Ứng dụng• Kỹ thuật MBE được sử dụng nhiều trong vật lý chất rắn, khoa học và công nghệ vật liệu, đặc biệt trong công nghệ bán dẫn để chế tạo các màng đơn tinh thể với chất lượng rất cao,
Trang 1CÔNG NGHỆ CHẾ
TẠO CÁC VẬT LIỆU
TỪ CẤU TRÚC NANO
Trang 7Kỹ thuật mạ điện
quá trình điện hóa
phủ lớp kim loại lên
linh kiện điện tử ,
tế bào nhiên liệu , đồ
gia dụng không gỉ,
Trang 8Phương pháp bay bốc nhiệt
Sơ đồ nguyên lý hệ bay bốc nhiệt
Bay bốc nhiệt hoặc
bay bốc nhiệt trong
chân không là kỹ thuật
tạo màng mỏng bằng
cách bay hơi các
vật liệu cần tạo trong
môi trường chân không
cao và ngưng tụ trên đế
(được đốt nóng hoặc
không đốt nóng) Kỹ
thuật này đôi khi còn
được gọi là bay hơi
trong chân không.
(Thermal evaporation)
Trang 9Epitaxy chùm phân tử
• Epitaxy chùm phân tử (tiếng Anh: Molecular
beam epitaxy, viết tắt là MBE)
Phòng thí nghiệm Bell (Bell Telephone
Laboratories) bởi J.R Arthur và Alfred Y Cho
Trang 10Ứng dụng
• Kỹ thuật MBE được sử dụng nhiều trong
vật lý chất rắn, khoa học và công nghệ vật liệu, đặc biệt trong công nghệ bán dẫn để chế tạo các màng đơn tinh thể với chất lượng rất cao, với độ dày có thể thay đổi từ vài lớp nguyên tử đến vài chục nanomet Với sự phát triển của
công nghệ nano hiện nay, MBE là một trong
những kỹ thuật chủ đạo của công nghệ nano để chế tạo các vật liệu nano
Trang 11Phún xạ catốt (sputtering)
Phún xạ (Sputtering) hay Phún xạ catốt
(Cathode Sputtering) là kỹ thuật chế tạo
màng mỏng dựa trên nguyên lý truyền
được tăng tốc dưới điện trường bắn phá bề mặt vật liệu từ bia vật liệu, truyền động
năng cho các nguyên tử này bay về phía đế
và lắng đọng trên đế
Trang 12Nguyên lý của quá trình phún xạ
Trang 13Bản chất quá trình phún xạ
Khác với phương pháp bay bốc nhiệt, phún xạ không làm cho vật liệu bị bay hơi do đốt nóng mà thực chất quá trình phún xạ là quá trình truyền động năng Vật liệu nguồn được tạo thành dạng các tấm bia (target) và được đặt tại điện cực (thường là catốt), trong buồng được hút chân không cao và nạp khí hiếm với áp suất thấp (cỡ 10-2 mbar) Dưới tác dụng của điện trường, các nguyên tử khí hiếm bị iôn hóa, tăng tốc và chuyển động về phía bia với tốc độ lớn và bắn phá bề mặt bia, truyền động năng cho các nguyên tử vật liệu tại bề mặt bia Các nguyên tử được truyền động năng
sẽ bay về phía đế và lắng đọng trên đế Các nguyên tử này được gọi là các nguyên tử bị phún xạ Như vậy, cơ chế của quá trình phún xạ là va chạm và trao đổi xung lượng, hoàn toàn khác với cơ chế của phương pháp bay bốc nhiệt trong chân không
Trang 14Kỹ thuật phún xạ phóng điện phát sáng
Sơ đồ nguyên lý hệ phún xạ catốt xoay chiều
Trang 15Là kỹ thuật phún xạ sử dụng hiệu điện thế một chiều để gia tốc cho các iôn khí hiếm Bia vật liệu được đặt trên điện cực âm (catốt) trong chuông chân không được hút chân không cao, sau đó nạp đầy bởi khí hiếm (thường là
Ar hoặc He ) với áp suất thấp (cỡ 10-2 mbar) Người ta
sử dụng một hiệu điện thế một chiều cao thế đặt giữa bia (điện cực âm) và đế mẫu (điện cực dương) Quá trình
này là quá trình phóng điện có kèm theo phát sáng (sự phát quang do iôn hóa) Vì dòng điện là
dòng điện một chiều nên các điện cực phải dẫn điện để duy trì dòng điện, do đó kỹ thuật này thường chỉ dùng cho các bia dẫn điện (bia kim loại, hợp kim )
