1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo

39 417 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý ngân sách nhà nước
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 511,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”.

Trang 1

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đầu tư từ NSNN cho giáodục đào tạo ngày càng tăng đã giúp ngành giáo dục đào tạo đạt được nhiềuthành tựu trên cả 3 mặt: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tàigóp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Tuy nhiên, đầu tư tăng nhưng việc thực thi chưa đạt được hiệu quả cũng nhưmục tiêu đặt ra, chất lượng, hiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu,phương pháp giáo dục lạc hậu do chậm đổi mới, đội ngũ giáo viên vừa thiếuvừa thừa, chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cònthấp, CSVC còn rất thiếu và lạc hậu…

Từ thực tiễn ấy thì bên cạnh nỗ lực tăng đầu tư NSNN cho giáo dục đàotạo, việc không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục và đàotạo là hết sức quan trọng

Luận văn “Hoàn thiện cơ chế quản lý Ngân sách nhà nước cho giáo dục

và đào tạo của Việt Nam” phân tích cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đàotạo Việt Nam hiện nay, đánh giá những mặt tích cực và những mặt hạn chếđồng thời cũng đưa ra nguyên nhân của những hạn chế đó Từ đó, luận văn đãchỉ rõ sự cần thiết cũng như đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện cơ chếquản lý NSNN cho giáo dục đào tạo

Trang 2

Đề tài được trình bày thành 3 chương:

Chương 1: Giáo dục đào tạo và cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo tại

Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục

đào tạo

Trang 3

Chương 1 GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ NSNN

CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

1.

1.1 GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRONG NỀN KTQD

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về giáo dục đào tạo

Giáo dục được quan niệm như một hoạt động đặc thù riêng có ở xã hộiloài người với mục đích rõ ràng là duy trì và phát triển xã hội loài người nhưmột thực thể có tổ chức - dù còn chưa hoàn thiện như ngày nay Thực chất đó

là quá trình hình thành và nâng cao phẩm chất, đạo đức, kiến thức, kỹ năng,khả năng học tập của con người thông qua tất cả các dạng học tập

Theo quan điểm “giáo dục vị giáo dục” thuần túy, có thể xem giáo dụcnhư là một cứu cánh vì những giá trị nội tại của nó Giáo dục, trên nguyên tắc,giúp người học mở mang trí óc, tăng kiến thức và khả năng suy nghĩ trừutượng, hiểu biết sự thật, phát triển đạo đức cá nhân và năng khiếu thưởng thứcnghệ thuật, mỹ thuật và cuối cùng là sống hài hòa với mọi người xung quanh.Dưới quan điểm “giáo dục vị nhân sinh” thực dụng hơn, giáo dục hôm nay cóthể xem là một phương tiện giúp người học gia tăng khả năng và chất lượnglao động cho sản xuất ngày mai Dùng thuật ngữ kinh tế, giáo dục có thể xem

là một quá trình tích lũy vốn con người, tương tự như quá trình tích lũy vốnvật thể Theo quan điểm kinh tế này, giáo dục bao gồm giáo dục, đào tạo vànghiên cứu

Như các sản phẩm kinh tế khác, quá trình sản xuất giáo dục đòi hỏi sựtiêu dùng các nguồn lực khan hiếm Có thể định nghĩa giáo dục là một:

• Hàng hóa mà tất cả người dân đều có quyền hưởng thụ đến một mức tốithiểu nào đó

Trang 4

• Sản phẩm tích lũy theo nghĩa quá trình sản xuất giáo dục thông thườngđòi hỏi nhiều thời gian.

• Dịch vụ với một vài đặc tính của hàng hóa công

• Hàng hóa mà lợi ích xã hội của giáo dục lớn hơn lợi ích của giáo dụccho cá nhân

• Dịch vụ bền theo nghĩa vốn con người (đầu ra của giáo dục) là mộtnhân tố sản xuất lâu dài

• Hàng hóa chuyển tiếp mà người mua cuối cùng là người tiêu thụ

1.1.2 Vai trò của giáo dục đào tạo trong nền KTQD

Bất cứ một quốc gia nào cũng phải được xây dựng và phát triển trênnền tảng con người, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế trithức đã trở thành một xu thế thời đại Theo UNDP, chất lượng cuộc sốngđược đánh giá trước hết ở tiêu chí thu nhập, giáo dục, sức khỏe và dinhdưỡng, mức nghèo khổ, tình trạng môi trường, sự bình đẳng, mức độ tự do cánhân, sự phong phú về văn hóa Như vậy, giáo dục là một trong những mụcđích phát triển kinh tế

