1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy nguồn lực con người ở tỉnh hà tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

105 490 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về lợi thế về các nguồn lực của sự phát triển ở nước ta hiện nay, Đảng ta khẳng định: “Ở Việt Nam, nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng hàng đầu đối với quá trình phát tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -

NGUYỄN THỊ HỒNG

PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

Ở TỈNH HÀ TÂY THỜI KỲ ĐẨY MẠNH

CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 85

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM CÔNG NHẤT

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -

NGUYỄN THỊ HỒNG

PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

Ở TỈNH HÀ TÂY THỜI KỲ ĐẨY MẠNH

CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 3

Chương 1 Nguồn lực con người và vấn đề phát huy nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay 9

1.1 Nguồn lực con người và vai trò của nguồn lực con người trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước 9

1.1.1 Khái niệm nguồn lực con người 9

1.1.2 Vai trò của nguồn lực con người đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội 17

1.2 Vấn đề phát huy nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay 22

1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và vấn đề phát huy nguồn lực con người nói chung 22

1.2.2 Những yêu cầu đặt ra đối với việc phát huy nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta 28

Chương 2 Thực trạng phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Hà Tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá 36

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tây 36

2.1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Hà Tây 36

2.1.2 Đặc điểm văn hoá và kinh tế - xã hội 38

2.2 Thực trạng phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Hà Tây những năm qua 48

2.2.1 Những thành tựu 49

2.2.2 Những hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra 60

Chương 3 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Hà Tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay 71

3.1 Những định hướng cơ bản 71

Trang 4

3.1.1 Hệ quan điểm 71

3.1.2 Một số định hướng cơ bản 72

3.2 Các giải pháp chủ yếu 73

3.2.1 Giải pháp quy hoạch và đào tạo 73

3.2.2 Giải pháp sử dụng và đãi ngộ đối với người lao động 77

3.2.3 Giải pháp về môi trường và chính sách xã hội 79

3.2.4 Giải pháp về nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hệ thống chính trị 83

Kết luận 86

Danh mục tài liệu tham khảo 89

Phụ lục 93

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các yếu tố để tạo nên nền sản xuất xã hội thì yếu tố con người đóng vai trò quan trọng bậc nhất Con người là chủ thể sản xuất, là nhân tố quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất của xã hội, là yếu tố năng động, quyết định sự phát triển của xã hội Điều đó không chỉ đúng cho các thời đại kinh tế - xã hội đã qua mà còn đúng ngay cả khi loài người đang thực hiện bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội như ngày nay

Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cả nước vững bước tiến lên chủ nghĩa

xã hội với những bước đi quá độ đầu tiên Tuy nhiên, khác với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đất nước còn nghèo nàn lạc hậu, các nguồn tài nguyên thiên nhiên tuy phong phú nhưng chưa thể được coi là lợi thế về nguồn lực Trong điều kiện

đó, tiềm năng về con người đã và đang trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, nhất là trong thời kỳ cả nước đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đánh giá về lợi thế về các nguồn lực của sự phát triển ở nước ta hiện nay, Đảng ta khẳng định: “Ở Việt Nam, nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng hàng đầu đối với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất trong thời

kỳ đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [16, tr.85] Từ đó, Đảng và Nhà nước ta đã coi việc phát huy có hiệu quả nhân tố con người là một trong những nhiệm vụ quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, thiết lập trật tự kỷ cương xã hội

Hà Tây là một tỉnh phía Bắc thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng, có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tương đối thuận lợi cho quá trình phát triển Những năm đổi mới vừa qua, Hà Tây đã thu được nhiều thành tựu

Trang 6

quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân trong

tỉnh từng bước được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi, Hà Tây vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển như hiện nay

Là một tỉnh có dân số tương đối đông (chiếm khoảng 3,09% so với dân số cả nước, lực lựợng lao động của tỉnh chiếm tới hơn 50% dân số), đó là một trong những điều kiện thuận lợi để Hà Tây vươn lên phát triển Song thực tế cũng cho thấy, tỉnh chưa có biện pháp hữu hiệu để xây dựng và phát huy nguồn lực con người Chính vì thế chất lượng cũng như số lượng nguồn nhân lực ở Hà Tây hiện nay về cơ bản chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh trong thời gian tới Vậy, thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Hà Tây như thế nào? Giải pháp phát huy nguồn nhân lực đó trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà thời gian tới ra sao? Đó là những vấn đề đã và đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu cũng như quản lý của tỉnh Hà Tây Đây cũng là lý do để chúng tôi chọn vấn đề: “Phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Hà Tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm đề tài nghiên cứu của luận văn cao học triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

Trang 7

nghiên cứu có tính cơ bản về con người và nguồn lực con người Việt Nam

trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh đó, cũng có thể kể ra một số chuyên luận, một số các tác giả cùng các công trình nghiên cứu về con người và nguồn lực con người đã được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau như các tổng quan đề tài, sách chuyên luận, các bài đăng tạp chí Có thể kể một số tác giả, các công trình tiêu biểu, như: Viện Thông tin

khoa học xã hội (1995), Con người và nguồn lực con người Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phạm Minh Hạc (chủ biên, 1996), Vấn đề con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1998), Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Kim Hải (1999),

Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Luận

án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội; Adam Smit

(1999), Của cải của các dân tộc Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Viện chiến lược phát triển - Bộ kế hoạch và đầu tư (1999), Chính sách phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới đến năm 2020 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

Đỗ Đức Định (chủ biên, 1999), Phát huy lợi thế so sánh kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Sáu (1993), Phát huy nguồn lực con người trong đổi mới quản lý kinh tế Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị Phi Yến (2001), Tìm hiểu vai trò quản lý nhà nước đối với việc phát huy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phạm Công Nhất (2007), Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội v.v

Qua các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, phần lớn các tác giả đều nhất trí cho rằng so với các loại nguồn lực khác được huy động trong phát triển nền kinh tế - xã hội thì nguồn lực về con người có một vai trò hết sức

Trang 8

quan trọng Ở thời đại nào thì con người và nguồn lực con người bao giờ cũng

đóng vai trò thúc đẩy, quyết định sự vận động và phát triển các quá trình kinh

tế - xã hội Nhưng lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng cho thấy rằng, không phải giai đoạn nào, quốc gia nào cũng có khả năng tận dụng và phát huy tốt vai trò của con người và nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hay cộng đồng lãnh thổ Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới hiện nay việc khơi dậy tiềm năng con người, phát huy thế mạnh nguồn nhân lực vào việc phát triển đất nước là cần thiết, nhưng cũng cần có giải pháp và bước đi cho phù hợp Có thể coi đây là những kết quả nghiên cứu rất đáng chú ý về con người và nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là việc nghiên cứu nguồn lực con người của các tác giả và các công trình nghiên cứu này thường gắn liền với việc giải quyết các nhiệm vụ trong từng lĩnh vực cụ thể Cũng có một số tác giả và công trình nghiên cứu về nguồn lực con người gắn với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên bình diện chung của cả nước cũng như một số địa phương cụ thể Đối với tỉnh Hà Tây hiện nay, vấn đề nghiên cứu con người gắn với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà lâu nay còn ít được

đề cập, hoặc nếu có chỉ mới đề cập một cách rải rác mà chưa thành hệ thống

Đó là một khoảng trống trong nghiên cứu khoa học hiện nay cần được quan tâm Đề tài của luận văn được đặt ra nghiên cứu là muốn góp một phần nhỏ vào việc khắc phục khoảng trống trong quá trình nghiên cứu đó

3 Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích của luận văn là nghiên cứu và bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả nguồn nhân lực ở tỉnh Hà Tây trong quá trình phát triển, đổi mới đặc biệt là quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

Trang 9

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực

tiễn có liên quan đến thực trạng phát huy nguồn lực con người ở tỉnh

Hà Tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

- Luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau: 1) Nghiên cứu và làm

rõ những vấn đề lý luận có liên quan đến con người và nguồn lực con người,

và vấn đề phát huy nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay; 2) Trên cơ sở các số liệu đã được khảo sát phân tích một cách hệ thống thực trạng phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Hà Tây trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện nay: những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra; 3) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát huy có hiệu quả nguồn lực con người ở tỉnh Hà Tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn không nghiên cứu khảo sát các vấn đề triết học về con người nói chung mà chỉ nghiên cứu những vấn đề triết học về con người với

tư cách là một nguồn lực cần được phát huy; cụ thể hơn nữa là luận văn tập trung khảo sát, phân tích thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả nguồn lực con người ở tỉnh Hà Tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu khảo sát, nghiên cứu của luận văn được xác định

từ khi bắt đầu đổi mới (năm 1986) nhưng các só liệu dùng chủ yếu dùng để phân tích đánh giá vẫn là từ năm 2000 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Về cơ sở lý luận, đề tài dựa trên những quan điểm, lý luận cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu những vấn đề lý luận và luận giải những vấn đề thực tiễn có liên quan đến đề tài