Trang 16Phún xạ phóng điện phát sáng xoay chiều (RF discharge sputtering)
Trang 17Là kỹ thuật sử dụng hiệu điện thế xoay chiều để gia tốc cho iôn khí hiếm Nó vẫn có cấu tạo chung của các hệ phún xạ, tuy nhiên máy phát là một máy phát cao tần sử dụng dòng điện tần số sóng vô tuyến (thường là 13,56 MHz) Vì dòng điện là xoay chiều, nên nó có thể sử dụng cho các bia vật liệu không dẫn điện Máy phát cao tần sẽ tạo ra các hiệu điện thế xoay chiều dạng xung vuông Vì hệ sử dụng dòng điện xoay chiều nên phải đi qua một bộ phối hợp trở kháng và hệ tụ điện có tác dụng tăng công suất phóng điện và bảo vệ máy phát Quá trình phún xạ có hơi khác so với phún xạ một chiều ở chỗ bia vừa bị bắn phá bởi các iôn có năng lượng cao ở nửa chu kỳ âm của hiệu điện thế và bị bắn phá bởi các
điện tử ở nửa chu kỳ dương
Trang 18Phún xạ magnetron
Là kỹ thuật phún xạ (sử dụng cả với xoay chiều và
một chiều) cải tiến từ các hệ phún xạ thông dụng bằng cách đặt bên dưới bia các nam châm Từ trường của nam châm có tác dụng bẫy các điện tử và iôn lại gần bia và tăng hiệu ứng iôn hóa, tăng số lần va chạm
giữa các iôn, điện tử với các nguyên tử khí tại bề mặt bia do đó làm tăng tốc độ lắng đọng, giảm sự bắn phá của điện tử và iôn trên bề mặt màng, giảm nhiệt độ đế
và có thể tạo ra sự phóng điện ở áp suất thấp hơn
Trang 19Phún xạ chùm iôn, chùm điện tử
Có nguyên tắc giống với phương pháp phún xạ phát sáng, tuy nhiên người ta sử dụng các súng phóng iôn hoặc chùm điện tử riêng biệt bắn trực tiếp vào bia,
do đó điều khiển các thông số của quá trình tạo màng một cách hiệu quả hơn
Trang 20Ưu điểm và hạn chế của phún xạ catốt
-Dễ dàng chế tạo các màng đa lớp nhờ tạo ra nhiều bia riêng biệt Đồng thời, đây là phương pháp rẻ tiền, và dễ thực hiện nên dễ dàng triển khai ở quy mô công nghiệp
-Độ bám dính của màng trên đế rất cao do các nguyên tử đến lắng đọng trên màng có động năng khá cao so với
phương pháp bay bốc nhiệt
-Màng tạo ra có độ mấp mô bề mặt thấp và có hợp thức gần với của bia, có độ dày chính xác hơn nhiều so với
phương pháp bay bốc nhiệt trong chân không
-Do các chất có hiệu suất phún xạ khác nhau nên việc khống chế thành phần với bia tổ hợp trở nên phức tạp Khả năng tạo ra các màng rất mỏng với độ chính xác cao của phương pháp phún xạ là không cao Hơn nữa, không thể tạo ra màng đơn tinh thể
Trang 21Lắng đọng hơi hóa học (CVD)
(Chemical vapor deposition)
Là một quá trình hoá học để tạo ra các vật liệu rắn với độ tinh khiết cao và hoàn hảo Quá trình này thường được sử dụng trong công nghiệp bán dẫn
để tạo ra các màng mỏng Trong quá trình CVD người ta có thể lắng đọng các vật liệu có các dạng khác nhau như: đơn tinh thể, đa tinh thể, vô định hình và epitaxi tạo nên các vật liệu như: silic, sợ cacbon, sợi nano cacbon, SiO 2, Si-Ge, nano tub cacbon…và các chất điện môi có điện trở
Trang 22CVD (Chemical Vapor Deposition)
CVD là quá trình lắng đọng màng mỏng do phản ứng hóa học của các vật liệu nguồn trong pha hơi quá trình thường xảy ra tại nhiệt độ cao Thí dụ nhiệt độ đế để màng lắng đọng thường tại 1500oC Có thể dùng nguồn nhiệt bổ sung, thí dụ dùng laser để đốt nóng đế (LCVD), trong trường hợp này nhiệt độ của pha hơi sẽ thấp hơn.
