Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã ninh hiệp huyện gia lâm thành phồ hà nội
Trang 1W ' I|fl
BỘ YTẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẠNH
KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG THUỐC Y HỌC
CỔ TRUYỀN XÃ NINH HIỆP - HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHổ HÀ NỘI
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược s ĩ KHOÁ 1998 - 2003)
Người hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thị Thanh Hương
Th.s Nguyễn Mạnh Tuyển Nơi thực hiện : - Xã Ninh Hiệp - huyện Gia Lâm
Thành phố Hà Nội.
- Bộ môn Quản Lý và Kinh Tế Dược Thời gian : 01/3 - 28/5/2003.
Trang 2T h ạ c s ĩ N g u y ễ n M ạ n h T u yển - Bộ môn Dược học cổ truyền
đã nhiệt tình chỉ bảo hướng dẫn và giúp đõ tôi trong suốt quá trình làm khoá luận tốt nghiệp.
Tôi củng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Các thầy cô Bộ môn Quản lý và K inh TếDược.
UBND xã N inh Hiệp.
Các hộ gia đình hành nghề ch ế biến và kinh doanh thuốc Y học cổ truyền thôn 8- xã N in h Hiệp.
Cùng toàn th ể các thầy cô, các cán bộ phòng ban Trường đại
học Dược Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình học tập tại trường Các anh chị em, bạn bè thân thiết đã giúp
đỡ tôi rất nhiều trong học tập Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ kính yêu, người đã nuôi dưỡng, dạy bảo và chăm
lo cho tôi trong cuộc sông và học tập.
Hà Nội ngày 28 tháng 05 năm 2003.
S in h viên.
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam ơn .— — - —
Mục lục
Đặt vấn đề — 1
1.1 Khái niệm Thuốc Y học cổ truyền 2
1.2 Vai trò của thuốc YHCT 2
1.3 Tình hình sử dụng YHCT ở một số nước trên thế giới 3
1.4 Nền YHCT ở Việt Nam 5
1.4.1 Nguồn gốc và những bước tiến của y dược học cổ truyền trong sự phát triển của lịch sử đất nước 5
1.4.2 Công tác kế thừa và thúc đẩy sự phát triển y dược học cổ truyền trong những năm gần đây 7
1.4.3 Các văn bản quản lý của nhà nước trong lĩnh vực hành nghề YHCT 7 8
1.4.4 Sử dụng thuốc YHCT và đặc điểm thị trường thuốc YHCT ở Việt Nam 9
1.5 Đôi nét về xã Ninh Hiệp - huyện Gia Lâm - Thành phố Hà Nội 11
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 13
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1 Xác định cỡ mẫu 13
2.2.2 Cách chọn mẫu 14
2.3 Phương pháp thu thập số liệu 14
2.3.1 Bộ câu hỏi in sẵn (Phụ lục 3) 14
2.3.2 Phỏng vấn trực tiếp và ghi chép tại chỗ 14
Trang 42.3.3 Quan sát trực tiếp 14
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 14
2.4.1 Xử lý số liệu thô 14
2.4.2 Phương pháp tỷ trọng (Tính tỷ lệ %) 14
2.4.3 Xử lý số liệu bằng phần mềm Epi Info 6.04 14
Phần 3: Kát quả nghiên cúu - - - - - 15
3.1 Đặc điểm nguồn nhân lực tham gia kinh doanh 15
3.1.1 Đặc điểm giới tính 15
3.1.2 Trình độ của người phụ trách kinh doanh 17
3.2 Đặc điểm nguồn mua 18
3.2.1 Nguồn m ua 18
3.2.2 Tỷ lệ thuốc Bắc và thuốc Nam 19
3.3 Đặc điểm nguồn bán 20
3.4 Vốn - chi phí - lãi từ hoạt động kinh doanh 24
3.4.1 Vốn trong kinh doanh 24
3.4.2 Chi phí cho hoạt động kinh doanh: 26
3.4.3 Lãi từ hoạt động kinh doanh 27
3.5 Công tác đảm bảo chất lượng thuốc 29
3.5.1 Kiểm tra chất lượng đầu vào 29
3.5.2 Chế biến thuốc YHCT 32
3.5.3 Tái chế thuốc YHCT 32
3.6 Công tác quản lý của nhà nước 34
Phần 4: _ - - 36
Kết luận và đề xuất _ - 36
4.1 Kết luận 36
4.2 Đề xuất 37
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Phụ lục 3
Phụ lục 4
Tài liẹu tham khảo
Trang 5Những nghiên cứu gần đây trên thế giới cho thấy phần đông dân chúng quan niệm rằng thuốc cổ truyền có nguồn gốc từ thiên nhiên nên việc sử dụng
sẽ an toàn, không gây những phản ứng có hại nguy hiểm [13], hơn nữa thuốc
cổ truyền có giá trị đặc biệt trong điều trị một số bệnh mạn tính như: bệnh đường tiêu hoá, đường hô hấp trên, đường tiết niệu, bệnh xương khớp và bệnh ngoài da Vì thế nhu cầu sử dụng ngày càng tăng, thuốc cổ truyền phát triển mạnh và việc kinh doanh thuốc cổ truyền đang diễn ra sôi động, từ đó hình thành một số trung tâm buôn bán Ninh Hiệp là một trong số ít các trung tâm buôn bán lớn, đóng vai trò cung cấp thuốc và nguyên liệu thuốc y học cổ truyền cho thị trường Hà Nội và cả nước Tại đây, thuốc được bán buôn, bán
lẻ, chủng loại nhiều, giá cả không ổn định, đối tượng kinh doanh là hộ gia đình nông nghiệp Thị trường thuốc chủ yếu do tư thương điều tiết, việc quản
lý của các ngành các cấp chưa chặt chẽ, công tác đảm bảo chất lượng gần như
bị thả nổi và còn rất nhiều điều cần được biết nên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Khảo sát thị trường thuốc y học cổ truyền xã Ninh Hiệp -
huyện Gia Lâm - Thành phô'Hà Nội” với mục tiêu:
Mô tả thực trạng hành nghề chế biến và kinh doanh thuốc y học cổ truyền tại xã Ninh Hiệp
Phân tích một số đặc điểm từ đó đưa ra kiến nghị góp phần quản
lý tốt hơn việc hành nghề chế biến và kinh doanh thuốc y học cổ truyền tại Ninh Hiệp nói riêng và trong cả nước nói chung
Trang 6PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm Thuốc Y học cổ truyền.