Giáo dục được xem là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trựctiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xãhội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậmcủa một quốc gia Điều 35 – Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã ghi rõ:

“Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu” Quan điểm đó đã được tiếp tụckhẳng định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa VIII (1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạotrong thời kỳ CNH - HĐH Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng tại Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triểngiáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệpCNH - HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để

Trang 5

phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Để thực hiện CNH

- HĐH đất nước nhất thiết phải phát triển giáo dục mạnh mẽ Giáo dục là tiền

đề, là yếu tố hàng đầu thuộc năng lực nội sinh, có tầm quan trọng hơn so vớicác hệ thống yếu tố khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở vật chất kỹthuật Giáo dục là nền tảng phát triển khoa học công nghệ Nâng cao chấtlượng giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu nhằm tạo ra những thay đổisâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhâncách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục

Giáo dục và đào tạo có ba chức năng chính:

- Chức năng kinh tế: Thứ nhất, giáo dục là con đường cơ bản nhất đểtích lũy vốn nhân lực - nhân tố quyết định tăng năng suất lao động, góp phầnthúc đẩy tăng trưởng kinh tế Giáo dục tạo nên một lớp người lao động mới cónăng lực cần thiết để đáp ứng đòi hỏi của một nền sản xuất cụ thể Đây là lựclượng sản xuất quan trọng bậc nhất đối với sự phát triển kinh tế Thứ hai, giáodục có vai trò quyết định đến phát triển và làm chủ KHCN hiện đại - nhân tốbảo đảm sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững Giáo dục đào tạo có chứcnăng đặc thù là truyền bá kiến thức khoa học, giảng dạy và đào tạo một cách

có hệ thống cho những người có năng lực học tập và vận dụng những kiếnthức khoa học vào thực tế Trong điều kiện của cuộc Cách mạng KHKT, hệthống giáo dục đào tạo không những đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học

mà còn sản sinh ra kiến thức khoa học, thông qua hệ thống NCKH của cáctrường Đại học Thứ ba, giáo dục góp phần quan trọng thúc đẩy việc hìnhthành và chuyển dịch cơ cấu nền KTQD cho phù họp xu hướng phát triển củamọi thời đại bởi một trong những điều kiện tiên quyết để hình thành vàchuyển dịch cơ cấu nền KTQD chính là số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồnnhân lực của quốc gia Mà điều kiện tiên quyết đó chỉ có được thông qua sựphát triển của nền giáo dục quốc dân Sự phát triển của giáo dục cả về quy

Trang 6

mô, cả về chất lượng với một cơ cấu hợp lý về vùng, miền, trình độ, ngànhnghề đào tạo… sẽ góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hình thành và chuyểndịch cơ cấu nền KTQD phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, từ đóđảm bảo được sự tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế.

- Chức năng chính trị - xã hội: Chính trị là lĩnh vực hoạt động của xãhội loài người mà đặc trưng của nó là các vấn đề liên quan đến quyền lực vàlợi ích của con người, cộng đồng giai cấp trong xã hội Trong lịch sử pháttriển xã hội loài người, từ khi xã hội có giai cấp, có Nhà nước thì giáo dục đàotạo luôn luôn là một công cụ quan trọng của Nhà nước Giai cấp cầm quyềnluôn nắm lấy giáo dục đào tạo để chi phối chúng theo hướng củng cố quyềnlực và bảo vệ lợi ích cho mình Giáo dục đào tạo phục vụ chính trị nhưng giáodục đào tạo tồn tại một cách tương đối độc lập với chính trị Giáo dục đào tạo

là hiện tượng phổ biến và vĩnh cửu còn quan hệ chính trị chỉ hình thành rõ nétkhi xã hội có phân chia giai cấp và Nhà nước xuất hiện Xét về bản chất, giáodục đào tạo thực sự gắn bó với những xu hướng chính trị tiến bộ Nền giáodục đào tạo ở nước ta hiện nay là nền giáo dục đào tạo được ra đời và pháttriển nhờ một thể chế chính trị cách mạng và tiến bộ Mục tiêu xã hội chủnghĩa và độc lập dân tộc được quán triệt một cách sâu sắc trong toàn bộ hệthống giáo dục Việt Nam