Trang 23DC plasma (violet) enhances the growth
of carbon nanotubes
in this scale PECVD
laboratory-apparatus.
Trang 26CVC (Chemical Vapor Condensation)
Công nghệ
Trang 27Công nghệ này được sử dụng để tạo ra các cấu trúc kích thước nanomét Có 3 loại thường dùng: Electron beam lithography, X-ray lithography và Scanning probe microscopy
Công nghệ
Trang 28Kỹ thuật quang khắc
• Quang khắc là tập hợp các quá trình quang hóa nhằm thu được các phần tử trên bề mặt của đế có hình dạng và kích thước xác định Có nghĩa là quang khắc sử dụng các phản ứng quang hóa để tạo hình
• Bề mặt của đế sau khi xử lý bề mặt được phủ một hợp chất hữu cơ gọi là chất cảm quang (photoresist), có tính
chất nhạy quang (tức là tính chất bị thay đổi khi chiếu các bức xạ thích hợp), đồng thời lại bền trong các môi trường kiềm hay axit Cảm quang có vai trò bảo vệ các chi tiết của vật liệu khỏi bị ăn mòn dưới các tác dụng của ăn mòn hoặc tạo ra các khe rãnh có hình dạng của các chi tiết cần chế tạo Cảm quang thường được phủ lên
bề mặt tấm bằng kỹ thuật quay phủ
Trang 29Các phương pháp tạo chi tiết trong quang khắc: kỹ thuật liff-off (trái), kỹ thuật ăn mòn (phải).
Trang 30Nguyên lý hệ quang khắc
Nguyên lý hệ quang khắc
Một hệ quang khắc bao gồm
một nguồn phát tia tử ngoại ,
chùm tia tử ngoại này được
khuếch đại rồi sau đó chiếu qua
một mặt nạ (photomask) Mặt
nạ là một tấm chắn sáng được in
trên đó các chi tiết cần tạo (che
sáng) để che không cho ánh
sáng chiếu vào vùng cảm
quang, tạo ra hình ảnh của chi
tiết cần tạo trên cảm quang biến
đổi Sau khi chiếu qua mặt nạ,
bóng của chùm sáng sẽ có hình
dạng của chi tiết cần tạo, sau đó
nó được hội tụ trên bề mặt
phiến đã phủ cảm quang nhờ
một hệ thấu kính hội tụ
Trang 31Ứng dụng của quang khắc
Quang khắc là kỹ thuật đã được phát triển từ đầu
thế kỷ 20, và được sử dụng rộng rãi nhất trong công nghiệp bán dẫn để chế tạo các vi mạch điện tử trên các phiến Si Ngoài ra, quang khắc được sử dụng trong ngành khoa học và công nghệ vật liệu để chế tạo các chi tiết vật liệu nhỏ, chế tạo các linh kiện vi cơ điện tử
(MEMS) Hạn chế của quang khắc là do ánh sáng bị nhiễu xạ nên không thể hội tụ chùm sáng xuống kích cỡ quá nhỏ, vì thế nên không thể chế tạo các chi tiết có kích thước nano (độ phân giải của thiết bị quang khắc tốt nhất là 50 nm), do đó khi chế tạo các chi tiết nhỏ cấp nanomet, người ta phải thay bằng công nghệ
quang khắc chùm điện tử (electron beam lithography).