- Y học cổ truyền (YHCT) là toàn bộ kiến thức, kỹ năng và thực hành dựa trên lý luận lòng tin, kinh nghiệm vốn có của những nền văn hoá khác nhau, dù đã được giải thích hay chưa, nhưng được sử dụng để duy trì sức khoẻ cũng như để phòng bệnh, chẩn đoán cải thiện hoặc điều tri tình trạng ốm đau
về thể xác hoặc tinh thần [1]
- Thuốc y học cổ truyền: Là một vị thuốc (thuốc sống hay chín) hoặc một chế phẩm thuốc được chế từ một hay nhiều vị thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật hay khoáng vật có tác dụng điều trị hoặc có lợi cho sức khoẻ con người [17]
1.2 Vai trò của thuốc YHCT
Tổ chức Y tế thế giới khẳng định: "Không cần phải chứng minh lợi ích của YHCT mà cần phải đề cao và khai thác rộng hơn nữa những khả năng của
nó có lợi cho nhân loại, phải đánh giá và công nhận theo đúng giá trị của nó
và làm hữu hiệu hơn, chắc chắn hơn và rẻ hơn để sử dụng nhiều hơn"[l 1].Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, có đến 80% dân số thế giới hưởng ứng việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu bằng YHCT Hầu hết số này hiện đang sử dụng các thuốc từ thảo dược Việc sử dụng YHCT ở các nước đang phát triển ngày càng tăng Vì sao vậy? Dân số tăng, Chính phủ các nước muốn khuyến khích sử dụng các thuốc bản địa hơn là phụ thuộc vào thuốc nhập khẩu và có những bước tiến mạnh mẽ nhằm phục hồi nền văn hoá truyền thống [1]
Trang 71.3 Tình hình sử dụng YHCT ở một số nước trên thế giới.
Nhìn chung, lịch sử phát triển nền y học của các nước đều bắt đầu từ nền YHCT của từng dân tộc YHCT đến nay vẫn luôn tồn tại và phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Ở các nước nghèo, YHCT vẫn là phương pháp cổ điển cơ bản trong diều trị bệnh cho ngưòi dân Còn ở các nước phát triển, YHCT đã trở thành phương pháp hỗ trợ tích cực trong phòng và điều trị bệnh [10]
Ở các nước Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh đặc biệt là ở các bộ lạc, người
dân từ lâu đã biết dùng cây thuốc có sẵn tại nơi sinh sống của mình để phòng
và chữa bệnh thông thường cho cộng đồng [16]
Nhật Bản với lịch sử nền YHCT trên 1.400 năm, được xem là nước có tỷ
lệ người sử dụng YHCT cao nhất trên thế giới hiện nay Việc khám chữa bệnh bằng YHCT ở Nhật Bản được quản lý chặt chẽ Các phòng khám được xây dựng một cách quy mô, có thêm trang thiết bị hiện đại Ngoài dạng thuốc thang, còn có nhiều sản phẩm thuốc cổ truyền có chất lượng đã được tiêu chuẩn hoá và kiểm tra Thuốc cổ truyền Nhật Bản là sự kết hợp giữa thuốc cổ truyền Trung Quốc và thuốc dân gian Nhật Bản gọi chung là Kampo Tính từ
năm 1974 đến 1989, sử dụng các loại thuốc YHCT ở Nhật Bản đã tăng 15 lần, trong khi đó các loại tân dược chỉ tăng 2,6 lần Khoảng trên 65% bác sỹ ở
Nhật Bản khẳng định họ đã sử dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT và thuốc hiện đại [5] Ở Nhật Bản không có thuốc trôi nổi trên thị trường, kể cả dược liệu Tất cả các công ty Dược liệu đều có xưởng chế biến dược liệu thành thuốc sống, thuốc chín với đầy đủ phương tiện để kiểm tra chất lượng Chính
nhờ sự quản lý tốt như vậy mà thuốc cổ truyền ở đây có chất lượng rất tốt và
được người dân tin dùng Để đảm bảo sử dụng thuốc cổ truyền an toàn, Nhật Bản có mạng lưới theo dõi phản ứng có hại từ bệnh viện, hiệu thuốc đến nhà sản xuất, thực hiện theo dõi tốt khâu hậu mại [23]
Trang 8Ở khu vực Đông Nam Á, các nước Indonesia, Malaysia, Thái Lan có truyền thống sử dụng YHCT trên toàn quốc Từ năm 1950 đến năm 1980, YHCT của Thái Lan hầu như bị tê liệt hoàn toàn do coi trọng phát triển y học hiện đại quá mức, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân Từ năm 1980, Chính phủ và ngành y tế Thái Lan đã kịp nhận ra sai lầm này và có biện pháp hữu hiệu khôi phục lại nền YHCT cũng như khẩn trương thiết lập chính sách phát triển thuốc cổ truyền trên phạm vi toàn quốc [11].
