Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Quảng Nam nói chung và Hội An nói riêng, đến mức gần như tạo thành một ngành khoa học riêng biệt gọi là “Quảng Nam học”, tuy nhiên chợ truyền thống H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng Ngoài ba bài báo khoa học liên quan đến đề tài do tác giả viết và được đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội, Tạp chí Khoa học Xã hội Miền Trung, Tạp chí Khoa học và Giáo dục Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng, các kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Đà Nẵng 18/10/2014
Ngô Thị Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành nội dung Lu ận văn tốt nghiê ̣p này , bên cạnh sự cố gắng của bản thân, cho phép tác giả được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới:
Cô giáo – TS Trần Thúy Anh, Khoa Du lịch, Trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa và quý thầy cô giáo trong Khoa Du lịch, Trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn UBND thành phố Hội An, Phòng Thương mại – Du lịch, Phòng Văn hóa, Ban quản lí chợ Hội An đa ̃ tạo điều kiê ̣n thuận lợi cho tác giả trong viê ̣c thu thập tài liê ̣u thực hiện luận văn
Cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám đ ốc Đại học Đà Nẵng, Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm, Ban Chủ nhiệm Khoa Lịch sử cùng quý đồng nghiệp, gia đình, bạn bè trong suốt quãng đường học tập, hoàn thành Luận văn cao học
Mặc dù đã cố gắng hoàn thiê ̣n Luận văn bằng tất cả sự nhiê ̣t tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những điểm thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Đà Nẵng, tháng 10 năm 2014 Tác giả
Ngô Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích nghiên cứu 8
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHỢ TRUYỀN THỐNG HỘI AN, QUẢNG NAM 13
1.1 Chợ truyền thống ở Việt Nam 13
1.1.1 Một số khái niệm 13
1.1.2 Mấy nét chung về chợ truyền thống ở Việt Nam 14
1.2 Chợ Hội An 16
1.2.1 Vị trí 16
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển 17
1.2.3 Đặc điểm 19
1.2.4 Đóng góp của chợ Hội An 30
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CHỢ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH HỘI AN, QUẢNG NAM 37
2.1 Chợ là một nội dung hấp dẫn thu hút khách du lịch 37
2.1.1 Chợ truyền thống là điều kiện phát triển du lịch văn hóa 38
2.1.2 Chợ truyền thống là điều kiện phát triển du lịch mua sắm 50
2.1.3 Chợ truyền thống là điều kiện phát triển du lịch cộng đồng 53
2.2 Chợ truyền thống cung cấp sản phẩm cho các đơn vị kinh doanh du lịch 54
Trang 62.2.1 Chợ truyền thống cung cấp sản phẩm cho các đơn vị kinh doanh ăn
uống 54
2.2.3.Chợ truyền thống cung cấp sản phẩm cho cửa hàng lưu niệm 57
2.3 Chợ truyền thống góp phần phát triển du lịch bền vững 58
2.3.1 Chợ truyền thống góp phần bảo tồn văn hóa 59
2.3.2 Chợ truyền thống góp phần bảo vệ môi trường du lịch 60
2.3.3 Chợ truyền thống góp phần tăng trưởng kinh tế 62
2.4 Đánh giá hạn chế của chợ đối với du lịch và khả năng quay lại của du khách 64
2.4.1 Hạn chế của chợ ảnh hưởng đến du lịch 64
2.4.2 Khả năng quay lại của du khách 65
Tiểu kết chương 2 66
CHƯƠNG 3 CHỢ HỘI AN VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN 68
3.1 Tác động của du lịch đến chợ Hội An 68
3.1.1 Tác động tích cực 68
3.1.2 Tác động tiêu cực 69
3.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị chợ truyền thống đối với phát triển du lịch 70
3.2.1 Cơ sở đề ra giải pháp 70
3.2.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị chợ Hội An 74
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU
1 DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Thông tin chung của du khách 11
Bảng 2.1 Lý do đưa khách đến chợ Hội An và các hoạt động yêu thích của khách tại chợ 37
Bảng 2.2 Đánh giá của du khách về kiến trúc chợ Hội An 40
Bảng 2.3 Đánh giá sự hài lòng của du khách đối với dịch vụ ăn uống 47
Bảng 2.4 Đánh giá sự hài lòng của du khách đối với dịch vụ mua sắm 51
Bảng 2.5 Đánh giá của các cửa hàng về nguyên liệu được lấy ở chợ Hội An 55
Bảng 2.6 Mười quốc gia có lượng khách du lịch đến Hội An nhiều nhất 57
Bảng 2.7 Đánh giá sự hài lòng của du khách đối với vệ sinh tại chợ 62
Bảng 2.8 Đóng góp của chợ Hội An vào GDP thành phố 63
Bảng 2.9 Khả năng quay lại chợ Hội An của du khách 65
2 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Đánh giá của các cửa hàng về nguyên liệu được lấy ở chợ Hội An 56
Biểu đồ 2.2 Khả năng quay lại chợ Hội An của du khách 66
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong vài thập niên gần đây, du lịch đã trở thành một trong những đối tượng quan tâm nghiên cứu không chỉ của các ngành kinh tế mà còn của các ngành khoa học xã hội bởi ý nghĩa và tầm quan trọng của nó Đặc biệt, việc nghiên cứu khai thác các giá trị truyền thống vào phát triển du lịch ở Việt Nam đang là hướng đi rất được quan tâm nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, khôi phục các giá trị truyền thống và bảo lưu những giá trị văn hóa tốt đẹp
Việc nghiên cứu vai trò chợ truyền thống đối với du lịch Hội An, Quảng Nam
có ý nghĩa đặc biệt hấp dẫn, xuất phát từ vị thế của du lịch Hội An hiện nay Là một
đô thị cổ nằm bên Cửa Đại, Hội An từ xưa đã nổi tiếng với tên gọi Faifoo và rất quen thuộc với các thương gia Nhật Bản, Indonesia, Trung Quốc, Bồ Đào Nha… Bấy giờ, thương cảng Hội An rất sầm uất bởi nó là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á Sự bồi lắng cửa sông và biến động của lịch sử sau nhiều thế kỷ, địa danh Hội An không còn là thương cảng nhưng dấu ấn một thời vàng son vẫn đọng lại những giá trị vô giá Do đó, tháng 12.1999, tổ chức UNESCO đã ghi tên đô thị
cổ Hội An vào danh mục Di sản văn hóa thế giới Ngoài những di sản vật thể, cộng đồng Hội An còn bảo tồn, lưu giữ những vốn cổ trong cuộc sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, nghi lễ, ẩm thực… Tất cả tạo cho đô thị cổ Hội An dáng vẻ riêng
và đậm nét xưa
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Quảng Nam nói chung và Hội An nói
riêng, đến mức gần như tạo thành một ngành khoa học riêng biệt gọi là “Quảng Nam học”, tuy nhiên chợ truyền thống Hội An, đặc biệt vai trò chợ truyền thống với
phát triển kinh tế, du lịch lại là một mảng khuyết, một đề tài mới mẻ, mặc dù người
ta không phải không nhận thức được tầm quan trọng của nó
Chợ truyền thống Hội An ra đời và phát triển cùng với quá trình tập trung dân
cư, mở rộng và phát triển sản xuất, làm nảy sinh nhu cầu mua bán, trao đổi sản phẩm, là mắt xích của nền kinh tế, là khâu trung gian nối liền khai thác với sản xuất, sản xuất với tiêu dùng Mạng lưới chợ truyền thống đã tạo nên một bước đột phá
Trang 9quan trọng cho nền kinh tế của mỗi làng xã ở Hội An nói riêng và của cả nước nói chung Bên cạnh đó, chợ truyền thống Hội An còn là nơi lưu giữ và phản ánh khá đầy đủ những đặc trưng văn hóa, phong tục tập quán của người dân thương cảng từng nổi tiếng một thời
Chợ truyền thống Hội An, bên cạnh những nét chung với chợ truyền thống của các vùng miền trên cả nước vẫn mang những nét đặc trưng riêng của vùng đất Nghiên cứu chợ truyền thống đối với phát triển du lịch Hội An một mặt giúp chúng
ta có cái nhìn toàn diện về hệ thống chợ truyền thống Hội An, mặt khác cho thấy những đặc điểm của chợ truyền thống Hội An và những đóng góp của nó đối với vùng đất về mặt phát triển du lịch Thông qua đó có thể tìm được những giải pháp
cụ thể, có giá trị để hoạch định chính sách phát triển du lịch và có những biện pháp bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của chợ truyền thống nói riêng và các giá trị văn hóa nói chung
Như vậy, có thể thấy, việc nghiên cứu chợ truyền thống Hội An dưới góc độ phát triển du lịch có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Từ xuất phát điểm đó,
chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu vai trò của chợ truyền thống đối với phát triển
du lịch Hội An, Quảng Nam” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong vài thập niên gần đây, văn hóa chợ, vai trò của chợ cũng như giá trị truyền thống của chợ được nhiều tác giả quan tâm, đặc biệt trong thời đại con người muốn tìm về những giá trị tốt đẹp của nguồn cội Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đã đề cập đến việc phát huy, gìn giữ những nét đẹp văn hóa chợ Đặc biệt cũng
có nhiều công trình trực tiếp hay gián tiếp nghiên cứu văn hóa chợ dưới góc nhìn
đóng góp cho phát triển du lịch
2.1 Hướng nghiên cứu giá trị của chợ truyền thống
Nguyễn Đức Nghinh trong các công trình nghiên cứu từ những năm 70 của thế
kỉ trước đã đặc biệt quan tâm đến mạng lưới chợ truyền thống như: “Chợ Chùa thế
