1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DNA vaccine và ứng dụng DNA vaccine trong thủy sản

14 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 800,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một loại vaccine lý tưởng phải có thời gian bảo hộ dài đối với các dịch bệnh quan trọng của đối tượng, cách sử dụng đơn giản như các phương pháp ngâm, tắm hoặc cho ăn, an toàn cho cả với

Trang 1

VACCINE VÀ ỨNG DỤNG CỦA DNA VACCINE TRONG

NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

PHẦN I: MỤC LỤC

I. LỜI MỞ ĐẦU 2

II. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VACCINE TRÊN THẾ GIỚI 3

III. TÌNH HÌNH VÀ TRIỂN VỌNG SỬ DỤNG VACCINE TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 4

IV. KHÁI QUÁT VỀ VACCINE 5

IV.1 Vaccine là gì? 5

IV.2 Các loại vaccine, nguyên lý và phương pháp sử dụng 5

V. DNA VACCINE VÀ ỨNG DỤNG DNA VACCINE TRONG THỦY SẢN 8 V.1 DNA vaccine hướng phát triển mới trong nuôi trồng thủy sản 8

V.2 DNA vaccine là gì? 9

V.3 Ưu điểm và nhược điểm 10

V.4 Phương pháp 10

V.5 Phương thức hoạt động của DNA vaccine 12

V.6 Hiện trạng và triển vọng 13

V.7 Vaccine DNA ứng dụng trong thủy sản 13

VI. KẾT LUẬN 15

PHẦN II: NỘI DUNG

I. LỜI MỞ ĐẦU:

Trang 2

Khoa học kỹ thuật hiện đại phát triền, đời sống của con người ngày càng được cải thiện song song đó cuộc chạy đua giữa con người với bệnh tật ngày càng trở nên căng thẳng và quyết liệt, nhưng vẫn chưa ai khẳng định được có thể chiến thắng được bệnh tật, ngày càng có nhiều bệnh nguy hiểm trên quy mô toàn cầu do vi khuẩn và vi rút gây

ra

Đặc biệt đối với thủy sản những đợt dịch bệnh bùng phát đã gây tổn thất cho nghề nuôi

cá, đồng thời ảnh hưởng đến cán cân cung-cầu sản phẩm trên thị trường thế giới vì sao phải quan tâm đến ứng dụng công nghệ vaccine?

Một loại vaccine lý tưởng phải có thời gian bảo hộ dài đối với các dịch bệnh quan trọng của đối tượng, cách sử dụng đơn giản như các phương pháp ngâm, tắm hoặc cho ăn, an toàn cho cả với cá và người sử dụng, và mang lại lợi ích cho cả người nuôi cá và nhà sản xuất

Hơn nữa nhu cầu của người tiêu dùng đối với các protêin động vật, nhất là cá và thủy sản, đang không ngừng tăng lên, đòi hỏi sản xuất các đối tượng này phải bền vững người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm và phản ứng tiêu cực đối với việc sử dụng kháng sinh chữa bệnh cho các đối tượng vật nuôi Sự ra đời của hàng loạt mô hình nuôi thâm canh đã thể hiện rõ qua hàng loạt dịch bệnh đã và đang xảy ra

Sự gia tăng ảnh hưởng của các tác nhân gây bệnh trong nghề nuôi thủy sản đã làm tổn thất không nhỏ đến nghề nuôi cá công nghiệp Việc sử dụng kháng sinh chữa bệnh cá ngày càng nhiều và dẫn đến hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn, những tồn lưu kháng sinh không mong muốn … Việc sử dụng công nghệ vaccine còn được coi là ứng dụng

ưu tiên trong phòng bệnh cho vật nuôi do đó nó hoàn toàn không gây ra ảnh hưởng đối với môi trường

II. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VACCINE TRÊN THẾ GIỚI:

Vaccine phòng bệnh trong nuôi trồng thủy sản được bắt đầu nghiên cứu và phát triển từ năm 1973 nhưng mãi đến năm 1987 mới được đưa vào sử dụng cho hệ thống nuôi công

nghiệp Bệnh do vi khuẩnVibrio đã ảnh hưởng rất lớn đến nghề nuôi cá ở Mỹ, do vậy từ

những năm 1970 Mỹ cũng đã nghiên cứu vaccine nhược độc dạng ngâm để bảo vệ đàn

cá nuôi Trong suốt thập kỷ 80, ngành công nghiệp nuôi cá Hồi ở Na Uy gặp nhiều tổn

thất lớn mà tác nhân gây bệnh chính là vi khuẩn Vibrio spp Theo ước đoán, một lượng

lớn kháng sinh được sử dụng, khoảng 50.000 kg (1987), nhưng từ khi sử dụng vaccine phòng hộ cho đàn cá nuôi, lượng kháng sinh sử dụng đã giảm đi rất đáng kể 1000-2000

Trang 3

kg (1997) Tuy nhiên, một lọai vi khuẩn mới (Aeromonas salmonicida) lại xuất hiện,

vaccine sử dụng theo phương pháp ngâm không mang lại hiệu quả bảo vệ, đến những năm 1990 vaccine sử dụng theo phương pháp tiêm kết hợp cùng chất bổ trợ ra đời Vài năm tiếp sau đó, nhiều loại chất bổ trợ cùng những kháng nguyên tái tổ hợp được tiến hành thử nghiệm Đến năm 1995, vaccine phòng bệnh do virus chính thức được điều chế thành công Từ đây đã mở ra một hướng đi mới cho ngành thủy sản thế giới, vaccine đã cho thấy được vai trò của mình trong việc phòng hộ cho đàn cá nuôi, làm tăng sản lượng thu hoạch và giảm liều lượng kháng sinh sử dụng một cách đáng kể

Ngày nay, vaccine đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các vùng nuôi cá Hồi công nghiệp của các nước Bắc Âu, Chile, Canada, Mỹ, Nhật hay các trang trại nuôi cá da trơn ở Mỹ, mô hình nuôi cá chẽm, cá rô phi ở Châu Âu hay các mô hình nuôi nhỏ ở Trung Quốc, Nga, Tây Ban Nha và Đức Cho đến tháng 7 năm 2005, đã có 35 loại vaccine phòng bệnh vi khuẩn và 2 loại vaccine phòng bệnh virus được đăng ký bản quền và sử dụng cho 6 đối tượng nuôi phổ biến trên 41 quốc gia trên thế giới bao gồm cá hồi, cá chẽm Châu Âu, cá chẽm Châu Á, cá rô phi, cá bơn và cá bơn đuôi vàng Bên cạnh đó 5 loại vaccine phòng bệnh virus trên động vật thủy sản khác đang được nghiên cứu và phát triển

III. TÌNH HÌNH VÀ TRIỂN VỌNG SỬ DỤNG VACCINE TRONG NUÔI TRỒNG

THỦY SẢN Ở VIỆT NAM:

Ngày 03/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 332/QĐ-TTg phê duyệt đề án phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 với mục tiêu đến năm 2020 sản lượng nuôi

Trang 4

trồng thủy sản đạt trên 4,5 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu từ nuôi trồng đạt 5 - 5,5 tỷ USD, giải quyết việc làm cho khoảng 3,5 triệu người Để đạt được mục tiêu như trên thì việc phát triển cần có qui họach cụ thể, trong đó quản lý dịch bệnh cho các đối tượng nuôi thủy sản được đặt lên hàng đầu Nhiều giải pháp để quản lý dịch bệnh đã và đang được áp dụng như cải tạo ao kỹ, chọn giống tốt sạch bệnh, quản lý tốt môi trường, quan tâm đến dinh dưỡng, thuốc và hóa chất nhưng hiệu quả vẫn chưa cao Vì vậy, việc sản xuất và sử dụng vaccine trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam để quản lý dịch bệnh có ý nghĩa rất lớn Hiện tại đã có một số công trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng vaccine vào nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam, đề tài sản xuất vaccine cuả Bộ Thủy Sản, đề tài sản xuất vaccine vô hoạt phòng bệnh xuất huyết trên cá trắm cỏ, đề tài nghiên cứu tạo vaccine phòng bệnh đốm trắng trên cá tra của Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II, kết quả nghiên cứu bước đầu ở

phòng thí nghiệm rất khả quan, đặc biệt là vaccine phòng bệnh do vi khuẩnEdwardsiella

ictaluri trên cá tra (Pangasianodon hypothalmus) cho thấy khả năng đáp ứng miễn dịch của

