Đào Trung Kiên Viện MICA, Trường ĐHBK Hà Nội email: trung-kien.dao@mica.edu.vn Tóm tắt Với mục đích mô tả và nghiên cứu dáng đi của người, mô hình động lực học của người khi đi bộ đượ
Trang 1VCM2012
Mô hình động lực học của người khi đi bộ
A dynamic model of human gait
NCS ThS Trần Xuân Thảnh
Khoa Hàng không vũ trụ, HVKTQS email: thanhr2411@gmail.com
TS Đào Trung Kiên
Viện MICA, Trường ĐHBK Hà Nội email: trung-kien.dao@mica.edu.vn
Tóm tắt
Với mục đích mô tả và nghiên cứu dáng đi của người, mô hình động lực học của người khi đi bộ được xây dựng bằng phương pháp Lagrange loại II và sử dụng các công cụ Maple, Matlab/Simulink Mô hình được đơn giản hóa thành 8 bộ phận gồm: 2 bàn chân, 2 ống chân, 2 đùi, eo và phần thân trên (đầu, thân, tay), 7 khớp gồm: 2 khớp cổ chân, 2 khớp gối, 2 khớp hông và 1 khớp eo Các điều kiện đầu được sử dụng gồm các góc khớp, vận tốc góc khớp và vị trí của thân trên Dưới phản ứng của mô hình, đầu ra thu được gồm: các giá trị phản lực của bàn chân với mặt đất và mô-men các khớp Kết quả thu được đã khẳng định tính đúng đắn của
mô hình toán Các kết quả nghiên cứu về mô hình động lực học là cơ sở cho việc nghiên cứu thiết kế kết cấu cũng như mô hình điều khiển
Abstract
For the purpose of describing and studying human gait, a dynamic model of human walking is built by using Lagrange method and help of Maple and Matlab/Simulink The model is simplified into eight segments, including two feet, two legs, two things, waist and trunk There are seven joints for the hips, knees, ankles, and waist The solution of initial conditions for angles, velocities, and position of center of trunk is also considered From simulation, reaction forces from ground and moments at joints can be calculated as model outputs Simulation results confirmed that the mathematical model is correct, this is base to design structure and control model
Ký hiệu
Ký hiệu Đơn vị Ý nghĩa
A, B, D,
G, M, Q,
N
Các ma trận của mô hình
c
i
phần
Y
p
i
*
0
P
np
thế
Q
,
trên
P
hệ toạ độ quán tính
P
chân
P
tâm đến đầu trên của khâu P
0, 0
A A
0, 0
G G
0 x
0
G và A0 theo phương X
Trang 2Chữ viết tắt
1 Đặt vấn đề
Robot trợ lực người đi bộ (exoskeleton), một dạng
của “robot mặc” (wearable robot), là loại robot
được gắn kèm với cơ thể người mang và hoạt động
đồng bộ với cơ thể [1] Để có thể hỗ trợ tốt nhất
cho người, loại robot này cần phải được thiết kế
dựa trên các nguyên tắc hoạt động của con người
khi đi bộ Robot trợ lực người đi bộ chủ yếu hỗ trợ
phần chi dưới của người, do vậy đối tượng nghiên
cứu ở đây chính là mô hình động lực học phần chi
dưới của người khi đi bộ [2]
2 Chu kỳ bước
Phân tích hoạt động của cơ thể khi vận động là cơ
sở để xây dựng mô hình động lực học cơ cấu vận
động của người khi đi bộ, trong đó chu kỳ bước
(human gait - HG) mô tả hoạt động của chi dưới
trong 1 chu kỳ đi bộ
Đi bộ là quá trình vận động lặp đi lặp lại theo chu
kỳ của các chi, giúp cơ thể tiến về phía trước và
giữ thăng bằng Khi đi bộ, chi dưới hoạt động
trong không gian 3 chiều, nhưng chỉ có những hoạt
động trong mặt đứng dọc (sagittal plane) là đáng
quan tâm, do các thông số động học và động lực
học quan trọng nhất được biểu diễn trong mặt
phẳng này (hình H 1)
H 1 Các mặt phẳng giải phẫu người
Hoạt động của mỗi chân trong 1 chu kỳ được chia
làm hai pha: pha trụ (stance phase) và pha bước (swing phase) như trong hình H 2 Pha trụ được
chia thành 4 giai đoạn: bắt đầu - nhận tải (LRP), giữa (MST), kết thúc (TST) và chuẩn bị bước (PSW) Pha bước được chia thành 3 giai đoạn: bắt đầu (ISW), giữa (MSW) và kết thúc (TSW) Sự bắt đầu và kết thúc mỗi giai đoạn được gọi là các
sự kiện (events)
Hai chân hoạt động như nhau, vì vậy chỉ cần khảo sát chi tiết cho 1 chân, ví dụ chân phải:
- Pha trụ bắt đầu cùng với giai đoạn nhận tải (LRP), khi bàn chân phải (thường là gót) chạm đất, chịu phản lực từ mặt đất tác dụng lên Giai đoạn nhận tải kết thúc khi mũi chân trái rời khỏi mặt đất Đây cũng là giai đoạn cả 2 chân chịu tải lần
thứ nhất (double limb support)
- MST bắt đầu khi mũi chân trái rời đất và kết thúc khi toạ độ trọng tâm bắt đầu chuyển về phía trước chân trụ
- TST bắt đầu từ khi toạ độ trọng tâm bắt đầu chuyển về phía trước chân trụ và kết thúc khi gót chân trái chạm đất Trong giai đoạn này, gót chân phải bắt đầu rời mặt đất, chuyển dần điểm chịu lực sang mũi chân
- PSW bắt đầu khi gót chân trái chạm đất và kết thúc khi mũi chân phải rời đất Đây chính là lần thứ 2 cả 2 chân chịu tải
- Pha bước bắt đầu cùng với giai đoạn ISW, khi mũi chân phải rời đất và tiếp tục đến khi khớp gối
co tối đa (40-60o)
- MSW bắt đầu khi mũi chân phải rời đất, kết thúc khi khớp gối trái duỗi thẳng và xương chày chân trái vuông góc với mặt đất
- TSW bắt đầu khi xương chày vuông góc với mặt đất và kết thúc khi gót chân chạm đất, nghĩa là bắt đầu chu kỳ sau
H 2 Chu kỳ bước của người đi bộ
Trang 3VCM2012
Phần dưới hình H 2 là đồ thị biến thiên của góc
các khớp trong chu kỳ bước [3] Bảng 1 tóm tắt
các sự kiện bắt đầu và đặc điểm của mỗi giai đoạn
trong chu kỳ bước
Bảng 1: Các giai đoạn của chu kỳ bước
Pha Sự kiện bắt
đầu
Đặc điểm
LRP Gót tiếp đất Gối co 15o, bàn chân
co MST Mũi chân kia
rời đất
Giảm góc co gối (
12o), lưng uốn
PSW Gót chân kia
tiếp đất
2 chân chịu tải lần thứ nhất
ISW Mũi chân rời
đất
Kết thúc khi gối co tối đa
MSW Gối co tối đa Kết thúc khi xương
chày vuông góc mặt đất
vuông góc
Gối từ co sang duỗi, chuẩn bị gót tiếp đất
3 Xây dựng mô hình động lực học của người khi đi bộ
3.1 Các giả thiết
Mô hình người đi bộ được đơn giản hoá như hình
H 3 Hệ toạ độ quán tính được chọn với gốc nằm trên mặt đất, trục X hướng về phía trước người đi, trục Y hướng lên trên Gọi H, D, E, C, F, B,
G, A lần lượt là thân trên, eo, đùi trái, đùi phải, cẳng trái, cẳng phải, bàn chân trái và bàn chân phải Với mỗi phần P bất kỳ, ký hiệu *
P là trọng tâm và P0 là đầu mút phía dưới Trạng thái của người được biểu diễn bằng các toạ độ suy rộng q
và vận tốc suy rộng uq, với:
x, y, D, E, C, F, B, G, AT
trong đó ( , )x y là toạ độ trọng tâm phần thân trên,
D
q là góc hợp bởi eo và thân trên, E và C lần lượt là các góc hợp bởi đùi trái, phải với eo, F và
B
q lần lượt là các góc hợp bởi cẳng trái, phải với đùi, và G và q A lần lượt là các góc hợp bởi bàn chân trái, phải với cẳng chân
O
X
Y
a
E 0
C 0
B 0
H*(x,y)
H 0
D 0
A 0
F 0
G0
g
f
b
e
c
d
l h
H*
D*
B*
F*
A*
G*
l d
l e
l f
l c
l b
l g
d
e
c
g
a
l a
H 3 Các tham số của mô hình người đi bộ
Bảng 2: Các thông số động lực của cơ hệ Khâu Chiều dài
khâu (m)
Vị trí trọng tâm (m) (Trong hệ tọa độ khớp)
Khối lượng (kg)
Moment quán tính khối lượng (N/m) (Trong hệ tọa độ gắn với trọng tâm)
p
p p
Trang 4D 0,1488 0,091 0 0 8,8101 0,0738 0 0 0 0 0
3.2 Xây dựng phương trình vi phân chuyển
động
Hệ phương trình vi phân chuyển động được xác
định theo phương pháp Lagrange loại II [4] Ký
hiệu P là góc quay của phần P trong hệ toạ độ
quán tính Ta có thể tính góc quay của mỗi phần
lần lượt như sau:
0, , , , ,
H
D H D
E D E
C E C
F E F
, ,
B C B
G F G
A B A
Ký hiệu rQ là toạ độ của điểm Q bất kỳ Từ toạ độ
của *
H , toạ độ của các điểm còn lại được tính lần
lượt như sau:
*
H H l h
*
0 sin , cos T,
D
r r r j j
D H l d D D
*
E
0 0 sin , cos T,
*
C
0 0 sin , cos T,
*
0 sin , cos T,
F
F E l f F F
*
0 sin , cos T,
B
r r r j j
B C l c B B
*
0 sin , cos T,
G
r r r j j
G F l g G G
*
0 sin , cos T,
A
r r r j j
A B l a A A
Thế năng và động năng toàn phần của người được
tính lần lượt như sau:
, , , , , , ,
.