kỉ XVII” (1979), “Mấy nét phác thảo về chợ làng qua những tư liệu thế kỉ XVII – XVIII” (1980), “Chợ làng, mối nhân tố củng cố mối liên hệ dân tộc” (1981) đăng
Trang 10trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử và Dân tộc học Về cơ bản, những bài viết này
đã phác thảo lại quá trình ra đời, phát triển và một số đặc điểm của chợ làng ở làng
xã cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời tác giả cho rằng mạng lưới chợ làng đã thiết lập nên mối liên hệ kinh tế giữa các địa phương, tạo nên mối liên hệ giữa các làng xã vốn có sự cô lập với nhau trên phạm vi toàn quốc, đó chính là mối liên hệ về dân tộc
Phan Đại Doãn trong tác phẩm : “Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội” (2008) đã nhận định: “Kinh tế làng Việt phổ biến từ nhiều thế kỉ trước không phải duy nhất là nông nghiệp, tất nhiên nông nghiệp vẫn là quan trọng nhất Chợ làng là điểm kinh tế cơ bản để làng tồn tại” [10;tr.19]
Chợ – không gian văn hoá của Thăng Long xưa và Hà Nội nay của tác giả
Trần Thúy Anh đăng trên Kỉ yếu hội thảo chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long, Viện Văn hoá Thông tin, 9/2010 đã nhấn mạnh đến vai trò của chợ trong xã hội của Thăng Long xưa và Hà Nội nay như một không gian hội tụ tất cả các sắc thái văn hóa đặc trưng và đặc sắc nhất Qua đó nổi bật được tính kết nối văn hóa xưa và nay của chợ
Nguyễn Quang Ngọc cũng đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát một số làng buôn
ở Bắc Bộ như Đa Ngưu, Báo Đáp, Đan Loan, Phù Lưu trong tác phẩm “Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVIII – XIX” (1993) Thông qua việc đi sâu
vào nghiên cứu kết cấu kinh tế - xã hội của các làng buôn này, tác giả đã khẳng định
rằng: “Quá trình phát triển của nông thôn Việt Nam nói chung và của các làng buôn nói riêng là quá trình phát triển trên cái trục cơ bản của kinh tế tiểu nông”
[30;tr.24]
Trên diễn đàn Tri thức Việt với chủ đề “Văn hóa chợ của người Việt” cũng đã
có rất nhiều tác giả tham gia đăng bài viết, nổi bật như Phan Cẩm Thượng với
“Chợ phiên nơi làng xã”, “Chợ làng – hình ảnh thân thương”, “Kẻ Chợ và chợ đầu mối”, Song Anh có bài “Văn hóa chợ nổi xưa và nay”, Ly Kha có bài “Chợ Tre – Nét đẹp của vùng đất võ”, … Những bài viết này là những cảm nhâ ̣n của các tác giả
Trang 11về các phiên chợ của người Viê ̣t tiêu biểu mà ho ̣ đã từng đến , từng biết với những nét đẹp chân chất, bình dị của chợ truyền thống Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ sử học “Chợ Làng ở Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Thị
Thịnh đã trình bày rất cụ thể về lịch sử, đặc điểm về sự hình thành, tổ chức chợ và
sự phát triển của các chợ làng ở Quảng Nam Tuy không liên quan trực ti ếp đến đề tài nhưng qua luận văn này người viết có cái nhìn tổng thể hơn về chợ Quảng Nam
từ đó dễ dàng tiếp cận, nghiên cứu về chợ Hội An
Về mặt khoa học, những công trình trên đã giúp chúng tôi có được những cơ
sở lí luận để xác định phương hướng trong việc thực hiện đề tài
2.2 Hướng nghiên cứu vai trò của chợ trong phát triển kinh tế và du lịch
Trần Đình Ba – giảng viên trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Phương Nam,
thành phố Hồ Chí Minh đã cho ra đời tác phẩm “Chợ Việt độc đáo ba miền” Đây là
công trình nghiên cứu rất nhiều phiên chợ từ Bắc vào Nam: chợ Âm Dương, chợ chiếu, chợ nổi, chợ tình, chợ Sang, chợ Rơm, chợ Cồn, chợ Chuộng, … mỗi chợ đều có những đặc điểm riêng và mang một nét văn hóa đặc thù của mỗi địa phương Tác phẩm này mang tính chất giới thiệu, quảng bá du lịch cho vùng miền
Trên các trang báo uy tín, trên các diễn đàn văn hóa cũng có những bài viết rất sâu sắc về văn hóa chợ và vi ệc giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa của chợ trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay của các tác giả trong và ngoài nước
Tiêu biểu như: “Siêu thị và văn hóa chợ truyền thống” của Drew Taylo (Trang
Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần) Mă ̣c dù là người ngoa ̣i quốc nhưng Drew Taylo đã
có rất nhiều nhận định đúng đắn về chợ truyền thống Việt Nam và mong muốn người Viê ̣t nên giữ lấy chợ truyền thống với những nét văn hóa đô ̣c đáo riêng biê ̣t
so với siêu thi ̣ hiê ̣n đa ̣i đang ng ày mọc lên càng nhiều Bài viết của t ác giả kh ẳng định vấn đề bảo t ồn và phát huy giá trị văn hóa chợ truyền thống là rất quan trọng Những nhâ ̣n đi ̣nh của Drew Taylo đã giúp ngư ời viết đưa ra nhiều đi ̣nh hướng cho
đề tài luận văn của mình, đă ̣c biê ̣t là trong viê ̣c đề xuất các giải pháp bảo t ồn giá trị văn hóa ở chợ Hô ̣i An
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu : đề tài tập trung khai thác giá tri ̣ của chợ truyền thống
ở Hội An đối với phát triển du lịch của địa phương
* Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Hội An hiện nay có 11 chợ lớn nhỏ, nhưng qua khảo sát chỉ có
chợ trung tâm Hội An, có tên là chợ Hội An hay chợ Giếng Mái có vai trò và đóng góp lớn đối với sự phát triển du lịch của địa phương Các chợ còn lại chủ yếu có vai trò khép kín ở đơn vị xã, phường Chính vì lí do đó, không gian khảo sát của đề tài tập trung vào chợ Hội An
Về thời gian: Từ tháng 4 năm 2013 đến tháng 9 năm 2014
4 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứ u diện mạo chợ truyền thống ở Hô ̣i An để th ấy được giá tri ̣ của chợ trong đời sống kinh tế hiện nay
Đánh giá được điểm tích cực, hạn chế của chợ truyền thống đối với phát triển
du lịch; đồng thời đưa ra các giải pháp, đề xuất phù hợp góp phần bảo tồn và phát triển những giá trị tốt đẹp của chợ truyền thống đối với đời sống kinh tế xã hội của Hội An nói chung và du lịch Hội An nói riêng
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
* Tư liệu về địa chí và thư tịch cổ đã được dịch thuật liên quan đến vùng đất
Hội An gồm: Ô châu cận lục (1555) của Dương Văn An, Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806) của Lê Quang Định, Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức và đời Duy Tân của Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn
* Tư liệu về sách, kỷ yếu hội thảo khoa h ọc ở các cơ quan lưu trữ như “Văn hóa Quảng Nam, những giá trị đặc trưng” (2001), “Phong tục, tập quán, lễ hội Quảng Nam” (2004), “Cư dân Faifo trong lịch sử” (1999) do Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam ấn hành; cùng các bài báo, bài nghiên cứu có liên
quan đến nội dung đề tài được đăng trên các tạp chí Du lịch, Văn hóa miền Trung,
Trang 13Tây Nguyên, Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Xưa và Nay, Văn hóa Quảng Nam, Nghiên cứu và phát triển, báo Quảng Nam, báo Đà Nẵng
* Tư liệu thực địa
Các tài liệu vật thực: chợ truyền thống ở Hội An cùng với những đặc điểm
về kiến trúc, vị trí và các mặt hàng buôn bán
Các bài phỏng vấn, biểu mẫu hỏi, điều tra xã hội học, tìm hiểu ý kiến của cư dân Hội An, người bán hàng và khách du lịch
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Trong việc nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp logic – lịch sử
Phương pháp cụ thể: Cùng với phương pháp hệ thống hóa lý thuyết, khai
thác các tài liệu thành văn, phương pháp điền dã để điều tra, khảo sát thực tế, tác giả
đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các nguồn tài liệu thu thập được để xây dựng đề tài
Đối với phương pháp xử lí số liệu, chúng tôi thu thập từ các nguồn sau:
+ Số liệu thứ cấp: từ Ban quản lí chợ Hội An, phòng Du lịch – Thương mại Hội An
+ Số liệu sơ cấp bằng cách phát phiếu điều tra du lịch cho khách đến tham quan, mua sắm tại chợ Hội An
e: độ sai lệch, chọn khoảng tin cậy là 90% nên e = 0.1
Áp dụng công thức ta có:
Trang 14n = 1.629.725 = 99 mẫu
1+1.629.725*e 2
Để đạt số lượng mẫu trên, đề tài tiến hành phát 150 phiếu điều tra, thu lại được 150, hợp lệ 144 phiếu, 6 phiếu không hợp lệ Số lượng tiến hành là 144 mẫu
Thiết kế bảng hỏi đánh giá chất lương dịch vụ theo thang đo Likert Thang đo Likert là thang đo do nhà tâm lý học người Mỹ Likert phát minh, nhằm xác định ý kiến hay thái độ
1.00 - 1.80 = Rất không hài lòng 1.81 - 2.60 = Không hài lòng 2.61 - 3.40 = Bình thường 3.41 - 4.20 = Hài lòng 4.21 - 5.00 = Rất hài lòng
Số liệu xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 với các phương pháp:
Trang 15+ Thống kê tần số (Frequency) + Tính giá trị trung bình (Descriptive) Cuộc điều tra về mức độ hài lòng của du khách đối với chợ Hội An
- Số mẫu điều tra: 100 mẫu Tiếng Việt
50 mẫu Tiếng Anh
- Đối tượng điều tra: Khách đến thăm quan, mua sắm tại chợ Hội An
- Thời gian phỏng vấn: từ 15/06/2014 – 25/08/2014