Về phương pháp nghiên cứu, trên nền tảng phương pháp biện chứng

Trang 10

duy vật, đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy

nạp và diễn dịch, lịch sử và lôgic cũng như phương pháp so sánh, đối chiếu để làm rõ những luận điểm của đề tài

Trang 11

6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn

Về lý luận, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận những vấn đề triết học có liên quan đến con người với tư cách là một nguồn lực quan trọng cần được phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tạo thêm cơ sở để Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà Tây đề ra các chính sách phù hợp trong việc xây dựng và phát huy có hiệu quả nguồn lực con người trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà trong thời gian tới Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng bổ sung thêm vào hệ thống các tài liệu nhằm phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu những vấn

đề có liên quan

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ luc, luận văn đựơc chia thành 3 chương 6 tiết

Chương 1: Nguồn lực con người và vấn đề phát huy nguồn lực con

người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

Chương 2: Thực trạng phát huy nguồn lực con người ở Hà Tây thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn lực con

người ở tỉnh Hà Tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

Trang 12

Chương 1

NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY

NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,

HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 Nguồn lực con người và vai trò của nguồn lực con người trong

quá trình xây dựng và phát triển đất nước

1.1.1 Khái niệm nguồn lực con người

Con người là gì? Con người sinh ra từ đâu? Bản chất con người là gì? Con người có vai trò như thế nào đối với lịch sử? Trong lịch sử triết học đã có nhiều câu trả lời khác nhau Có thể tóm tắt các quan điểm đó như sau: Các nhà triết học duy tâm và tôn giáo trong lịch sử thường có quan niệm về nguồn gốc và bản chất của con người như sau: Họ cho rằng, con người về cơ bản có nguồn gốc từ thế giới tinh thần, bản chất của con người là những yếu tố có sẵn và bị quy định từ thế giới siêu tự nhiên (thế giới của Chúa trời, thế giới của Thượng đế hay Thiên mệnh) Các nhà triết học duy vật trước Mác: mặc

dù đã biết gắn việc giải thích nguồn gốc và bản chất của con người với quá trình phát triển của tự nhiên, song còn đồng nhất bản chất con người với bản chất tự nhiên, chưa chỉ ra được sự khác biệt giữa con người với các giới loài động vật có trước con người

Triết học Mác trên cơ sở kế thừa có phê phán các quan niệm trước đây

về con người đã đề xuất các quan điểm khoa học và toàn diện về nguồn gốc

và bản chất con người Theo Mác, xét về mặt bản chất, con người là một thực thể vừa có sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Mặt sinh học của con người thể hiện ra ở chỗ con người không những có nguồn gốc từ giới tự nhiên (con người là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên), mà còn mang bản chất tự nhiên (tức là bản năng sinh học thường thấy trong các

Trang 13

giới loài động vật trước con người) Tuy nhiên, mặt tự nhiên chưa phải là yếu

tố duy nhất quy định nên bản chất của con người giống như quan niệm của các nhà duy vật siêu hình trước đây Trái lại, Mác còn cho rằng, bản chất con người còn bị quy định bởi một yếu tố hết sức quan trọng khác, đó là yếu tố xã hội Chính yếu tố xã hội đã tạo nên mặt xã hội trong bản chất của con người Mặt khác, khi xem xét bản chất con người cần phải thấy sự tác động qua lại giữa hai yếu tố tự nhiên và xã hội để tạo nên bản chất của con người nói chung, trong đó yếu tố quyết định vẫn là yếu tố xã hội Đề cập đến bản chất đích thực của con người, triết học Mác khẳng định: trên thực tế không tồn tại con người nói chung (con người trừu tượng) mà trái lại, con người luôn luôn tồn tại với tính cách là con người cụ thể Và chỉ trong các mối quan hệ xã hội

cụ thể đó, bản chất con người mới được bộc lộ ra Cố nhiên, không phải là toàn bộ bản chất nói chung mà chỉ là một phần bản chất Như thế trong suốt cuộc đời của mỗi người đã và sẽ bộc lộ ra vô vàn bản chất khác nhau Giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, nhưng xu hướng chung vẫn tạo ra một điểm chung (bản chất chung) nào đó

Xu hướng chung đó chính là bản chất đích thực của mỗi con người Chính vì vậy, để nhấn mạnh mặt xã hội với tính cách là nhân tố dùng để xác định bản chất con người, trong những Luận đề về Phoiơbắc, C.Mác khẳng định: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt

“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ

xã hội” [39, tr.11]

Bản chất nói chung của con người lại như vậy Tuy nhiên, trong thực tế không hề tồn tại một con người chung chung, hay con người trừu tượng Khái niệm “Con người” chỉ là đại danh từ để chỉ một loài động vật có ý thức mà mỗi cá thể của loài tồn tại với tư cách như là những cá nhân có những đặc điểm riêng biệt Mỗi cá nhân được hiểu như là những con người cụ thể có thể

Trang 14

phân biệt với các cá nhân khác thông qua những đặc điểm độc đáo riêng có

của mình được gọi là nhân cách Giữa cá nhân và xã hội có mối liên hệ biện chứng với nhau Sự tồn tại của mỗi cá nhân được quyết định bởi thông qua sự tồn tại của từng xã hội Và ngược lại, xã hội cũng chỉ có thể tồn tại thông qua

từ những đơn vị thống nhất đầu tiên là cá nhân

Quan điểm triết học mácxít cũng cho rằng, với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội, con người một mặt vừa là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh, ra lịch sử, mặt khác con người cũng là sản phẩm của chính hoàn cảnh hay quá trình lịch sử đó Khi nhấn mạnh ở khía cạnh thứ nhất, triết học Mác muốn chỉ

ra sự khác biệt căn bản về bản chất giữa con người với các giới loài vật khác Ngược lại, khi nhấn mạnh ở khía cạnh thứ hai, triết học Mác muốn khẳng định tính lịch sử, bởi hoàn cảnh với tư cách là một trong những nhân tố góp phần quy định quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người với

ý nghĩa thời đại nào, con người ấy Từ đó hình thành nên các mẫu hình con người tiêu biểu khác nhau tương ứng với từng thời đại, từng hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể Chẳng hạn có mẫu hình con người đặc trưng cho thời đại cổ đại, có mẫu hình con người đại diện và đặc trưng cho thời đại của chế

độ phong kiến, của thời đại tư sản cũng như có mẫu hình con người đại diện

và đặc trưng cho chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa - con người xã hội chủ nghĩa v.v

Ngoài ra, quan điểm triết học mácxít cũng cho rằng, với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người nói chung còn biểu hiện ra trên nhiều phương diện Từ đó, hình thành nên nhiều khái niệm khác nhau đều có liên quan trực tiếp đến con người Chẳng hạn, con người tồn tại với tư cách là một nhân tố thúc đẩy đời sống kinh tế - xã hội gọi là nhân tố con người hoặc con người tồn tại với tư cách là một nguồn tài nguyên đặc biệt gọi là tài nguyên

Trang 15

con người, hay con người tồn tại với tư cách là một nguồn động lực đặc biệt -

nguồn nhân lực hay nguồn lực về con người v.v

Như vậy, khái niệm nguồn lực con người được luận văn đề cập dưới đây một mặt chính là sự tiếp tục triển khai quan điểm của triết học Mác-Lênin

về con người tồn tại với tư cách là một nhân tố đặc biệt có tác động đến sự vận động và phát triển của xã hội, nhưng mặt khác lại là khái niệm dùng để chỉ một trong những nguồn tài nguyên là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, tài nguyên con người hay nguồn lực con người