i i
i H D E C F B G A
, , , , , , ,
i H D E C F B G A
trong đó m i và I i lần lượt là khối lượng và moment quán tính của các phần tương ứng, và J
là vector chỉ phương theo trục Y Từ đây ta có thể viết được phương trình chuyển động của người theo phương pháp Lagrange:
np
dt
Q
trong đó L T V và np
Q là vector lực suy rộng không thế tương ứng với các toạ độ suy rộng Phương trình (6) có thể được viết gọn dưới dạng vector
Để mô phỏng chuyển động của người theo dữ liệu cho trước về góc của các khớp, các ràng buộc sẽ được áp dụng cho chuyển động các góc tương ứng theo dữ liệu cho trước Ngoài ra, để đơn giản, góc
eo D được coi như không thay đổi trong quá trình bước Như vậy, một ràng buộc mới cũng được áp dụng cho góc này Quá trình bước được coi như chỉ có một chân trụ duy nhất ở mỗi thời điểm Vì
vị trí của điểm tiếp xúc với mặt đất của bàn chân trụ là cố định, hai ràng buộc tương ứng theo phương X và phương Y cũng được áp dụng cho điểm tiếp xúc này Như vậy, trong pha 1 chân trụ
và 1 chân xoay có tổng cộng 9 ràng buộc, nhưng trong đó có hai ràng buộc thay đổi khi chân trụ thay đổi Tất cả các ràng buộc đều là hôlônôm Ta
có hệ phương trình mô tả các ràng buộc này khi chân EFG đứng trụ như sau:
0
, , , , , , , ( ),
0,
i i G
i D E C F B G
f t Y
A
Trong trường hợp chân CBA là chân trụ, hệ (8) có
sự thay đổi ở phương trình 2 và 3 như sau:
0
, ,
0,
,
i i A
i D E C F B G
f t Y
A
Đạo hàm theo thời gian các phương trình liên kết
và viết dưới dạng ma trận ta được:
Trang 5VCM2012
trong đó B là ma trận Jacobi của các ràng buộc,
có kích thước 9 9 , G là vector các hàm theo thời
gian
Cuối cùng, ta có phương trình chuyển động biểu
diễn quá trình bước của người có kèm các điều
kiện ràng buộc:
,
T
trong đó λ là các hệ số nhân Lagrange Hệ (11) là
một hệ phương trình vi phân đại số vì có sự tồn tại
các biến đại số λ (do có ràng buộc) nên ta không
thể lấy tích phân trực tiếp khi mô phỏng Sử dụng
phương pháp biến đổi về tọa độ suy rộng độc lập
để khử các nhân tử Lagrange, biến (11) thành một
hệ phương trình vi phân thường mà ta có thể giải
trực tiếp Để giải một hệ có n toạ độ suy rộng và
m ràng buộc, trong mỗi bước thời gian, ta tìm ma
trận N sao cho:
T
trong đó N là ma trận phần bù trực giao (null
space) của B và có kích thước nmn Các
ràng buộc của hệ được xây dựng cho các góc khớp
khác nhau nên hệ không bị suy biến trong mọi
trường hợp, và N luôn luôn tồn tại Nhân cả hai vế
phương trình thứ nhất của hệ (11) với N ta sẽ có:
Chú ý rằng trong phương trình (13), thành phần có
chứa hệ số nhân Lagrange đã bị triệt tiêu và số
phương trình đã giảm còn n m phương trình
Phương trình ràng buộc được biểu diễn dưới dạng
gia tốc bằng cách lấy đạo hàm phương trình thứ
hai trong hệ (11):
Kết hợp (13) và (14) ta sẽ có phương trình chuyển
động của hệ với các ràng buộc đã bị triệt tiêu dưới
dạng:
trong đó
n n
NM
A
B
và
1
n
NQ D
Bq G
(16)
Với hệ người đi bộ, áp dụng phương pháp trên với
9
nm , ma trận N sẽ bị suy biến vì có kích
thước 0 9 Điều đó dẫn tới các ma trận A và D
cũng bị suy biến thành
A B và D Bq G (17)