- Địa điểm phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn đối với du khách đang tham gia mua sắm, ăn uống và tham quan tại chợ Với tổng số 150 phiếu phát ra, thu về lại được 144 phiếu hợp lệ
Bảng 1 Thông tin chung của du khách
Trang 16Với 144 khách được phỏng vấn, dựa vào bảng thống kê trên, không có sự chênh lệch lớn giữa khách nam nữ khi đến tham quan chợ Hội An (Nữ: 56.9%, nam 43.1%)
Xét về độ tuổi và nghề nghiệp, phần lớn khách du lịch đang trong độ tuổi lao động (18-30: 48.6%, 30-55: 37.5%), học sinh – sinh viên (26.4%) và cán bộ công nhân viên (38.2%) Đây là nhóm khách có thu nhập tương đối, và thời gian rảnh Đối với khách dưới 18 tuổi và trên 55 tuổi chiếm tỷ lệ không nhiều Khách dưới 18 tuổi thường là đối tượng học sinh, chưa có thu nhập ổn định, thường đi theo gia đình Khách trên 55 tuổi là những người thường đã về hưu, họ có điều kiện để đi du lịch
Xét về lượt đến, khi được phỏng vấn, lượng khách đến chợ Hội An lần thứ 2 chiếm tỉ lệ lớn nhất (73 – 50.7%), đến một lần xếp thứ hai (55 – 38.2%) và khá nhiều du khách đến chợ Hội An trên hai lần (16 – 11.1%) Qua đó cho thấy chợ Hội
An có một sức thu hút không hề nhỏ đối với khách du lịch cả trong và ngoài nước
6 Đóng góp của luận văn
Nâng cao sự hiểu biết có hệ thống về diện mạo chợ truyền thống ở hội An và những đóng góp của chợ truyền thống vào phát triển kinh tế cũng như du lịch ở Hội An
Đóng góp một phần nhỏ vào hệ thống các bài nghiên cứu về đề tài văn hóa du lịch, đặc biê ̣t là về mảng nghiên cứu văn hóa chợ , cung cấp tài liệu cho việc tìm hiểu, học tập về văn hóa du lịch địa phương
Đề tài là một minh chứng khoa học để tham khảo trong việc đề ra biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Hội An cho phù hợp với tiềm năng vốn có của vùng đất này
7 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về chợ truyền thống Hội An, Quảng Nam
Chương 2 Vai trò của chợ đối với phát triển du lịch Hội An, Quảng Nam
Chương 3 Chợ Hội An vơ ́ i vấn đề bảo tồn và phát triển
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHỢ TRUYỀN THỐNG HỘI AN, QUẢNG NAM 1.1 Chợ truyền thống ở Việt Nam
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Chợ
Trong tiếng Anh chơ ̣ được viết là “ market”, người Pháp go ̣i là “ marché”, người Trung Quốc viết chữ “市” là “thị” với ý nghĩa nơi treo cái khăn , tức là cái có
thể bán và có người để mua thì tức là có chợ
Theo định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt đang được lưu hành: “Chợ là nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày hoặc những buổi nhất định”
Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại
hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ “Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội” [42]
Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát
triển và quản lý chợ “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư” [26]
Như vâ ̣y có thể hiểu rằng chợ là mô ̣t kiểu tổ chức sinh hoa ̣t cô ̣ng đồng mà ở đó có sự tổ chức các hoa ̣t đô ̣ng tiếp xúc , giao lưu, trao đổi, buôn bán hàng hóa giữa người này với ngườ i kia, đáp ứng nhu cầu nhất đi ̣nh của con người , góp phần phát triển kinh tế xã hô ̣i của mô ̣t khu vực nhất đi ̣nh
1.1.1.2 Chợ truyền thống
Theo Drew Taylo: “Chợ truyền thống là một kiểu tổ chức hoạt động kinh tế, vừa là m ột dạng sinh hoạt văn hóa chứa đựng bản sắc văn hóa truy ền thống của dân tộc, vừa là bộ phận cấu thành trong đời sống kinh tế văn hóa xã hội” [49]
Trang 18Thông qua các loại hình chợ truyền thống, hàng hóa được đưa từ sản xuất đến tiêu dùng, góp phần mở rộng, kích thích sản xuất hàng hóa, phục vụ đời sống của các tầng lớp nhân dân trong phạm vi xã, liên xã, liên vùng hoặc khu vực
Cùng với sự phát triển của các mô hình phân phối hiện đại, chợ truyền thống đóng vai trò to l ớn đối với đời sống xã hội nói chung, đặc biệt là đối vớ i đời sống văn hóa, tinh thần của mọi tầng lớp cư dân
1.1.2 Mấy nét chung về chợ truyền thống ở Việt Nam
Từ thời thơ ấu của nhân loại con người đã biết trao đổi hàng hóa Ngườ i ta đem thứ mình có và dư thừa đến chỗ đông người qua la ̣i chờ đợi đ ể trao đổi với người có thứ mình cần Không phải lúc nào sự trao đổi cũng xảy ra nhanh , nhiều lần
họ phải đem hàng trở về Về sau , nhiều ngư ời vòng tròn la ̣i với nhau để trao đổi Lúc đầu người ta mang vâ ̣t đổi vâ ̣t : trâu bò đổi lúa ga ̣o , vải thóc…; nhưng nó bất tiê ̣n trong viê ̣c đi ̣nh giá cả , người ta n ghĩ đến vật ngang giá chung , ban đầu là mô ̣t
vỏ sò, mẫu sắt… sau mới xuất hiê ̣n tiền tê ̣ (kim loa ̣i hoă ̣c giấy ) Từ trao đổi đơn giản như vậy, khu vực người mua và người bán gă ̣p nhau dần hình thành mô ̣t không gian mà người ta go ̣i là chợ và được mô tả : “Chơ ̣ là cuộc gặp gỡ đi ̣nh kỳ giữa thương gia để hình thành viê ̣c mua bán hàng hóa công khai tại một nơi nhất đi ̣nh Hàng hóa tại chợ rất đa dạng , tư ̀ các loại vải may mặc đến các loại đá quý Hàng hóa bán tại một số chợ Châu Âu chủ yếu là quần áo Ở những nước phương Đ ông chợ có tầm quan trọng và quy mô lớn Chợ ở các ban g tỉnh lẻ ở Mỹ là những nơi trưng bày nông sản và sản phẩm vườn ” [22;tr.40]
Ở Việt Nam, do kinh tế tự sản xuất tự tiêu , nông thôn nước ta, từ sớm, xã thôn nào cũng đã có chợ Từ điển văn hóa cổ truyền Viê ̣t Nam đi ̣nh nghĩa về loa ̣ i
chơ ̣ xã, chợ thôn: “Chợ thôn thường không có lều quán , họp ở đất trống được mấy tiếng đồng hồ buổi sáng Bán mớ tôm tép , ốc, cá nhỏ… ít thịt lợn vì người ta đã đánh đụng nhau trong thôn xóm Vài cô hàng xén , vài hàng bán nồi niêu chỉnh chậu, hỏa lò bắt đầu bằng đất nung Tùy theo mùa có trám , cà, lạc luộc , củ ấu , khoai lang , khoai so ̣…bán mắm tôm , nước mắm , cá khô lèo tèo có mấy hàng” [29;tr.128] Còn chợ xã “ to hơn, có bán cả quần áo cho trẻ con may sẵn , yếm, thắt
Trang 19lưng, ống vôi, gương lược, hộp sáp… cho phụ nữ Hoa quả nhiều hơn Ngoài những buổi họp chợ thường ngày , còn những ngày phiên chợ có cả hàng ăn : phở, bún ốc, bún viên, bánh đúc, bánh cuốn… Chợ xã có hàng quán bán phải đóng thuế chợ ”
[29;tr.129]
Điều kiê ̣n ho ̣p chợ trong Đa ̣i Viê ̣t Sử Ký T oàn Thư ghi nhận việc lập chợ là
mô ̣t yêu cầu tất yếu của sản xuất và sinh hoa ̣t : “Trong dân gian, hễ có dân là có chợ
để lưu thông hàng hóa, mở đường giao di ̣ch cho dân Các xã chưa có chợ có thể lập thêm chợ mới Những ngày họp chợ mới không dược trùng với ngày họp chợ cũ hay trước ngày họp chợ cũ để tránh tình trạng tranh giành khách hàng với nhau”
Đến đời vua Lê Thánh Tông : “ đi ̣nh lê ̣ chỉ mở chợ mới Có sắc chỉ rằng : Các chợ ở huyện , châu, xã ở các xứ trong nư ớc, người dân mỗi ngày càng nhiều , nơi nào muốn chia mở chợ để tiê ̣n buôn bán thì quan phủ huyê ̣n châu khám xét, quả thực hiê ̣n cho dân thì làm bản tấu lên , cho theo tiê ̣n lợi mà họp chợ , không cứ là ngạch cũ hay không ” [44;tr.356] Viê ̣c đi ̣nh lê ̣ mở chợ mới này có thể xuất phát từ
thực tế những vùng đất mới khai thác được
Trong ngôn ngữ Viê ̣t Nam , khái niệm chợ thường có thêm một số từ kèm theo để chỉ loa ̣i hàng hóa , hình thức sinh hoạt , tính chất, đi ̣a điểm ho ̣p của chợ Có thể phân chia nhiều loa ̣i hình ho ̣p chợ theo những tiêu chí khác nhau Theo thời gian họp chợ có : chơ ̣ sáng, chợ chiều, chợ hôm, chợ phiên Theo khu vực , đi ̣a vực có : chơ ̣ quê, chợ đô thi ̣, chợ ven đô, chợ trung du, chợ đồng bằng, chợ miền núi… Theo quy mô hành chính có chợ làng, xã (liên làng, chợ huyê ̣n (liên xã)), chợ thi ̣ trấn, chợ thị xã… Theo tính chất , quy mô trao đổi hàng hóa có : chợ vải, chợ trâu, chợ lu ̣a…
Dù phân chia theo tiêu chí nào thì chợ ở khu vực nông thôn hoạt động trên địa bàn nào đều có địa phương ở nơi đó quản lý , chúng có một tên gọi chung là chợ làng hay chơ ̣ quê [22;tr.41,42]
Đến chơ ̣ tức là con người được gă ̣p nhau trong mô ̣t không gian và không khí hoàn toàn bình đẳng Đã đến chợ thì dù kẻ quyền chức hay người dân thường đều trở thành kẻ bán hoă ̣c người mua Ở đây, tất cả sản phẩm của người lao đô ̣ ng đều
Trang 20trở thành hàng hóa Có thể nói hàng hóa và tiền tệ được thể hiện vai trò của mình ở
không gian của chợ theo kiểu quan hê ̣ “thuận mua vừa bán”
Ngoài mục đích mua bán, đến chợ còn để thông tin cho nhau về cuộc sống riêng tư, cuô ̣c sống đời thường Có lẽ vì thế mà chợ còn là điểm sinh hoa ̣t văn hóa ,
là chốn hò hẹn, tâm tình
Chơ ̣ còn là bức tranh phản á nh đời sống chính tri ̣, xã hội Ngoài phản ánh bộ
mă ̣t kinh tế qua số lượng hàng hóa , chủng loại vật phẩm , chợ còn là điểm nhìn để
đoán biết tình hình xã hô ̣i Có tác giả đã nói “Nhìn nét mặt của người phụ nữ đi chợ
có thể biết lẽ thịnh suy của đất nước” [22;tr.60] Cảnh chợ quê thanh bình, đông vui
phản ánh khác , nói khác về bối cảnh chính tr ị so với cảnh chợ tan hoang , ít người, tan sớm, nhuốm tâm tra ̣ng lo âu