Khái niệm nguồn lực con người được sử dụng lần đầu những năm đầu thế kỷ XIX và khá phổ biến vào những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và cả một số nước châu Á Ở nước ta khái niệm này được sử dụng tương đối rộng rãi từ những năm 1990 của thế kỷ XX đến nay Tìm hiểu các nghiên cứu gần đây có thể thấy quan niệm về nguồn lực con người khá đa dạng, được đề cấp từ nhiều góc độ khác nhau Trong hệ thống sản xuất xã hội thì con người luôn được coi là yếu tố cơ bản và quyết định Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế con người được nhìn nhận như một phương tiện chủ yếu

để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế Trong lý thuyết về vốn, con người lại được đề cập như một loại vốn đặc biệt (vốn người), là nhân tố cơ bản và hàng đầu để tạo ra kết quả của quá trình sản xuất và kinh doanh

Với những cách tiếp cận như vậy, Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: nguồn lực con người được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu) Như vậy, có thể hiểu nguồn lực con người ở đây là một trong những loại vốn hay tài nguyên tồn tại bên cạnh các loại vốn, hay tài nguyên truyền thống như tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên khoa học - công nghệ, tài nguyên tài chính Tuy nhiên, khác với các loại tài nguyên truyền thống như đã kể trên thì tài nguyên con người là loại tài nguyên đặc biệt

Trang 16

Liên Hợp quốc khi bàn đến con người với tư cách là một nguồn lực thì

lại cho rằng: nguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước Có thể thấy khác với quan niệm của Ngân hàng Thế giới, quan niệm về nguồn lực con người của Liên Hợp quốc lại gắn với số lượng và chất lượng tiềm năng về con người

ở mỗi quốc gia

Ở nước ta, khi bàn đến khái niệm nguồn lực con người cũng có nhiều ý kiến khác nhau GS, TSKH Phạm Minh Hạc trong đề tài cấp nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” mã số

KX - 07 cho rằng: nguồn lực con người được hiểu là dân số và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [28, tr.238]; Tác giả Trần Thị Thu Thuỷ lại cho rằng: nói tới nguồn lực con người là nói tới mọi tiềm năng về lao động của mỗi quốc gia, là lực lượng con người đang trực tiếp và gián tiếp sáng tạo ra các giá trị của cải vật chất và thúc đẩy sự phát triển của xã hội [53]; Các tác giả của Giáo trình Chủ nghĩa

xã hội khoa học (Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia

các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học (tái bản lần thứ hai có sửa chữa) Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội - 2004), lại cho rằng khái niệm nguồn lực con người có phạm vi bao quát: Đó là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất và tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội tạo thành năng lực của con người

và cộng đồng người Năng lực đó khi được sử dụng, phát huy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Như vậy, từ các kết quả nghiên cứu về nguồn lực con người trên đây cho thấy quan niệm về nguồn lực con người được hiểu với nhiều nội dung khác nhau, như nguồn lực con người được hiểu như vốn người, nguồn lực con người được hiểu như chất lượng và số lượng dân số và nguồn lao động, là

Trang 17

động lực để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia v.v Qua đó cũng có

thể thấy các quan niệm trên đây một mặt có những điểm chung giống nhau, nhưng mặt khác lại có những điểm khác biệt trong quan niệm về nguồn lực con người Sự khác biệt này theo chúng tôi không phải là mâu thuẫn nhau mà chính là do cách tiếp cận khác nhau, đối tượng được xác định để nghiên cứu không giống nhau đã tạo ra Từ đó cho thấy sẽ không có một định nghĩa duy nhất về nguồn lực con người mà trái lại tuỳ vào cách tiếp cận khác nhau về con người và nguồn lực con người có thể xác định và đưa ra một định nghĩa phù hợp

Với ý nghĩa như vậy, căn cứ vào mục tiêu đối tượng nghiên cứu của

luận văn, tác giả luận văn cho rằng nguồn lực con người là toàn bộ tiềm năng

về con người (thể hiện dưới dạng về số lượng và chất lượng của dân cư, dân

số và nguồn lao động ) của mỗi quốc gia hay cộng đồng để từ đó tạo nên những giá trị có thể phát huy và là động lực chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia hay cộng đồng đó

Với cách hiểu như vậy, khái niệm nguồn lực con người có nội dung rộng lớn Tuy nhiên, dù nội dung khái niệm có rộng lớn thì khi đề cập tới khái niệm nguồn lực con người cần được hiểu trên các phương diện chính sau đây:

Thứ nhất, nguồn lực con người nếu xét theo nghĩa rộng chính là toàn bộ

tiềm năng về dân cư của cộng đồng hay quốc gia đó Tiềm năng dân cư được hiểu trước hết là quy mô về dân số, về cơ cấu độ tuổi, sự tiếp nối giữa các thế

hệ dân cư, tỷ lệ về giới tính, về sự phân bố dân cư giữa các vùng miền kinh tế

và lãnh thổ v.v Đây là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia hay cộng đồng Thông thường, một quốc gia hay cộng đồng đang trong quá trình phát triển nếu có một quy mô dân số đông vừa đủ sẽ là một thuận lợi rất lớn, ngược lại thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn Chẳng hạn, với quy

mô trên 80 triệu dân hiện nay cùng với một cơ cấu dân số trẻ hằng năm có thể

Trang 18

cung cấp từ 1 - 1,2 triệu lao động là một thuận lợi rất lớn đối với nước ta đang

trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay Ngược lại, tại một số quốc gia, nhất là một số quốc gia phát triển với quy mô dân số nhỏ và lại đang

“già” nhanh do số lượng người cao tuổi đang ngày càng chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số dân cư sẽ có tác động tiêu cực không nhỏ đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội

Thứ hai, nguồn lực con người xét theo nghĩa hẹp được hiểu những vấn

đề về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia hay cộng đồng Số lượng nguồn nhân lực là một khái niệm số lượng một bộ phận dân cư đã và đang tham gia vào lực lượng lao động của mỗi quốc gia hay cộng đồng Số lượng nguồn nhân lực thể hiện ở quy mô lực lượng lao động, về cơ cấu và độ tuổi lao động Ngoài ra, số lượng nguồn nhân lực còn thể hiện ở tỷ lệ giới trong lực lượng lao động, tỷ lệ phân bố lao động giữa các vùng miền kinh tế, lãnh thổ của quốc gia hay cộng đồng Với quy mô dân số ngày càng đông, do

đó lực lượng lao động ở Việt Nam tăng nhanh sau mỗi năm Tổng số lực lượng lao động ở nước ta hiện nay khoảng 45 triệu người, với 70% trong số

đó đang trong độ tuổi lao động cho thấy, Việt Nam có một nguồn nhân lực trẻ khá dồi dào và là tiền đề thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay Tuy nhiên, do việc phân bố lao động giữa các ngành, vùng kinh tế

và cộng đồng còn bất hợp lý nên lợi thế này hiện nay chưa được phát huy có hiệu quả

Chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng đến việc phát huy nguồn lực con người của quốc gia hay cộng đồng Chất lượng nguồn nhân lực

là một khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về thể trạng, thể lực, trí lực (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật ), mức độ thành thạo trong công việc, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực còn được đánh giá qua các yếu tố trong thực tế rất khó định lượng,

Trang 19

như chỉ số IQ, những đặc điểm về thói quen, những phẩm chất có tính truyền

thống của người lao động, như đức tính kiên nhẫn, sự cần cù chịu khó, khả năng sáng tạo, tình yêu quê hương, đất nước, ý thức cộng đồng, ý thức giai cấp, ý thức về trách nhiệm của cá nhân đối với công việc, với gia đình, xã hội,

sự giác ngộ về bản lĩnh chính trị v.v

Giữa số lượng và chất lượng nguồn nhân lực có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Nghĩa là, sức mạnh nguồn nhân lực chỉ có thể phát huy có hiệu quả nếu nó được hình thành và phát triển trên một quy mô hợp lý cùng với một chất lượng phù hợp với số lượng đã có Nếu số lượng nguồn nhân lực

ít quá sẽ gây khó khăn cho sự phân công lao động xã hội và do vậy, chất lượng của nguồn nhân lực cũng sẽ trở thành hạn chế Ngược lại, nếu chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng dân số hoạt động trong một số đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một số tổ chức xã hội Tuy nhiên, trong lịch sử phát triển của các nguồn lực về con người, vai trò của yếu tố số lượng và yếu tố chất lượng của nguồn nhân lực có sự thay đổi khác nhau Khi mà trình độ phát triển lực lượng sản xuất của con người còn ở mức độ hạn chế thì vai trò của yếu tố số lượng của nguồn nhân lực được đề cao Trái lại, khi nền sản xuất xã hội của con người đã đạt tới trình độ cao thì yếu tố chất lượng của nguồn nhân lực lại được đặt lên hàng đầu