Dễ nhận thấy vì số ràng buộc đúng bằng số toạ độ suy rộng của hệ, nên chuyển động của hệ có thể được giải chỉ dựa vào phương trình ràng buộc mà không cần phương trình vi phân của chuyển động Tuy nhiên, phương trình vi phân của chuyển động vẫn cần được dùng để tính các lực liên kết của ràng buộc Trước hết, các thành phần lực suy rộng gây ra bởi lực liên kết tác dụng lên các phần của
hệ được rút từ phương trình thứ nhất của (11) như sau:
T
c
Để tính các hệ số nhân Lagrange λ, từ công thức
T
c
F B λ, nhân thêm B vào trước hai vế ta sẽ có
T
c
Từ đó ta sẽ tính được
T c
4 Mô phỏng chuyển động
Để mô phỏng chuyển động của người, dữ liệu cho trước về góc của các khớp được cho dưới dạng đồ thị như trong hình H 4 và các ràng buộc sẽ được
áp dụng cho các góc chuyển động tương ứng Các phương trình chuyển động và ràng buộc theo phương pháp Lagrange được thiết lập bằng Maple [5], sau đó được xuất sang mã lệnh C để biên dịch Quá trình giải và mô phỏng được thực hiện trong Matlab/Simulink
H 4 Dữ liệu về góc của các khớp
Hình H 5 là mô hình động lực học của hệ thống trong Simulink Trong mô hình này, khối S-function “man120920” chứa hệ phương trình vi phân và các ràng buộc, khối “data1.mat” chứa dữ liệu các góc khớp như được mô tả trong hình H 4, các khối Fc(EFG), Fc(CBA) chứa đồ thị mô-men tại các khớp hông, gối, cổ chân ở chân trụ và chân xoay
Trang 6sai so rang buoc
1 rang buoc chan
theta q
Out1
ngoai luc
man120920
In1
lamda
1 s int u
1 s int q
data1.mat
du lieu goc khop
T Time
FcXY
FcD
Fc(EFG)
Fc(CBA)
H 5 Mô hình động lực học trong Matlab/Simulink
H 6 Mô phỏng quá trình bước
a) Phản lực với mặt đất
b) Mô-men tại các khớp hông, gối, cổ chân của
chân trụ (EFG)
H 7 Phản lực và mô-men tại các khớp
Có thể thấy kết quả chạy chương trình mô phỏng trên hình H 6 giống với các công bố trong một số công trình tương tự khác, ví dụ [6], [7] Hình H 7a thể hiện phản lực của mũi bàn chân với mặt đất, giá trị phản lực theo phương Ythay đổi trong khoảng từ 700 đến 1000N Giá trị này phù hợp với khối lượng của người 77,9kg, dáng của đồ thị giống với kết quả đã công bố [8], [9]
Các đường trong hình H 7b thể hiện sự thay đổi của giá trị mô-men tại lần lượt các khớp hông, gối,
cổ chân của chân đứng trụ Phân tích biểu đồ mô-men tại các khớp (hình H 7b) có thể thấy:
- Đường 1 thể hiện quy luật biến thiên mô-men của khớp hông Trong khoảng 1/4 chu kỳ đầu, khớp hông phải duỗi ra để nâng phần thân người lên đồng thời kéo về phía trước cho tới khi thân người thẳng đứng (tương ứng với giai đoạn MST),
Trang 7VCM2012
khớp hông tiếp tục choãi và mô-men tiếp tục tăng
đạt giá trị lớn nhất khoảng 40Nm tại thời điểm
chuẩn bị nâng chân đưa về phía trước (tương ứng
giai đoạn TST)
- Với khớp gối (đường 2), đầu chu kỳ, khi gót tiếp
đất, khớp gối sinh mô-men âm (hơi co gối), sau đó
tăng dần để chống đỡ trọng lượng của cơ thể Khi
cơ thể ở trạng thái thẳng đứng, chân vuông góc với
mặt đất, mô-men có giá trị gần bằng không vì khi
đó khớp gối gần như không chịu tải
- Mô-men tại khớp cổ chân (đường 3) chủ yếu có
giá trị âm, sinh ra để đẩy cơ thể về phía trước Quy
luật biến thiên của mô-men có độ lớn tăng dần và
