Để hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng, ngoài các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng thì việc thiết kế một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả của NHTM đối với nghiệp vụ tín dụng sẽ g
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ MINH HẰNG
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ MINH HẰNG
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ THÚY PHƯƠNG
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chƣa công bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Hằng
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình nghiên cứu làm luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ của cô giáo hướng dẫn, các anh, chị, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình tôi đã tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thiện luận văn này
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS Đỗ Thị Thúy Phương, cô giáo hướng dẫn luận văn cho tôi, cô đã giúp tôi có phương pháp nghiên cứu đúng đắn, nhìn nhận vấn đề một cách khoa học, lôgíc, qua đó đã giúp cho đề tài của tôi có ý nghĩa thực tiễn và có tính khả thi
Tiếp theo, tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư Phát triển Thái Nguyên và các đồng nghiệp đã giúp tôi nắm bắt được thực trạng, cũng như những vướng mắc và đề xuất trong công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư Phát triển Thái Nguyên
Ngoài ra, bên cạnh sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn, các đồng nghiệp, tôi còn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè và gia đình để hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn TS Đỗ Thị Thúy Phương đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Hằng
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Lý luận về kiểm soát nội bộ 4
1.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ 4
1.1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ 6
1.2 Lý luận về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 13
1.2.1 Khái niệm, chức năng của ngân hàng thương mại 13
1.2.2 Khái niệm, vai trò, các loại hình tín dụng ngân hàng 16
1.2.3 Rủi ro tín dụng 19
1.3 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại 21
1.3.1 Các yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ 21
1.3.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng 23
1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng 23
1.3.4 Quy trình kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng 25
1.3.5 Nội dung kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng 27
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.4 Bài học kinh nghiệm về kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại 32
1.4.1 Kinh nghiệm về kiểm soát nội bộ trong các NHTM ở một số nước trên thế giới 32
1.4.2 Kinh nghiệm về kiểm soát nội bộ trong các NHTM ở Việt Nam 34
1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm về kiểm soát nội bộ đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 39
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 39
2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 39
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 40
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
2.3.1 Các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh 40
2.3.2 Các chỉ tiêu về quy mô và chất lượng hoạt động tín dụng 41
2.3.3 Chỉ tiêu về số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng 41
2.3.4 Các chỉ tiêu về số lỗi rủi ro tác nghiệp trong hoạt động tín dụng 42
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI BIDV THÁI NGUYÊN 43
3.1 Tổng quan về BIDV Thái Nguyên 43
3.1.1 Giới thiệu về BIDV 43
3.1.2 Giới thiệu về BIDV Thái Nguyên 43
3.1.3 Tình hình hoạt động tín dụng của BIDV Thái Nguyên trong giai đoạn 2010-2012 46
3.2 Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại bidv thái nguyên 56
3.2.1 Nội dung kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV Thái Nguyên 56
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
3.2.2 Thực trạng các tồn tại, sai sót trong hoạt động tín dụng tại BIDV
Thái Nguyên 70
3.2.3 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV Chi nhánh Thái Nguyên 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 101
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI BIDV THÁI NGUYÊN 102
4.1 Định hướng, mục tiêu công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của BIDV 102 4.1.1 Định hướng hoạt động tín dụng của BIDV 102
4.1.2 Định hướng công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của BIDV 103
4.1.3 Mục tiêu công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của BIDV 104
4.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV chi nhánh Thái Nguyên 105
4.2.1 Các giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát 105
4.2.2 Các giải pháp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn ngừa, kiểm soát, quản lý rủi ro tín dụng 108
4.2.3 Giải pháp hỗ trợ từ BIDV 110
4.2.4 Giải pháp hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan quản lý nhà nước 112
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 114
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BIDV : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV Thái Nguyên : Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Thái Nguyên CTCP : Công ty cổ phần
KSNB : Kiểm soát nội bộ
LNTT : Lợi nhuận trước thuế
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả kinh doanh qua các năm (2010-2012) 50
Bảng 3.2 Chỉ tiêu về số lƣợng khách hàng có quan hệ tín dụng (2010-2012) 50
Bảng 3.3 Dƣ nợ tín dụng và thị phần dƣ nợ tín dụng của các NHTMtrên địa bàn năm 2010-2012 53
Bảng 3.4 Bảng xếp hạng khách hàng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 58
Bảng 3.5 Phân loại nợ theo kết quả định hạng 67
Bảng 3.6 Số liệu về dƣ nợ phân theo nhóm tại BIDV Thái Nguyên 69
Bảng 3.7 Số dƣ quỹ dự phòng rủi ro của BIDV Thái Nguyên các năm 2010-2012 70
Bảng 3.8 Số lỗi phát sinh về tài sản bảo đảm 71
Bảng 3.9 Số lƣợng cán bộ trong hệ thống KSNB hoạt động tín dụng 84
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức của BIDV Thái Nguyên 45
Sơ đồ 3.2 Mô hình tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại
BIDV Thái Nguyên 78
Biểu đồ 3.1 Thị phần tín dụng trên địa bàn tại thời điểm 30/11/2012 51 Biểu đồ 3.2 So sánh tăng trưởng dư nợ tín dụng các NHTMtrên địa bàn năm
2010-2012 54
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán…phục
vụ cho phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, các cá nhân với đặc thù kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Ngân hàng thương mại (NHTM) là trung gian tài chính của nền kinh tế Nó thực hiện huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế và sử dụng các nguồn vốn huy động này để thực hiện cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế và các dịch vụ ngân hàng nhằm tạo ra lợi nhuận
Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng là nghiệp