Thứ ba, so với các dạng nguồn lực khác, nguồn lực con người là một dạng nguồn lực đặc biệt Tính đặc biệt ở dạng nguồn lực này thể hiện ở một

số đặc điểm sau đây:

- Đây là dạng nguồn lực có sức mạnh tự thân Sức mạnh tự thân có được là nhờ sự kết hợp giữa các yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan của mỗi người để tạo nên sức mạnh chung của cộng đồng

Trang 20

- Quá trình sử dụng nguồn lực không bao giờ cạn kiệt vì nó có khả

năng tự phục hồi, khả năng tự tái sinh

- Đây là dạng nguồn lực có ý thức, có khả năng trí tuệ, do đó những giá trị mà nó mang lại là vô cùng to lớn nếu biết phát huy hợp lý

- Đây là dạng nguồn lực mở, sự dồi dào hay cạn kiệt về nguồn lực phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chủ quan, khả năng phát huy và sử dụng của các

tổ chức hay cá nhân đối với nguồn lực

Với những đặc điểm như phân tích trên đây cho thấy nguồn lực con người là nguồn tài nguyên đặc biệt, là tiền đề quan trọng bậc nhất trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia hay cộng đồng

1.1.2 Vai trò của nguồn lực con người đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Như trên đã trình bày, khái niệm nguồn lực con người có một phạm vi bao quát Theo đó, nguồn lực con người không chỉ thuần tuý là lực lượng lao động mà còn là toàn bộ tiềm năng về con người của mỗi quốc gia hay cộng đồng để từ đó tạo nên những giá trị có thể phát huy và là động lực chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia hay cộng đồng đó

Khác với các dạng nguồn lực khác, nguồn lực con người trước hết được tạo bởi năng lực và phẩm chất của cá nhân và cộng đồng người Con người không chỉ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội đó Khác với các giới loài động vật trước

đó chỉ biết sống phụ thuộc vào tự nhiên, khai thác những yếu tố có sẵn trong

tự nhiên, con người thì trái lại không chỉ biết khai thác những yếu tố có sẵn trong tự nhiên mà còn có khả năng tái tạo lại, thậm chí sáng tạo ra tự nhiên

đó Có được điều đó là nhờ con người có những khả năng đặc biệt Đó là khả năng không ngừng vươn tới cái tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn là thuộc tính

Trang 21

mang bản chất của con người; nó chi phối sự tồn tại, phát triển hay diệt vong

của bản thân con người C Mác viết: “con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cả khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc ; con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên; sản phẩm của con vật trực tiếp gắn với cơ thể thể xác của nó, còn con người thì đối diện một cách tự do với sản phẩm của mình Con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu của loài của

nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng; do đó con người cũng xây dựng theo các quy luật của cái đẹp” [42, tr.201] Từ khi thoát khỏi thế giới của loài vượn, nhờ khả năng lao động sáng tạo to lớn đã đưa con người phát triển từ thô sơ, mông muội đến thế giới con người phát triển Những thành quả to lớn của sức sáng tạo, đến lượt nó lại làm tăng thêm khả năng vốn đã rất lớn của con người, làm cho khả năng sáng tạo của con người thêm kỳ diệu và vĩ đại Đồng thời với quá trình lao động sáng tạo là sự tự rèn luyện, tự bồi dưỡng, hoàn thiện bản thân con người, làm cho con người ngày càng phát triển, khả năng lao động của con người ngày càng được nâng cao

Sự sáng tạo của con người được thể hiện trên cả ba mặt: sáng tạo ra đời sống vật chất; sáng tạo ra đời sống tinh thần và sáng tạo ra đời sống của chính mình Chính sự sáng tạo trong các hoạt động lao động của con người đã làm cho nguồn lực con người trở thành một loại nguồn lực đặc biệt, nó có thể tạo

ra các giá trị gấp nhiều lần so với nó nếu khả năng lao động sáng tạo của người lao động được phát huy đúng lúc Hoạt động lao động của con người trên một ý nghĩa nào đó không chỉ tạo ra mọi của cải của xã hội mà còn góp phần cải tạo chính bản thân con người Lao động và bản thân con người vì vậy trở thành nhân tố quan trọng bậc nhất của mọi nền sản xuất xã hội Với ý nghĩa như vậy, Ph Ăngghen viết: “Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng,

Trang 22

lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi

với giới tự nhiên là cái cung cấp vật liệu biến thành của cải Nhưng lao động

là một cái gì lớn hơn thế nữa Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn

bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động sáng tạo ra con người” [40, tr.640]

Do đó, có thể khẳng định sự tồn tại của con người với tư cách là một nguồn lực đóng vai trò quyết định các quá trình lịch sử, kinh tế - xã hội Vai

trò quyết định của nguồn lực con người đối với quá trình phát triển kinh tế -

xã hội không chỉ đúng trong các xã hội trước đây mà còn đúng ngay cả trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần có con người xã hội chủ nghĩa” [38, tr.375] Hơn thế nữa, Người còn nhắc nhở: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”[38, tr.222] cũng bởi lẽ Người đã sớm nhận ra vai trò quyết định của nguồn lực con người đối với sự thắng lợi của cuộc cách mạng mới ở Việt Nam

Chỉ có thể đánh giá được vai trò quyết định của nguồn lực con người khi đặt nó trong mối quan hệ với các nguồn lực khác Sự tồn tại bền vững và phát triển theo con đường tiến bộ của bất cứ quốc gia nào bao giờ cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn đã được tích luỹ trong nước và nguồn vốn tranh thủ từ nước ngoài, khả năng làm chủ và sử dụng có hiệu quả các thành tựu của khoa học công nghệ v.v Tuy nhiên, các nhân tố trên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chứ không phải là những nhân tố có tính tự thân để tạo ra giá trị Giá trị của chúng chỉ thực sự bộc lộ khi có bàn tay tác động của con người Bởi con người không chỉ tồn tại với tư cách là một nguồn lực, mà còn tồn tại với tư cách là chủ thể của các mục tiêu phát triển, các quá trình phát triển

Trang 23

Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên là những nhân tố có ảnh hưởng trực

tiếp đến sự phát triển của đất nước Nhưng thực tế cho thấy, chúng phụ thuộc vào khả năng khai thác của con người Ở một số quốc gia, điều kiện tự nhiên thuận lợi là nhân tố làm cho quốc gia đó giàu mạnh; nhưng cũng ở một số quốc gia khác cũng có điều kiện tự nhiên tương tự, hoặc thậm chí có thể thuận lợi hơn nhưng do không biết sử dụng và khai thác một cách hợp lý nên chẳng những không làm cho đất nước giàu thêm mà trái lại ngày càng nghèo đi Ở trường hợp thứ nhất: con người đã biết làm chủ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý; ở trường hợp thứ hai: con người đã tước đoạt thiên nhiên, biến nó thành hoang mạc

Trong quá trình phát triển đất nước, đặc biệt là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá như nhiều quốc gia hiện nay thì nguồn vốn về tài chính (tiền tệ) đóng một vai trò hết sức quan trọng Trong thời đại mở cửa và hội nhập, nhiều quốc gia có thể thu hút vốn từ nước ngoài với số lượng không nhỏ Nhưng vốn ấy chỉ có thể phát huy tác dụng tích cực nếu những điều kiện trong nước mà trước hết là con người có khả năng sử dụng hợp lý vốn đó vào

sự phát triển của quốc gia hay cộng đồng Còn có nhiều vốn, thậm chí thừa vốn nhưng nếu không biết sự dụng hoặc sử dụng một cách bừa bãi lãng phí có thể dẫn tới sự phá sản của cả một chương trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, thậm chí đưa quốc gia đến bờ vực phá sản và lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội

Sở dĩ nguồn lực con người đóng vai trò quyết địn h đến các quá trì nh phát triển kinh tế và xã hội, trước hết là do năng lực sáng tạo, trí tuệ của bản thân con người và cộng đồng người theo chiều hướng tiến bộ của lịch sử Do

đó, nguồn lực con người phải được nhìn nhận trong môi trường của nền văn minh và phát triển mạnh mẽ trong điều kiện chịu ảnh hưởng của một hệ tư