ở Mỹ có đến 40% dân số sử dụng thuốc YHCT, số tiền hàng năm sử dụng cho YHCT lên đến 2,7 tỷ đô la trong đó giá trị của các đơn thuốc YHCT
là 1,6 tỷ đô la và vẫn đang tiếp tục tăng [1] Nghiên cứu gần đây cho thấy, 70% dân số Đức nói rằng họ đã từng có lần sử dụng các thuốc có nguồn gốc thiên nhiên và hầu hết người dân Đức xem thuốc thảo dược là sự lựa chọn đầu tiên khi cần điều trị những bệnh nhẹ Đức chiếm thị phần lớn nhất với 39% thị trường thuốc thảo dược toàn Châu Âu Tiếp theo là Pháp (29%), Italia (7%), Balan (6%), Anh (6%) [12]
Từ vài ngàn năm nay, YHCT Trung Quốc đã có những đóng góp to lớn vào sự phồn thịnh của đất nước Với bản sắc riêng, hiệu quả điều tĩị nổi bật, các phương pháp chẩn đoán độc đáo cùng với hệ thống lý luận chặt chẽ, YHCT Trung Quốc có giá trị như một bộ phận thiết yếu trong kho tàng kiến thức y học của nhân loại Sức sống của nó không hề bị suy giảm, mà ngày càng phát triển theo thời gian Nước CHND Trung Hoa thành lập, YHCT Trung Quốc đã khôi phục vị trí và đạt được nhiều thành tựu: các bệnh viện, viện YHCT được xây dựng khắp các tỉnh thành, đáp ứng được nhu cầu điều trị của người dân, Trung Quốc trở thành quốc gia duy nhất trên thế giới sử dụng kết hợp Đông Tây y ở mọi cấp y tế Dược điển Trung Quốc hiện đã có 784 chuyên luận về thuốc cổ truyền Năm 1995, Trung Quốc đã có 2.522 bệnh viện YHCT với 353.373 nhân viên y tế và 236.060 giường bệnh Những bệnh
Trang 9hàng năm Đồng thời 95% các bệnh viện đa khoa ở Trung Quốc có khoa
YHCT, hàng ngày điều trị khoảng 20% bệnh nhân ngoại trú [11] Năm 1995, tổng giá trị các loại thuốc cổ truyền ở Trung Quốc đạt 17,57 tỷ nhân dân tệ (NDT), tăng 212,6% so với năm 1990, trong đó riêng xuất khẩu dược liệu đạt hơn 2 tỷ đô la Mỹ [5]
Đến nay, Trung Quốc sử dụng khoảng 2.500 loài thảo dược, doanh thu từ các hoạt động thuốc cổ truyền tăng gấp đôi 5 năm trước [1] Có thể nói, nền YHCT Trung Quốc đang phát triển rất mạnh và có nhiều ảnh hưởng đến các nước trên thế giới, có quan hệ gần gũi với Nhật, Mỹ, Anh, Đức, Triều Tiên, Việt Nam
Như vậy, vai trò và giá trị sử dụng của thuốc YHCT trên khắp thế giới thực tế ngày càng được thừa nhận rộng rãi Cùng theo đó là thị trường thuốc YHCT cũng ngày càng lớn mạnh Tuy nhiên, một thực tế tồn tại là quy định pháp lý về thuốc cổ truyền vẫn không có sự tiến triển theo một mô hình quản
lý nào Tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia và quan điểm của họ về thuốc cổ truyền cũng như là thảo dược mà có rất nhiều cách quản lý khác nhau [5] Điều đó ảnh hưởng lớn đến thị trường thuốc cổ truyền đặc biệt là chất lượng thuốc YHCT
1.4 Nền YHCT ở Việt Nam.
1.4.1 Nguồn gốc và những bước tiến của y dược học cổ truyền trong
sự phát triển của lịch sử đất nước.
Nền YHCT nước ta được bắt nguồn từ một nền y học dân gian phong phú kết hợp với lý luận YHCT Trung Quốc Thông qua thực tiễn nhiều đời, các kinh nghiệm được đúc kết thành hệ thống y lý phong phú Mặt khác, các lý luận triết học duy vật cổ đại (Thuyết âm dương, ngũ hành ) lại được các nhà
y học cổ phương Đông vận dụng vào y học trong mọi lĩnh vực từ phòng bệnh đến chẩn trị, bào chế thuốc men, làm đa dạng thêm kho tàng lý luận của YHCT Việt Nam
Trang 10Từ thời Hồng Bàng tới thế kỷ III trước Công nguyên, người Việt Nam Giao Chỉ đã phát hiện những cây thuốc nam: trầu cau, ý dĩ, sắn dây, gừng, riềng, đậu khấu, quế, ích trí, sả, lá lốt, vông nem, xương bồ, đậu voi, mộc hương, hương phụ
Dưới triều Ngô, Lê, Lý các dược liệu đã phát huy tác dụng, năm 1136 vua Lý Trần Tông phát bệnh điên cuồng mình mọc đầy lông dài đã được Minh Không thiền sư chữa khỏi bằng tắm nước bồ hòn [9]
Thời nhà Trần, Phạm Ngũ Lão phụ trách trồng cây thuốc ở Phả Lại để tự túc thuốc men không phụ thuộc vào thuốc Trung Quốc Danh y Tuệ Tĩnh đã biên soạn cuốn: “Nam dược thần hiệu” gồm 499 vị thuốc và phương thuốc nam chữa bệnh
Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác đã đúc rút kinh nghiệm chữa bệnh bằng các bài thuốc cổ truyền qua bộ sách khổng lồ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”
Đất nước bị chia cắt do Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhân dân điêu đứng, thái y viện tăng cường phòng dịch ở các địa phương, Nam dược cục thành lập
đã mời các lão y về nghiên cứu thuốc Nam đứng đầu là lương y Nguyễn Hoành, ông đã biên soạn 500 vị thuốc cỏ cây ở địa phương và 130 vị về các loại cá chim thạch của đất nước
Nền YHCT bị chèn ép thòi Pháp sau khi đất nước giành độc lập đã vươn lên Trong thư gửi cán bộ ngành y tế ngày 27/2/1955 Bác Hồ đã căn dặn: “Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta và thuốc Bắc, để mở rộng phạm vi y học các cô chú cũng nên chú trọng nghiên cứu phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây” [17]
Trang 111.4.2 Công tác kế thừa và thúc đẩy sự phát triển y dược học cổ truyền trong những năm gần đây.