Trang 32Electron beam lithography
Chùm điện tử với liều vượt ngưỡng quét trên bề mặt của vật liệu đã được phủ bằng một chất cảm với điện tử Sau khi chiếu chất cảm được tẩy rửa bằng phương pháp hóa
hoặc được tẩy chính bằng chùm tia điện tử trong quá
trình quét
Công nghệ
Những vạch 10 nm được tạo ra sau
khi chất cảm điện tử PMMA (poly
methyl methacrylate hòa tan trong
trichlorobenzene) phủ lên đế Si
được chiếu bằng chùm điện tử với
liều 0.8nC/cm và ăn mòn trong dung
dịch ăn mòn MIBK:IPA 1:3
Trang 33Electron beam lithography Kết hợp với phương pháp bóc tách chế tạo cấu trúc nano của Co, Fe, Ni, NiFe, MoNiFe, CoFe, CoPt, Fe3O4 và NdFeB Tạo ra các điểm 55 nm,
IrMn/CoFe, NiO/Ni và từ các màng đa lớp
Au/Co, Co/Pt, Co/Cu Các chấm có mật độ không
cao lắm khoảng 2.9 Gbit/in2
Công nghệ
Trang 34X-ray lithography Công nghệ giống như quang khắc
Trang 35Lithography bằng SPM Dùng điện trường của các đầu dò để oxi hóa bề mặt ăn mòn chọn lọc những chỗ đã bị oxy hóa.
Công nghệ
ảnh của tấm Si được
khắc dùng AFM
Trang 36Quang khắc bằng chùm tia ion
Chùm tia ion Ga+ bắn quét trên bề mặt của màng Co có dị hương từ vuông góc Phụ thuộc vào liều chiếu xạ, các vùng được chiếu có thể chuyển về nhũng vùng sắt từ có trường kháng từ nhỏ, thậm chí chuyển sang những vùng thuận từ Giữa những dót tạo ra bằng cách này tồn tại cạnh tranh giữa trường trao đổi và trường lưỡng cực Trên ảnh là cấu trúc đômen khi chiếu các liều khác nhau: (a) 2.1013ion/cm2, (b) 4.1014,
(c) 1015, (d) 2.1016 Hyndman et al J MMM, v 240 (2002) 34
Một số màng mỏng cấu trúc nano điển hình
Trang 37Màng Fe/W Màng Fe lắng đọng lên đế stepped W(110) single
crystal.
Một số màng mỏng cấu trúc nano điển hình
ảnh STM (a) và SP – STM của bề
mặt màng Fe lắng đọng lên đế W
(110) stepped single crystal.
Quan sát thấy năng lượng trao đổi A
của màng khoảng 1.810-12J/m thay
vì giá trị 1 - 210-11J/m của mẫu
khối.
Pratzer et al Phys Rev Lett V 87
(2001) 127201
Trang 38Màng Fe/W
Màng epitaxi NiO-Co trên đế Mg(110) single crystal Màng NiO trên đế Mg được chế tạo bằng phương pháp
phún xạ.
Một số màng mỏng cấu trúc nano điển hình
Màng Co được phún xạ tiếp lên
màng NiO (a) hoặc được bốc bay
lên màng NiO tạo thành các dây
nano của Co hoặc các nano tinh
thể Co Các vòng từ trễ trong ảnh
ở bên phải tương ứng cho 3 loại
màng đo dọc theo mặt màng (o)
Trang 39Chấm Ni 80 Fe 20
Các chấm permaloy hình dạng elip tạo thành các hàng ngang, trục
dễ của mỗi chấm vuông góc với hàng ngang Các chấm được chế tạo bằng phương pháp quang khắc dùng chùm tia điện tử Martin
et alJ MMM, v 256 (2003) 449
Một số màng mỏng cấu trúc nano điển hình
Trang 40Công nghệ
ảnh SEM của các cột của Ni với đường kính trung bình của mặt cắt ngang khoảng 75 nm, chiều cao 700 nm và cách nhau khoảng 100nm Mật độ 65 Gbit/in2
Trang 41Công nghệ
Trang 42Các tính chất từ tính của các hạt kích thước nano rất khó n/c vì
tính hiệu rất nhỏ.
Thường đo tín hiệu trung bình của cả tập thể.
Các phép đo thường dùng là VSM, SQUID, MOKE, nhiễu xạ Notron, kính hiển vi quét dùng hiệu ứng Hall, kính hiển vi quét
dựa trên hiệu ứng trở từ, kính hiển vi từ lực
Trong khi phân tích kết quả đo, thường có một số trở ngại:
Kích thước của cấu trúc rất nhỏ nên mẫu chỉ chứa hữu hạn một
số hạt Do đó rất khó lấy trung bình các tính chất của hạt Thay đổi kích thước hạt hoặc định hướng của các hạt dẫn đến thay đổi trong khoảng rộng tính chất từ của các array của cấu trúc nano.
Do công nghệ nên thường cac phần tử nanostructure của cả dãy không giống nhau hoàn toàn dẫn đến những thăng giáng lớn Thí
dụ, các điểm chuyển trạng thái khác nhau tại cùng một từ trường
ngoài, làm nở rộng vòng từ trễ của cả hệ.
Tương tác giữa các phần tử của array đóng vài trò quan trọng,
trường khử từ phụ thuộc mạnh vào hình dạng
tính chất từ tính của cấu trúc nano
Trang 44Kính hiển vi lực nguyên tử (AFM)
Kính hiển vi lực nguyên tử hay kính hiển
vi nguyên tử lực là loại kính hiển vi là một
vật rắn dựa trên nguyên tắc xác định lực tương tác nguyên tử giữa một đầu mũi dò nhọn với bề mặt của mẫu, có thể quan sát ở
Trang 45Sơ đồ giải thích cơ chế làm việc của kính hiển vi lực nguyên tử
Trang 46Ảnh thu được của bề mặt của một miếng kính
Trang 47Việc mũi nhọn của kính hiển vi điện tử quét nằm rất gần bề mặt mẫu khiến người ta nghĩ đến việc tính
lực nguyên tử giữa đầu mũi và các nguyên tử ở bề mặt Họ thấy lực này đủ lớn để đo và thể hiện rõ
khoảng cách giữa đầu đo và bề mặt Ví dụ, khi mũi nhọn ở ngay trên nguyên tử, nó sẽ bị hút mạnh; còn khi ở vào khoảng giữa hai nguyên tử, nó sẽ bị hút yếu Như vậy, việc đo lực khi quét mũi nhọn trên mẫu vật
sẽ cho phép dựng lại độ lồi lõm của bề mặt
Phương pháp này có thể áp dụng cho mọi bề mặt, không nhất thiết phải dẫn điện, do không cần có
dòng điện giữa đầu đo và mẫu vật Vấn đề còn lại là máy phải đủ nhạy với các biến đổi
lực hút giữa nguyên tử, vốn rất yếu
Trang 48Kính hiển vi lực từ (Magnetic Force Microscope )
Kính hiển vi lực từ (MFM) là một loại
kính hiển vi thuộc nhóm kính hiển vi quét đầu dò (SPM), được sử dụng để xây dựng hình ảnh sự phân bố của tính chất từ trên
bề mặt vật rắn dựa trên việc ghi nhận lực tương tác (lực từ) giữa mũi dò từ tính với bề mặt của mẫu
Trang 49Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM)
Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM:
transmission electron microscopy) là một
thiết bị nghiên cứu, sử dụng chùm điện tử
có năng lượng cao chiếu xuyên qua mẫu
nhỏ và sử dụng các thấu kính từ để tạo ảnh với độ phóng đại lớn (có thể tới hàng triệu lần), ảnh có thể tạo ra trên màn huỳnh
quang, hay trên film quang học , hay ghi
nhận bằng các máy chụp kỹ thuật số.
Trang 50Sơ đồ nguyên lý của kính hiển vi điện tử truyền qua
Trang 51Kính hiển vi điện tử truyền qua TECNAI T20 ở Khoa Vật lý và Thiên văn, Đại học Glasgow
Trang 52Ảnh hiển vi điện tử độ phân giải cao chụp lớp phân cách Si/SiO2, có thể thấy các lớp nguyên tử Si
Trang 55Kính hiển vi điện tử quét (SEM)
Kính hiển vi điện tử quét (tiếng Anh: Scanning
Electron Microscope, thường viết tắt là SEM), là
một loại kính hiển vi điện tử có thể tạo ra ảnh với
độ phân giải cao của bề mặt mẫu vật bằng cách sử dụng một chùm điện tử hẹp quét trên bề mặt mẫu Việc tạo ảnh của mẫu vật được thực hiện thông qua việc ghi nhận và phân tích các bức xạ phát ra
từ tương tác của chùm điện tử với bề mặt mẫu vật