Trang 24

tưởng tiên tiến và của một trình độ phát triển của khoa học công nghệ hiện đại

trong đó những kiến thức thuộc về chân lý khoa học không tách rời với các chuẩn mực đạo đức và nhân văn

Tuy nhiên, có một thực tế cho thấy, nếu như sức mạnh cải tạo tự nhiên của con người ở những thế kỷ trước đây chủ yếu thể hiện thông qua khả năng lao động bằng chân tay thì ngày nay sức mạnh đó đang có xu hướng tiến tới bằng khả năng lao động trí tuệ Một khi khoa học và công nghệ đang dần dần trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp” như dự báo của C Mác trước đây và đang trở thành hiện thực trong thời đại ngày nay thì tiềm năng về lao động, sáng tạo ra các giá trị của cải vật chất và tinh thần lại càng trở nên vô tận Người ta dự báo, chỉ vài chục năm nữa thôi thì lao động chân tay trong các sản phẩm chỉ còn chiếm một tỷ lệ rất ít, mà thay vào đó là với sự ra đời hàng loạt các sản phẩm hàng hoá là kết quả của sự kết tinh về trí tuệ Một nền kinh

tế dựa vào sự sáng tạo của trí tuệ, của tri thức đang dần chiếm ưu thế phổ biến toàn bộ nền sản xuất chung của nhân loại Trong điều kiện như vậy, người lao động ngày nay không chỉ dựa vào các điều kiện thiên bẩm (sự cường tráng về

cơ thể, chỉ số IQ có sẵn ) mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tự học tập, tự rèn luyện để liên tục cập nhật có thêm các tri thức mới Người nào càng học tập, rèn luyện nhiều hoặc tham gia vào nhiều lĩnh vực hoạt động thì tiềm năng về các nơ ron thần kinh càng được sử dụng tối đa Do đó, trong thời đại văn minh con người càng là chủ thể thì đồng thời càng là đối tượng khai thác của chính mình

Nguồn lực con người không chỉ cần được nhìn nhận về mặt tự nhiên

mà còn được nhìn nhận về mặt xã hội Để con người sống tự do, hạnh phúc,

có điều kiện thuận lợi nhất để hoạt động sáng tạo, thì tính năng động của nhân

tố con người trong bản thân nguồn lực cũng được khơi dậy và thể hiện ở mức

Trang 25

tối đa Ngược lại, nếu quên đi yếu tố xã hội hoặc yếu tố xã hội trong bản thân

con người và cộng đồng người không được quan tâm một cách thoả đáng cũng sẽ là nhân tố tác động tiêu cực và kìm hãm khả năng hoạt động sáng tạo của con người và nguồn lực con người Nếu so với các nguồn lực tự nhiên nếu chậm được khai thác và sử dụng có thể giá trị của nó vẫn còn giữ nguyên hoặc có thể tăng thêm giá trị theo thời gian Nhưng nếu nguồn lực về con người chậm được phát huy hoặc phát huy không có hiệu quả thì không chỉ làm tổn thương đến chính nguồn lực mà còn là nhân tố kìm hãm sự phát triển của xã hội Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy có hiệu quả nguồn lực con người thì còn tuỳ vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia hay cộng đồng có thể căn cứ vào các mục tiêu và định hướng phát triển mà đưa ra các giải pháp phù hợp

1.2 Vấn đề phát huy nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và vấn đề phát huy nguồn lực con người nói chung

Hiện nay nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là một bước đi tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc nhằm vươn tới văn minh hiện đại Chính vì vậy ngay từ những năm

1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam đã

đề ra đường lối công nghiệp hoá và coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Từ đó đến nay đã trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đều không ngừng phát triển, nâng cao nhận thức và cụ thể hoá đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Đối với đất nước ta, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình biến đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và

Trang 26

quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử

dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra lao động năng suất cao [33, tr.511] Đặc điểm chung nhất và quyết định nhất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự thay thế kỹ thuật thủ công bằng máy móc trên quy mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân: đẩy mạnh sự phân công xã hội và sản xuất hàng hoá, tạo ra bước ngoặt trong việc nâng cao năng xuất lao động xã hội, biến đổi một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp tiên tiến

Những thế kỷ trước đây, quá trình thực hiện công nghiệp hoá ở một số quốc gia chủ yếu là chuyển các hình thức lao động thủ công sang hình thức lao động gắn với máy móc, từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp hoá thường đi liền với hiện đại hoá Công nghiệp hoá còn bao hàm nghĩa hiện đại hoá, nghĩa là không chỉ chú trọng tới mục tiêu xây dựng nền kinh tế dựa vào công nghiệp máy móc, kỹ thuật tiên tiến mà còn chủ yếu hướng tới nền kinh tế trí tuệ, kinh

tế tri thức Đặc biệt, đối với một số quốc gia như Việt Nam với điểm xuất phát thấp về kinh tế lại đặt trong bối cảnh giao lưu hội nhập quốc tế thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá lại cần phải chú ý tới yếu tố vốn nhân lực và các vấn

đề xã hội Do đó, thực chất của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay là quá trình phát triển từ trình độ thấp lên trình độ cao của toàn xã hội với ba yếu tố quan trọng nhất là: văn hoá (văn hoá ở đây hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm: bản sắc dân tộc, lịch sử dựng nước và phát triển đất nước;

hệ thống các phong tục tập quán; truyền thống văn hoá của địa phương; truyền thống hoạt động sản xuất và kinh doanh…); môi trường cho sự phát triển (bao gồm: niềm tin của nhân dân, trình độ dân trí, hệ thống cấu trúc hạ tầng xã hội, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế) và yếu tố tri thức (bao gồm: chất lượng đội ngũ những người lao động trí óc, sáng tạo trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất về kho tàng tri thức, thông tin khoa

Trang 27

học và công nghệ, hiệu quả lao động sáng tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã

hội) Để phát huy ba yếu tố cơ bản trên nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển cần phải biết phát huy mọi nguồn lực trong đó có nguồn lực về con người

Trong tiếng Việt, thuật ngữ “phát huy” được hiểu là “làm cho cái tốt, cái hay toả tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [57, tr.768] Như vậy, trong thực tế có rất nhiều đối tượng có khả năng phát huy (trong tất cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy) Cho dù ở đối tượng nào thì chủ thể phát huy vẫn là con người, từ đó có thể coi phát huy nguồn lực con người là một hình

thức phát huy đặc biệt Dưới góc độ triết học, phát huy nguồn lực con người được hiểu là quá trình đào tạo, bồi dưỡng và làm tăng nguồn lực con người

về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức; là quá trình khai thác có hiệu quả những yếu tố đó trong lao động, học tập, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc Từ đó

có thể thấy nội dung phát huy nguồn lực về con người thường rất rộng Liên quan đến việc xây dựng và phát triển nền sản xuất xã hội thì vấn đề phát huy nguồn lực về người thường liên quan đến mối quan hệ giữa Nhà nước với vai trò tổ chức và quản lý đối với toàn bộ đội ngũ nguồn nhân lực với tư cách là

bộ phận quan trọng nhất của mỗi một hệ thống sản xuất trong những giai đoạn lịch sử nhất định

Phát huy nguồn lực con người vừa xuất phát từ yêu cầu khách quan trước hết là đòi hỏi của chính bản thân con người và đời sống cộng đồng xã hội Đồng thời nó còn có mặt chủ quan từ vai trò của chủ thể quản lý rõ nhất

là nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách, luật pháp tạo điều kiện cho nguồn lực con người phát triển

Cũng cần lưu ý khi so sánh khái niệm phát huy nguồn lực con người với khái niệm phát huy nhân tố con người Khái niệm “nhân tố con người” và

“nguồn lực con người” có cùng một nghĩa như nhau khi đặt trong mối quan

hệ với nhân tố khác, nguồn lực khác – nguồn lực vật chất ở chỗ chúng đều

Trang 28

biểu hiện những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của con người như: là nhân tố

hoạt động, sống, khả năng tái sinh và tiềm năng vô tận của trí tuệ, tinh thần con người Do đó phát huy nhân tố con người có thể hiểu như là phát huy nguồn lực con người, khi con người trở thành một điều kiện, một tiềm năng cần phát huy để tạo ra động lực phát triển của một xã hội Nhân tố con người phải trở thành nguồn nhân lực, nguồn lực sinh các nguồn lực khác