Bộ y tế tập trung đầu tư nâng cấp cả trang thiết bị và trình độ chuyên môn của Viện Dược liệu, Trung tâm nghiên cứu và Phát triển dược liệu trực thuộc Bộ y tế, Trại bảo tồn gen thuốc quý hiếm ở Đà Lạt, Sapa đồng thời đầu tư xây dựng hệ thống các trại nghiên cứu trong cả nước
Viện Dược liệu đã sưu tầm 1.863 loài cây thuốc của 283 họ thực vật, thu thập gần 8.000 tiêu bản của 1.296 loài Viện đã biên soạn nhiều tài liệu như danh mục cây thuốc miền Bắc, sổ tay cây thuốc Việt Nam, Danh mục cây thuốc cả nước Ngoài ra, Viện còn di thực giống cây nước ngoài đã nhập và thuần hoá khoảng 70 loài thích nghi và phát triển ổn định trong điều kiện khí hậu Việt Nam [10]
Những cây bạch truật, ngưu tất, sinh địa, đương quy, bạch chỉ, huyền sâm, dương địa hoàng đã có quy trình nhân giống rộng rãi và được trồng đại trà đáp ứng nhu cầu làm thuốc Cho đến nay, Bộ y tế đã tập hợp được gần
40.000 phương thuốc kinh nghiệm, bài thuốc, cây thuốc gia truyền của 12.513 lương y trong cả nước, 179 tác phẩm bằng chữ Hán Nôm, 150 danh y thuộc các triều đại xưa trong đó có nhiều danh y để lại trước tác Dược điển Việt Nam có tiêu chuẩn của 215 cây thuốc cổ truyền, 27 đơn vị thuốc bản địa [1]
Về đào tạo, cả nước có 2 khoa y học cổ truyền thuộc Trường đại học Y
Hà Nội và Trường đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh hàng năm tuyển sinh 50 chỉ tiêu So với trước kia, số lượng người hành nghề YHCT đã tăng đáng kể, tổng số cán bộ y dược học cổ truyền trong cả nước hiện có: 15 giáo sư và 30 phó giáo sư, 35 tiến sĩ và 100 thạc sĩ, 100 bác sĩ chuyên khoa II và 500 bác sĩ chuyên khoa I, 40 bác sĩ nội trú YHCT và 1.938 cán bộ đại học, 5.000 cán bộ trung học và khoảng 10.000 thầy thuốc YHCT hành nghề tư nhân [1]
Trang 121.4.3 Các văn bản quản lý của nhà nước trong lĩnh vực hành nghề YHCT
Đảng và nhà nước rất quan tâm đến sự phát triển của nền YHCT Việt Nam Điều 49, chương III, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam có ghi: “Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khoẻ nhân dân trên cơ sở kết hợp y dược học hiện đại với YHCT” Quán triệt phương châm đó chính phủ đã ban hành nhiều quy định thông tư về việc khuyến khích phát triển và xây dựng YHCT Việt Nam Cụ thể là:
+ Thông tư 05/BYT-TT ngày 15/5/1993 hướng dẫn tổ chức xét cấp giấy chứng nhận chuyên môn Dược học cổ truyền dân tộc
+ Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân do Chủ tịch nước ký ngày 13/10/1993
Nghị định của chính phủ về việc cụ thể hoá một số điều trong pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân ban hành theo quyết định số 06/CP ngày 29/1/1994
- Ngày 2/5/1994 Bộ y tế có thông tư 08/BYT-TT hướng dẫn thực hiện pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân về lĩnh vực YHCT
- Ngày 20/5/1996 TTCP ban hành Nghị quyết số 37/CP về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời gian 1996-2000 và chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam trong đó có chính sách cụ thể về thuốc YHCT
+ Quyết định 577/BYT/QĐ ngày 08/7/1993 - Quy chế tạm thời về nhập khẩu thuốc YHCT
+ Quyết định 371/BYT/QĐ ngày 12/3/1996 - Quy chế đánh giá tính an toàn và hiệu lực thuốc cổ truyền
+Thông tư số 13/1999/TT-BYT ngày 6/7/1999 hướng dẫn thực hiện pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân trong lĩnh vực Y dược học cổ truyền
Trang 13+ Thông tư 20/2000/TT-BYT ngày 28/11/2000 xét cấp giấy chứng chỉ hành nghề y dược học cổ truyền để đăng ký kinh doanh dịch vụ khám chữa bệnh bằng YHCT và kinh doanh thuốc YHCT.