Như vậy, giáo dục không chỉ tạo nên một lớp người lao động mới cho

xã hội mà còn làm thay đổi cả bộ mặt chính trị xã hội thông qua mục đích tổchức của nền giáo dục, các chính sách giáo dục thể hiện tính nhân văn, tínhđại chúng hay tính đẳng cấp của giáo dục

- Chức năng tư tưởng văn hóa: Giáo dục đào tạo không chỉ tạo ra conngười phát triển về trí tuệ, về kỹ năng lao động mà còn đảm bảo cho việc hìnhthành một ý thức hệ tư tưởng, hình thành một nếp sống mới trên nền tảng củamột nền văn hóa mới, nhân sinh quan mới

Trang 7

Xét về góc độ lịch sử, văn hóa chỉ được hình thành thông qua một quátrình sáng tạo lâu dài, xây dựng và truyền kinh nghiệm từ đời này sang đờikhác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong quá trình này không thể thiếu vaitrò của giáo dục đào tạo, đó chính là truyền lại các giá trị văn hóa Giá trị docon người sáng tạo ra được tập hợp lại, hệ thống hóa, tri thức hóa trở thànhnhững kiến thức trong các giáo trình, bài giảng của nhà trường Như vậy,chính văn hóa đã mang đến cho giáo dục đào tạo những nội dung thiết yếu vànhững nội dung cần truyền đạt Còn giáo dục đào tạo không phải là một quátrình thụ động mà là một quá trình sáng tạo Sự sáng tạo trong quá trình giáodục đào tạo làm phong phú hơn những giá trị văn hóa vốn có, làm nảy sinhnhững giá trị văn hóa mới.

1.1.3 Hệ thống giáo dục quốc dân

Theo Điều 4 Luật GD năm 2005, hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nambao gồm Giáo dục chính quy và Giáo dục thường xuyên

Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

• Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo

• Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổthông

• Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề

• Giáo dục đại học và sau đại học (gọi chung là Giáo dục Đại học)đào tạo trình độ Cao đẳng, trình độ Đại học, trình độ Thạc sỹ, trình độTiến sỹ

Gắn với hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta, khối giáo dục bao gồmgiáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; khối đào tạo bao gồm giáo dụcnghề nghiệp và giáo dục đại học

Trang 8

Hình 1.1: Cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP DẠY NGHỀ

NHÀ TRẺ

GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

ĐẠI HỌC

Trang 9

1.2 VAI TRÒ CỦA NSNN VỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

1.2.1 Khái niệm và bản chất của NSNN

1.2.1.1 Khái niệm

NSNN với tư cách là một phạm trù kinh tế bao giờ cũng gắn liền với sựxuất hiện, tồn tại của Nhà nước phát triển đến một trình độ nhất định Sự xuấthiện của Nhà nước trong lịch sử đòi hỏi phải có những nguồn lực tài chính đểđáp ứng chi tiêu nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụcủa Nhà nước

NSNN là dự toán thu - chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảngthời gian nhất định (thường là một năm) Như vậy, NSNN là một kế hoạch tàichính cơ bản của quốc gia, trong đó gồm kế hoạch thu, kế hoạch chi và đượclập theo phương pháp cân đối (thu phải đủ chi, chi không vượt thu)

Theo Luật NSNN Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chicủa Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và đượcthực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củaNhà nước”

1.2.1.2 Bản chất

- Về phương diện pháp lý: NSNN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chibằng tiền của Nhà nước trong một thời gian nhất định thường là một năm.Đạo luật này được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành

- Về bản chất kinh tế: NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữaNhà nước và xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụngcác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhànước

Các quan hệ kinh tế này bao gồm:

+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị HCSN

Trang 10

+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư.