Nói đến phát huy nguồn lực con người là chỉ ra các nguyên nhân, điều kiện, môi trường, giải pháp cho con người trong các hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội có hiệu quả Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều hướng tới việc tạo ra một môi trường xã hội nhằm kích thích con người hoạt động sáng tạo và thỏa mãn nhu cầu hợp lý của con người Thực chất của quá trình này là phát hiện, sử dụng những tiềm năng sáng tạo của con người như thể lực, năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn, những truyền thống tốt đẹp

Như vậy, thực chất của phát huy nguồn lực con người là hướng vào mỗi cá nhân, đề cao tính độc lập tự chủ, đoàn kết, sáng tạo, đặt con người vào đúng vị trí của nó để con người có cơ hội bộc lộ mình ở nhiều vị trí khác nhau, để nhận được sự cống hiến tối đa

Phát huy nguồn lực con người phải biểu hiện ra ở chất lượng cao của nguồn lực Sức mạnh của con người Việt Nam phải thể hiện thành sức mạnh của đội ngũ nhân lực, trong đó có bộ phận nhân tài, trên nền sức mạnh dân trí với cốt lõi là nhân cách, nhân phẩm đậm đà bản sắc dân tộc Nâng cao chất lượng nhân tố con người thông qua giáo dục - đào tạo để tạo nên những con người phát triển cao về trí tụê, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực để xây dựng xã hội mới

Nói đến nguồn lực con người là nói đến vai trò chủ thể của một quá trình cải biến xã hội với những tiềm năng về phẩm chất và năng lực, có thể

Trang 29

coi đây là động lực nội sinh quyết định sự phát triển của nền kinh tế xã hội

của mỗi quốc gia Nhưng bản thân những đặc trưng, thuộc tính của nhân tố con người tự nó chưa đem lại sự biến đổi tích cực, đúng quy luật, có hiệu quả

Vì vậy, vấn đề là phải làm thế nào để biến nó thành động lực Phát huy nguồn lực con người là một quá trình chuyển hóa không ngừng giữa khách quan và chủ quan Nó thể hiện ở chỗ: một mặt bản thân hoạt động của nhân tố con người là một nhân tố chủ quan, mặt khác nó xuất phát từ yêu cầu khách quan

và là sự thể hiện trên thực tế tính quy luật khách quan

Như vậy, phát huy nguồn lực con người là một quá trình bao gồm hai mặt: một mặt vừa tích cực xây dựng nguồn lực con người về số lượng hợp lý, song mặt khác lại phải sử dụng, khai thác nguồn lực đó sao cho hợp lý phù hợp với từng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hay vùng lãnh thổ Nói cách khác đó vừa là quá trình tích cực hóa nguồn lực con người vừa

là quá trình nâng cao chất lượng nguồn lực

Tích cực hóa nguồn lực con người là quá trình phát hiện, bồi dưỡng, kích thích phát triển đồng thời phát huy và sử dụng có hiệu quả tính tích cực,

tự giác, sáng tạo của con người, tạo động lực để con người phát triển xã hội

Nâng cao chất lượng nguồn lực con người là hướng vào gia tăng các giá trị về phẩm chất xã hội: lý tưởng chính trị, đạo đức, niềm tin…những năng lực tổ chức, quản lý, nhận thức và hoạt động thực tiễn

Nếu quá trình tích cực hóa con người nhằm hiện thực hóa tiềm năng của chủ thể, tạo nên động lực phát triển thì nâng cao chất lượng nguồn lực con người thông qua giáo dục - đào tạo nhằm tạo tiềm năng, chuẩn bị con người cho sự phát triển xã hội, nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có đạo đức trong sáng,

có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”

Trang 30

Thực chất của vấn đề phát huy nguồn lực con người là phải tìm ra được

những động lực của con người thúc đẩy họ hành động trên thực tế đưa đến những biến đổi lịch sử Vậy khái niệm động lực theo nghĩa: con người với tính cách là động lực của sự phát triển là như thế nào? Có rất nhiều ý kiến khác nhau về động lực con người Có thể phân ra thành hai xu hướng: Xu hướng thứ nhất, nghiên cứu động lực của con người ở một loạt hiện tượng: hoàn cảnh kinh tế, hoàn cảnh xã hội, sự phân công lao động, sự phát triển của lực lượng sản xuất, giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, sự phát triển khoa học kỹ thuật, văn hóa… Xu hướng thứ hai, coi nhu cầu, lợi ích… là những động lực của con người cụ thể Hoặc có thể xuất phát từ hai lĩnh vực

cơ bản: lĩnh vực vật chất gồm vai trò của các nhân tố kinh tế: sản xuất, phân phối, nhu cầu, lợi ích vật chất, kỹ thuật, chuyên môn… Lĩnh vực tinh thần: lý tưởng, niềm tin, công bằng, dân chủ… đều có tác động ảnh hưởng tới con người trở thành động lực phát triển xã hội Muốn hiểu được một cách khoa học về vấn đề này, rõ ràng phải nắm vững phương pháp biện chứng mácxít: mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; giữa khách quan và chủ quan; giữa cái chung và cái riêng Giống như C.Mác viết về mâu thuẫn của công thức chung trong sự chuyển hóa tiền thành tư bản: “vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông” [40, tr.249] Vận dụng tư tưởng đó có thể nói, những nhân tố làm cho con người trở thành động lực của lịch sử không thể xuất hiện ở bên ngoài con người và cũng không thể chỉ xuất hiện từ con người Xét trong lịch sử, mỗi cá nhân hành động theo những nhu cầu, lợi ích riêng của mình qua đó góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Nhưng hoạt động của mỗi cá nhân theo đuổi những mụch đích của mình chỉ có thể thực hiện được, dựa trên những điều kiện khách quan của xã hội Như vậy vai trò của cái chung, cái xã hội và cái riêng, cá nhân đều quan trọng

Trang 31

như nhau, không có cái này thì không có cái kia Giải quyết mâu thuẫn giữa

chúng mới là bản chất động lực của con người trong đó cái chung sẽ được ưu tiên hơn vì nó phản ánh cái bản chất, quy luật của sự vận động lịch sử

Tóm lại, nói con người là động lực của lịch sử phải xuất phát từ lý luận nhân tố khách quan Mâu thuẫn giữa con người - nhân tố chủ quan và hoàn cảnh - nhân tố khách quan, vừa là nguồn gốc vừa là động lực của con người với tư cách là chủ thể lịch sử Quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn chính

là động lực của con người với tư cách là chủ thể lịch sử Các động lực của con người có nguồn gốc phát sinh từ các mâu thuẫn đó Quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn chính là động lực của con người, được thể hiện thông qua mặt hoạt động Vấn đề quan trọng, chính là làm rõ thêm sự tham gia, với những mức độ khác nhau của các mặt đối lập đó như thế nào, cơ chế giải quyết các mặt đối lập, sự xất hiện các mặt đối lập mới trong quá trình vận động của mâu thuẫn mà mâu thuẫn này mang tính chất đặc thù của quy luật mâu thuẫn vận động trong xã hội Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì có mâu thuẫn khác nhau Trong sự vận động của mâu thuẫn, vai trò của các mặt đối lập cũng không ngang bằng nhau và cách thức giải quyết chúng cũng khác nhau Tính chất phức tạp, phong phú này là do tính chất phức tạp của xã hội cũng như hoạt động của bản thân con người quyết định Mặt khác, với tư cách

là chủ thể của lịch sử, con người bằng hoạt động thực tiễn mà hiện thực hóa các phẩm chất, năng lực của mình Quá trình giải quyết mâu thuẫn, với ý nghĩa là động lực của con người là quá trình vận động theo quy luật Do đó, khi nghiên cứu các động lực phải phát hiện các nhân tố, mối quan hệ, thuộc tính với tư cách là tính quy luật tạo nên động lực hoạt động của con người

1.2.2 Những yêu cầu đặt ra đối với việc phát huy nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta

Trang 32

Hiện nay nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tự bản thân nó đặt ra những đòi hỏi khách quan về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn lực con người với những năng lực và phẩm chất cần thiết thích ứng với sự phát triển kinh tế - xã hội