vụ sử dụng vốn quan trọng nhất của NHTM vì nó giúp quay vòng nguồn vốn huy động đầu vào và tạo ra lợi nhuận cao nhất (70-80%) cho NHTM Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao nhất Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng đúng hạn như đã cam kết Từ rủi
ro này có thể dẫn đến khả năng mất thanh toán của ngân hàng do không thu hồi được vốn cho vay để thanh toán các khoản huy động đầu vào Hơn nữa, thời gian gần đây ngày càng xảy ra nhiều vụ việc gây tổn thất nghiêm trọng cho các NHTM
và khách hàng hoặc do cán bộ ngân hàng hoặc do khách hàng đơn phương hoặc móc nối với nhau để lừa đảo, chiếm đoạt vốn và tài sản mà bộ phận kiểm soát nội
bộ của các ngân hàng không phát hiện kịp thời Để hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng, ngoài các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng thì việc thiết kế một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả của NHTM đối với nghiệp vụ tín dụng sẽ góp phần quan trọng trong việc kiểm soát và giám sát rủi ro tín dụng, hạn chế được sự thất thoát vốn tín dụng của ngân hàng
Mặt khác, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đã và đang trong quá trình toàn cầu hóa, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì vấn đề tự do hóa tài chính từng bước hội nhập kinh tế khu vực và thế giới không còn là sự lựa chọn của bất kỳ một quốc gia nào Hội nhập đòi hỏi các NHTM phải nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực quản lý và đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả Vì vậy, một trong các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của các NHTM Việt Nam nói
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
chung và hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói riêng là hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, đặc biệt đối với nghiệp vụ tín dụng nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh trong hoạt động kinh doanh
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Thái Nguyên (BIDV Thái Nguyên) là chi nhánh cấp 1 trực thuộc hệ thống BIDV Nằm trên địa bàn là một tỉnh gần với thủ đô, có nhiều khu công nghiệp, nhiều trường đại học, dân cư đông đúc, tiềm năng phát triển ngành ngân hàng lớn, do đó, thu hút khá nhiều các ngân hàng hoạt động, tính cạnh tranh cao Để giữ vững được vị thế và uy tín của một ngân hàng dẫn đầu trên địa bàn, việc tăng cường công tác kiểm soát nội bộ là một trong những biện pháp giúp BIDV Thái Nguyên quản lý hiệu quả hoạt động tín dụng
Xuất phát từ thực tế nêu trên, trải qua quá trình học tập, nghiên cứu, tôi đã
lựa chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Thái Nguyên” với mong muốn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị điểu hành tại ngân hàng
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài thực hiện với mục tiêu đánh giá lại thực trạng công tác kiểm soát nội
bộ đối với hoạt động tín dụng tại BIDV Thái Nguyên Từ đó, đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề mang tính lý luận về NHTM, kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại NHTM
- Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng, đánh giá những
ưu điểm cũng như những hạn chế trong công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV Chi nhánh Thái Nguyên
- Đề xuất các giải pháp góp phần khắc phục các hạn chế và hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV Chi nhánh Thái Nguyên nhằm đảm bảo ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả, đạt được các mục tiêu đề ra
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của Luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội
bộ đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV Thái Nguyên
- Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV Thái Nguyên
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Lý luận về kiểm soát nội bộ
1.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ
Có nhiều tổ chức khác nhau đưa ra các quan niệm về Kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ:
Uỷ ban chuẩn mực kiểm toán quốc tế (The International Auditing and Assuarance Standards Board - IAASB) đưa ra khái niệm: “Kiểm soát nội bộ là toàn
bộ các biện pháp kiểm tra, kế toán hoặc các biện pháp khác do Ban Giám Đốc chịu trách nhiệm xây dựng, áp dụng và giám sát nhằm mục đích bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, tính tin cậy của các ghi chép kế toán và của các báo cáo tài chính năm được lập trên cơ sở các ghi chép đó, việc tuân thủ các quy chế và thủ tục hiện hành và việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp” (ISA, 2009)
Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (American Institute of Certificated Public Accountant- AICPA) đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội
bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản có của họ, kiểm tra
sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài” (AICPA)
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (The International Federation of Accountant- IFAC) thì: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo Hệ thống kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn cho tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép
kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy” (IFAC)
Theo định nghĩa của Viện kiểm toán nội bộ quốc tế (Institute of Internal Audit - IIA): “Hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng là tập hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng,
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
được thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của ngân hàng
và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra” (IIA)
Báo cáo COSO (Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) năm 1992 đưa ra khái niệm như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và qui định được tuân thủ; Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” (Báo cáo COSO, 1992)
Ngày 29/12/2011 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của
tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hiệu lực thực hiện từ ngày 12/02/2012 Theo đó, hệ thống KSNB được hiểu là “tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tư này và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra” (Thông tư 44/2011/TT-NHNN, 2011) Qua các khái niệm trên
có thể nhận thấy những đặc điểm nổi bật của hệ thống kiểm soát nội bộ là:
- Kiểm soát nội bộ là một chuỗi các hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Nó là phương tiện giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu
- Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu… mà còn bao gồm những con người trong tổ chức Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng
- Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện Trong quá trình vận hành, hệ thống kiểm soát có thể tồn tại yếu kém, những sai lầm của con người dẫn đến mục tiêu không được thực hiện Kiểm soát nội bộ chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót nhưng không thể đảm bảo là chúng không xẩy ra Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cơ bản để quyết định trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó Do vậy, người
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
quản lý có thể nhận thức được mọi rủi ro nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá lớn thì không thể áp dụng các thủ tục kiểm soát
1.1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ
Dù đặc điểm hoạt động của mỗi tổ chức có khác nhau thì vẫn có 05 bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm:
1.1.2.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát tạo ra sắc thái chung của một tổ chức, thông qua việc chi phối ý thức kiểm soát của các thành viên Môi trường kiểm soát là nền tảng cho tất cả các thành phần khác của kiểm soát nội bộ Những nhân tố của môi trường kiểm soát được ghi nhận bởi báo cáo COSO 1992 gồm có:
a Triết lý quản lý và phong cách điều hành
Triết lý quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của nhà quản lý Phong cách điều hành thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của nhà quản lý khi điều hành doanh nghiệp Tiêu chí để đánh giá các nhân tố này bao gồm:
Mức độ rủi ro kinh doanh mà nhà quản lý có thể chấp nhận - mạo hiểm hay thận trọng
Sự tiếp xúc giữa nhà quản trị cấp cao và người quản lý điều hành
Thái độ và hành động đối với việc lập báo cáo tài chính bao gồm những khuynh hướng khác nhau trong kế toán, áp dụng những nguyên tắc kế toán, mức độ khai báo thông tin trên báo cáo tài chính và kể cả quan điểm về gian lận và giả mạo chứng từ sổ sách
b Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là việc thiết lập bộ máy thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức giúp cung cấp khuôn khổ trong đó hoạt động của tổ chức được lập
kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và giám sát Cơ cấu tổ chức cần xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu đối với từng hoạt động, xác định cấp bậc cần báo cáo thích hợp Cơ cấu tổ chức khác nhau tùy theo quy mô và đặc điểm của tổ chức Cơ cấu tổ chức thúc đẩy hoặc hạn chế việc thực hiện các hoạt động kiểm soát Các tiêu chí để đánh giá cho nhân tố này bao gồm:
Sự thích hợp của cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp và khả năng cung cấp thông tin cần thiết của nhà quản lý
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Mức độ phù hợp giữa trách nhiệm theo cơ cấu tổ chức với nhận thức của những người quản lý về nhiệm vụ đó
Khả năng đáp ứng về kiến thức, kinh nghiệm đối với nhiệm vụ được giao của các nhà quản lý
c Phương pháp phân chia quyền hạn và trách nhiệm
Phương pháp phân chia quyền hạn và trách nhiệm là mức độ giao quyền từ trên xuống của hệ thống tổ chức, là việc xác định mức độ tự chủ, quyền hạn của từng cá nhân hay từng nhóm trong việc đề xuất và giải quyết vấn đề, trách nhiệm báo cáo với các cấp có liên quan Quyền hạn được giao tương xứng với trách nhiệm
và năng lực của từng thành viên Mỗi người phải hiểu được công việc cụ thể họ sẽ phụ trách và nó ảnh hưởng đến người khác như thế nào trong việc góp phần hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp Để phân chia quyền hạn và trách nhiệm phù hợp cần dựa vào các tiêu chí sau đây:
Phù hợp với mục tiêu của tổ chức, chức năng hoạt động, yêu cầu trách nhiệm về hệ thống thông tin và quyền hạn thay đổi
Phù hợp với các tiêu chuẩn và thủ tục kiểm soát
Sự tương xứng giữa số lượng, năng lực của các thành viên, với mức độ công việc và quy mô của doanh nghiệp
d Cam kết về năng lực
Cam kết về năng lực là việc người quản lý đặt yêu cầu các nhân viên đủ năng
lực cho công việc được giao Yếu tố này giúp đáp ứng mục tiêu kiểm soát nội bộ, đảm bảo thực hiện các yêu cầu của thủ tục kiểm soát Vì vậy cam kết về năng lực cần được cụ thể hóa thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cho mỗi công việc
cụ thể và cần cân bằng giữa chi phí và lợi ích Tiêu chí đánh giá nhân tố này:
Mọi công việc cụ thể trong tổ chức phải có bảng mô tả các tác vụ một cách
rõ ràng Bảng mô tả này có thể dưới dạng một bảng mô tả công việc hoặc dưới một hình thức khác
Mỗi công việc cần phải được phân tích về yêu cầu đối với kiến thức và kỹ năng
e Chính sách nhân sự
Chính sách nhân sự là các chính sách và các qui định liên quan đến việc tuyển dụng, huấn luyện, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật nhân viên Nó
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
có ảnh hưởng quan trọng đến việc hạn chế rủi ro của kiểm soát nội bộ Các chính sách kiểm soát phụ trợ cũng không kém phần quan trọng như định kỳ thay đổi nhiệm vụ của nhân viên để tránh và phát hiện gian lận, sai sót có thể xẩy ra Nhà quản lý cần phải thiết lập các chương trình động viên khuyến khích bằng các hình thức khen thưởng và nâng cao mức khuyến khích cho các hoạt động nổi bật Đồng thời, các hình thức kỷ luật nghiêm khắc cho các hành vi vi phạm cũng cần được các nhà quản lý quan tâm Khi đánh giá về các chính sách nhân sự, cần dựa vào các tiêu chí dưới đây:
Chính sách và thủ tục cho việc tuyển dụng, huấn luyện, đề bạt và trợ cấp thích hợp cho nhân viên
Có biện pháp điều chỉnh thích hợp cho sự khác biệt giữa các chính sách nhân sự với các chính sách và thủ tục kinh doanh
Cần kiểm tra và lựa chọn các ứng cử viên có trình độ, năng lực và kinh nghiệm phù hợp
Mức độ phù hợp giữa sự duy trì nhân viên, tiêu chuẩn đề bạt, kỹ thuật đánh giá khả năng làm việc, mối quan hệ về nguyên tắc đạo đức và các hành vi khác
g Sự liêm chính và giá trị đạo đức
Sự liêm chính và giá trị đạo đức là tính cách, bản chất của con người thể hiện qua hoạt động hàng ngày trong một tổ chức Nó chịu sự tác động của văn hóa tổ chức Những nhà quản lý cấp cao giữa một vai trò chủ đạo trong việc hình thành văn hóa tổ chức Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trước tiên phụ thuộc trực tiếp vào sự liêm chính và tôn trọng các giá trị đạo đức của những thành viên liên quan đến quá trình kiểm soát Sự liêm chính và tôn trọng các giá trị đạo đức là yếu tố chính của môi trường kiểm soát, nó tác động đến các thành phần khác của kiểm soát nội bộ Tiêu chí đánh giá nhân tố này bao gồm:
Sự tồn tại quy định về đạo đức nghề nghiệp hoặc thông lệ kinh doanh được chấp nhận, quy định xử lý các trường hợp mâu thuẫn về quyền lợi và những quy định chuẩn mực về đạo đức khác Những quy định này phải được áp dụng trong thực tế
Quy định về cách đối xử với khách hàng, nhà cung cấp phải dựa trên một tinh thần trung thực và công bằng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Loại bỏ sức ép đối với việc thỏa mãn mục tiêu phi hiện thực đặc biệt là đối với những mục tiêu trong ngắn hạn, giới hạn phạm vi áp dụng phương pháp khuyến khích vật chất đơn thuần dựa trên kết quả công việc
h Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán
Hội đồng quản trị và Ủy Ban kiểm toán là những thành viên có kinh nghiệm,