cá tra đối với vi khuẩn E ictaluri qua kháng thể có trong máu cá đạt cao nhất Nồng độ

kháng nguyên kết hợp sử dụng chất bổ trợ Aluminum cũng được xác định (3.109 tế bào/cá) với phương pháp tiêm vaccine 2 lần vào ngày 1 và ngày 14 Thời gian bảo hộ tốt cho đàn cá

có thể kéo dài đến 2 tháng Ngoài ra, một số công ty nước ngoài đang nghiên cứu sản xuất

và thử nghiệm vaccine phòng bệnh cho cá tra, cá điêu hồng và cá giò… Với những kết quả đạt được như trên, hy vọng trong tương lai việc ứng dụng vaccine phòng hộ đàn cá nuôi sẽ được triển khai rộng rãi và đây là một công cụ quản lý sức khỏe hữu hiệu cho các đối tượng nuôi thủy sản

IV. KHÁI QUÁT VỀ VACCINE:

IV.1 Vaccine là gì?

Vaccine là chế phẩm có tính kháng nguyên dùng để tạo miễn dịch chủ động, nhằm để tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một số tác nhân gây bệnh cụ thể

IV.2 Các loại vaccine, nguyên lý và phương pháp sử dụng:

IV.2.1 Dựa vào nguyên tắc sản xuất vaccine có thể chia làm 4 loại:

IV.2.1.1Vaccine bất hoạt: Là vaccine sản xuất trực tiếp từ chủng vi

khuẩn gây bệnh, sau khi nuôi cấy tăng sinh, vi khuẩn sẽ được làm chết bằng nhiệt hoặc hóa chất (formalin, glutaraldehyde) Loại vaccine này rẻ, công

Trang 5

nghệ sản xuất đơn giản và có thể sản xuất với quy mô lớn, phù hợp với điều kiện Việt Nam Tuy nhiên trong một số trường hợp hiệu quả của vaccine vô hoạt thấp nên các loại vaccine khác cần được phát triển và ứng dụng vào trong sản xuất

IV.2.1.2Vaccine hỗn hợp: Là loại vaccine có chứa nhiều hơn một

chủng vi khuẩn gây bệnh đã được bất hoạt nhằm gia tăng khả năng phòng cho một hoặc nhiều loại bệnh khác nhau

IV.2.1.3Vaccine sống(live attenuated): Là vaccine sản xuất dựa vào

biến đổi gene của chủng vi khuẩn gây bệnh Công việc quan trọng nhất là xác định gene độc lực và loại bỏ gene độc lực trước khi sử dụng vi khuẩn vẫn còn sống Một loại khác đó là chọn chủng vi khuẩn không gây độc nhưng có cấu trúc tế bào gần giống với chủng vi khuẩn gây bệnh và quan trọng là chủng vi khuẩn đó phải kích thích được hệ miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh Đây

là loại vaccine đòi hỏi công nghệ cao để sản xuất và nguy cơ vi khuẩn không độc lực trở thành chủng gây bệnh ngoài môi trường do biến đổi gene hoặc thu nhập gene độc lực từ các chủng vi khuẩn gây bệnh

IV.2.1.4Vaccine tiểu phần (recombinant): Là loại vaccine được sản

xuất từ tiểu phẩn kháng nguyên của tác nhân gây bệnh Thông thường tiểu phần kháng nguyên của vi khuẩn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong cấu trúc tế bào như thành tế bào ở vi khuẩn hoặc một phần vỏ, protein, nội hoặc ngoại bào của vi khuẩn cũng như của virus

Vaccine tiểu phần có thể sản xuất theo 3 phương pháp khác nhau dưới đây:

IV 2.1.4.1 Sản xuất vaccine tiểu phần bằng cách tách triết trực

tiếp tiểu phần kháng nguyên từ vi khuẩn sau khi nuôi cấy tăng sinh như làm vỡ tế bào, tách lọc protein nội hoặc ngoại bào tùy vào thành phần của kháng nguyên

IV.2.1.4.2 Vaccine tiểu phần có thể sản xuất được bằng cách

xác định gene độc lực của vi khuẩn sau đó đưa gene độc lực vào plasmid hoặc bacteriophase, trước khi đưa vào vi khuẩn E.coli và nuôi cấy vi khuẩn này trong điều kiện dặc biệt nhằm sản xuất ra tiểu phần kháng nguyên cần thiết sau đó tách lọc kháng nguyên và sử dụng như vaccine tiểu phần