1.4.4 Sử dụng thuốc YHCT và đặc điểm thị trường thuốc YHCT ở Việt Nam.
Ngoài những giá trị đặc biệt điều trị những bệnh mạn tính: đường tiêu hoá, đường hô hấp, tiết niệu, ngoài da, xương khớp người dân còn rất tin tưởng vào hiệu quả điều trị của thuốc YHCT đối với nhiều bệnh thông thường:
ho, cảm cúm, mẩn ngứa, mụn nhọt, suy nhược cơ thể với quan điểm cho rằng
sử dụng thuốc YHCT an toàn, không có tác dụng phụ nguy hiểm [13]
Hơn thế nữa, thuốc YHCT đã được ứng dụng trong điều trị tổn thương sớm do chiếu xạ (Khoa khối u, Bệnh viện Hai Bà Trưng - Hà Nội), điều trị viêm tắc động mạch chi ở thể hàn thấp và thể thấp nhiệt, điều trị dự phòng tăng huyết áp, dự phòng nhiễm độc Trinitrotoluen, ứng dụng điều trị viêm gan mạn, bỏng vôi, đặc biệt là cắt cơn nghiện ma tuý [15] Theo thống kê trước năm 1990 của ngành Dược thì YHCT đã sử dụng khoảng 450 loài cây thuốc, thuộc 116 họ thực vật để chữa trị 60 chứng bệnh khác nhau
Trong cả nước hiện có 5 viện nghiên cứu có giường bệnh, 47 bệnh viện YHCT thuộc Sở y tế tỉnh, thành phố 100% bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và 70% trung tâm y tế quận huyện có khoa hoặc tổ YHCT, có 6.414 phòng chẩn trị đông y tư nhân, 543 cơ sở kinh doanh dược liệu sống và khoảng 179 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc YHCT [1]
Ngoài ra, các đơn vị như Công ty dược liệu TW 1, Công ty dược liệu TW
2, Công ty cổ phần Dược phẩm OPC, Công ty cổ phần 26, Công ty cổ phần Dược phẩm Traphaco, Công ty cổ phần Dược phẩm Nam Hà, Công ty Dược Bảo Long và nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn tích cực tham gia sản xuất các chế phẩm thuốc đông dược
Trang 14Như vậy, nhu cầu thuốc và nguyên liệu làm thuốc cổ truyền của nước ta rất lớn Theo đánh giá của Viện Dược liệu năm 1998 là vào khoảng 30.000 tấn/năm cung cấp cho khối điều trị và khoảng 20.000 tấn/năm phục vụ công nghiệp Dược và xuất khẩu [1] Tuy thế, nguồn nguyên liệu cung cấp từ trong nước ngày càng giảm sút do diện tích trồng cây thuốc, diện tích rừng bị thu hẹp, chủ yếu thuốc và nguyên liệu làm thuốc YHCT được nhập từ Trung Quốc Thị trường thuốc cổ truyền đa dạng (nguồn dược liệu tự nhiên, dược liệu hoang dại, dược liệu nhập khẩu ) gây không ít khó khăn cho các cấp quản lý, đặc biệt thuốc cổ truyền nhập lậu vào Việt Nam còn rất phổ biến Trong những năm gần đây, xu hướng quay trở về dùng thuốc có nguồn gốc dược liệu tăng cao nhằm mục đích tránh tác dụng không mong muốn do thuốc
có nguồn gốc công nghiệp hoá dược đem lại Nhờ đó, việc kinh doanh thuốc
cổ truyền đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn Nhiều doanh nghiệp nhà nước cũng
đã bước đầu có được sự tăng trưởng, ví dụ như Công ty Dược liệu TW 1: Doanh số đầu vào của 3 năm gần đây tăng từ 29 tỷ đồng lên 34 tỷ đồng Trong hơn 2.000 tấn dược liệu nhập hàng năm, khoảng 50% được bào chế thành sản phẩm thuốc đông dược, còn lại chế thành các vị thuốc YHCT phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân của các bệnh viện YHCT
Tuy nhiên, khu vực tư nhân đang nắm giữ vai trò rất lớn trong chế biến, buôn bán thuốc cổ truyền Điều này được thấy rõ qua bảng thống kê tại tỉnh Đăklăk, số lượng dược liệu tiêu thụ trong những năm gần đây như sau [7]:
Bảng 1.1 Số lượng dược liệu (DL) sử dụng tại Đăklăk.
Đơn vị: tấn/nămThời điểm Tổng số DL Nhà nước Tư nhân
Trước 1995 2268,588 2007,488 61,10
Trước 1997 432,58 18,680 112,90
Trang 15Như vậy, vai trò cung ứng và điều tiết thị trường thuốc YHCT của các công ty nhà nước đang bị lu mờ, nhiệm vụ lưu thông phân phối thuốc và nguyên liệu làm thuốc cổ truyền chủ yếu nằm trong tay tư thương Họ điều tiết
về giá cả, chủng loại, trên địa bàn rộng khắp cả nước mặc dù phần lớn họ không hề có trình độ chuyên môn, bằng cấp gì [1] Việc hành nghề trái phép của tư thương trong lĩnh vực buôn bán thuốc cổ truyền đã và đang gây rối chất lượng thuốc trên thị trường thuốc YHCT, làm cho nó ngày càng trở nên nghiêm trọng Một thống kê của khoa Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng (Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội) cho biết: Từ năm 1990 - 1997 chỉ có 32 trường hợp
dị ứng thuốc đông y đến khám nhưng đến năm 1995 - 1997 đã có 87 trường hợp đến khám [14] Sự quản lý về chất lượng thuốc YHCT ngày càng khủng hoảng nếu như không muốn nói là chúng ta đã thả nổi về chất lượng thuốc YHCT Lĩnh vực này đang diễn ra vượt ngoài tầm kiểm soát của Ngành Y tế
và hiện đang là một vấn đề hết sức phức tạp của các cấp ngành chức năng để xây dựng lại một thị trường thuốc cổ truyền lành mạnh, thống nhất và có chất lượng
Hà Nội.