uy tín trong doanh nghiệp, giúp tạo lập môi trường kiểm soát tốt và giám sát bộ máy quản lý Ủy Ban kiểm toán trực thuộc hội đồng quản trị, gồm những thành viên trong và ngoài hội đồng quản trị nhưng không tham gia vào việc điều hành doanh nghiệp Các nhân tố để xem xét và đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị và
Ủy ban kiểm toán là mức độ độc lập, kinh nghiệm, uy tín, mối quan hệ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
1.1.2.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là bộ phận thứ hai của kiểm soát nội bộ, là quá trình nhận dạng và phân tích những rủi ro ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu, từ đó có thể quản trị được rủi ro Rủi ro là những nguy cơ làm cho mục tiêu của tổ chức không thể thực hiện được, phát sinh từ các nguồn bên ngoài lẫn bên trong của tổ chức Quá trình đánh giá rủi ro bao gồm:
- Xác định mục tiêu: Xác định mục tiêu thật ra không phải là thành phần
của kiểm soát nội bộ nhưng là điều kiện tiên quyết, là cơ sở quan trọng để đánh giá rủi ro
+ Mục tiêu hoạt động:
Thể hiện ở hiệu lực và hiệu quả các hoạt động
Gắn với nhiệm vụ cơ bản của tổ chức
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
+ Mục tiêu báo cáo tài chính:
Báo cáo tài chính đáng tin cậy
Tăng khả năng huy động nguồn lực
Phụ thuộc vào tiêu chuẩn bên ngoài
- Nhận dạng rủi ro: Rủi ro là những sự kiện làm suy giảm mục tiêu, gồm có
rủi ro về hoạt động, rủi ro về tuân thủ, rủi ro về báo cáo tài chính Các nhân tố tác động đến rủi ro gồm:
+ Nhân tố bên ngoài: Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng, chiến lược hoặc hoạt động của đối thủ cạnh tranh, quy định của luật pháp, thay đổi trong nền kinh tế, thảm họa thiên nhiên, …
+ Nhân tố bên trong: Hệ thống thông tin, năng lực người quản lý và nhân viên, thay đổi người quản lý, …
Có thể sử dụng các phương pháp sau để nhận dạng rủi ro: sử dụng các kỹ thuật phân tích (PEST, 5F, 7S…); thông qua việc nghiên cứu định kỳ sự thay đổi của nền kinh tế, ngành nghề có thể ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức; thông qua công tác lập kế hoạch chiến lược, dự toán ngân sách, …
- Phân tích rủi ro: là việc phân tích về mức độ thiệt hại và khả năng xảy ra
của rủi ro
- Quản trị rủi ro: gồm lựa chọn chiến lược đối phó, xem xét quan hệ lợi ích
chi phí và xem xét quan hệ với mức rủi ro có thể chấp nhận được Quản trị rủi ro được tiến hành dựa trên kết quả của việc phân tích rủi ro, tuy nhiên đây là một phần của quy trình quản lý, không thuộc về kiểm soát nội bộ
1.1.2.3 Các hoạt động kiểm soát
Các hoạt động kiểm soát là tập hợp những chính sách, thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện, là các hành động cần thiết cần thực hiện để đối phó với rủi ro đe dọa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức Có nhiều loại hoạt động kiểm soát, dưới đây là một số hoạt động kiểm soát chủ yếu:
- Phân chia trách nhiệm: Không để cho một cá nhân nắm tất cả các khâu
trong quy trình nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi kết thúc Phân chia trách nhiệm giúp sai sót dễ phát hiện và gian lận khó xảy ra hơn
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Xử lý thông tin: bao gồm các nội dung:
+ Ủy quyền và xét duyệt: đảm bảo nguyên tắc tất cả các nghiệp vụ đều phải
có người chịu trách nhiệm, tránh chồng chéo trong phê duyệt, cân bằng giữa ủy quyền và xét duyệt trực tiếp, cần có quy định về cơ sở và dấu hiệu của sự phê duyệt
+ Chứng từ: là công cụ kiểm soát quan trọng:
Lập chứng từ: biểu mẫu chứng từ đầy đủ, đánh số trước liên tục, lưu một bản tại bộ phận lập
Lưu chuyển chứng từ qua các bộ phận lập để thực hiện xét duyệt và kiểm soát
Kế toán kiểm soát chứng từ trước khi ghi chép giúp đảm bảo nghiệp vụ thực sự xảy ra
Lưu trữ chứng từ giúp xác định trách nhiệm của người lập, người phê duyệt
và các bên liên quan
+ Đối chiếu và xử lý khác biệt: Việc đối chiếu giúp phát hiện việc xử lý hoặc ghi chép sai, bỏ sót hay trùng lắp của các bộ phận Đối chiếu được thực hiện giữa chứng từ với chứng từ, giữa sổ sách với sổ sách, giữa chứng từ với sổ sách, giữa sổ sách với thực tế Đối chiếu phải được thực hiện định kỳ và để lại dấu vết (biên bản hoặc ký xác nhận) Các khác biệt được phát hiện thông qua đối chiếu phải được ghi nhận, theo dõi và xử lý
+ Kiểm tra độc lập: kiểm tra trước khi nghiệp vụ xảy ra và sau khi nghiệp vụ xảy ra
- Bảo vệ tài sản: là các hoạt động kiểm soát của doanh nghiệp nhằm giảm
thiểu rủi ro các tài sản của đơn vị bị mất mát, lãng phí, lạm dụng, hư hỏng, phá hoại
- Sử dụng các chỉ số hoạt động: Chỉ số hoạt động là thước đo những phương diện
khác nhau của các hoạt động trong đơn vị Tính toán và so sánh các chỉ số hoạt động giữa thực tế với tiêu chuẩn, giữa kỳ này với kỳ trước… giúp nhận dạng những thay đổi bất thường hoặc không hợp lý để xác định nguyên nhân và có biện pháp thích hợp
1.1.2.4 Thông tin và truyền thông:
Hệ thống này được thiết lập để mọi thành viên trong tổ chức có khả năng nắm bắt và trao đổi thông tin cần thiết cho việc điều hành, quản trị và kiểm soát các hoạt động
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Thông tin: Thông tin là những tin tức cần thiết giúp từng cá nhân, bộ phận
thực hiện trách nhiệm Những thông tin cần thiết phải được xác định, thu thập và truyền đạt tới những cá nhân, bộ phận có liên quan một cách lịp thời và thích hợp
Hệ thống thông tin của doanh nghiệp tạo ra các báo cáo, trong đó chứa đựng những thông tin về tài chính, hoạt động hay tuân thủ, giúp cho nhà quản lý điều hành và kiểm soát doanh nghiệp
Hệ thống thông tin phải đạt được các yêu cầu sau: hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh, hỗ trợ cho sang kiến mang tính chiến lược, tích hợp với hoạt động kinh doanh, phối hợp hệ thống thông tin cũ và mới
Chất lượng thông tin phải đạt các tiêu chí sau: thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và dễ truy cập
- Truyền thông: là thuộc tính của hệ thống thông tin, là việc trao đổi và
truyền đạt các thông tin cần thiết tới các bên có liên quan cả trong lẫn ngoài doanh nghiệp Truyền thông bảo đảm các kênh thông tin bên trong và bên ngoài đều hoạt động hữu hiệu
1.1.3 Các hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu chỉ có thể hạn chế tối đa các sai phạm chứ không thể đảm bảo rủi ro, gian lận và sai sót không xẩy ra Những hạn chế vốn có của kiểm soát nội bộ bao gồm:
- Kiểm soát nội bộ khó ngăn chặn được gian lận và sai sót của người quản lý cấp cao Các thủ tục kiểm soát là do người quản lý đặt ra, nó chỉ kiểm tra việc gian lận và sai sót của nhân viên Khi người quản lý cấp cao cố tình gian lận, họ có thể tìm cách bỏ qua các thủ tục kiểm soát cần thiết
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Bất kỳ một hoạt động kiểm soát nào của kiểm soát nội bộ cũng phụ thuộc vào yếu tố con người Con người là nhân tố gây ra sai sót từ những hạn chế xuất phát từ bản thân như: vô ý, bất cẩn, sao lãng, đánh giá hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới
- Sự gian lận của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các bộ phận bên ngoài tổ chức;
- Nhà quản lý lạm quyền: Nhà quản lý bỏ qua các quy định kiểm soát trong quá trình thực hiện nghiệp vụ có thể dẫn đến việc không kiểm soát được các rủi ro
và làm cho môi trường kiểm soát trở nên yếu kém
- Hoạt động kiểm soát chỉ tập trung vào các sai phạm dự kiến, do đó khi xẩy ra các sai phạm bất thường thì thủ tục kiểm soát trở nên kém hữu hiệu thậm chí vô hiệu
- Chi phí thực hiện hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do sai sót hay gian lận xẩy ra
- Những thay đổi của tổ chức, thay đổi quan điểm quản lý và điều kiện hoạt động có thể dẫn đến những thủ tục kiểm soát không phù hợp
Tóm lại, kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện kiểm soát nội bộ chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót, gian lận nhưng không thể đảm bảo là chúng không xẩy ra Chính vì vậy, một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đến đâu cũng đều tồn tại rủi ro nhất định Vấn đề là người quản lý đã nhận biết, đánh giá và giới hạn chúng trong mức độ chấp nhận được
1.2 Lý luận về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm, chức năng của ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
- Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010 có nêu: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản
là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
1.2.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Xét về mọi mặt thì ngày nay NHTM là loại tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất phục vụ công chúng
Việc các ngân hàng thương mại nắm giữ tài sản nhiều hơn mọi định chế tài chính khác, hoặc các ngân hàng tượng trưng cho một gạch nối thiết yếu để chuyển các chính sách kinh tế của chính phủ - đặc biệt là chính sách tiền tệ - đến các thành phần còn lại của nền kinh tế là minh chứng đầu tiên thể hiện vai trò này của ngân hàng
Mặt khác, tiền gửi ngân hàng là một trong những thành phần lớn nhất của nguồn cung tiền cho nền kinh tế và những thay đổi về cung tiền có quan hệ chặt chẽ đến sự thay đổi hàng hóa, giá cả dịch vụ, còn tín dụng ngân hàng và các dịch vụ ngân hàng là nhu cầu thiết yếu của tất cả các chủ thể kinh tế, nó tạo ra khả năng thực hiện toàn bộ quá trình kinh tế Chính quyền cũng dựa vào ngân hàng như
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
nguồn tín dụng khi thâm hụt nguồn chi tiêu Ngân hàng còn là nguồn lực chính trong các thị trường trái phiếu, cổ phiếu
Vai trò này có được là do ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng quan trọng sau:
- Trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức
năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
- Trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các
doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế
sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
- Tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của
NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại
và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM
là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn
1.2.2 Khái niệm, vai trò, các loại hình tín dụng ngân hàng
1.2.2.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là một loại giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán
Theo điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng thì: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” (Luật các tổ chức tín dụng, 2010)
Đặc trưng của tín dụng là: tín dụng có tính rủi ro, tín dụng mang yếu tố lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả
1.2.2.2 Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và rủi ro trong kinh doanh cũng chủ yếu tập trung ở lĩnh vực này, sau đó là các nghiệp vụ kinh doanh giao dịch và các nghiệp vụ khác Vai trò của nó thể hiện trên các mặt:
- Về mặt tài chính, đây là nghiệp vụ tạo thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của Tài sản Có của NHTM Những yếu kém trong nghiệp vụ này sẽ làm cho tình hình tài chính của NHTM bị đe dọa
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Về mặt kinh doanh, cho vay là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất do
nó luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng Vì hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ tức huy động vốn tiền tệ
từ bên ngoài và sử dụng vốn huy động để kinh doanh tạo ra lợi nhuận từ thu nhập lãi chênh lệch đầu ra và chi phí huy động vốn đầu vào nên ngân hàng luôn phải tính toán việc sử dụng vốn sao cho hiệu quả nhất Nghiệp vụ cho vay không những đem lại thu nhập về tiền lãi cho ngân hàng mà còn là tiền đề kéo theo các dịch vụ khác của ngân hàng phát triển như: thanh toán quốc tế thông qua nghiệp vụ tài trợ ngoại thương, thẻ thanh toán và các giao dịch tài khoản tiền gửi
- Đối với xã hội, hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại còn có vai trò rất to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc cung ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đầu tư, tạo việc làm, hỗ trợ tiêu dùng và nhu cầu làm nhà ở cho dân cư
1.2.2.3 Các loại hình tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng có rất nhiều loại hình tùy thuộc vào tiêu thức phân loại Tuy nhiên có một số cách phân loại chủ yếu sau:
- Phân loại theo thời gian: việc phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa
quan trọng đối với hoạt động ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tổ chức tín dụng cũng như hoàn trả của khách hàng Theo cách phân loại này tín dụng được chia làm ba loại: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn
và tín dụng dài hạn
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm trở xuống, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm, loại tín dụng này chủ yếu được sử dụng để đầu tư, mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm Tín dụng dài hạn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: xây dựng nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp lớn, xây dựng các dự án lớn
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Phân loại theo hình thức tài trợ: gồm cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho
thuê tài chính
Cho vay: là một hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận của hai bên với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi
Chiết khấu: là hình thức trao đổi trái quyền, cụ thể là ngân hàng ứng trước cho khách hàng một khoản tiền tương ứng với giá trị thương phiếu mà khách hàng
có nhu cầu chiết khấu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn
Bảo lãnh: là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, sau đó khách hàng phải nhận nợ và trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay
Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách thuê theo những thỏa thuận nhất định Sau một thời gian nhất định, khách hàng phải trả