+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN và thị trường tài chính

+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các hoạt động tài chính đối ngoại

- Về tính chất: NSNN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của Nhà nước,

là mức động viên các nguồn tài chính vào tay Nhà nước, là các khoản cấpphát của Nhà nước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phát triển, đó cũng làđóng góp theo nghĩa vụ hay tự nguyện của mỗi thành viên trong xã hội choNhà nước và Nhà nước cấp phát kinh phí đầu tư cho mỗi thành viên xã hội

1.2.2 Vai trò của NSNN với giáo dục đào tạo

Giáo dục là hoạt động hết sức cần thiết đối với phát triển xã hội và tăngcường kinh tế Không thể có một xã hội phát triển ở trình độ cao mà không cómột nguồn lực phát triển cả về thể chất và trí tuệ Sản phầm của giáo dục làcon người, con người là yếu tố sản xuất hết sức quan trọng Kỹ năng của conngười có tác động đến năng suất lao động, trình độ quản lý và muốn hìnhthành kỹ năng thì phải có giáo dục Đặc biệt là trong bối cảnh thế giới bướcsang thời đại mới - thời đại trí tuệ và trong môi trường toàn cầu hóa, trong đó,các yếu tố tri thức và thông tin trở thành những yếu tố hàng đầu và là nguồntài nguyên giá trị nhất thì giáo dục trỏ thành đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế.Chính vì vậy, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho tương lai, đầu tư hiệuquả nhất

Đầu tư tài chính giữ vai trò như một trong những yếu tố có tính chấtquyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống giáo dụcquốc dân từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, đào tạo công nhân, trunghọc chuyên nghiệp, đại học đến đào tạo sau đại học Thông qua quan hệ tíndụng, tài chính có thể huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi để đầu tưcho giáo dục trong việc nâng cấp trang thiết bị, đầu tư cho đội ngũ giáo viên

và cho học sinh vay để tiếp tục sự nghiệp giáo dục Trong số các nguồn lực tài

Trang 11

chính đầu tư cho giáo dục đào tạo thì đầu tư từ NSNN là tất yếu, đóng vai tròchủ đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục bởi:

- Trong hệ thống tài chính nước ta thì tài chính Nhà nước chiếm một tỷtrọng lớn Mà trong tài chính Nhà nước bao gồm NSNN và tín dụng Nhànước thì NSNN có tỷ trọng lớn nhất NSNN đảm bảo nhu cầu tiêu dùng xãhội theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, trong đó nhu cầu giáodục đào tạo đứng hàng đầu Mặt khác, giáo dục đào tạo là dịch vụ công cộng,tạo ra những ngoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triểnnguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một quốcgia Đầu tư từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo điều kiện tài chính cần thiết

để giải quyết vấn đề phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân ở tầm vĩ mônhư về phát triển rộng khắp mạng lưới các cơ sở giáo dục, xây dựng các cơ sởgiáo dục trọng điểm quốc gia, điều chỉnh quy mô và cơ cấu, nâng cao chấtlượng và hiệu quả giáo dục Bởi vậy, NSNN là nguồn tài chính cơ bản, to lớnnhất để duy trì và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng chủtrương, đường lối của Đảng và Nhà nước

- Thứ hai, đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, huy động cácnguồn vốn khác đầu tư cho giáo dục đào tạo vì giáo dục là dịch vụ công cộng,tạo ra những ngoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triểnnguồn nhân lực – nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một quốcgia Đầu tư NSNN cho giáo dục như một cú huých ban đầu để khuyến khíchnhân dân đóng góp xây dựng và sửa chữa trường lớp, thu hút các nguồn từ laođộng sản xuất, từ hợp đồng NCKH của các trường, đóng góp của các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện phương châm “Nhà nước

và nhân dân cùng chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo”, đồng thời lànguồn chính để phát huy nguồn viện trợ và vay của nước ngoài để đầu tư chogiáo dục đào tạo Lợi ích của việc đầu tư vào giáo dục đem lại không chỉ cho

Trang 12

những người trực tiếp được hưởng giáo dục mà còn cho cả xã hội nói chung.Tuy nhiên, trong thực tế các cá nhân hầu như không tính đến tác động nàytrong việc lựa chọn quyết định có nên đầu tư vào giáo dục hay không Trongmột số trường hợp, họ có thể không biết đến tác động ngoại ứng tích cực củagiáo dục Trong trường hợp khác, họ biết tác động đó song thiếu sự khuyếnkhích và tạo điều kiện của Nhà nước để đi đến quyết định đầu tư Như vậy,nếu không có sự đầu tư từ NSNN để hỗ trợ và khuyến khích thì mức đầu tưcủa tư nhân cho sự phát triển giáo dục sẽ thấp hơn khả năng sẵn có.