Xã Ninh Hiệp, tên gọi cũ là Phù Ninh thuộc huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh đến năm 1957 đổi thành xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội
Nằm bên quốc lộ 1A, nối liền Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và biên giới Lạng Sơn, Ninh Hiệp là nơi thuận tiện để trung chuyển dược liệu được khai thác trong nước, dược liệu nhập từ Trung Quốc rồi xuất đi các tỉnh trong nước
và nước ngoài
Là một xã nông nghiệp trồng lúa nước gồm 9 thôn, 2.813 hộ gia đình và14.000 nhân khẩu [Nguồn UBND xã Ninh Hiệp] Trước đây, khi đất nước chưa mở cửa, người dân nơi đây chủ yếu trồng thuốc Nam (bán hạ, hoài sơn,
Trang 16địa liền, tía tô, kinh giói ) và chế biến thuốc Bắc với số lượng nhỏ Từ năm
1996, thị trường được thông thương, người dân chuyển sang kinh doanh vải may mặc và buôn bán - chế biến thuốc YHCT với số lượng lớn
Tương truyền, nghề trồng dâu nuôi tằm dệt vải và nghề trồng hái, chế biến, buôn bán thuốc Nam bắt đầu từ thế kỷ 11 do bà cụ Tổ “Nam y thần dược
lý nhũ lão” từ Thanh Hoá đến truyền cho nhân dân trong vùng Hiện nay, nhân dân thờ cúng Bà ở đền Ninh Giang - thôn 8, thể hiện rằng nghề thuốc của nhân dân Ninh Hiệp đã có từ rất lâu đời
Ninh Hiệp đã trở thành một thị trường thuốc YHCT lớn vói khoảng hơn
200 hộ gia đình tham gia kinh doanh thuốc YHCT tập trung ở thôn 8 Số
lượng thuốc tiêu thụ hàng năm ở đây lên đến 2.400 - 2.500 tấh với khoảng hơn
200 vị thuốc thường xuyên được mua bán trên địa bàn xã [13] Có thể nói Ninh Hiệp là một thị trường thuốc YHCT rất lớn, đóng vai trò cung cấp thuốc
và nguyên liệu làm thuốc cổ truyền cho Hà Nội và cho cả nước
Trang 17PHẦN 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ủ u
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ gia đình hành nghề chế biến và kinh doanh thuốc YHCT tại thôn 8 xã Ninh Hiệp
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Thôn 8 - xã Ninh Hiệp - huyện Gia Lâm - Thành phố Hà Nội
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Xác định cỡ mẫu
1 { 1 - 1 )
- Áp dụng công thức: n = Z2(I.a/2)
n : Cỡ mâu cân nghiên cứu
p : Tỷ lệ ước tính dựa trên nghiên cứu thử
d : Độ chính xác tuuyệt đối
a : Mức ý nghĩa thống kê
Z(1_a/2): Giá trị phụ thuộc hệ số tin cậy (1-a), tra trong bảng tính sẵn.Chọn d = 0,05, a = 0,05 Cho giá trị hệ số tin cậy (1- a) = 0,95 Tra bảngđược hệ số Z(1_a/2)= 1,96
Căn cứ vào số chủ hộ gia đình có trình độ chuyên môn YHCT trên địa
bàn xã (tập trung ở thôn 8) là khoảng 10 người trên tổng số 200 hộ gia đình
hành nghề chế biến và kinh doanh thuốc YHCT tại thôn 8 [Nguồn UBND xãNinh Hiệp] tương ứng cho p = 0,05 Như vậy, cỡ mẫu cần thiết là:
n = 1,96» 0,05.(1- 0,05)
0,052
Hay n = 73
Trang 182.2.2 Cách chọn mẫu
- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1 Bộ câu hỏi in sẵn (Phụ lục 3).
2.3.2 Phỏng vấn trực tiếp và ghi chép tại chỗ.
- Tiến hành phỏng vấn các hộ gia đình thu được 89 phiếu, loại 5 phiếu không đáp ứng được nội dung nghiên cứu, xử lý số liệu trên 84 phiếu
Trang 19PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u
Xuất phát từ thực tế cơ sở và đặc điểm riêng của thuốc YHCT, nghiên cứu thị trường thuốc YHCT Ninh Hiệp chúng tôi khảo sát những chỉ tiêu sau:
- Đặc điểm nguồn nhân lực tham gia kinh doanh
- Đặc điểm nguồn mua
- Đặc điểm nguồn bán
- Vốn - Chi phí - Lãi trong chế biến và kinh doanh thuốc YHCT
- Công tác đảm bảo chất lượng thuốc
- Công tác quản lý của nhà nước
3.1 Đặc điểm nguồn nhân lực tham gia kỉnh doanh.
Trang 20thuốc YHCT là chủ yếu chiếm 88,1%\ nam giới chỉ có 11,9% Đặc biệt, trong
số 84 hộ gia đình tham gia phỏng vấn có 57 hộ gia đình (chiếm 67,9%) làm nghề chế biến và kinh doanh thuốc YHCT nhờ ông cha truyền lại (gọi là gia truyền) Theo nhân dân Ninh Hiệp, nghề truyền thống của địa phương được các cụ truyền lại cho những người con gái trong gia đình Ngay từ khi còn rất trẻ, người phụ nữ nơi đây đã sớm tiếp cận với công việc chế biến và kinh doanh thuốc YHCT, khi đó những người khác còn lại trong gia đình phụ giúp việc vận chuyển, chế biến, giao hàng Đối vói những gia đình không có điều kiện để truyền lại cho con gái thì việc kinh doanh được truyền cho con trai Đây là một nét riêng biệt của nhân dân Ninh Hiệp, có lẽ xuất phát từ quan niệm phụ nữ thường là người tỉ mỉ, cẩn thận, phù hợp và đủ tin cậy để được tiếp thu nghề truyền thống của ông cha
Trang 213.1.2 Trình độ của người phụ trách kinh doanh.
- Trình độ trung cấp chiếm 7,1% (Ở đây chỉ có trung cấp YHCT)
So với báo cáo của xã Ninh Hiệp (đầu năm 2000) thì mặt bằng dân trí của người dân nơi đây là lớp 9, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu Thực
tế, người dân nơi đây tiếp xúc với thuốc YHCT từ rất sớm, có rất nhiều em bé
ở Ninh Hiệp khoảng 9 - 1 0 tuổi đã nhận biết thành thạo một số vị thuốc Do
đó, quan điểm của họ về người phụ trách việc chế biến và kinh doanh thuốc YHCT tại các gia đình không nhất thiết phải có trình độ cao Tuy nhiên, sốngười có trình độ trung cấp YHCT chỉ chiếm 7,1% lại là một điều đáng quantâm Không có trình độ chuyên môn có thể dẫn đến những sai sót Ịr-engpẹhê^Hiệp:
Trang 22biến, trong quản lý chất lượng thuốc YHCT, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
3.2 Đặc điểm nguồn mua
3.2.1 Nguồn mua
Kết quả phỏng vấn câu hỏi 5 (phụ lục 3) như sau:
Có 26/84 hộ gia đình thường xuyên trực tiếp sang Trung Quốc mua hàng (số lượng khoảng 122 vị) Và 52/84 hộ gia đình (chiếm 61,9%) mua thuốc của
tư thương từ cửa khẩu Lạng Sơn Có 27/84 hộ gia đình (chiếm 32,1%) mua thuốc trực tiếp của các địa phương trồng nhiều dược liệu như: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nội và các tỉnh có nhiều dược liệu hoang dã như: Phú Thọ, Thanh Hoá, Lâm Đồng Như vậy, có thể chia đầu vào dược liệu thành 2 nguồn chính:
- Thuốc nhập từ trong nước (Phụ lục 1)
- Thuốc nhập từ Trung Quốc (Phụ lục 2)
* Nhận xét:
Trong số các vị thuốc nhập từ Trung Quốc có khoảng hơn 20 vị có thể
khai thác được ờ các địa phương trong nước, điều này do nhiều nguyên nhân:
+ Quan niệm của người sử dụng (đặc biệt là những lương y, thầy lang hành nghề bắt mạch kê đơn) rằng thuốc Trung Quốc tác dụng tốt hơn thuốc Việt Nam
+ Thuốc của Trung Quốc đáp ứng nhanh cả về mặt chủng loại, số lượng cũng như thời gian
+ Giá một số vị thuốc nhập từ Trung Quốc đôi khi rẻ hơn ở Việt Nam (Ví dụ: Thông thảo nhập từ Hoà Bình với giá 35.000đ/kg trong khi Thông thảo mua từ Trung Quốc giá 30.000 -32.000đ/kg, hoặc Trạch tả nhập từ Trung Quốc giá 3.500đ/kg trong khi nhập từ trong nước giá 4.500đ/kg)
Việc nhập các vị thuốc có thể khai thác ở Việt Nam từ Trung Quốc làm
Trang 23địa phương cũng như thị trường thuốc YHCT trong nước, thói quen chuộng hàng Trung Quốc đôi khi lại chính là nguyên nhân gây khó khăn cho những người trong cuộc.