cả gốc và lãi cho ngân hàng Đây thường là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên
cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng với khách hàng thuê Khi hết thời gian thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê
- Phân loại theo tài sản đảm bảo: việc phân loại theo tiêu thức này rất quan
trọng đối với các Ngân hàng, vì tài sản đảm bảo cho các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách phát mại tài sản đảm bảo đó để thu nợ trong trường hợp nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh) không đủ hoặc không có Thông thường theo tiêu thức này tín dụng được chia thành hai loại: tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm
Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng mà khi cho vay, đòi hỏi người vay vốn phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba
Tín dụng không có bảo đảm (hay còn gọi là tín chấp): là loại tín dụng không
có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Phân loại theo ngành kinh tế:
Tín dụng nông nghiệp: là loại tín dụng phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp
Tín dụng công nghiệp: là loại tín dụng phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp
Tín dụng thương mại dịch vụ: là loại tín dụng nhằm tài trợ cho hoạt động cung ứng dịch vụ, mua bán, khách sạn, du lịch,…
Cách phân loại này cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ chính để có chính sách khách hàng phù hợp
Ngoài các tiêu thức trên, tín dụng còn có thể phân loại theo phương pháp cho vay như tín dụng trực tiếp, tín dụng gián tiếp; theo phương pháp hoàn trả như tín dụng trả góp, tín dụng phi trả góp; theo mục đích sử dụng như tín dụng tiêu dùng, tín dụng sản xuất; theo đối tượng tín dụng như tín dụng tài trợ cho khách hàng lưu động, tín dụng cho tài trợ tài sản cố định; theo mức độ rủi ro như tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, tín dụng quá hạn có khả năng thu hồi nợ, tín dụng quá hạn khó thu hồi nợ…
Các cách phân loại này cho ta thấy tín dụng ngân hàng rất đa dạng và phong phú, đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý của các NHTM nói riêng và của nền kinh tế thị trường nói chung
Tùy theo yêu cầu của khách hàng và các quy định cụ thể của Nhà nước đối với việc cho vay của các NHTM, các NHTM có thể áp dụng các loại tín dụng phù hợp cho kế hoạch của mình, đảm bảo lợi nhuận và an toàn tài sản Ngân hàng
• Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ sự yếu kém về tài chính của khách hàng, các tác động bất thường của môi trường kinh doanh, sự giảm sút giá trị của tài sản đảm bảo cho khoản vay và các nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan khác
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
• Rủi ro tín dụng phát sinh cao sẽ ảnh hưởng đến sự an toàn về tài chính của ngân hàng dẫn đến phát sinh rủi ro thanh khoản của ngân hàng do không thu hồi kịp tiền để thanh toán các khoản vốn huy động phải trả đến hạn và có thể khiến cho ngân hàng bị sụp đổ, phá sản
1.2.3.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
- Nguyên nhân khách quan
Môi trường kinh doanh biến động ảnh hưởng đến khả năng tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng Bên cạnh đó, thực lực về tài chính của khách hàng kém
và ỷ lại, chậm thích nghi với môi trường
Khách hàng không có kế hoạch kinh doanh tốt, cụ thể, rõ ràng và hợp lý, không dự báo trước đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng như thị trường, chi phí, cạnh tranh, nguồn lực…Nói chung, thực lực của khách hàng kém
Do tư cách của người vay kém, khách hàng không có phẩm chất tốt, gian lận Môi trường pháp lý, kinh tế vĩ mô chưa hoàn chỉnh
Thiếu thông tin kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế
Tài sản đảm bảo do ngân hàng nắm giữ bị giảm sút giá trị
Các nguyên nhân khác về sự thay đổi điều kiện kinh doanh, bộ máy quản lý, tình trạng gia đình của khách hàng vay, nguồn thu nhập, thiên tại, hỏa hoạn
- Nguyên nhân chủ quan
Do chính sách của người điều hành ngân hàng muốn tăng chỉ tiêu dư nợ mà không thực hiện đầy đủ các bước kiểm soát khi cho vay
Do năng lực và trình độ của cán bộ tín dụng yếu kém
Nhân viên tín dụng không tìm hiểu kỹ và không đánh giá được tư cách khách hàng
Thông tin về khoản vay thu thập không đầy đủ đẫn đến cho vay sai mục đích Không phân tích rõ môi trường kinh doanh của khách hàng, nguồn thu nhập, tài sản đảm bảo…
Không hiểu rõ nhu cầu của khách hàng vay, không cơ cấu khoản vay cho phù hợp với luồng tiền của họ do không hiểu luồng tiền của khách hàng vay…
Quy trình tín dụng không đầy đủ và chặt chẽ, để sơ hở các yếu tố pháp lý trên hợp đồng vay gây bất lợi cho ngân hàng
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Sự gian lận của nhân viên tín dụng, thông đồng với khách hàng
Quản lý khoản cho vay kém, không thường xuyên kiểm tra, giám sát, từ đó không phát hiện kịp thời những dấu hiệu có vấn đề
1.3 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại
1.3.1 Các yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
Điều 4 Thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội
bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ban hành ngày 29/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã nêu rõ các yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ như sau:
- Các rủi ro có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả và mục tiêu hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được nhận dạng, đo lường, đánh giá thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp Khi có sự thay đổi về mục tiêu kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ và hoạt động kinh doanh mới, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải rà soát, nhận dạng rủi ro liên quan để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy trình, quy định kiểm soát nội bộ phù hợp
- Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ là một phần không tách rời các hoạt động hằng ngày của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Kiểm soát nội bộ được thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp
vụ tại tất cả các đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài dưới nhiều hình thức như:
+ Phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch; bảo đảm tách bạch nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện giao dịch;
+ Quy trình thẩm định, chấp thuận và duyệt cho phép thực hiện giao dịch; bảo đảm một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 02 cán bộ tham gia, một người thực hiện giao dịch và một người kiểm soát giao dịch, không có cá nhân nào có thể một mình thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoại
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
trừ những giao dịch trong hạn mức được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho phép phù hợp với quy định của pháp luật