Trong tâm thức của ngư ời Việt, chợ còn mang ý nghĩa là nơi gửi gắm những trăn trở, những tình cảm bình di ̣, chân thành dân dã nhất:
Lúc là lời khuyên: “Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa đám ba quân”
Lúc phân trần nhe ̣ nhàng: “Trắng da vì bởi phấn dồi
Đen da vi ̀ bởi em ngồi chợ trưa”
Những tình cảm này chỉ xuất phát từ cuô ̣c sống gắn liền với chợ búa và đã thâm nhâ ̣p sâu vào tâm thức của mỗi người
1.2 Chợ Hội An
1.2.1 Vị trí
Chợ Hội An còn đươ ̣c go ̣i với tên thân mâ ̣t là chơ ̣ Phố , chơ ̣ nằm trên tuyến đường Trần Quý Cáp và Trần Phú, trong khu vực I của phố cổ, thuộc phường Minh
An, thành phố Hội An
Là chợ trung tâm của thành phố Hội An , chợ ở vi ̣ trí xen kẽ với các khu dân
cư, đươ ̣c chia cắt thành các khu riêng biê ̣t theo mô hình ô bàn cờ Toàn bộ khu vực phía Nam của chợ giáp với sông Thu Bồn , ba mă ̣t còn la ̣i giáp với các tuyến đường của phố cổ Đây vừa là nơi buôn bán, phục vụ đời sống người dân thành phố, vừa là
Trang 21nơi tổ chức nhiều hoa ̣t đô ̣ng du l ịch để giới thiệu nghề truyền thống và văn hóa ẩm thực Hội An
Qua tài liệu khảo cổ thu thập được thì từ khoảng thế kỷ thứ II trở về trước,
cư dân của nền văn hóa Sa Huỳnh bản địa Hội An đã có giao thương với thế giới bên ngoài và chính cư dân Sa Huỳnh đã xây dựng tiền cảng thị Hội An Thời kỳ Champa thế kỷ thứ II sau Công nguyên cho đến thế kỷ XV, người Chàm đã sử dụng cảng này và xem là trung tâm để phát triển thương mại với tên gọi Lâm Ấp phố, đồng thời người Champa cũng quản lý cả vùng biển rộng lớn Bản đồ cổ ghi tên gọi biển Champa, chứ không gọi biển Đông như bây giờ Cư dân Champa rất giỏi đóng thuyền, trọng tải lớn đến 2 tấn, có thể chở 6 – 7 trăm quân thủy chiến Như vậy, rất
có thể dưới thời đại Champa, chợ đã hình thành và phát triển mạnh, tuy nhiên tư liệu về chợ trong giai đoạn này rất hiếm
Người Đại Việt sau thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX đã kế tục thương cảng xưa của người Sa Huỳnh và người Champa để phát triển thành thương cảng Đại Việt Mặc dù nông nghiệp, thủ công nghiệp có điều kiện phát triển nhưng trong quá trình tiếp quản xứ Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã nhận thấy con đường kinh
tế truyền thống “dĩ nông vi bản” không thể tạo tiềm lực đủ để làm đối trọng với
chúa Trịnh ở Đàng Ngoài Quảng Nam có nhiều cửa sông lớn và cửa biển tốt, có tài nguyên thiên nhiên dồi dào, nhiều ngành nghề thủ công như ươm tơ dệt lụa, làm đường, đóng ghe bầu đã bắt đầu phát triển Những yếu tố thuận lợi cho ngoại thương này đã được người Chăm sử dụng để làm động lực kích thích kinh tế trong nước Theo đó, Nguyễn Hoàng với tầm nhìn chiến lược của mình, cũng như những
Trang 22người kế tục ông sau này đã thi hành chính sách ngoại thương cởi mở, mời gọi thương nhân các nước vào buôn bán Nhờ vậy mà chỉ sau mấy thập niên, nền kinh
tế hàng hóa ở Quảng Nam phát triển sôi động, cảng thị Hội An trở thành nơi đô hội, sầm uất bậc nhất ở Đàng Trong Lê Quý Đôn đã từng viết về sự phong phú
hàng hóa ở cảng thị Hội An: “Phàm sản vật sản xuất ở phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Khang, dinh Nha Trang, đường thủy, đường bộ, đi thuyền, đi ngựa đều tấp nập ở phố Hội An Hàng hóa nhiều lắm, dù trăm tàu to chở một lúc cũng không thể hết được” [15;tr.295]
Sự hưng thịnh của Hội An khiến cho Quảng Nam có vị trí hàng đầu ở Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, tạo ra một động lực mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế hàng hóa, góp phần hình thành nên chợ vệ tinh cung cấp nguồn hàng lâm – thổ – hải – khoáng sản, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ cho phố Hội
Vào giai đoạn này, thương thuyền chở hàng từ nước ngoài đến buôn bán từ bốn đến sáu tháng liền tại Hội An Phố Hội An trở thành chợ quốc tế và chợ Hội
An là nơi hội tập hàng hóa từ các nơi về nhằm để xuất khẩu
Dấu ấn về chợ Hội An được các học giả miêu tả: “Chợ Hội An ở xã Hội An
về phía đông huyện Diên Phước, tục gọi là phố Hội An, phía Nam liền sông Cái, trên bờ hai bên phố nhà ngói liên tiếp chừng hai dặm, dưới sông thuyền ghe đi lại như mắc cửi, có nhiều khách buôn người Thanh trú ngụ buôn bán tấp nập, làm nơi
đô hội lớn xưa nay” hay “cửa Đại Chiêm thuyền bè sum họp, chợ phố Hội An hàng hóa nhóm đầy, thực là nơi đô hội lớn” [35;tr.105-106]
Theo nhiều nguồn tư liệu cho biết, chợ Hội An hiện nay được lập vào khoảng năm 1848 (sau khi đường Nguyễn Thái Học được hình thành từ sau 1840) Nguyên xưa chợ nằm ở khi vực phía trước Đình Ông Voi (Đình Hội An), chạy theo đường
Lê Lợi đến đường Trần Phú, giáp bờ sông (chưa có đường Nguyễn Thái Học) Theo mô hình chung chợ thường họp ở ngã 3 đường, các bến sông, gần đình, chùa - miếu Khi chuyển về chỗ như hiện nay, chợ Hội An cũng hội đủ các yếu tố: ở trước miếu Quan Công (Chùa Ông), sát bờ sông và ngã 3 giao thông đường bộ của phố/thị Hội An (nhất cận thị/ phố - nhị cận giang/sông - tam cận lộ/đường) Căn cứ
Trang 23theo tài liệu của Trần Kinh Hòa, khu chợ thuộc phần đất của bà Ngô Thị Lành, có
mộ thiền sư Lương Huệ Hồng gần giếng mái, bà di dời mộ khỏi nơi đó để nhường xây dựng chợ Sự phát triển của chợ Hội An nằm trong sự thịnh suy của cảng thị thời bấy giờ
Trong quá trình phát triển, thương cảng Hội An ban đầu chủ yếu là nơi giao thương kinh tế, về sau trở thành nơi hội nhân và hội tụ văn hóa Bởi khách Tàu, Nhật và phương Tây đến đây, bên cạnh chọn Hội An làm điểm dừng chân buôn
bán, có người còn dựng nhà, lập phố, kể cả tạo tác những mối lương duyên “Hội
An là nơi bến tàu tập hợp hàng hóa ngoại quốc Một con đường lớn thẳng dọc bờ sông, dài chừng 3 - 4 dặm Hai bên phố xá khít rít liền nhau Chủ phố thảy là người Phúc Kiến vẫn còn ăn mặc theo lối tiền triều Đường Nhơn Nhai chỉ toàn người Tàu, cuối cùng là Nhật Bản kiều và Cẩm Phô Bên kia sông là Trà Nhiêu, nơi đình Bạc của thương thuyền Nhân dân trù mật, cá tôm, rau quả tấp nập tối ngày” [34;tr.154] Chợ Hội An theo đó cũng là nơi tiếp thu nhiều luồng văn hóa,
góp phần tạo thành Hội An như hôm nay
Từ cuối thế kỷ XVIII, do những biến đổi của tự nhiên (Cửa Đại và sông Cổ
Cò bị bồi lấp), tàu thuyền lớn khó đến được Hội An cùng với nhiều nhân tố khác khiến cho đô thị này bắt đầu sa sút, Đà Nẵng dần thay thế Hội An Nếu ở thế kỷ
XVIII, Đà Nẵng là “tiền cảng” hay “cảng tạm dừng” thì bước sang thế kỷ XIX,
nơi đây trở thành một trung tâm thương mại trọng yếu của nước ta cũng như của khu vực Đây cũng là sự lựa chọn hợp lí của nhà Nguyễn xét về cả phương diện kinh tế, quốc phòng và ngoại giao của nước ta lúc bấy giờ
Như vậy, cùng với quá trình thịnh suy của thương cảng, chợ Hội An cũng đã
có những thăng trầm trong quá trình hình thành và phát triển Tuy nhiên qua những thử thách của thời gian, chợ Hội An nay không chỉ là nơi buôn bán mà còn là không gian hội tụ giá trị văn hóa của Hội An
1.2.3 Đặc điểm
1.2.3.1 Sư ̣ tác động của chính tri ̣, xã hội và kinh tế đối với quá trình ra đời và phát triển của chợ Hội An
Trang 24Trước hết, sự hình thành của các làng xã cùng với quá trì nh tâ ̣p trung dân cư Vua Lê Thánh Tông đã từng nói “ Trong dân gian hễ có dân là có chợ ”, theo đó chơ ̣
ra đời trước hết là đáp ứng nhu cầu trao đổi sản phẩm của người dân Làng xã mọc lên càng nhiều, dân cư càng đông đúc thì chợ làng cũng theo đó ra đời
Bên ca ̣nh đó, chợ Hội An còn chịu tác động của yếu tố “thành” Như là mô ̣t quy luâ ̣t tất yếu, sự ra đời của phần “thành” kéo theo sự phát triển của phần “thi ̣”
Phố chợ Hội An ra đời đóng vai trò là trung tâm giao thươ ng, điều tiết nguồn hàng Một số chợ vùng ven với tư cách là những vệ tinh hút hàng hóa của thị trường địa phương về vùng thành thi ̣, cung cấp cho nhu cầu đô ̣i ngũ quan la ̣i , binh lính và cả tầng lớp dân cư sinh sống trong nô ̣i thành cũng như ở vùng ven Tuy nhiên bên ca ̣nh những tác đô ̣ng tích cực đó , yếu tố chính tri ̣ cũng có ảnh hưởng tiêu cực đến hoa ̣t
đô ̣ng của chợ khi tình tình chính tri ̣ bất ổn, chiến tranh nổ ra khiến chợ đò xiêu tán
Chính trị - xã hội là những nhân tố đầu tiên nhưng kinh tế mới là nhân tố quan trọng nhất, chi phối sự ra đời và phát t riển của chợ H ội An, bởi phải có hàng
hóa thì mới có chợ , nguồn hàng càng nhiề u thì số lượng chợ càng nhiều , quy mô chơ ̣ càng lớn
Hội An có thế mạnh lớn về kinh tế, không chỉ là nơi đô hội hàng hóa quốc tế, nội thân Hội An đã tiềm tàng những thế mạnh được tạo nên từ hệ thống đất đai bao quanh thành phố khá màu mỡ Cộng thêm vào đó, ở Hội An hình thành một mạng lưới sông tương đối nhiều, đảm bảo nước cho canh tác lúa, trồng các cây lương thực khác Trên các hải đảo lại nhiều yến sào Biển với thềm lục địa khá sâu, phong phú hải sản, tôm cá