3.2.2 Tỷ lệ thuốc Bắc và thuốc Nam
Kết quả trả lời câu hỏi 5 (Phụ lục 4) cho phép tính được tỷ lệ thuốc trung bình ở từng hộ gia đình: thuốc Bắc là 64,5%, thuốc Nam là 35,5%
□ Thuốc Bắc 0 Thuốc Nam
Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ thuốc Bắc và thuốc Nam
* Nhận xét:
Quan niệm thuốc Bắc là thuốc có nguồn gốc từ Trung Quốc (phương Bắc), thường có bộ phận dùng là rễ, thân, quả được chế biến hoàn toàn theo y
lý Trung Quốc Có thể tích gọn, thuận lợi cho trung chuyển, bảo quản Thuốc
Nam là những vị thuốc có nguồn gốc ở Việt Nam, được bào chế, sử dụng theo
dân gian, lý luận YHCT Việt Nam Thường là lá, hoa, vỏ cây, cành và một số
ít là rễ củ quả nên nhẹ, chiếm thể tích lớn gây khó khăn trong bảo quản
Vói tỷ lệ kinh doanh thuốc Bắc là 64,5% trong khi tỷ lệ này của thuốc Nam chỉ là 36,5% thì việc buôn bán thuốc Bắc chiếm tỷ trọng lớn Có rất nhiều nguyên nhân như là:
Trang 24- Xuất phát từ quan niệm thuốc Bắc tốt hơn thuốc Nam và trong thực
tế khám chữa bệnh đông y, thuốc Bắc luôn đứng đầu vị, phạm vi sử dụng các
vị thuốc Bắc tương đối rộng rãi Hơn nữa, vòng quay vốn của thuốc Bắc (trung bình 70 ngày) nhanh hơn thuốc Nam (90 - 100 ngày) nên thuận lợi cho việc thu hồi vốn
- Giá thuốc Nam lại rẻ hơn nhiều so với thuốc Bắc do đó mặc dù tỷ lệ lãi so với vốn là cao song tỷ lệ lãi so với công vận chuyển lại thấp Bên cạnh
đó, việc thu hái thất thường hay bị thay đổi gây khó khăn cho cả người thu hái
và người chế biến, kinh doanh
Một nguyên nhân nữa cũng khiến cho thuốc Bắc chiếm tỷ trọng lớn Một
số vị thuốc khai thác được ở Việt Nam đã được xuất sang Trung Quốc, sau
một thời gian được nhập ngược trở lại Việt Nam và được coi là thuốc Bắc như
Ô đầu phụ tử, Sinh địa, Kim ngân, Táo nhân, Tiểu hồi Có lẽ cũng chính vì người Việt Nam chuộng thuốc Trung Quốc hơn, nên xảy ra tình trạng những người trong cuộc mua đi rồi bán lại, gây ảnh hưởng rất nhiều đến giá thuốc và chất lượng thuốc YHCT Đây cũng chính là nguyên nhân cho một bộ phận người dân chạy theo lợi ích kinh tế đã tham gia làm giả một số vị thuốc có giá cao, chất lượng thuốc bị xâm phạm, thị trường thuốc YHCT của chúng ta trở nên lộn xộn
3.3 Đặc điểm nguồn bán
Thị trường thuốc YHCT Ninh Hiệp diễn ra rất đa dạng Nếu mỗi buổi sáng có “chợ thuốc” cho người dân quanh vùng buôn bán nhỏ lẻ thì rất nhiều
hộ gia đình tập trung hàng hoá với số lượng lớn chế biến và bán tại nhà, cũng
có khi đi giao hàng cho từng nơi mua thuốc theo đơn đặt hàng của các công
ty, các bệnh viện Kết quả khảo sát nguồn bán của thị trường Ninh Hiệp như sau:
Trang 25Bảng 3.2 Nguồn mua thuốc YHCT từ thị trường Ninh Hiệp
20 ,
° ’
YHCT
Hình 3 4 Nguồn mua thuốc YHCT từ thị trường Ninh Hiệp.
* Nhận xét:
Nhìn vào biểu đồ ta thấy:
+ Số hộ tập trung bán hàng cho các phòng chẩn trị đông y chiếm tỷ lệ cao nhất (91,7%) Có thể nói đây là những khách hàng “dễ tính”, yêu cầu thuốc của họ không quá khó khăn về đặc điểm chủng loại cũng như về chất lượng, hoàn toàn phù hợp với đặc điểm hàng hoá của thị trường thuốc YHCT Ninh Hiệp
Trang 26+ Số hộ bán hàng cho bệnh viện YHCT chiếm 36,9%, cho công ty dược phẩm các tỉnh chiếm 38,1%- Đây là những con số mang lại nhiều ý nghĩa, vì thủ tục đầu vào cho những khách hàng này tương đối phức tạp (Phải có hoá đơn bán hàng, tiêu chuẩn chất lượng ).Yêu cầu của họ là thuốc loại A, hình dạng đẹp, chất lượng tốt Nên không phải hộ gia đình nào cũng đáp ứng được những yêu cầu này, tuy rằng khi bán buôn với số lượng lớn như vậy, doanh số sẽ cao, rút ngắn thời gian quay vòng vốn, lợi nhuận thu được sẽ lớn.Một số bệnh viện YHCT thường xuyên mua thuốc từ Ninh Hiệp là bệnh viện Hòe Nhai, Bệnh viện 175 Thành phố Hồ Chí Minh, Viện quân y 108, Viện quân y 103, Viện Y học dân tộc cổ truyền, Viện YHCT quân đội Một
số công ty dược phẩm các tỉnh Kiên Giang, Đà Lạt, Quảng Ninh, Hải Dương, Phú Thọ, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh thường xuyên nhập thuốc từ Ninh Hiệp Như vậy, thuốc cổ truyền từ thị trường Ninh Hiệp chính là nguồn nguyên liệu trực tiếp cung cấp các vị thuốc được sử dụng trong công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, hơn nữa thuốc cổ truyền ở đây cũng chính là nguyên liệu đầu vào cho rất nhiều dạng bào chế đông dược trên thị trường dược cả nước Do đặc điểm riêng của mặt hàng đông dược (thời hạn sử dụng ngắn hơn rất nhiều so vối thuốc tân dược, dễ mốc hỏng ) vậy nên hơn lúc nào hết, công tác dảm bảo chất lượng thuốc được đặt lên hàng đầu
+ Tư thương là những người mua đi bán lại thuốc tại địa phương hay nói cách khác chính là các hộ gia đình tham gia chế biến và kinh doanh thuốc YHCT tại Ninh Hiệp Đây là đối tượng phổ biến (chiếm 84,5%), và trực tiếp góp phần làm ảnh hưởng rất nhiều đến giá cả, chủng loại dược liệu trên địa
bàn Ninh Hiệp Đặc biệt, nhiều người dân ở đây trực tiếp mở quầy hàng hoặc
thường xuyên cung cấp thuốc cho thị trường Lãn Ông - một phố thuốc Bắc nổi tiếng của Hà Nội
+ Một số hộ gia đình ở Ninh Hiệp (7,1%) tập trung thuốc xuất sang