- Thứ ba, NSNN đầu tư cho giáo dục đào tạo sẽ đảm bảo từng bước ổnđịnh đời sống của đội ngũ cán bộ giảng dạy Tuy đời sống của giáo viên cònchưa cao nhưng NSNN đã đảm bảo tiền lương chính cho đội ngũ cán bộ giảngdạy toàn ngành Ngoài ra còn dành một phần NSNN để ưu đãi riêng chongành giáo dục đào tạo như phụ cấp giảng dạy, phụ cấp thâm niên, phụ cấptrách nhiệm, phụ cấp dạy thêm giờ, thêm lớp…

- Thứ tư, NSNN có vai trò điều phối cơ cấu giáo dục toàn ngành.Thông qua định mức chi ngân sách giáo dục đào tạo hàng năm đã góp phầnđịnh hướng sắp xếp cơ cấu các cấp học, mạng lưới trường Tập trung NSNNcho những chương trình mục tiêu quốc gia như chống mù chữ, phổ cập giáodục, xây dựng hệ thống trường dân tộc nội trú, khuyến khích phát triển giáodục ở vùng núi và dân tộc ít người, tăng cường cơ sở vật chất các trườnghọc…

- Thứ năm, đầu tư từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo công bằng xãhội trong giáo dục Ở các quốc gia không phải mọi công dân đều có khả năngchi trả các khoản chi phí trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc trực tiếphưởng thụ giáo dục Nếu giáo dục được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế thịtrường mà không có sự đầu tư từ NSNN thì bộ phận dân cư không có khảnăng chi trả các khoản chi phí giáo dục sẽ không có cơ hội được học tập, từ

Trang 13

đó dẫn đến mất công bằng xã hội trong giáo dục Hơn nữa, công bằng xã hộitrong giáo dục còn là điều kiện quan trọng để đạt đến công bằng xã hội nóichung.

- Thứ sáu, đầu tư của Nhà nước cho giáo dục nhằm để khắc phục khiếmkhuyết của thị trường vốn Nghiên cứu kinh tế học giáo dục, các nhà kinh tếđều cho rằng, thị trường vốn cho việc đầu tư vào giáo dục là không hoàn hảo

Có nhiều rủi ro cho cả người vay và người cho vay khi đầu tư vào giáo dục.Hầu như không có cơ sở cho việc xác định khả năng chắc chắn có việc làm và

có được mức thu nhập sau khi đã kết thúc khóa học để có thể trả được cáckhoản nợ vay cho việc học tập của các cá nhân Do vậy, các chủ thể cho vayvốn không dễ dàng chấp nhận bỏ vốn để cho vay đầu tư vào việc học tập củacác cá nhân Khắc phục khiếm khuyết của thị trường vốn cần thiết phải có sựcan thiệp và đầu tư của Nhà nước cho giáo dục

Tóm lại, đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nguồn lực tàichính để phát triển giáo dục chủ yếu là từ nguồn NSNN NSNN đóng vai tròquan trọng, là yếu tố chính quyết định đối với sự nghiệp giáo dục quốc dân

1.2.3 Cơ cấu chi tiêu NSNN cho giáo dục đào tạo

Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo nhữngnguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước Thựcchất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho cácnhiệm vụ của Nhà nước

Hiện nay, theo Luật NSNN, nội dung chi tiêu NSNN được phân theotính chất kinh tế của các khoản chi được sử dụng Theo tính chất kinh tế, chiNSNN cho giáo dục được phân ra theo các nội dung:

- Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi lương và các khoản chicủng cố CSVC, thiết bị trường lớp như: SGK, thiết bị dạy học… Đội ngũ cán

bộ giáo viên trong ngành giáo dục đào tạo được hưởng lương từ NSNN, do

Trang 14

vậy chi thường xuyên phải đảm bảo trả lương cho đội ngũ giáo viên nên nóđóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động của ngành Bên cạnh đó,CSVC và thiết bị trường lớp cũng là bộ phận quan trọng không thể thiếu trongviệc đảm bảo chất lượng giáo dục Vì thế, các khoản chi cho việc phát hànhSGK, thiết bị dạy học cũng đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo chất lượnggiáo dục đào tạo Kế hoạch chi thường xuyên được lập chủ yếu dựa trên cácđịnh mức phân bổ và kế hoạch chi thường xuyên của năm trước.

- Chi đầu tư bao gồm các khoản chi xây dựng CSVC, củng cố và pháttriển mạng lưới trường lớp cho sự phát triển của nền giáo dục quốc dân Chiđầu tư đóng vai trò quan trọng trong phát triển giáo dục Chi đầu tư phát triểncủa NSNN cho giáo dục bao gồm chi xây mới, cải tạo, nâng cấp trường học,phòng học, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, thư viện, công sở làm việc vàmua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và NCKH

ở các cơ sở giáo dục đào tạo Cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo

- Chi NSNN cho CTMT Quốc gia về giáo dục nhằm thực hiện nhữngmục tiêu cụ thể có tính cấp bách trong phát triển nền giáo dục quốc dân ởtừng thời kỳ Tùy thuộc vào những mục tiêu cụ thể có tính cấp bách về giáodục ở từng thời kỳ mà mỗi quốc gia lựa chọn những CTMT Quốc gia về giáodục khác nhau CTMT Quốc gia giáo dục thường được thực hiện, bao gồm:phổ cập giáo dục, xóa và chống mù chữ; hỗ trợ giáo dục những vùng, miền cóđiều kiện kinh tế - xã hội khó khăn như vùng dân tộc ít người, vùng sâu, vùng

xa, miền núi, hải đảo; tăng cường CSVC của các cơ sở giáo dục như xóaphòng học cấp 4 và phòng học ca ba, tăng cường CSVC của các cấp học vàbậc học; nâng cao chất lượng và chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục như đào tạo và bồi dưỡng giáo viên các trường sư phạm, tăngcường năng lực đào tạo nghề; đổi mới chương trình, nội dung SGK…

Trang 15

1.3 CƠ CHẾ QUẢN LÝ NSNN CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

1.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục và đào tạo.

Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường củamọi quá trình và hệ thống kinh tế - xã hội Thực chất của quản lý là thiết lập

và thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp khác nhau, tác động mộtcách có ý thức tới đối tượng của quản lý nhằm đạt được kết quả nhất định

Quản lý NSNN được hiểu là việc sử dụng NSNN làm công cụ quản lý

hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn có của nó.Quản lý NSNN là việc làm cần thiết gắn với việc chi NSNN nhằm tạo ranhững khoản chi đảm bảo đúng mục đích sử dụng và đạt hiệu quả cao

Cơ chế quản lý NSNN là hệ thống các nguyên tắc, các hình thức vàphương pháp quản lý điều hành NSNN trong từng giai đoạn phát triển kinh tế

Cơ chế quản lý NSNN bao gồm các cơ chế thu, chi ngân sách, cân đối ngânsách, cấp phát ngân sách Yêu cầu của cơ chế quản lý NSNN trong nền kinh

tế thị trường là ưu tiên sử dụng NSNN để thực hiện những nhiệm vụ của Nhànước, những công việc mà thị trường không thể thực hiện hoặc không thểgiao cho thị trường thực hiện Bên cạnh đó, sử dụng ngân sách nhà nước phảitránh tư tưởng bao cấp, bao biện, làm thay cho thị trường Trái lại, NSNNphải tạo ra môi trường để thu hút, khuyến khích sự tham gia của các nguồntài chính khác trong thị trường bổ sung cho nguồn lực NSNN

1.3.2 Nội dung cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo

1.3.2.1 Cơ chế phân cấp ngân sách

Trong cơ chế quản lý NSNN, cơ chế phân cấp ngân sách có vị trí rấtquan trọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp hoạt độnggiữa các cấp chính quyền trong việc quản lý, điều hành ngân sách Yêu cầuđối với cơ chế phân cấp ngân sách là Ngân sách Trung ương phải giữ vai tròchủ đạo tập trung các nguồn thu có tính chất quốc gia và giải quyết các nhu

Trang 16

cầu chi tiêu có tính chất trọng điểm trên phạm vi cả nước Ngân sách địaphương phải được phân cấp một số nguồn thu và nhiệm vụ chi nhất định đểđảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của chính quyền địa phươngtrên địa bàn Mối quan hệ giữa ngân sách TW và ngân sách địa phương phảiđược giải quyết hài hòa thông qua cơ chế điều tiết và trợ cấp ngân sách giữa

TW và địa phương Việc địa phương quản lý ngân sách có thể giúp huy động

và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn và làm cho cung cấp dịch vụ phù hợp hơn,đáp ứng tốt hơn nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương với hiệuquả cao hơn phù hợp với điều kiện và tình hình cụ thể tại địa phương Tuynhiên, nếu phân cấp không tốt sẽ dẫn đến những rủi ro như sự chồng chéo,làm suy yếu sự điều phối TW và địa phương, tăng bất bình đẳng và làmxuống cấp dịch vụ trong một số ngành quan trọng

Việt Nam có bốn cấp chính quyền Ở cấp TW, quyền lập pháp thuộc vềQuốc hội, cơ quan mà theo điều 84 của Hiến pháp có trách nhiệm quyết địnhNSNN NSNN gồm không chỉ ngân sách của chính quyền TW mà còn có cảngân sách tổng hợp của các cấp tỉnh – huyện – xã Cơ cấu của ngân sáchmang tính thứ bậc: Ngân sách mỗi cấp không chỉ được HĐND cấp đó quyếtđịnh mà còn phải được chính quyền cấp trên phê chuẩn Chính quyền ở mọicấp hoạt động theo một hệ thống song trùng lãnh đạo và chịu trách nhiệm giảitrình Từng cấp ngân sách phải chịu trách nhiệm lập dự toán ngân sách hàngnăm (bao gồm các khoản thu, chi trên phạm vi địa bàn), chịu trách nhiệmhướng dẫn, giám sát việc thực hiện ngân sách cấp dưới Cấp huyện tổng hợp

dự toán ngân sách xã, báo cáo lên tỉnh Tỉnh tổng hợp dự toán ngân sách cáchuyện báo cáo lên Bộ Tài chính

Dự toán ngân sách cấp xã do Ban tài chính xã lập Dự toán ngân sáchcấp huyện do Phòng tài chính huyện lập và dự toán ngân sách cấp tỉnh do Sởtài chính tỉnh lập

Trang 17

Mục đích của phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền lànhằm giảm bớt sự ỷ lại của cơ quan cấp dưới, đồng thời xóa bớt sự bao biện,làm thay của chính quyền cấp trên Nhờ đó mà sự phân định trách nhiệm,quyền hạn trong quản lý NSNN một cách rõ ràng hơn và tạo ra các điều kiệncần thiết cho việc nâng cao hiệu quả quản lý ở lĩnh vực này

1.3.2.2 Cơ chế lập dự toán và phân bổ NSNN cho giáo dục đào tạo

o Căn cứ để lập kế hoạch phân bổ NSNN

Căn cứ để lập kế hoạch phân bổ NSNN cho giáo dục đào tạo là:

- Đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụcông tác được giao trong năm kế hoạch

- Luật NSNN và Thông tư Ngân sách hàng năm của Bộ Tài chính.Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triểnngành giáo dục, thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toánNSNN và các văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo

- Kế hoạch phân bổ ngân sách năm trước

- Những nhiệm vụ cụ thể của ngành giáo dục đào tạo

- Định mức phân bổ ngân sách cho giáo dục theo quy định

- Các quy định về phân cấp quản lý ngân sách trong ngành giáo dục

o Công tác lập dự toán và phân bổ NSNN

Trình tự lập dự toán ngân sách và phân bổ NSNN hàng năm được thựchiện như sau:

i) Trước ngày 31 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị vềviệc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm sau

ii) Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trước ngày 10tháng 6, Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung,thời hạn lập dự toán NSNN và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách vớitổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các Bộ, cơ quan ngang

Trang 18

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và tổng số thu, chi,một số lĩnh vực chi quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương

iii) Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướngdẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu

tư và yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của cơ quan, địa phương, Bộ Giáo dục đào tạo,các Bộ, các cơ quan liên quan thuộc Chính phủ thông báo số kiểm tra về dựtoán NSNN cho các đơn vị trực thuộc; UBND cấp tỉnh tổ chức hướng dẫn vàthông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc vàUBND cấp huyện; UBND cấp huyện thông báo số kiểm tra về dự toán ngânsách cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp xã

iv) Các đơn vị sử dụng ngân sách lập dự toán thu, chi ngân sách thuộcphạm vi, nhiệm vụ được giao, gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp Cơ quanquản lý cấp trên trực tiếp (trường hợp không phải là đơn vị dự toán cấp I) xemxét, tổng hợp dự toán của các đơn vị cấp dưới trực thuộc gửi đơn vị dự toán cấpI

v) Bộ tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư tổng hợp,lập dự toán NSNN trình Chính phủ Trong quá trình làm việc, lập dự toánNSNN, xây dựng phương án phân bổ ngân sách TW, nếu có ý kiến khác nhaugiữa Bộ Tài chính với Bộ Giáo dục, các Bộ và cơ quan liên quan thuộc Chínhphủ thì Bộ Tài chính phải trình Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ những