Ngoài ra, thủ công nghiệp cũng đóng góp vai trò hết sức quan tro ̣ng Theo thời gian, nhiều nghề từ chỗ chỉ phu ̣c vu ̣ cho nhu cầu riêng của cư dân đã trở thành hàng hóa để trao đổi và mang la ̣i lợi ích kinh tế đáng kể cho người dân Từ chỗ chỉ
mô ̣t vài nhà t rong làng làm đến chỗ nhiều gia đình kh ác cũng học làm nghề theo Nghề từ đó lan rô ̣ng ra cả làng hay nhiều làng gần nhau Trong quá trình đó , xuất phát từ đặc điểm nguồn nguyên liệu , bí quyết làm nghề , khả năng cải tiến sản phẩm
mà giữa các làng có sự phân hóa , hình thành những làng nghề chuyên sâu vào mô ̣t
Trang 25nghề duy nhất Từ đó Hội An có những làng nghề vớ i những sản phẩm nổi tiếng như mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà Các sản phẩm này theo thương nhân đến chợ
để trao đổi buôn bán Càng về sau, sản phẩm làng nghề không còn nằm trong quy
mô của làng và cũng vượt ra khỏi cảng thị Hội An đến với nhiều nơi trên cả nước và thế giới
Như vâ ̣y có thể thấy sự hình thành và phát triển nông nghiê ̣p , thủ công nghiê ̣p đã ta ̣o ra khối lượng hàng hóa lớn, là nhân tố quan trọng cho sự ra đời và tồn tại của chợ
Mă ̣c dù sự phát triển của nông nghiê ̣p và thủ công nghiê ̣p là yếu tố kinh tế quan tro ̣ng nhưng đối với viê ̣c phát triển và hình thành của chợ Hội An, không thể không luâ ̣n về tác đô ̣ng của nền kinh tế hà ng hóa trong các thế kỷ XVII - XVIII
Cuô ̣c “Cách mạng thương mại” ở Đông Nam Á vào các thế kỷ XVII - XVIII đã ta ̣o
điều kiê ̣n để các thương cả ng của khu vực phát triển mang tính quốc tế Hô ̣i An trong bối cảnh đó đã vươn lên trở thành thương cảng mâ ̣u di ̣ch với ngoa ̣i quốc và là nơi đô hô ̣i buôn bán lớn nhất, tấp nâ ̣p nhất Đàng Trong Các đoàn thuyền buôn nước ngoài đã câ ̣p bến ở Hô ̣i An để trao đổi hàng hóa , vì thế nhu cầu nguồn hàng cung cấp cho hoa ̣t đô ̣ng thương ma ̣i ngày càng trở nên cấp thiết , đã tác đô ̣ng trực tiếp vào hoạt động sản xuất của từng thôn xóm , từng người dân nhằm đá p ứng cho sự phát triển của ngoa ̣i thương nói riêng và kinh tế hàng hóa nói chung Theo đó, không chỉ chợ Hội An mà mạng lưới chợ dọc ngan g ở vùng nông thôn Quảng Nam d ần hình thành và phát triển, hoạt động với vai trò là những ch ợ vệ tinh cung cấp nguồn hàng cho Hô ̣i An
Sang nửa đầu thế kỷ thứ XIX, ý thức được tầm quan trọng của vùng đất phên
dâ ̣u phía N am kinh đô nên mă ̣c dù ha ̣ n chế thông thương với phương Tây, triều Nguyễn trong mô ̣t chừng mực nhất đ ịnh vẫn cho phép thương nhân nước ngoài vào buôn bán ở thương cảng Đà Nẵng Đây là thương cảng duy nhất được phép trao đổi buôn bán với bên ngoài Vì vậy , trong bối cảnh chung cả nước thời bấy giờ là thương nghiê ̣p bi ̣ ha ̣n ch ế thì kinh tế Quảng Nam nói chung, Hội An nói riêng, đă ̣c biê ̣t là kinh tế ngoa ̣i thương nhờ gần cảng thị Đà Nẵng ở khía cạnh nào đó vẫn có
Trang 26điều kiê ̣n phát triển Điều này đã kéo theo sự hoa ̣t đô ̣ng liên tu ̣c của hê ̣ thống chợ làng, dù rằng không còn phát triển sôi động như các thế kỷ trước đó
1.2.3.2 Chợ Hội An là mô hình chợ ven sông
Chọn đất làm nhà , người Viê ̣t cho ̣n “ nhất cận thi ̣, nhị cận giang” tức là đất
tốt nhất ở gần chợ , nơi đông đúc, tụ họp người, thứ nhì là ở gần sông , nơi có dòng chảy, tiê ̣n đường đi la ̣i Như vâ ̣y, chợ đă ̣t ở ven sông vừa đa ̣t được sự trao đổi dễ dàng, vừa phù hợp với đă ̣c đ iểm sinh hoa ̣t của nhân dân Chợ ven sông không đơn thuần mang ý nghĩa về mặt định vị, địa điểm họp chợ Nó là hệ quả tất yếu của giao thông đường thủy chiếm ưu thế Đây là loa ̣i hình vâ ̣n chuyển thuâ ̣n lợi nhất , tiết kiê ̣m thời gian, công sức và vâ ̣n chuyển được khối lượng hàng hóa lớn
Đi ̣a thế nằm bên ca ̣nh sông ta ̣o điều kiê ̣n cho chợ H ội An giao lưu buôn bán hết sức dễ dàng , đă ̣c biê ̣t đó là điều kiê ̣n để nối nhi ̣p cầu thông thương với các chợ
hạ nguồn và chơ ̣ thượng nguồn
Tuy nhiên, bên ca ̣nh những thuâ ̣n lợi, mưa lũ trên sông đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của chợ , việc buôn bán bị đình trệ Nếu như trước đây “mùa khô tạo điều kiện cho việc bốc dỡ, vận chuyển trao đổi cũng như cất giữ hàng hóa Khi mùa mưa bão đến vào tháng 7, tháng 8, việc mua bán tạm thời nghỉ ngơi để chuẩn
bị cho mùa xuân năm sau” [7;tr.332] thì ngày nay chợ Hội An cũng đã có thể mua
bán vào mùa lũ tuy số lượng có ít hơn ngày thường rất nhiều
1.2.3.3 Tổ chư ́ c quản lý chợ
Cũng như các vùng miền khác , chơ ̣ Hội An được thành lập và chịu sự quản
lí của nhà nước
Trước đây, nhà nước gián tiếp quản lý chợ làng thông qua việc ban hành
những chính sách cu ̣ thể Năm 1403, Hồ Hán Thương cho “ Đặt chức thị giám ; ban
ra cân thước thưng đấu ; đi ̣nh giá tiền giấy cho trao đổi nhau ” [20;tr.671] Năm
1477, vua Lê Thánh Tông đã ban hành “Đi ̣nh lê ̣ chia mở chợ mới : Sinh dân các huyê ̣n, châu, xã ở các xứ trong nước mỗi ngày một đông , nếu muốn mở thêm chợ mới để tiê ̣n buôn bán thì quan phủ huyê ̣n châu khám xét thực tế , nếu quả là tiê ̣n lợi
mà họp chợ, không cứ là ngạch cũ hay không” [22;tr.17]
Trang 27Vào thời chúa Nguy ễn, nhằm kiểm soá t hoa ̣t đô ̣ng mua bán và khoản định mức thuế, các chúa đã đă ̣t hê ̣ thống sơ tuần ty và quản lý các bến đò q uan tro ̣ng, đây chính là những nút thắt của các tuyến giao thông trong hoạt động kinh tế thương nghiê ̣p thời bấy giờ Dưới triều Nguyễn, viê ̣c đánh thuế các sở tuần ty vẫn được duy trì ở mức 1/40 (tức 0,25%) so với giá hàng Đồng thời nhà nước cũng ban hành thêm mô ̣t số quy đi ̣nh về hoa ̣t đô ̣ng buôn bán ở chợ, cửa hàng như: cấm neo giá (nói thách) nơi cửa hàng, cấm người của vua , nô ̣i phủ, quan viên, đa ̣i thần cầm đầu viê ̣c buôn bán nô ̣i đi ̣a, bá chiếm các nơi quan tro ̣ng ở cửa ải , bến đò, xưng tên ỷ thế gồm thâu lơ ̣i ở chợ, cấm làm riêng hô ̣c, dấu, cân thước, quy đi ̣nh nha môn lớn nhỏ Công
tư cần mua hàng hóa thì phải nắm chiếu giá chợ cô ̣ng bình mua bán , không để bo ̣n coi viê ̣c buôn bóc lô ̣t dân chúng , tự do thu lợi bởi tung di ̣ch , tức sai biê ̣n phải chú tâm, nắm chắc lẽ công bằng , không để sự bừa bô ̣n xảy ra [37;tr.96-400] Qua đó, cho thấy nhà nước đã có sự quan tâm nhất đi ̣nh đến hoa ̣t đô ̣ng của chợ và thể hiê ̣n vai trò qu ản lý ở tầm vĩ mô thông qua các văn bản pháp luật và bộ phận văn bản thực thi các văn bản pháp luâ ̣t đó chính là làng xã
Trong thời kì chiến tranh, theo các vị cao niên thì chợ Hội An vẫn duy trì được nếp mua bán dưới sự quản lí của chính quyền, tuy có lúc thịnh lúc suy
Chơ ̣ Hô ̣i An hiện nay được thành lập theo quyết định 2487 QĐUBND Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ, ban hành ngày 17 tháng 10 năm 1986 Thực hiê ̣n theo chức năng nhiê ̣m vu ̣ của Nghị định 2487:
- Cho thuê mặt bằng kinh doanh
- Bố trí, sắp xếp ma ̣ng lưới kinh doanh ta ̣i chơ ̣
- Trông coi tài sản của nhân dân ta ̣i chơ ̣
- Giữ gìn an ninh – chính trị, trâ ̣t tự an toàn xã hô ̣i ta ̣i chợ
- Thu dọn vê ̣ sinh môi trường chợ
Chơ ̣ được xây dựng và tu b ổ theo nguyên mẫu nền móng ngôi ch ợ đã được xây dựng từ trước với tổng diện tích hơn 2.100m2
Từ năm 1986, số lươ ̣ng hô ̣ kinh doanh chỉ bố trí, sắp xếp được 500 hộ Qua quá trình đầu tư, nâng cấp, sửa chữa, cải tạo, trùng tu và mở rộng dần , đến nay chợ đã bố trí , sắp xếp đươ ̣c gần 1000 hô ̣ kinh
Trang 28doanh Từ diê ̣n tích gần 3000m2 hiện nay diê ̣n tích chợ đã là 6000m2 Từ 22 cán bộ công nhân viên chức tăng lên 26 cán bộ công nhân viê n chức chia thành 5 bô ̣ phâ ̣n quản lý:
- Bộ phâ ̣n quản lý hành chính và tài vu ̣
- Bộ phâ ̣n quản lý trâ ̣t tự và thu phí chợ
- Bộ phâ ̣n trực bảo vê ̣ ban đêm
- Bộ phâ ̣n thu gom, vâ ̣n chuyển rác và vê ̣ sinh môi trường
- Bộ phâ ̣n quản lý khu quản lý giết mổ gia súc tâ ̣p trung của thành phố (đây là nét mới và khác biệt của Ban quản lý chợ Hội An so với các chợ khác )
Là chợ trung tâm của thành phố , hưởng ứng chủ trương phát triển Hô ̣i An là thành phố Sinh thái – Văn hóa – Du li ̣ch, chợ Hô ̣i An cũng đang thực hiê ̣n công tác xây dựng điểm kinh doanh đa ̣t chuẩn văn minh, bắt đầu từ các gian hàng kinh doanh gia vi ̣, ăn uống, dự kiến sẽ nhân rô ̣ng ra cho các ngành hàng còn la ̣i
1.2.3.4 Cấu tru ́ c chợ
Cấu trúc ban đầu của chợ phụ thuộc vào việc chợ mọc lên một cách tự phát hay đươ ̣c chính quyền làng xã quy hoa ̣ch xây dựng Mă ̣c dù khác về đă ̣c điểm hình thành cũng như quy mô nhưng chợ Hội An, giống như những ngôi chợ khác, biến đổi qua hai giai đoa ̣n : giai đoa ̣n mới hình thành và giai đoa ̣n phát triển Các mặt hàng trong chợ được sắp xếp, bố trí theo cấu trúc của chợ
Ban đầu, diê ̣n ma ̣o của các chợ H ội An cũng tương tự như ở chợ làng củ a
