nhận được một tình cảm tha thiết,chân thành của Ba-sô với miền đất mình từng gắn bó
Ví dụ 2: Trong bài thơ số 3 “ Lệ trào nóng hổi – tan trên tay tóc mẹ- làn sương thu”cóthể cắt nghĩa hình ảnh “ mớ tóc mẹ”: là hình ảnh của cuộc đời vất vả một nắng haisương đang hòa quyện trong dòng nước mắt của con Hay “làn sương thu” là một hìnhảnh đầy gợi cảm Đó có thể hiểu là giọt lệ như sương, tóc mẹ như sương hay đờingười như giọt sương ngắn ngủi, vô thường làn sương thu cứ lơ lửng và bài thơ trởnên mơ hồ, đa nghĩa
Trang 18Ví dụ 3: Trong bài thơ số 6 có thể cắt nghĩa hình ảnh ‘hoa anh đào”: hồn hoa của đảoquốc xứ Phù Tang, có màu hồng phấn, cánh mỏng manh “Hồ Bi-oa”: một hồ nướcthơ mộng đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong thơ Nhật Bản Bi-oa tức là tì bà, cái
hồ được đặt tên theo hình dáng chiếc đàn Bài thơ gợi cho người đọc cảm nhận đượcmột bức tranh thiên nhiên đẹp, tao nhã: Trên mặt hồ bao la, có vô số cánh đào rơixuống làm mặt hồ gợn sóng
*Cảm thụ cụ thể tác phẩm thông qua hệ thống câu hỏi:
Trong giờ giảng dạy tác phẩm văn chương nói chung không phải giáo viên chỉđọc và giảng cho học sinh ghi chép mà giữa giáo viên và học sinh cần có sự trao đổi,đàm luận nhằm tạo ra bầu không khí văn chương và phát huy khả năng tiếp nhận sángtạo của học sinh Để sử dụng câu hỏi trong giảng văn có hiệu quả, phải chú trọng xâydựng hệ thống câu hỏi Câu hỏi phải chú trọng chất văn, vừa đảm bảo tính vừa sức,vừa nâng cao Ngoài ra cần chú trọng những câu hỏi phát hiện, câu hỏi gợi mở, câuhỏi nêu vấn đề
hỏi nêu vấn đề Hệ thống câu hỏi được đặt ra phải linh hoạt, phải có sự phân chia đốitượng, có câu hỏi khó cho học sinh giỏi, câu hỏi phù hợp cho học sinh trung bình Cóthế một giờ giảng văn mới đảm bảo được cùng lúc sự sáng tạo cho các em
- Câu hỏi tái hiện: Giúp học sinh nhớ những kiến thức đã học hoặc đã soạn ở nhà làm
cơ sở cho việc tiếp nhận kiến thức mới Ví dụ: Em hãy nêu vài nét khái quát về tác giảBa-sô? Hoặc là em hãy nêu những đặc trưng cơ bản của thơ hai-cư? Tất cả những nộidung này các em đã được giáo viên định hướng soạn bài ở nhà
- Câu hỏi gợi mở: Giúp học sinh tìm hiểu tác phẩm và phân tích sâu hơn Đồng thời
hỗ trợ cho phương pháp đọc sáng tạo để học sinh đào sâu hoạt động nhận thức, thực
sự động não để phân tích, bình giá Chúng ta nên dựa vào một số vấn đề then chốt củanội dung và nghệ thuật để khơi sâu năng lực cảm thụ Chẳng hạn: Tình cảm của tácgiả với Ê đô như thế nào? Hoặc Nỗi niềm của ba sô khi cầm nắm tóc mẹ trên tay?
Trang 19- Câu hỏi phát hiện: nhằm nâng cao khả năng sáng tạo của học sinh trong quá trình
nghiên cứu tác phẩm: chẳng hạn: em hiểu thế nào là ”mùa sương” Hay cánh đào rơi
lả tả làm em liên tưởng tới điều gì?
- Câu hỏi nêu vấn đề: Tạo nên mâu thuẫn giữa những cái đã biết với những cái chưa
biết, giữa cái cũ và cái mới trong nhận thức của học sinh, mâu thuẫn giữa học sinh với
ý đồ nghệ thuật của tác giả
* Giảng bình và tổng hợp tác phẩm:
Bình giảng là phương pháp quen thuộc của giáo viên trong giảng văn, làphương pháp đặc thù của cảm thụ và truyền thụ thơ văn Không có bình giảng, bàigiảng sẽ khó đạt hiệu quả cao Mục đích của người bình là làm sao truyền cảm ý kiếncủa mình về tác phẩm văn chương đến được người nghe, làm cho người nghe cùngsuy nghĩ như mình, phù hợp với “ ý định và nghệ thuật” của nhà văn Có nhiều cáchthức giảng bình: có thể bình bằng một tứ thơ, hình tượng, điển tích, không gian, thờigian nghệ thuật mà nhà thơ sử dụng Sau đây là một số lời bình cụ thể trong chùm thơhai-cư
Ví dụ 1: Bài 3
Mẹ của Ba-sô đã qua đời trước khi ông về quê và di vật còn lại là mớ tóc bạc Đó
là sự mất mát quá lớn đối với ông vì sau một thời gian dài ông không được gặp mẹ.Bỗng những giọt nước mắt tràn trên má ông nóng hổi Những giọt nước mắt của sựthương tiếc, xót xa ấy vừa thể hiện được nỗi ân hận vì ơn nghĩa sinh thành chưa mộtlần báo đáp, vừa nói lên tình cảm thiêng liêng cao cả nhất của Ba-sô dành cho mẹ khi
mẹ không còn nữa: ”Lệ trào nóng hổi - Tan trên tay tóc mẹ - Làn sương thu.” Bài thơ
cũng nhắc nhở mỗi chúng ta cần biết yêu thương, trân trọng tình mẫu tử mà mìnhđang có Tôi xin được mượn lời của phật để mong ước gửi lòng mình gửi đến những
ai đang còn mẹ “ Ai có mẹ xin đừng làm mẹ khóc- Đừng để buồn trên mắt mẹ nghechưa”
Ví dụ 2: Bài 1 có thể bình: Ê-đô, quê hương thứ hai, thuở nào là đất khách, đến khi về
quê, ngoảnh nhìn lại mới thấy Ê-đô thật là quê nhà: ”Đất khách mười mùa sương - về