- Phân cấp ủy quyền phải được thiết lập, thực hiện hợp lý, cụ thể, rõ ràng, tránh xung đột lợi ích; bảo đảm một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau; đảm bảo mọi cán bộ trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không
có điều kiện để thao túng hoạt động, không minh bạch thông tin phục vụ cho mục đích cá nhân hoặc che giấu hành vi vi phạm quy định của pháp luật và quy định nội
bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Bảo đảm chấp hành chế độ hạch toán, kế toán theo quy định và phải có hệ thống thông tin nội bộ về tài chính, về hoạt động, về tình hình tuân thủ trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tình hình kinh tế, thị trường bên ngoài hợp lý, tin cậy, kịp thời nhằm phục vụ cho công tác quản trị, điều hành hiệu quả
- Hệ thống thông tin, công nghệ thông tin của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được giám sát, bảo vệ hợp lý, an toàn và phải có cơ chế quản lý
dự phòng độc lập nhằm xử lý kịp thời những tình huống bất ngờ, bao gồm cả thiên tai, cháy, nổ, hệ thống bị xâm nhập, đảm bảo tuân thủ các quy định về an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin của ngành ngân hàng, đảm bảo hoạt động kinh doanh thường xuyên, liên tục của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Bảo đảm cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đều phải hiểu được tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát nội bộ; vai trò của từng cá nhân trong quá trình kiểm soát nội bộ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ được giao và phải thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định, quy trình kiểm soát nội bộ liên quan
- Người điều hành bộ phận, đơn vị nghiệp vụ và cá nhân có liên quan phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ; các tồn tại, bất cập của hệ thống kiểm soát nội bộ phải được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp; các tồn tại, bất cập lớn có thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải được báo cáo ngay cho Tổng giám đốc (Giám đốc), Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Cá nhân, bộ phận ở các cấp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên, liên tục kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các quy định, quy trình nội bộ có liên quan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện hoạt động nghiệp vụ được giao trước tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và trước pháp luật
- Lãnh đạo đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải báo cáo về kết quả tự đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị mình; đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp theo định kỳ hoặc đột xuất, theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản
lý trực tiếp
1.3.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng
Kiểm soát nội bộ bộ đối với hoạt động tín dụng trong NHTM nhằm đánh giá tính nghiêm túc, đúng đắn trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghiệp vụ tín dụng, như: Chiến lược, chính sách, các điều kiện khung trong kinh doanh tín dụng, phân chia về chức năng hoạt động
Kiểm soát nội bộ nhằm giúp phát hiện những sơ hở trong hoạt động tín dụng, những rủi ro và tiềm ẩn rủi ro hoạt động tín dụng của NHTM từ đó đề xuất với Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Xác định tính phù hợp của các khoản vay, tính chính xác, trung thực, phù hợp với số liệu kế toán: Dư nợ, nợ quá hạn, lãi suất cho vay, định giá tài sản đảm bảo, mức trích lập dự phòng
Đánh giá ảnh hưởng của nghiệp vụ tín dụng tới hiệu quả hoạt động tài chính của Ngân hàng
1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng
Để đạt được các mục tiêu của một cuộc kiểm tra, kiểm soát đối với các hoạt động tín dụng trong ngân hàng, công tác kiểm tra, kiểm soát tín dụng phải thực hiện đầy đủ chức năng và nhiệm vụ của mình, trước tiên hãy đi nghiên cứu đối tượng kiểm soát tín dụng
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.3.1 Đối tượng của kiểm soát tín dụng
Là tổng thể các nghiệp vụ thực hiện trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, cơ cấu tín dụng, cơ cấu rủi ro và các phương thức cấp tín dụng áp dụng cho khách hàng Phân tích đánh giá khách hàng, tình hình tài sản đảm bảo tín dụng, các nguyên tắc xét duyệt và cấp tín dụng, giám sát tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng, kiểm soát cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng, kiểm soát chi tiết các khoản tín dụng, kiểm soát các khoản nợ có vấn đề, kiểm tra tình hình thành lập quỹ dự phòng rủi ro
1.3.3.2 Chức năng của kiểm soát tín dụng
Kiểm tra xác định độ tin cậy của các tài liệu liên quan đến nghiệp vụ cấp tín dụng, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và các quy chế, quy định của Nhà nước đối với NHTM về các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ tín dụng, các quy định của bản thân ngân hàng đối với các bộ tín dụng có được chấp hành đầy đủ không?
Đánh giá và xác nhận tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác tín dụng
Kiểm tra, xác nhận và đánh giá tính hiệu quả của hoạt động tín dụng, việc sử dụng vốn, các quyết định, công văn có đúng đắn và hợp pháp không?
1.3.3.3 Nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng
Để làm tốt chức năng của mình, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng
có nhiệm vụ sau:
Kiểm tra, đánh giá tính phù hợp, tính hiệu lực hiệu quả của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ trong ngân hàng, độ tin cậy của các thông tin tín dụng trước khi trình ký duyệt và công bố
Kiểm tra, đánh giá sự tuân thủ của các nguyên tắc hoạt động và quản lý tín dụng đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ, các quy định của Hội đồng quản trị, ban Giám đốc Ngân hàng của cán bộ tín dụng Ngân hàng
Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý tín dụng trong bảo vệ tài sản, nguồn vốn của Ngân hàng Đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện
hệ thống quản lý điều hành kinh doanh của Ngân hàng
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.4 Quy trình kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng
Chất lượng tín dụng là một vấn đề được các nhà lãnh đạo Ngân hàng hết sức quan tâm, vì vậy nâng cao chất lượng tín dụng là một việc làm có ý nghĩa đảm bảo
an toàn vốn trong kinh doanh cũng như khẳng định vị thế, vai trò của bất kỳ ngân hàng thương mại nào
Việc thiết lập bộ phận kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại của các cấp lãnh đạo không nhằm ngoài mục tiêu này Tuy nhiên, kiểm soát tín dụng như thế nào để đạt được mục tiêu của cuộc kiểm soát cũng như đạt được nhiệm vụ
mà lãnh đạo đề ra là một vấn đề hết sức phức tạp đối với các cán bộ Ngân hàng