IV.2.1.4.3 Sau khi xác định được gene độc lực chúng ta có thể

tổng hợp được protein nhân tạo bằng phương pháp phòng thí nghiệm

Trang 6

Việc nghiên cứu loại vaccine này rất tốn kém, giá thành cao nên

ít loại vaccine tiểu phần này được sử dụng trong Nuôi trồng thủy sản

IV.2.1.5.DNA vaccine: Vaccine DNA là loại vaccine có thành phần

chính là gene độc lực của chủng vi khuẩn gây bệnh được tổng hợp và đưa trực tiếp vào cơ thể cá hoặc được nhân lên trong vi sinh vật mang trước khi đưa vào cá Đây là công nghệ sản xuất vaccine mới nhất và thường áp dụng trong việc sản xuất vaccine phòng bệnh do virus gây ra

IV.2.2 Nguyên lý sử dụng vaccine:

Sử dụng vaccine là đưa vào cơ thể kháng nguyên có nguồn gốc từ vi sinh vật gây bệnh hoặc vi sinh vật có cấu trúc kháng nguyên giống vi sinh vật gây bệnh, đã được bào chế dảm bảo độ an toàn cần thiết, làm cho cơ thể tự tạo ra tình trạng miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh

Nói cách khác sử dụng vaccine là tạo ra miễn dịch chủ động nhân tạo

IV.2.3 Phương pháp sử dụng vaccine:

Việc sử dụng vaccine cũng có nhiều phương pháp khác nhau Tùy tùng loại vaccine khác nhau mà phương pháp sử dụng cũng khác nhau Vì vậy tùy từng loại vaccine và khả năng áp dụng mà ta có thể sử dụng những phương pháp dưới đây:

IV.2.3.1 Phương pháp ngâm vaccine: sử dụng vaccine theo phương pháp này bằng cách ngâm cá trực tiếp trong vaccine Nồng độ và thời gian xử

lý phụ thuộc vào loại vaccine và dùng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất Tuy nhiên để tăng hiệu quả sử dụng của vaccine thì tùy từng đối tượng nuôi và kích thước cá mà ta có thể thay đổi áp suất nhằm gia tăng hiệu quả của vaccine Đây là phương pháp dễ áp dụng nhất và có chi phí thấp nhất

IV.2.3.2 Sử dụng vaccine bằng phương pháp tiêm: tiêm vaccine có thể

tiêm xoang bụng hoặc tiêm cơ Kích thước cá và liều sử dụng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất Đây là phương pháp sử dụng cho hiệu quả vaccine cao nhất Tuy nhiên chi phí sử dụng và thời gian sử dụng là tốn kém nhất

Trang 7

IV.2.3.3 Bơm cao áp: đây là phương pháp sử dụng vaccine giống với

phương pháp tiêm, tuy nhiên chúng ta không sử dụng mũi kim thông thường

mà sử dụng xy lanh có áp suất cao để đưa vaccine vào vật chủ mà không gây

ra vết thương bên ngoài Chi phí sử dụng vaccine theo phương pháp này cũng rất cao và đòi hỏi có trang thiết bị chuyên dụng

IV.2.3.4 Nhúng :đây là phương pháp sử dụng vaccine với nồng độ cao

và ngâm trực tiếp cá vào trong vaccine Đây là phương pháp sử dụng đơn giản và thời gian xử lý ngắn nhưng hiệu quả hạn chế và tốn nhiều vaccine

IV.2.3.5 Cho ăn: đây là phương pháp sử dụng vaccine đơn giản nhất và

có chi phí sử dụng thấp nhất Tuy nhiên chỉ có vaccine tiểu phần có thể áp dụng theo phương pháp này vì các loại vaccine khác khi sử dụng theo phương pháp này có hiệu quả rất thấp

IV.2.3.6 Bơm vào đường ruột: tương tự với việc sử dụng vaccine bằng

phương pháp tiêm nhưng thay vì tiêm cơ hoặc tiêm xoang bụng, phương pháp này sử dụng cách tiêm vào đường ruột thông qua lỗ hậu môn Mặc dù việc sử dụng vaccine theo phương pháp này có hiệu quả tốt và không gây tổn thương cho cá tuy nhiên chi phí sử dụng cao vì tốn nhiều công lao động