miền Bắc qua mô tả của Bonde năm 1884: “Viê ̣c thiết lập một cái chợ không tốn kém gì cả , nó chỉ cần đến thời tiết tốt Người nông dân ngồi ngay xuống đất , trên đường phố, hàng hóa để trong vuông vải hay trong một cái làn , thậm chí trên đất bụi nếu như họ không sợ làm hư hỏng hàng đó” [38;tr.64]
Sau giai đoa ̣n ổn đi ̣nh phát triển , diê ̣n ma ̣o chợ gắn với các dãy chợ Sự mở
rô ̣ng quy mô chợ góp phần làm cho hàng hóa phong phú hơn , được sắp xếp theo cấu trúc khoa học và hợp lí
Hiện nay, với diê ̣n tích 6000m2 chợ bao gồm hai khu vực:
Trang 29- Chợ công nghiê ̣p (bao gồm cả khu chợ vải , đường Trần Phú ) bán vải vóc , quần áo may sẵn , giày dép , mũ và các quầy hàng bán các mặ t hàng thủ công mỹ nghê ̣
- Chợ nông sản và thực phẩm : bao gồm các quầy hàng và những gành hàng bán các loại nông sản : rau, củ, quả, …, các loại thuỷ hải sản : cá, tôm, cua, … ; các quầy ăn uống, giải khát, các quầy bán gia vi ̣, ngũ cốc, …
Do mô hình chợ ven sông nên các quầy hàng nông hải sản thường được tập kết ở bến sông để tiện viện vận chuyển, trao đổi hàng hóa
Với cấu trú c và cách bố trí hàn g hóa như vâ ̣y , chợ Hội An có nhiều nét gần gũi với chợ làng của nhiều miền quê khác trên lãnh thổ đất nước
1.2.3.5 Lê ̣ họp chợ
Mỗi chợ, dù lớn hay nhỏ đều có lệ họp chợ riêng Khác với các chợ ven sông khác ở Quảng Nam chỉ họp một buổi sáng hay chiều như La Tháp, Trà Nhiêu, chợ Hội An họp cả ngày, cho thấy một trình độ kinh tế cao và sức mua lớn Tuy nhiên,
để lệ họp chợ diễn ra đúng thời gian , cư dân chợ Hô ̣i An ngoài tâ ̣n du ̣ng nguồn ưu đãi của tự nhiên còn phải đối phó với khí hâ ̣u, thời tiết
Thời gian ho ̣p chợ theo quy đi ̣nh là từ 5 giờ sáng đến 7 giờ tối Nhưng theo thống kê 67% những người buôn bán ở chợ Hô ̣i An thuô ̣c các vùng lân câ ̣n Để mang đươ ̣c những nông sản tươi , xanh đến ki ̣p gi ờ họp chợ họ đã lặn lội đường xa
đi từ khi tờ mờ sáng Ngày nắng, có thể đi sớm hơn, về muô ̣n hơn, nhưng ngày mưa thì ngược lại để ki ̣p qua đò về nhà trước khi trời tối
Mô ̣t số người dân đến chợ chỉ vào mô ̣t buổi , sáng hoặc chiều Để họp phiên chợ sớm, nhiều người đã phải đi từ lúc 3 hoặc 4 giờ sáng Đầu buổi chiều, bên ca ̣nh các con thuyền du lịch là những chiếc thuyền chở người và hàng hóa cập bến , mang theo những sản vâ ̣t, những gánh hàng rong và cả những vi ̣ khách đến chợ mua hàng , bắt đầu buổi ho ̣p chợ thứ hai trong ngày
1.2.3.6 Hàng hóa ở chợ
Hàng hóa được mang ra trao đổi ở chợ là những mặt hàng phục vụ cho nhu cầu sinh hoa ̣t thiết yếu và sản xuất như lương thực , thực phẩm, các loại nông sản ,
Trang 30công cu ̣ sản xuất , đồ dùng gia đình… và các mă ̣t hàng phu ̣c vu ̣ cho du lịch Tựu trung la ̣i, có thể chia hàng hóa ở chợ Hội An thành những nhóm sau:
*Nhóm mặt hàng phục vụ nhu cầu ăn uống như gạo , nếp, thủy – hải sản, rau quả, gia vi ̣, thịt gia súc, gia cầm, chè, trầu cau, thuốc lá…
- Gạo nếp : đối vớ i cư dân nông nghiê ̣p Quảng Nam nói chung , Hội An nói riêng thì lúa gạo luôn chiếm vi ̣ trí quan trọng, đó cũng là mô ̣t trong những mă ̣t hàng
chủ đạo ở chợ Với mô ̣t vùng đất được c oi là “ phì nhiêu nhất thiên hạ ”, từ thế kỷ
XVI- XVII sản xuất nông nghiê ̣p ở Quảng Nam và Hội An đã rất phát triển “ tháng
tư hàng năm lúa chín đầy đồng gặt hái không ki ̣p ” Giáo sĩ Cristoforo Borri trong thời gian ở Đàng Trong đã nhận xét “nước lụt làm cho đất màu mỡ và phì nhiêu nên mỗi năm có 3 vụ lúa, đầy đủ và dồi dào đến nổi không ai phải lam lũ vất vả để sống, ai cũng sung túc ” [7;tr.19] Lúa gạo nhiều nên nguồn lương thực hàng đầu
này chiếm tỷ lê ̣ lớn trong các mă ̣t hàng buôn bán ở chợ là điều hiển nhiên Ngoài nguồn thóc ga ̣o sản xuất ta ̣i chỗ , các chợ Quảng Nam còn bổ sung nguồn hàng từ
Nam Bô ̣ ra Thực tế này cũng được phản ánh qua câu ca : “Hết gạo thì có Đồng Nai, hết củi thì có Tân Sài chở vô”
Từ ha ̣t ga ̣o người dân còn chế biến thành những mă ̣t hàng khác như như sợi
mỳ Quảng, Cao Lầu, bánh tráng, bún Mỳ Quảng, Cao Lầu là món ăn truyề n thống của người H ội An không chỉ trong đời sống thường nhật mà còn là món không thể không có trong các di ̣p lễ tết, đình đám, hô ̣i hè
- Các loại hoa màu : Từ rất s ớm người dân đã tâ ̣n du ̣ng đất đai trồng thêm các loại hoa màu để hỗ trợ cho bữa ăn Ở vùng ven sông, đất bãi, đất bồi, vườn đồi
ở mạn tây trồng được nhiều sắn , ngô; vùng đất cát ven biển trồng đư ợc nhiều khoai lang, mè, đậu phu ̣ng… Trong vườn mỗi gia đình đều có các khoảnh đất để trồng thêm các loa ̣i rau , đâ ̣u, cà… Trong số các loại nông phẩm này thì rau Trà quế và ngô trở thành mă ̣t hàng n ổi tiếng và thành thương hiệu của Hội An Nguồn lương thực – thực phẩm mang la ̣i từ viê ̣c trồng tro ̣t này hết sức dồi dào và trở thành những
mă ̣t hàng chính được đem trao đổi ở chợ
Trang 31- Các loại thủy - hải sản của Hội An rất phong phú bởi tự nhiên đã ban cho vùng đất này một bờ biển dài cùng với hệ thống sông ngòi khá dày đặc , đầy ắp cá tôm, đă ̣c biê ̣t là cá chuồn , cá trích, cá cơm, cá nục, cá mòi, cá ngừ, cá thu… cù ng với nhiều loài giáp xác như tôm, cua, ghẹ… Khu vực bến sông - nơi bán cá của chợ luôn nhô ̣n nhi ̣p kẻ bán người mua, bởi cá là thành phần quan tro ̣ng trong bữa ăn của
người Quảng nói chung và người Hội An nói riêng Câu ca: “ăn cơm cá như má với con” của xứ Quảng đã ra đời từ đó Thủy hải sản của Hội An cũng đặc biệt tươi
ngon hơn so với các vùng biển khác cùng khu vực nên không chỉ tiêu thụ ở chợ mà còn rất được ưa chuộng ở các chợ khác của Quảng Nam và cả Đà Nẵng Ngoài thủy
- hải sản, chợ Quảng Nam còn được bổ sung thêm các mă ̣t hàng được chế biến từ hải sản như nước mắm , ruốc, mắm cái… đă ̣c biệt một số loại mắm do người Hoa chế biến luôn là món ngon không thể bỏ qua khi đến với chợ Hội An
- Trầu cau, chè, thuốc la ́ : là những mặt hàng có mặt ở tất cả các chợ bởi tục
ăn trầu, hút thuốc, uống nước chè xanh khá phổ biến ở xứ Quảng Trầu cau không chỉ phục vụ cho cá c di ̣p lễ hô ̣i , đình đám cưới hỏi mà còn có mă ̣t trong cuô ̣c sống
đời thường bởi với người Quảng, vốn vẫn lấy “miếng trầu là đầu câu chuyê ̣n”
- Mă ̣t hàng gia súc, gia cầm: gồm thi ̣t lợn, thịt gà, thịt vịt, thịt bò Trước đây,
trong bữa ăn hàng ngày của người Quảng xưa thường chỉ có cá mắm , rau cà chứ hiếm khi có thi ̣t, vì thế thịt bày bán ở chợ chủ yếu phục vụ cho dịp lễ hội , tiê ̣c tùng,
ma chay, cướ i hỏi, đă ̣c biê ̣t là trong di ̣p tết cổ t ruyền, mă ̣t hàng này mới đươ ̣c buôn bán nhộn nhịp Tuy nhiên, ngày nay kinh tế phát triển, đời sống được nâng cao và con người cũng có nhu cầu thưởng thức nhiều món ăn khác nhau nên thịt trở thành một mặt hàng thiết yếu ở chợ Hội An
- Mặt hàng ăn uống chế biến sẵn: giống bao ngôi chợ khác, chợ Hội An bán
nhiều các đặc sản vùng như Cao Lầu, mỳ Quảng, các loại bánh đậu xanh, dừa với giá thành rẻ nhưng rất ngon được nhiều du khách ưa chuộng và chọn làm nơi ăn uống thay vì các nhà hàng trong phố
* Nhóm mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
Trang 32Mă ̣t hàng này chủ yếu bao gồm sản phẩm thủ công ngiê ̣p nhằm phu ̣c vu ̣ cho nhu cầu sản xuất và đáp ứng nhu cầu sinh hoa ̣t hằng ngày của người dân
- Nhóm hàng dụng cụ sinh hoạt, công cu ̣ sản xuất, vật liê ̣u xây dựng
Các mặt hàng mây , tre như nong, nia, giần, sàng, thúng, rổ, giò, gùi… là những du ̣ng cu ̣ không thể thiếu của mỗi gia đình Với mây, tre người thợ thủ công tạo đã tạo nên các mặt hàng trúm, nơm, đăng, nò, sa, sịa, nhũi, dâ ̣m… phu ̣c vu ̣ cho hoạt động đánh băt thủy - hải sản
- Nhóm hàng đồ gốm như nồi niêu , ấm trà , hũ, chum, tré, tũn, ông táo , bát hương, bình vôi, siêu, sâu… là những sản phẩm phổ biến trong các gia đình ở Hội
An Mặt hàng này không phải làng nào cũng sản xuất được do đă ̣c trưng về nguồn nguyên liê ̣u Làng gốm Thanh Hà là làng nghề nổi tiếng cung cấp sản phẩm ch o khắp các vùng trong và ngoài Qu ảng Nam Do vi ̣ trí đi ̣a lý hô ̣i đủ các điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho viê ̣c sản xuất , làng gốm Thanh Hà phát triển mạnh từ thế kỷ XVII - XVIII với sự hưng khởi của đô thi ̣ Hô ̣i An Sự nổi tiếng của làng gốm Thanh Hà đươ ̣c thể hiê ̣n qua hàng gốm xuất khẩu sa ng Nhâ ̣t Bản vào nửa đầu thế kỷ XVII như
ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục : “Từ thế kỷ XVII , Hội An đã xuất khẩu được một số hàng gốm , hàng mộc Gốm Cochi (tức Giao Chỉ) mà người Nhật
ưa chuộng có cả gốm Tha nh Hà xứ Quảng” [16;tr.327] Như vâ ̣y, ngoài những mặt
hàng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu hằng ngày người dân địa phương và cả các vùng lân câ ̣n, chợ còn cung cấp một khối lượng hàng hóa phục vụ du lịch và xuất khẩu
- Nhóm mặt hà ng hương liê ̣u , gia vi ̣ phổ biến đường , quế, trầm hương , sa
nhân, đâ ̣u khấu Làm đường là nghề thủ công truyền thống rất lâu đời ở đất Quảng