Việc xây dựng quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại trước hết nó phải phù hợp với tiêu chuẩn, chuẩn mực chung về một cuộc kiểm soát nội bộ áp dụng trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trên cơ sở kế thừa chuẩn mực chung về trình tự một cuộc kiểm soát kinh tế thông thường, sau nữa dựa vào nội dung, lĩnh vực kiểm soát và những điều trọng tâm nhất của kiểm soát viên về lĩnh vực tín dụng Do đó các bước thực hiện các công việc của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại có thể được áp dụng như sau:
1.3.4.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm soát
Nội dung, trật tự các bước tiến hành
- Lập kế hoạch sơ bộ:
Tiếp xúc với đối tượng được kiểm soát là bộ phận tín dụng và những người
có liên quan để tìm hiểu tình hình, thu thập thông tin về bộ phận tín dụng
Đánh giá rủi ro và xác định mức trọng yếu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng đó
Hoạch định phương hướng áp dụng các kỹ thuật kiểm soát
- Lập kế hoạch chi tiết:
Mô tả về tình hình hoạt động, đặc điểm tín dụng của ngân hàng, tổ chức của
bộ phận tín dụng, đánh giá sơ bộ về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
Xác định mục đích kiểm soát
Đánh giá sơ bộ về mức trọng yếu
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Xác định nội dung kiểm soát, thời gian và trình tự tiến hành kiểm soát
Những công việc cần phân công nhân viên của bộ phận kiểm soát nội bộ: Yêu cầu nhân lực và phân công bố trí nhân lực
Thời hạn hoàn thành cuộc kiểm soát
- Lập chương trình kiểm soát:
Xác định kiểm soát từng phần
Phạm vi và mức độ kiểm tra cần thiết
Xác định các bước chi tiết
Thu thập bằng chứng, phân tích, đánh giá để đưa ra nhận xét
Xác định thời gian kiểm soát, dự tính ngày hoàn thành và hình thức lập báo cáo kiểm soát
Bố trí lực lượng kiểm soát và sự phối hợp giữa các kiểm soát viên
1.3.4.2 Thực hiện kiểm soát
- Kiểm soát các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động tín dụng
Thu thập được bằng chứng chứng minh cho tính chính xác của các nghiệp vụ Tham chiếu với các quy định của Nhà nước, pháp luật về nghiệp vụ tín dụng, quy trình tín dụng và các chỉ tiêu an toàn khác
- Kiểm soát việc trích lập quỹ dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng
1.3.4.3 Hoàn tất công tác kiểm soát và công bố kết quả kiểm soát
- Tổng hợp các kết quả thu được và thực hiện một số các thử nghiệm
- Lập báo cáo nháp
- Lập báo cáo đầy đủ, bao gồm:
Phải ghi đầy đủ các yếu tố
Giải thích cụ thể các vấn đề kiểm soát trọng tâm hoạt động tín dụng
Đưa ra kiến nghị hợp thức
1.3.4.4 Theo dõi việc thực hiện kiến nghị đã được Giám đốc thông qua
Công việc này còn gọi là phúc tra kết quả kiểm soát nhằm kiểm tra lại việc triển khai thực hiện những kiến nghị những đề nghị xử lý và những giải pháp đã nêu trong báo cáo kiểm soát ở các bộ phận được kiểm soát
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.5 Nội dung kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng
1.3.5.1 Kiểm soát chính sách tín dụng
Mục đích của chính sách tín dụng là nhằm:
- Duy trì và phát triển một cơ cấu khách hàng bền vững;
- Tăng cường công tác kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng
- Thống nhất cách ứng xử, đảm bảo tính minh bạch, công khai trong việc cấp tín dụng đối với các khách hàng
Khách hàng dù là doanh nghiệp hay cá nhân, hộ gia đình được áp dụng các chính sách như thế nào phụ thuộc vào khách hàng có đáp ứng đủ điều kiện được xếp hạng theo Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (XHTDNB) hay không và nếu đủ thì được xếp hạng gì Đối với khách hàng đáp ứng đủ điều kiện được xếp hạng thì sau khi xác định ngành nghề, quy mô, loại hình sở hữu, NHTM
- Phần tài chính: Việc đánh giá yếu tố tài chính của doanh nghiệp định lượng qua việc phân tích báo cáo tài chính năm gần nhất Giá trị và tỷ trọng của từng chỉ tiêu phụ thuộc vào ngành kinh tế và quy mô của doanh nghiệp
- Phần phi tài chính: Các yếu tố phi tài chính được đánh giá bằng phương pháp định tính và phương pháp định lượng Tuy nhiên, do đặc thù riêng cuả mỗi ngành nên số lượng, gía trị chuẩn và trọng số của các chỉ tiêu con phụ của các ngành/nhóm ngành khác nhau là khác nhau
Để quản trị rủi ro tín dụng, cần phải xây dựng môi trường rủi ro tín dụng phù hợp với quy trình cấp tín dụng lành mạnh; hệ thống quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp; và phải kiểm soát được rủi ro tín dụng Xếp hạng tín dụng nói chung và xếp hạng doanh nghiệp nói riêng đề cập đến cả bốn lĩnh vực của quản trị rủi ro tín dụng Kết quả xếp hạng tín dụng ở mức thấp thì rủi ro khi cho vay càng cao và ngược lại Vì vậy để hạn chế rủi ro tín dụng, các NHTM thường lựa chọn những khách hàng có kết quả xếp hạng ở mức nhất định
Căn cứ vào kết quả xếp hạng, ngân hàng có thể từ chối ngay những khách hàng có mức điểm thấp, dành nhiều thời gian, nhân lực để tiếp tục thẩm định các khách hàng vay đạt mức điểm yêu cầu Vì thế, sử dụng XHTDNB sẽ tiết kiệm được
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
thời gian, công sức, giảm bớt sự can thiệp từ con người và mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng Mặt khác, XHTDNB còn là căn cứ để ngân hàng đưa ra các quyết định cấp tín dụng mới, bổ sung cho các khách hàng tốt hay “cảnh báo sớm„ để có biện pháp kịp thời đối với các khách hàng có tín nhiệm thấp
Ở khía cạnh kiểm soát rủi ro tín dụng thì XHTDNB tạo thêm một căn cứ độc lập để ngân hàng đánh giá về hiệu quả quá trình quản trị rủi ro của các bộ phận có liên quan, bảo đảm chức năng cấp tín dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi
ro tín dụng nằm trong các giới hạn thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng và các giới hạn nội bộ, phát hiện sớm các khoản tín dụng xấu, các khoản tín dụng có vấn đề
Với vai trò quản trị tín dụng, XHTDNB giúp thu thập, phân loại, quản lý, khai thác, phân tích thông tin chính xác, chi tiết về người vay, về các đặc điểm của các loại hình rủi ro và kết quả của đầu tư tín dụng vào các loại hình rủi ro đó Việc đầu tư vào hạ tầng công nghệ, hệ thống hóa, lưu giữ và tích lũy dần các thông tin cần thiết nhằm triển khai xây dựng hệ thống thông tin đầy đủ sẽ giúp NHTM dần chuẩn hóa và tích lũy kho dữ liệu về khách hàng theo thời gian, giúp quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả hơn
Khi kiểm soát chính sách tín dụng cần kiểm soát các chính sách cụ thể sau:
- Chính sách về cấp tín dụng: Kiểm soát đối tượng cho vay, mục đích vay, số
tiền vay có phù hợp về chính sách tiếp thị, phát triển khách hàng, giới hạn hay hạn mức tín dụng của khách hàng, nhu cầu vay vốn và năng lực trả nợ của khách hàng,…
- Chính sách về bảo đảm tiền vay: Kiểm soát các điều kiện khách hàng
được cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc có bảo đảm với tỷ lệ tài sản bảo đảm theo quy định
Tỷ lệ tài sản bảo đảm (TSBĐ) được tính:
Tỷ lệ TSBĐ = Tổng dư nợ cho vay vốn lưu động, số dư bảo lãnh Tổng Giá trị TSBĐ sau quy đổi
và cam kết thanh toán sau quy đổi Trong đó:
Tổng Giá trị TSBĐ sau quy đổi là tổng giá trị tài sản bảo đảm của khách hàng/bên thứ 3, bảo đảm bằng bảo lãnh sau quy đổi bảo đảm cho các khoản vay vốn lưu động, bảo lãnh và cam kết thanh toán của khách hàng