ý kiến còn khác nhau để quyết định theo thẩm quyền Nguyên tắc này cũngđược áp dụng trong quá trình lập dự toán ngân sách, xây dựng phương ánphân bổ ngân sách ở địa phương

vi) Chính phủ trình Quốc hội dự toán NSNN và phương án phân bổngân sách TW hàng năm; dự toán điều chỉnh NSNN trong trường hợp cần

Trang 19

thiết Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ Ngân sách TW năm sautrước ngày 15 tháng 11 năm trước.

vii) Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội về dự toán NSNN, phân bổ Ngânsách TW, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tỷ lệ phần trăm (%)phân chia đối với các khoản thu phân chia, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm

vụ thu, chi cho từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quankhác ở TW, nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia đối với cáckhoản thu phân chia và mức bổ sung từ Ngân sách TW cho từng tỉnh, thànhphố trực thuộc TW Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trêngiao, UBND các cấp có trách nhiệm lập dự toán ngân sách địa phương,phương án phân bổ ngân sách cấp mình trình HĐND cùng cấp quyết định vàbáo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp

HĐND cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổngân sách cấp tỉnh năm sau trước ngày 10 tháng 12 năm trước HĐND cấpdưới quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách cấp tỉnhnăm sau trước ngày 10 tháng 12 năm trước HĐND cấp dưới quyết định dựtoán ngân sách địa phương , phân bổ ngân sách năm sau của cấp mình chậmnhất là mười ngày kể từ ngày HĐND cấp trên trực tiếp quyết định dự toán vàphân bổ ngân sách

viii) Sau khi được Thủ tướng Chính phủ, UBND giao dự toán ngân sách, các

cơ quan Nhà nước ở TW và địa phương, các đơn vị dự toán có trách nhiệmphân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trựcthuộc, đảm bảo đúng với dự toán ngân sách được giao cả về tổng mức, chi tiếttheo từng lĩnh vực chi, đồng gửi cơ quan tài chính cùng cấp

1.3.2.3 Cơ chế cấp phát và chấp hành chi NSNN

Căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ,thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi gửi Kho bạc Nhà nước Kho

Ngày đăng: 15/04/2013, 17:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam - Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo
Hình 1.1 Cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam (Trang 8)
Bảng 2.1: Số lượng trường học từ mầm non đến đại học giai đoạn - Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo
Bảng 2.1 Số lượng trường học từ mầm non đến đại học giai đoạn (Trang 26)
Bảng 2.2: Quy mô học sinh, sinh viên từ năm 2001 đến năm 2006 Đơn vị: Số học sinh, sinh viên - Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo
Bảng 2.2 Quy mô học sinh, sinh viên từ năm 2001 đến năm 2006 Đơn vị: Số học sinh, sinh viên (Trang 28)
Bảng 2.4: Chi NSNN cho Giáo dục đào tạo xét theo tính chất kinh tế. - Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo
Bảng 2.4 Chi NSNN cho Giáo dục đào tạo xét theo tính chất kinh tế (Trang 32)
Bảng 2.5: Chi ngân sách TW cho CTMT quốc gia giáo dục và đào tạo giai - Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo
Bảng 2.5 Chi ngân sách TW cho CTMT quốc gia giáo dục và đào tạo giai (Trang 35)
Bảng 2.6: Cơ cấu chi NSNN cho giáo dục và đào tạo theo cấp học, - Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo
Bảng 2.6 Cơ cấu chi NSNN cho giáo dục và đào tạo theo cấp học, (Trang 37)
Bảng 2.7: Chi NSNN cho giáo dục đào tạo theo phân cấp ngân sách giai đoạn - Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo
Bảng 2.7 Chi NSNN cho giáo dục đào tạo theo phân cấp ngân sách giai đoạn (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w