Vào thế kỷ XVII - XVIII người dân đã dùng phần lớn đất đai để trồng mía : “Vào những năm 1630, người Viê ̣t ở Đàng Trong quá hăng say với viê ̣c sản xuất cho thi ̣ trường tơ và đường của Nhật Bản đến độ đã dành nhiều diê ̣n tích trồng trọt cho cây dâu tằm và mía thay cho cây lúa” [25,tr.133] Có rất nhiều loại đ ường được bán ở
chơ ̣ như đường bát (hay đường tán ), loại đường này màu ngà , rất thông du ̣ng trong
ẩm thực nông thôn xứ Quảng Nấu chè, xôi đường, làm bánh ít ngọt hay bánh nổ , bánh tổ trong các ngày giỗ , ngày tết, hầu hết đều dùng đường bát Ngoài ra quế và
Trang 33tiêu cũng là những hương liệu nổi tiếng của xứ Quảng được bán nhiều ở chợ Hội
An
- Nhóm hàng vật liệu may mặc có lượng lưu thông lớn ở chợ làng với sự
phong phú về chủng loại như lụa, đũi, lãnh, vải hoa, vải thô, vải sợi đôi, vải sợi ba… Ngay từ thời vua Lê Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành lấy lại vùng đất Chiêm Động, Cổ Lũy lưu dân từ vùng Thanh – Nghệ Tĩnh vào đây đã bắt đầu trồng bông kéo sợi Nghề dệt ở Quảng Nam tập trung ở một số làng như Thi Lai, Hà Mật, Phú Bông, Phú An tây, Xuân Đài, La Kham (Diên Phước); Mã Châu, Đông Yên, chợ Chùa (Duy Xuyên), vì thế có nhiều câu ca liên quan đến những địa danh nổi tiếng này Hiện nay, một số làng nghề đã không còn như Đông Yên, Xuân Đài nhưng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải được phục dựng lại tại Hội An Không chỉ là nơi để khách du lịch có thể chiêm ngưỡng quá trình sản xuất lụa ở làng nghề mà lụa Hội An thật sự nổi tiếng và được ưa chuộng bởi sợi tơ tốt, nhỏ, đều sợi, dệt khéo tay, thẳng néo nên mặt lụa dày, chắc, mịn màng Đây là mặt hàng được khách trong và ngoài nước đặc biệt yêu thích
Ngoài ra chợ Hội An còn bán nhiều các sản phẩm may mặc từ các nguồn hàng nhập khẩu và lấy từ các vùng khác trong cả nước
Nhìn chung, cơ cấu mặt hàng ở chợ Hội An về đại thể đều là sản phẩm của nền kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp Một mặt, các mặt hàng này phục vụ cho cuộc sống địa phương, mặt khác, đó cũng là nguồn hàng và tài nguyên quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của thành phố
1.2.3.7 Thành phần buôn bán ở chợ
Thành phần buôn bán ở chợ chủ yếu là thương nhân chuyên nghề buôn bán Phần lớn nguồn gốc xuất thân của họ là từ những người nông dân - thợ thủ công có thêm nghề buôn bán phụ trợ hoặc người không có ruộng khẩu phần phải lấy buôn
bán làm nghiệp sống Ban đầu họ cũng chỉ “buôn thúng bán mẹt”, qua thời gian
nhờ khéo léo, nhanh nhẹn lại gặp thời vận, họ dần tích lũy được số vốn cùng với kinh nghiệm và trở thành những người buôn bán chuyên nghiệp Ngoài những thương nhân buôn bán ở các sạp hàng cố định, có một phần trong số họ trở thành
Trang 34những lái buôn, hoạt động buôn chuyến trên địa bàn rộng lớn Họ lấy hàng từ đầu mối và phân phối ở chợ làng Đầu mối hàng hóa có thể ở ngay tại làng, các vùng lân cận trong tỉnh hay các tỉnh khác như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Đồng Nai,
Đà Lạt… Việc buôn bán của họ ngoài đường bộ còn có đường thủy Mặc dù thuận tiện nhưng so với đường bộ thì việc đi lại trên sông nước phải chấp nhận sự may rủi lớn Do vậy đòi hỏi người đi buôn, bên cạnh những tố chất cần có của người trong
nghề, cần phải có sự can đảm và liều lĩnh, vì thế nên mặc dù đi buôn chuyến là “một vốn bốn lời” nhưng không phải ai cũng làm được Trong thời kì kinh tế hàng hóa
phát triển, đây là một bộ phận rất quan trọng để thu gom hàng hóa về các chợ đầu mối và thương cảng
Người tham gia hoạt động buôn bán ở chợ cũng rất đa dạng Trong khi nam giới chuyên buôn chuyến thì việc buôn bán ở chợ chủ yếu là phụ nữ, bởi đặc tính
lanh lợi, kiên nhẫn, khéo ăn, khéo nói phù hợp với đặc trưng của công việc là “cò kè bớt một thêm hai” Ngoài đặc tính tự nhiên đó, do xuất phát dưới thời phong kiến, địa vị của người phụ nữ không được coi trọng; đồng thời trong “tứ dân” sĩ, nông,
công, thương thì thương nghiệp vẫn bị xếp sau cùng, vì thế nghiệp buôn bán được
coi là “nghề mạt” và thuộc về phụ nữ, điều đó được xem như điều hiển nhiên trong
một xã hội lấy Nho giáo làm nền tảng Dù vậy, việc buôn bán ở chợ lại là tiêu chuẩn
để người ta đánh giá người phụ nữ với câu “Trai khôn chọn vợ chợ đông”, điều này
phản ánh tính mâu thuẫn trong cách suy nghĩ của người Việt xưa kia
Một bộ phận buôn bán không nhỏ ở chợ là người Hoa Với tài buôn bán
“thượng vàng hạ cám”, người Hoa chiếm lĩnh thị trường ở Hội An khá đông,
thương nhân người Hoa chiếm đa số; họ cũng không ngừng mở rộng phạm huy hoạt động của mình ra các chợ vùng ven và chợ lớn trong tỉnh Những mặt hàng của người Hoa đa số đều bán rất đắt khách và luôn tạo được thương hiệu nhất định ở Hội An
1.2.4 Đóng góp của chợ Hội An
1.2.4.1 Trên lĩnh vực kinh tế
Trang 35Người xưa có câu “chợ tàn thì làng mạt” Chợ là một trong những thiết chế
thương mại phản ánh rõ ràng nhất mọi mặt của địa phương, muốn biết đời sống kinh tế của vùng đó như thế nào, đời sống nhân dân có khá giả, ăn nên làm ra hay không người ta nhìn vào chợ
Trên lĩnh vực kinh tế, đóng góp quan trọng nhất của chợ làng đó là phá vỡ
nền kinh tế kép kín trên cơ sở liên kết, giao thương hai chiều giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược Trong quá trình đó, các sản phẩm nền kinh tế tiểu nông, nhất là những sản vật, sản phẩm đặc trưng của mỗi làng, mỗi vùng có điều kiện giao lưu, trao đổi sản phẩm với các vùng miền khác, tạo nên mối quan hệ tác động qua lại giữa hoạt động nông nghiệp - thủ công nghiệp với thương nghiệp
Trước hết, khi thương nghiệp phát triển, hệ thống chợ được mở rộng về quy
mô và số lượng sẽ kích thích hoạt động sản xuất tăng lên không ngừng Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đặc biệt là để tăng sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm với các làng nghề khác, các tỉnh khác và thu hút thương nhân ngoại quốc, các làng nghề đã không ngừng nỗ lực cải tiến, hoàn thiện sản phẩm của mình, thông qua đó nhiều mặt hàng đã khẳng định được vị trí trên thị trường trong, ngoại tỉnh và có mặt hàng còn nổi tiếng ở nước ngoài Mặc dù chỉ tồn tại là tư cách là một ngành kinh tế phụ chưa tách khỏi nông nghiệp nhưng thủ công nghiệp Quảng Nam nói chung, Hội
An nói riêng đã tạo ra những mặt hàng nổi tiếng về chất lượng và mẫu mã
Sự phát triển của hoạt động sản xuất của nông nghiệp và t hủ công nghiệp trở thành tiền đề cho sự ra đời và phát triển của làng nghề cả về quy mô và số lượng ; thông qua đó, thúc đẩy nền kinh tế tiểu nông từ khép kín chuyển sang nền kinh tế có
xu hướng mở Sự phát triển của gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng không chỉ trong nước mà còn ở quốc tế là minh chứng cho điều đó
Trên lĩnh vực đời sống , thông qua tác đô ̣ng về mă ̣t kinh tế , chợ đã góp phần
đáng kể trong viê ̣c nâng cao đời sống của nhân dân Trướ c hết sự phong phú về chủng loại, mẫu mã, giá cả của các loại hàng hóa ở chợ cho phép các tầng lớp nhân dân trong xã hô ̣i có thể lựa cho ̣n những sản phẩm phù hợp với nhu cầu và điều k iê ̣n
Trang 36của mình Bên ca ̣nh đó , sự mở rô ̣ng và phát triển của chợ đã mang đến nguồn thu nhâ ̣p cho những người sản xuất , tầng lớp thương nhân Trong nền kinh tế hàng hóa như hiện nay, những món lợi từ hoạt động buôn bán ở chợ góp phần cải thiện không nhỏ chất lượng đời sống của người dân
1.2.4.2 Đối với chính trị và xã hội
Bằng những đóng góp trực tiế p về mă ̣t kinh tế , chợ đã gián tiếp tác đô ̣ng đến lĩnh vực chính trị – xã hội, bởi sự phát triển về kinh tế sẽ đưa la ̣i sự ổn đi ̣nh về chính trị Dưới thời phong kiến, Quảng Na m luôn đảm bảo vai trò là hâ ̣u phương của kinh đô Phú Xuân , tăng cường tiềm lực kinh tế , quân sự để ho ̣ Nguyễn đủ sức đương đầu với chúa Tri ̣nh ở Đàng Ngoài Đồng thời, Quảng Nam cũng luôn hoàn thành vai trò là lá chắn vững chắc ở phía nam cho triều đình trong nhiều thế kỷ , nhờ
vâ ̣y mà tình hình chính tri ̣ trong nước được ổn đi ̣nh hơn
Mă ̣t khác, sự phát triển của Hội An từ thế kỉ XVI - XIX đã có tác đô ̣ng nhất
đi ̣nh đến chính sách của nhà nước đối với thương nghiê ̣p Triều đình đã thiết lâ ̣p các đồn canh và sở tuầ n ty ở gần những chợ lớn (Hải Châu, Ái Nghĩa, Vĩnh Điện, Hà Lam, Tam Kỳ ) mô ̣t mă ̣t để kiểm soát hoa ̣t đô ̣ng buôn bán , mă ̣t khác nhằm mu ̣c đích thu thuế, bởi trong mô ̣t nền kinh tế tiểu nông thì thuế thương nghiê ̣p luôn mang la ̣i nguồn lơ ̣i lớn cho triều đình
Hiện nay, với sự phát triển của chợ Hội An, chất lượng cuộc sống được nâng cao, người dân tập trung buôn bán và làm kinh tế nên tình hình an ninh được đảm bảo, tệ nạn xã hội ít xảy ra Tình trạng móc túi, cướp giật ở Hội An dường như rất
ít, vì thế Hội An luôn là điểm đến an toàn, tin tưởng cho du khách trong và ngoài nước