V. DNA VACCINE VÀ ỨNG DỤNG CỦA DNA VACCINE TRONG THỦY SẢN:

V.1 DNA vaccine hướng phát triển mới trong nuôi trồng thủy sản:

Những loại vaccine trên ( vaccine nhược độc, vaccine tiểu phần, vaccine sống ) được tạo ra nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa dịch bệnh, tăng năng xuất, chất lượng sản phẩm và hạn chế việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bệnh

mà sử dụng vaccine phòng bệnh chưa hiệu quả như làm thế nào để tạo ra một kháng nguyên

có tính gây miễn dịch cao, cách tạo ra loại kháng nguyên đúng để hệ miễn dịch có khả năng nhận biết để đáp ứng miễn dịch Và làm thế nào để nhận biết tính hiệu quả vaccine trong khi chỉ thử nghiệm ở phòng thí nghiệm mà không được thử nghiệm ngoài thực địa

Hình 1

Trang 8

Để hạn chế những nhược điểm trên, DNA vaccine được nghiên cứu và phát triển như là một vaccine mới trong việc kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản

V.2 DNA vaccine là gì?

DNA vaccine hay còn gọi vaccine tái tổ là một DNA vòng có chứa một đoạn gen mã hóa cho một protein kháng nguyên đặc hiệu, có promotor, trình tự tăng cường (enhancer), gen mục tiêu, trình tự polyA, gen kháng kháng sinh và điểm khởi đầu của sự tái bản (ORF) và trình tự cuối của sự phiên mã khi gene biểu hiện trong tế bào động vật và vi sinh vật DNA vaccine là một bước phát triển mới nhằm tạo ra các loại vaccine đáp ứng miễn dịch định hướng như mong muốn như kích thích hệ miễn dịch sản sinh cytolytic T lymphocytes (CTL), tế bào T helper và kháng thể (hình 1) Ngoài ra, với sự vượt bật của công nghệ gene DNA vaccine dễ dàng được sản xuất với số lượng lớn, có thể kết hợp nhiều gene mã hóa cho nhiều kháng nguyên khác nhau, có khả năng kích thích hệ miễn dịch đáp ứng với nhiều serotype bệnh khác nhau, có độ bền cao, giá thành chi phí thấp và an toàn

DNA vaccine là kỹ thuật bảo vệ sinh vật chống lại bệnh bằng cách tiêm vào nó DNA biến đổi gen để tạo ra phản ứng miễn dịch hay hiểu một cách đơn giản là sử dụng DNA như một loại vaccine bằng cách đưa trực tiếp vào vi sinh vật DNA vaccine được ứng dụng rộng rãi cho động vật với những bệnh do vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng gây nên và mới chỉ ở giai đoạn đầu cho người hiện đang có nhiều thử nghiệm

Việc sử dụng vật liệu di truyền với mục đích trị bệnh đã được tiến hành từ nhiều năm trước Thí nghiệm phác thảo việc chuyển DNA vào tế bào động vật được đưa ra sớm nhất vào năm

1950 Sau đó việc sử dụng vật liệu di truyền xác thực hơn khi tiêm trực tiếp DNA vào cơ thể (không dùng vector virút) kết quả là gen được biểu hiện trong cơ thể vật chủ Đã có nhiều thí nghiệm bổ sung đưa ra đặc biệt từ khi phát minh ra kỹ thuật DNA tái tổ hợp vào năm 1970 Năm 1992 hai nhà khoa học Tang và Jonhson công bố rằng đã phát triển hormone sinh trưởng của con người trong ống nghiệm và kết quả là nó đã giúp kích thích sự sinh trưởng của con chuột được chuyển gene Họ cũng thấy rằng những con chuột được tiêm phát triển kháng thể chống lại hormone sinh trưởng của con người, họ gọi hình thức này gọi là hình thức “miễn dịch di truyền”

V.3 Ưu điểm và nhược điểm:

Trang 9

1. Tiêm phòng các đơn vị nhỏ không

có nguy cơ nhiễm trùng

2. Kháng nguyên được trình diện với

cả hai loại phân tử MHC I và MHC

II

3. Dễ phát triển và sản xuất

4. Lưu trữ và vận chuyển ổn định

5. Hiệu quả về chi phí sản xuất trên

quy mô lớn

6. Ngăn ngừa tổng hợp peptide, biểu

hiện thanh lọc protein tái tổ hợp sử

dụng tá dược độc

7. Tiềm năng lâu dài điều trị nhiễm

khuẩn mãn tính và nó cung cấp công

cụ quan trọng kích thích phản ứng

miễn dịch trong HBV, HCV và HIV

cho bệnh nhân

8. Các biểu hiện kháng nguyên virus

gây ra bởi vaccine DNA trong môi

trường chứa nhiều APCs giúp thúc

đẩy thành công nhiều phản ứng

miễn dịch mà không thể thu được ở

vaccine truyền thống

9. Kháng nguyên biểu hiện ở cả phản

ứng miễn dịch thể dịch và miễn dịch

trung gian tế bào

1. Vaccine DNA giới hạn trên miễn dịch protein (không hữu ích với kháng nguyên không protein như vỏ ngoài polysaccharide vi khuẩn)

2. Nguy cơ tác động đến các gene kiểm soát sinh trưởng tế bào

3. Cơ thể sản sinh ra kháng thể chống lại DNA

4. Tiềm Năng cho các quá trình không điển hình của protein vi khuẩn và ký sinh trùng

5. Gây kích thích miễn dịch lâu dài dẫn đến viêm mãn tính

6. Một vài kháng nguyên yêu cầu chế biến nhưng đôi khi quá trình đó không xảy ra

V.4 Phương pháp:

DNA vaccine là một trong hai ứng dụng chính của DNA tái tổ hợp Vậy các bước sản xuất DNA vaccine tiến hành tương tự như kỹ thuật DNA tái tổ hợp

DNA plasmid (pDNA) thường được dùng làm phương tiện chuyển gene đến động vật hữu nhũ và cá pDNA là phân tử DNA dạng vòng (DNA này không khác gì DNA nhiễm sắc thể), có khả năng nhân lên độc lập với prokaryote DNA plasmid dùng để chuyển gene nghiên cứu mà thông thường pDNA bao gồm promoter, trình tự tăng cường (enhancer), gen mục tiêu, trình tự polyA, trình tự cuối cũa sự phiên mã, gen kháng kháng sinh và điểm khởi đầu của sự tái bản (ORF) Sự biểu hiện gene mục tiêu, pDNA được phiên mã ra mRNA và dịch mã thành protein bên trong tế bào ký chủ Ứng dụng pDNA vào trong hai lĩnh vực quan trọng: gene trị liệu và vaccine DNA

Trang 10

Hình 2: Các bước cơ bản để tạo DNA vaccine cho cá

Bước 1: Tách dòng gene từ chủng gây bệnh

Bước 2:Chuyển gene vào plasmide tạo DNA tái tổ hợp

Bước 3: Chuyển DNA tái tổ hợp vào chủng vi khuẩn để sản xuất

Bước 4: Thu DNA tái tổ hợp từ chủng vi khuẩn để sản xuất

Bước 5: Chuyển DNA tái tổ hợp vào sinh vật chủ

Hình 3: Minh họa mô hình sản xuất và điều trị bằng vaccine DNA tái tổ hợp :

Phân lập một hoặc nhiều gene từ tác nhân gây bệnh (pathogen), đưa các gene này vào trong vòng DNA của plasmid và đóng lại (a) Các vòng DNA sau đó được đưa vào trong các nhóm tế bào nhỏ,thường bằng cách tiêm vào tế bào cơ (b) hoặc đẩy vào da nhờ vào sung bắn gene (c) Các gene được chọn lựa mã hóa cho các kháng nguyên, các chất có thể gây ra một đáp ứng miễn dịch, thường được sản xuất bởi tác nhân gây bệnh

Page

Ngày đăng: 16/08/2015, 06:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Các bước cơ bản để tạo DNA vaccine cho cá - DNA vaccine và ứng dụng DNA vaccine trong  thủy sản
Hình 2 Các bước cơ bản để tạo DNA vaccine cho cá (Trang 10)
Hình 2: Mô hình sản xuất và điều trị bằng liệu pháp DNA vaccine - DNA vaccine và ứng dụng DNA vaccine trong  thủy sản
Hình 2 Mô hình sản xuất và điều trị bằng liệu pháp DNA vaccine (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w