đạt giá trị lớn nhất khoảng 110Nm tại thời điểm
chân kia chuẩn bị tiếp đất
Qua phân tích và so sánh, có thể thấy các kết quả
nhận được phù hợp với quy luật thực tế và giống
với các công bố trước đây [8], [9]
5 Kết luận
Mặc dù để có được dáng đi bình thường, con
người cần phải sử dụng bộ não điều khiển một
cách hết sức tinh vi và chính xác, theo cách tiếp
cận cơ học hệ nhiều vật, mô hình động lực học của
người khi đi bộ đã được thiết lập để mô tả dáng đi
của người Mô hình toán được thiết lập bằng cách
sử dụng phương pháp Lagrange Phương pháp này
luôn cho số lượng phương trình ít hơn, phù hợp
với việc áp dụng các công cụ giải như Maple,
Matlab/Simulink
Các kết quả thu được đã chứng tỏ tính đúng đắn
của mô hình toán, thể hiện sự lựa chọn phương
pháp và công cụ giải hợp lý Dựa vào mô hình này
ta có thể thiết lập mô hình điều khiển, khảo sát
robot trợ lực cho người khi đi bộ
Tài liệu tham khảo
[1] Susan J Hall: Basic Biomechanics,
McGraw-Hill, 2003
[2] Gary T Yamaguchi: Dynamic Modeling of
Musculoskeletal Motion, Kluwer Academic
Publishers, 2001
[3] Andrew Valiente: Design of a Quasi-Passive
Parallel Leg Exoskeleton to Augment Load
Carrying for Walking Master of Science at the
MIT, August 2005
[4] Nguyễn Văn Khang: Động lực học hệ nhiều
vật NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2007
[5] Phạm Minh Hoàng: Maple và các bài toán ứng
dụng NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2008
[6] M G Pandy, N Berme: A Numerical Method for Simulating the Dynamics of Human
Walking Biomechanics Vol.13, p 1043-1051
[7] S Onysko, D.A Winter: A Mathematical Model for the Dynamics of Human Locomotion
Biomechanics Vol.13, p 361-368
[8] James Lanphier Patton: Forward Dynamic Modeling of Human Locomotion Master of
Science at Michigan State University, 1993 [9] Joaquin A Blaya: Force-Controllable Ankle Foot Orthosis (AFO) to Assist Drop Foot Gait
Master of Science at the MIT, February 2003 [10] Nguyễn Phùng Quang: Matlab & Simulink dành cho kỹ sư điều khiển tự động NXB Khoa
học và Kỹ thuật, 2008
Trần Xuân Thảnh nhận bằng
Kỹ sư Công nghệ chế tạo máy
tại trường Đại học Bách khoa
Hà Nội năm 2002, bằng Thạc
sỹ Công nghệ chế tạo máy tại
Học viện Kỹ thuật Quân sự năm 2007, hiện tại đang làm nghiên cứu sinh tại Học viện
Kỹ thuật Quân sự Từ năm 2002 đến nay là Giảng viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định Các hướng nghiên cứu chính gồm cơ sinh điện tử, thiết kế và gia công chính xác
Đào Trung Kiên tốt nghiệp ngành Công nghệ
thông tin của Trường Đại học Cergy-Pontoise,
Pháp vào năm 2004 Anh nhận bằng thạc sĩ về Hệ
thống phân tán của Trường Đại học Paris 6
(UPMC), Pháp năm 2006, và bằng tiến sĩ về Cơ
khí và Tự động hoá của Trường Đại học Dayeh,
Đài Loan năm 2010 Hiện anh là giảng viên,
nghiên cứu viên của Phòng nghiên cứu Môi trường Cảm thụ và Tương tác, thuộc Viện nghiên cứu quốc tế MICA, Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội Các hướng nghiên cứu chính bao gồm định vị ở môi trường trong nhà, tương tác người-hệ thống đa phương thức, động lực học
và điều khiển