1.2.4.3 Đối với văn hóa
Bên ca ̣nh những đóng gó p về mă ̣t kinh tế , chợ còn là một trong những thiết chế văn hóa của đi ̣a phương phản ánh đă ̣c trưng đời sống văn hóa , phong tục tâ ̣p quán của vùng đất, con người Văn hóa là mô ̣t pha ̣m trù rô ̣ng lớn , ở đây có thể hiểu
“văn hóa chợ” bao gồm c ung cách ứng xử , quan niê ̣m, tâ ̣p tu ̣c và những sinh hoa ̣t
văn hóa mang tính truyền thống được tổ chức ở chợ
Trang 37Khi nói đến văn hóa chơ ̣ , người ta mă ̣c nhiên thừa nhâ ̣n những cung cách
ứng xử giữa người bán và người mua như hiện tươ ̣ng “nói thách” và “mặc cả” Với tâm lý “ trăm người bán” có đến “ vạn người mua” , người bán hàng có thể “ nói thách” sao cho món hàng của mình bán được giá cao nhất có thể , còn người mua coi “trả giá” là tiêu chí để đ o khả năng nha ̣y bén với chất lượng và giá tri ̣ hàng hóa của mình, vì thế ở chợ thường có hiện tượng “ cò kè bớt một thêm hai” giữa người
bán và người mua, để rồi kết quả là một khi món hàng đã được bán đi rồi, người bán
có lợi và người mua cũng không chịu thiệt thòi Tuy nhiên, hiê ̣n tượng “nói thách”,
“trả giá” này rất ít ở chợ Hội An Có người khi bán mấy chục năm trời vẫn bán một
mă ̣t hàng, mô ̣t góc ngồi, người mua bán biết tính ý n hau nên không cò kè trả giá… đó là nét văn hóa ứng xử mang đâ ̣m tính chất phác , thâ ̣t thà, hồn hâ ̣u của người dân xứ Quảng
Chơ ̣ chính là nơ i để mỗi người dân H ội An gởi gắm tâm tư , tình cảm của mình Những người nông dân q uanh năm bâ ̣n bi ̣u với công viê ̣c mùa màng , chỉ khi
đi chơ ̣, gă ̣p gỡ những người quen biết ho ̣ mới có thời gian trải lòng mình, tâm sự với nhau từ những chuyê ̣n liên quan đến sản xuất , đến những chuyện buồn vui trong gia đình, chuyê ̣n bà con chòm xóm… Mă ̣c khác chợ còn là nơi để gởi gắm thông tin , mỗi khi có mô ̣t gia đình trong dòng ho ̣ nào tổ chức lễ cúng hay những viê ̣c hiếu sự , cưới hỏi thường phải báo tin cho những thành viên trong dòng ho ̣ biết , thì chợ chính
là kênh thông tin lan tỏa nhanh , hiê ̣u quả nhất Chẳng thế mà dưới thời phong kiến , những luâ ̣t vê ̣ và thông cáo của triều đình ban ra đều được dán ở chợ ; hoă ̣c những
kẻ phạm trọng tội đầu bị bêu giữa chợ vớ i mu ̣c đích thông cáo, lấy đó làm gương để răng đe dân chúng
Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng “… chợ không chỉ nằm trong phạm trù kinh tế đơn thuần, nó còn biểu hiện văn hóa rất đậm nét Yếu tố giao lưu tình cảm thì ai cũng rõ rồi nhưng phải thấy rằng chợ cũng luôn gắn liền với các biểu tượng văn hóa Việt Nam, gắn với nhu cầu tâm linh của người Việt Chợ không chỉ biểu thị mối quan hệ ứng xử giao đãi theo chiều ngang mà còn biểu thị mối quan tâm theo chiều dọc nội tâm nữa Đây là đặc điểm tự cân bằng, tự thích ứng rất mềm dẻo hài
Trang 38hòa của dân tộc Việt Nam Mọi việc mua bán sinh hoạt của người trần đều diễn ra dưới sự chứng giám của thần linh và của thiết chế xã hội …” [16;tr.369] Chơ ̣ Hô ̣i
An cũng không là ngoa ̣i lê ̣ Chợ cũng chính là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của cư dân ở chợ
Quan niê ̣m về ngày tốt , ngày xấ u, ngày chẵn , ngày lẻ được đă ̣t theo quan niê ̣m chung của người Viê ̣t:
Mồng năm, mươ ̀ i bốn, hăm ba,
Đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn
Vào dịp đầu năm , người buôn bán luôn coi tro ̣ng lấy ngày để mở hàng , đi
chơ ̣ Người Quảng Nam quan niê ̣m “ mùng bốn tết ma , mùng ba tết người” vì thế
hầu hết các chợ đều cho ̣n ngày mồng ba âm li ̣ch là ngày mở hàng , mở chợ Vì hai ngày đầu năm mới người ta kiêng mở hàng vì nếu lỡ không may mắn sẽ ảnh hưởng đến việc làm ăn của cả năm , mô ̣t phần người ta dành những ngày đó để nghỉ ngơi , vui chơi sau mô ̣t năm lao đô ̣ng vất vả
Ngoài ra , khác với nh ững chợ khác , chơ ̣ Hô ̣i An không có đi ̣a điểm thờ cúng tâ ̣p trung ngay trong chợ như miếu thờ , am thờ, … Người dân ở chợ Hô ̣i An thể hiê ̣n niềm tin của mình bằng viê ̣c cúng bái , thắp hương, cầu buôn may bán đắt ở nhà hoặc tại các ngô i chùa thiêng ở Hô ̣i An như : Chùa Ông, Chùa Phúc Kiến , … Bởi lẽ ngay ca ̣nh chợ Hô ̣i An đã có các di tích thờ cúng rất linh thiêng , mặt khác đây cũng là quy đi ̣nh của chợ trong công tác phòng chống chữa cháy , là công tác của chợ trong việc xây dựng chợ đạt chuẩn văn minh Thế nên, tín ngưỡng thờ cúng của dân cư chợ Hội An thể hiện rõ ở việc thờ cúng ở nhà , ở chùa và cúng tất niên đầu năm ở chợ
Thường các gia đình người Viê ̣t vào di ̣p cuối năm có tục cúng tất niên, viê ̣c cúng này diễn ra ở nhà và cả nơi làm viê ̣c Ở chợ Hội An, Ban quản lý chợ cho phép các chủ quầy hàng cúng t ất niên tập trung , cúng bái ở trước chợ (ngay khu vực Giếng Mái – đường Trần Phú ) và đốt vàng mã ở khu vực phía sau , ngay bờ sông Ban quản lý cũng có cúng và cúng riêng
Trang 39Thường thì những quầy hàng cùng kinh doanh ta ̣i mô ̣t đi ̣a điểm hoă ̣c kinh doanh cù ng mô ̣t mă ̣t hàng tổ chức cúng tâ ̣p trung Mọi người cùn g đóng góp tiền mua lễ vâ ̣t, cùng nhau chuẩn bị đồ cúng , bàn cúng, mâm cúng và cử đa ̣i diê ̣n cúng Người đa ̣i diê ̣n cúng t ất niên có thể là một vị cao niên là người nhà của một người bán trong chợ, hoă ̣c là người bán trong chợ nhưng lớn tuổi, hoă ̣c là người được mo ̣i người tôn kính Lễ cúng thường gồm hai mâm , mâm cao thờ thần: thờ Bà và Thổ thần Tục cúng Bà là biểu hiện của tục thờ M ẫu của cư dân người Việt Nhiều ngườ i
ở chợ biết đến tụ c này và làm theo chứ không biết nguồn gốc , chỉ biết rằng trong mâm cúng tất niên chợ phải có lễ cúng Bà để Bà phù hộ cho việc buôn bán Lễ vâ ̣t
là một bộ đồ Bà , mô ̣t bô ̣ đồ Thổ thần và các đồ cúng như bánh ngo ̣t , trái cây, giấy,
áo, pháo, muối, nổ Mâm dưới có đồ ăn mặn dùng để cúng cô h ồn, cô bác - những người chết đường, chết chợ Ngoài ra còn có lư hương, đèn cầy, lọ hoa, trầm hương, Sau khi chủ lễ cúng bái thì mỗi người đều thắp hương cầu khấn, và phân người ra khu vực bờ sông đốt giấy
Cúng tất niên ở chợ là để cảm tạ thần linh đã phù hộ cho công việc mua bán thời gian qua và cầu buôn may bán đắt , cầu đường đi chơ ̣ luôn bình an , suôn sẻ, không gă ̣p trở nga ̣i cho năm sau Cúng tất niên chợ là d ịp tốt nhất để mọi người trong chơ ̣ g ặp gỡ, quây quần bên nhau , cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất khi khởi đầu một năm mới mà những ngày thường đôi khi ít gần gũi nhau vì ai cũng bận rộn với công việc buôn bán
Như vâ ̣y , ngoài những đóng góp quan trọng về mặt kinh tế – đời sống, và chính trị – xã hội, chơ ̣ còn là không gian mở mà ở đó những nét đặc trưng của văn hóa – cái mà người ta quen gọi là văn hóa chợ , có điều kiện tồn tại và phát triển , nó vừa góp phần phản ánh nét văn hóa riêng của vùng đ ất, vừa làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tô ̣c Qua đó, chứng minh cho tính thống nhất và đa da ̣ng trong văn hóa của Viê ̣t Nam
Tiểu kết chương 1
Chợ là một kiểu tổ chức hoạt động kinh tế, vừa là một dạng sinh hoạt văn hóa chứa đựng bản sắc của dân tộc Ở Việt Nam, từ sớm đã xuất hiện chợ Chợ là
Trang 40bức tranh phản ảnh đời sống chính trị, xã hội Ngoài phản ánh bộ mặt kinh tế qua số lượng hàng hóa, chủng loại vật phẩm, chợ còn là điểm nhìn để biết tình hình xã hội Trong tâm thức người Việt, chợ còn là nơi gửi gắm những trăn trở, tình cảm bình dị, chân thành
Chợ Hội An ra đời cùng với sự thành lập làng của cư dân Qua những thăng trầm của thời gian, lịch sử chợ gắn với sự thịnh suy của cảng thị Chợ ở vị trí ven sông và chịu sự quản lí của chính quyền địa phương Cách bố trí hàng hóa khiến chợ Hội An mang nét gần gũi với các chợ quê khác trên đất nước Việt Nam Hàng hóa ở chợ phong phú, đa dạng mang tính đại diện cho những đặc trưng của vùng đất
từ hàng nông sản, may mặc đến dụng cụ lao động sản xuất hay đồ mỹ nghệ Chợ Hội An có đóng góp lớn trên tất cả các mặt của đời sống dân cư Về mặt kinh tế chợ góp phần tạo nên mối quan hệ qua lại giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp với thương nghiệp Trên lĩnh vực đời sống, chợ góp phần nâng cao đời sống của nhân dân Ngoài ra, chợ còn là nơi sinh hoạt văn hóa của cư dân vùng đất Những cung cách ứng xử, quan niệm, tập tục và sinh hoạt văn hóa truyền thống được tổ chức và duy trì ở chợ
Là một yếu tố cấu thành nên giá trị của vùng đất di sản, chợ hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thành phố nói chung và của ngành du lịch địa phương nói riêng Chợ đóng vai trò như một tài nguyên du lịch thu hút khách, là đơn vị cung cấp sản phẩm cho các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố, ngoài ra chợ còn góp phần vào sự phát triển bền vững của du lịch Dù ở góc độ nào, những đóng góp ấy đều mang lại những lợi ích không hề nhỏ cho ngành du lịch