Nói tới nguồn lực con người là nói tới mặt số lượng và chất lượng của

nó Số lượng nguồn lực con người là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển kinh tế - xã hội Số lượng nguồn lực con người đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nếu

số lượng nguồn lực con người không tương xứng với sự phát triển thì đều ảnh hưởng tới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người là chất lượng nguồn nhân lực Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói tới hàm lượng trí tuệ, trong đó bao gồm trình độ tay nghề, phẩm chất tốt đẹp của người công dân, thể lực cường tráng, tâm hồn trong sáng, biết cảm nhận cái đẹp, có văn hóa lao động công nghiệp… Trong các yếu tố đó, yếu tố trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu

Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, thắng lợi của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mở ra cho con người nhiều nhận thức, khái niệm mới, nhiều cơ hội và cũng nhiều thử thách mới Đảng ta có ý thức sâu sắc về vai trò của tri thức, của nguồn nhân lực chất lượng cao Tư tưởng “con người trên hết”, “con người quyết định” được Đảng coi trọng từ lâu, Đảng chủ trương xây dựng phát triển con người Việt Nam toàn diện có đủ năng lực, phẩm chất, trí tuệ “vừa hồng, vừa chuyên” để lấy nó làm động lực, làm nguồn năng lực nội sinh, xây dựng xã hội ta thành một xã hội công bằng, nhân ái ngày càng tiến bộ Mọi chủ trương, chính sách của Đảng ta đều chú trọng đến việc chăm

Trang 33

lo bồi dưỡng phát huy nhân tố con người Trong văn kiện đại hội lần thứ VII

của Đảng có viết: “Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người – động lực trực tiếp của sự phát triển” [16, tr.121] Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VII, Đảng ta lại nhấn mạnh: “Con người là vốn quý nhất, chăm

lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta… Chúng

ta cần tìm hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn gốc của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia, phải xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc nhằm phát triển con người toàn diện, xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái thiết lập quan hệ thật sự tốt đẹp và tiến bộ giữa con người và con người trong sản xuất và trong đời sống” [16, tr.5] Tất cả điều đó, xét đến cùng là vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân mà Đảng ta luôn quan tâm, là sự thể hiện tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong thực tiễn cuộc sống

Khi công cuộc đổi mới đất nước đang đi dần vào chiều sâu và phải giải quyết những nhiệm vụ hết sức to lớn và phức tạp thì Đảng ta chủ trương bằng mọi giá phải “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công nghệ” [17, tr.107] Tiếp tục một cách nhất quán tư tưởng chiến lược con người của thời kỳ đổi mới, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “xã hội ta là xã hội vì con người và coi con người luôn luôn giữ vị trí trung tâm của phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội” Con người, trước hết là tiềm năng và sức mạnh trí tuệ, tinh thần, đạo đức

là nhân tố quyết định và là vốn quý nhất của chúng ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy đại hội IX chủ trương: “Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục

và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp

Trang 34

công nghiệp hóa, hiện đại hóa.” [21, tr.91] Thực tiễn của quá trình cách mạng

Việt Nam cũng chứng tỏ rằng trong những thời điểm lịch sử hiểm nghèo, trong những tình thế hết sức khó khăn, con người Việt Nam đều rất sáng tạo, năng động và luôn tìm ra những đường hướng đi lên làm kinh ngạc cả bạn bè quốc tế Lịch sử đã chứng minh: thời kỳ nào cách mạng biết phát huy nguồn lực con người, tạo mọi điều kiện cho hoạt động sáng tạo của con người thì con người Việt Nam luôn biết chuyển bại thành thắng, chuyển từ tình thế khó khăn thành lợi thế phát triển mới trong đó con người là động lực trung tâm

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để thực hiện thắng lợi và thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi cần phải thực hiện nhiều giải pháp mang tính cách mạng so với những giai đoạn trước đây Một trong những giải pháp đó là xây dựng và phát triển nền kinh tế của đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chính những giải pháp và bước đi mới của nền kinh tế đã tác động sâu sắc đến quan niệm và giải pháp phát huy nguồn lực con ngườiViệt Nam trong thời kỳ mới

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, sự phát triển nguồn lực con người phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế xã hội Chúng ta phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường cho nên nguồn lực con người của nước ta cũng không tránh khỏi những tác động cả từ phía tích cực lẫn tiêu cực của cơ chế thị trường Trong cơ chế thị trường, các chủ thể kinh tế có thể xuất phát từ nhu cầu lợi ích của bản thân mà kinh doanh Những nguyên tắc thị trường buộc họ phải trung thực trong kinh doanh, phải tôn trọng đối tác, phải giữ chữ tín… đồng thời họ phải tuân thủ những nguyên tắc thị trường Hành vi của họ vừa chịu sự chế ước của pháp luật, vừa chịu sự chế ước của quy luật kinh tế Nếu chỉ dừng lại ở những tính quy định của sự chế ước này thì hành vi kinh tế hoàn toàn chỉ là hành vi kinh tế, nó chưa mang tính đạo đức Nhưng một khi

Trang 35

sự tuân thủ những nguyên tắc thị trường đã vượt quá giới hạn cưỡng chế của ý

chí, của lòng hám lợi thuần tuý thì khi đó hành vi kinh tế không thuần tuý là hành vi kinh tế nữa, nó đã được điều tiết bởi nhu cầu, tình cảm, quan niệm, chuẩn mực đạo đức… trong trường hợp này là đạo đức kinh doanh Có thể nhìn nhận tác động tích cực của cơ chế thị trường theo những khía cạnh sau:

Thứ nhất, khi đã có thói quen tuân thủ các nguyên tắc, các chuẩn mực

trong hoạt động kinh tế, con người cũng có xu thế mở rộng các nguyên tắc, các chuẩn mực ấy sang các hoạt động sống ngoài kinh tế Nói cách khác, một nền kinh tế thị trường trưởng thành bao giờ cũng đòi hỏi các chủ thể kinh tế giữ chữ tín, trung thực trong kinh doanh, tôn trọng đối tác, giúp đỡ lẫn nhau… Những nguyên tắc, những chuẩn mực đó khi được mở rộng sang các lĩnh vực ngoài kinh tế sẽ góp phần làm cho đạo đức xã hội phát triển

Thứ hai, kinh tế thị trường phát triển sẽ hình thành nhiều hình thức hoạt

động nghề nghiệp, làm cho nhiều hoạt động trở thành hoạt động nghề nghiệp Hoạt động nghề nghiệp là hoạt động chủ yếu, là phương thức kiếm sống chủ yếu của con người Hoạt động nghề nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường cũng bị chi phối bởi các quy luật của kinh tế thị trường Sự chi phối ấy được thể hiện nổi bật và đặc thù ở đòi hỏi về tính hiệu quả, hiệu suất của hoạt động nhằm gia tăng thu nhập cho con người Trong các hoạt động ngoài kinh tế, con người phải giải quyết quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa thu nhập

và phục vụ xã hội Việc giải quyết hài hoà mối quan hệ này đòi hỏi một sự phát triển nhất định trong bản thân con người

Thứ ba, sự phát triển của kinh tế thị trường mà gắn liền với nó là sự

tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công nghệ tạo ra nhiều điều kiện cho sự phát triển con người

Khi tiến hành hoạt động kinh tế, con người chịu sự chi phối của lợi ích

cá nhân Lợi ích đó đòi hỏi phải có sự tính toán, cân nhắc khi quyết định, lựa

Trang 36

chọn một hành vi Đồng thời những yêu cầu của sản xuất trong điều kiện thị

trường hiện đại đòi hỏi con người phải hiểu biết không chỉ về mặt công nghệ sản xuất mà cả về mặt văn hoá, pháp luật… Mặt khác, sự vận hành của kinh

tế thị trường đòi hỏi mở rộng dân chủ và hoạt động có hiệu quả của nhà nước pháp quyền Đây chính là cơ sở pháp lý để con người tự do kinh doanh và tham dự toàn diện vào các hoạt động, các quan hệ xã hội Điều đáng chú ý nhất trong tác động tích cực của kinh tế thị trường đến con người là ở chỗ, với

sự phát triển nhân cách độc lập của con người, sự lựa chọn đạo đức và thực hiện hành vi đạo đức của họ là sự lựa chọn và thực hiện một cách tự do Theo nghĩa đó, kinh tế thị trường chẳng những không đối kháng mà còn là nhân tố khách quan cần thiết để xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, sau hai mươi năm thực hiện cơ chế thị trường, tính năng động và tích cực của công dân được phát huy, sở trường và năng lực cá nhân được khuyến khích Không khí dân chủ trong xã hội được tăng lên Thế hệ trẻ tiếp thu nhanh kiến thức mới và có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên bên cạnh những biểu hiện tích cực của cơ chế thị trường tác động đến nguồn lực con người thì tự nó đã bao chứa khả năng tác động tiêu cực đến chính bản thân con người vì:

Thứ nhất, chủ thể của kinh tế thị trường là con người kinh tế, mà con

người kinh tế thì cứ lợi ích kinh tế là nó hoạt động Nếu không có lợi nhuận thì con người không tham gia vào các hoạt động, các quan hệ thị trường Mặc

dù sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường cũng giả định sự trưởng thành của một nền pháp chế làm cho lợi ích cá nhân trong kinh tế thị trường trở thành lợi ích chính đáng để đảm bảo sự công bằng kinh tế và công bằng xã hội tương ứng với trình độ phát triển của kinh tế thị trường Tuy vậy, phương

Trang 37

thức tác động thông qua pháp luật chỉ có tính chất kiềm chế từ bên ngoài Sự

hoạt động của nguyên tắc tối đa hoá lợi ích cá nhân dễ bị biến thành phương tiện, nhân tố kích thích cho những thói xấu về đạo đức như tham ô, lừa đảo, tội ác…

Thứ hai, trong điều kiện kinh tế thị trường, giá trị của con người kinh tế

được đo bằng hiệu quả của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh Giá trị của con người được biểu hiện ở mức độ thành đạt, ở quy mô thu nhập, thậm chí ở khả năng biến người khác thành những phương tiện để thực hiện lợi ích của cá nhân Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng một số giá trị đạo đức truyền thống bị xem nhẹ, bị lãng quên trong điều kiện hiện nay

Thứ ba, hoạt động của quy luật giá trị, của nguyên tắc tối đa hoá lợi ích

cá nhân khiến cho con người một khi đã tham gia vào quan hệ thị trường là phải chấp nhận cạnh tranh Trong cạnh tranh, con người luôn phải vượt lên trên chính bản thân mình, khẳng định sự hiện diện của mình, vượt trội hơn người khác Nó đòi hỏi con người không được thụ động, trông chờ, ỷ lại, không được bằng lòng với những gì đã có mà phải luôn học hỏi, hành động,

nỗ lực vươn lên Tuy nhiên, cạnh tranh lại tạo ra điều kiện cho sự nảy sinh và phát triển thói quen phô trương, hãnh tiến, tạo ra một sự đối lập không phù hợp giữa giá trị đích thực của con người với hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị đó Thói kiêu căng, hợm mình và những thói xấu về đạo đức khác

dễ xuất hiện Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay đã và đang đặt ra những thách thức mới đối với chất lượng, đặc biệt là phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực như Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương (khoá VIII) khẳng định: “Tệ sung bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Không ít trường hợp vì

Trang 38

đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò,

đồng chí, đồng nghiệp Buôn lậu và tham nhũng phát triển Ma tuý, mại dâm

và các tệ nạn xã hội khác gia tăng Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến Nhiều hủ tục cũ và mới lan tràn, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội…

Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức có quyền, nạn tham nhũng dùng tiền của nhà nước ăn chơi xa đọa Hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến Những tệ nạn đó gây sự bất bình của nhân dân, làm tổn thương uy tín của Đảng, của Nhà nước” [20, tr.6-7]

Như vậy, vấn đề kiện toàn về số lượng, nâng cao về chất lượng, đặc biệt là hạn chế những mặt trái của nền kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế đã và đang là những yêu cầu lớn đặt ra đối với việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta Xét trên bình diện chung của quốc gia thì là như vậy, nhưng tại mỗi địa phương, đơn vị trong cả nước do những điều kiện đặc thù riêng của mình mà mức độ ảnh hưởng, tác động của các quá trình kinh tế - xã hội kể trên đối với mỗi địa phương đơn vị có khác nhau nên những yêu cầu đặt ra cũng như chọn giải pháp khắc phuc đồng thời cũng là qua đó để phát huy có hiệu quả tốt nhất nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở địa phương, đơn vị mình cũng có khác nhau Vấn đề đặt ra là cần phải có nhận thức và đánh giá đúng đắn tình hình đặc điểm, cũng như những ưu điểm và nhược điểm nguồn nhân lực tại mỗi địa phương để tìm kiếm giải pháp phát huy cho phù hợp Bởi nếu việc nhận thức cũng như đề xuất các giải pháp thực hiện sai lầm thì không những không phát huy hiệu quả đối với nguồn nhân lực hiện có của địa phương mà còn tạo ra sự kìm hãm trong sự phát triển cũng

Trang 39

như việc phát huy nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại

hoá ở chính địa phương đó

Tóm lại, trong bất cứ thời đại nào nguồn lực con người vẫn là nguồn

lực của mọi nguồn lực Điều kiện đất nước ta hiện nay lại càng chứng minh vai trò của nguồn lực con người và sự cần thiết phải phát huy nguồn lực con người Dưới tác động của cơ chế kinh tế mới - kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước nhưng do Đảng lãnh đạo còn yếu, nhiều khi thiếu phương hướng, Nhà nước quản lý chưa hiệu quả làm cho tình hình cả nước nói chung từ kinh tế tới chính trị, văn hóa, giáo dục … đều có những vấn đề hết sức nhức nhối kìm hãm nguồn lực con người Nền kinh tế chậm phát triển, nạn tham nhũng gia tăng, những giá trị văn hoá dân tộc bị xem nhẹ, giáo dục chất lượng kém Do chưa có biện pháp thích đáng trong bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ nguồn nhân lực làm cho tình trạng chảy máu chất xám ở nước ta xảy ra rất trầm trọng, hàng năm lực lượng lao động trình độ cao tiếp tục sang các nước học và định cư, lực lượng lao động trong nước thì bị kìm hãm nhiều khi không phát triển được Ngay bên lề thủ đô Hà Nội, tỉnh Hà Tây đang có những vấn đề nóng bỏng liên quan trực tiếp đến cách thức, biện pháp sử dụng, đãi ngộ, phát huy nguồn lực con người

Trang 40

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

Ở TỈNH HÀ TÂY THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tây

2.1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Hà Tây

Tỉnh Hà Tây nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ (xem phụ lục 1), liền

kề tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Về địa hình, Hà Tây là vùng chuyển tiếp giữa các vùng núi cao Tây Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ nên có sự phân cách khá rõ nét thành các vùng núi cao, trung du, đồi gò Đặc điểm địa hình trên tạo cho Hà Tây cảnh quan sinh học khá phong phú, đồng thời rất thuận lợi để phát triển hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ Hà Tây có ưu thế là tỉnh cửa ngõ của thủ đô Hà Nội ở hai phía Tây, Nam chỉ cách trung tâm Hà Nội 11km

Hà Tây có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và được chia làm hai vùng chính: vùng đồng bằng phía đông tỉnh, chiếm 2/3 diện tích đất

tự nhiên toàn tỉnh, có độ cao từ 5 - 7m; vùng đồi núi Phía Tây tỉnh chiếm 1/3 diện tích đất tự nhiên, cao trung bình từ 25-30m có gần 17.000 ha với đỉnh cao nhất là Ba Vì: 1280m Hà Tây có nhiều sông hồ lớn, sông Hồng chảy qua 103km, sông tích chảy qua 110km, sông Nhụê chảy qua 47km, sông Bùi chảy qua 7km Các hồ lớn của Hà Tây là hồ Đồng Mô - Ngải Sơn rộng 1260 ha và

hồ Suối Hai 671 ha

Hà Tây có các loại tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng rất đa dạng phong phú, biểu hiện:

Tài nguyên đất : Gồm các loại đất chủ yếu sau đây:

Ngày đăng: 15/08/2015, 20:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Dân số Hà Tây trong độ tuổi lao động - Phát huy nguồn lực con người ở tỉnh hà tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 2.1 Dân số Hà Tây trong độ tuổi lao động (Trang 54)
Bảng  2.4: Số  giáo  viên  phổ  thông  trực  tiếp  giảng  dạy  tại  thời  điểm  31/12 ở Hà Tây so với cả nước và một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng - Phát huy nguồn lực con người ở tỉnh hà tây thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ng 2.4: Số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31/12 ở Hà Tây so với cả nước và một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm