Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trởtrong đó R là một số thực và X là thành phần ảo của một dây dẫn sắt từ trong một từ trường ngoài, Hext, khi một dòng điện thay đổi tần số cao : chảy qu
Trang 1Nơi bạn có thể thảo luận:
Trang 3Màng đa lớp
và hiệu ứng từ điện trở
Trang 4Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
(trong đó R là một số thực và X là thành phần ảo) của một dây dẫn sắt
từ trong một từ trường ngoài, Hext, khi một dòng điện thay đổi tần số cao :
chảy qua nó [3], nên không được coi là Từ điện trở
Trang 5Độ lệch của đường dòng điện do từ trường tạo ra tăng chiều dài của đường dẫn điện, sau đó, tăng điện trở hiệu dụng, được mô tả bởi
ở đây R0 là điện trở tại từ trường không
Trang 6Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
3 Từ trở dị hướng ( AMR).
• Điện trở phụ thuộc vào sự định hướng tương
đối của M và dòng điện I.
* Nguồn gốc là:
+ sự tán xạ không đối xứng của các electron theo
spin của chúng trong từ truờng
+ do liên kết spin-quỹ đạo
Hiệu ứng này cũng được William Thomson phát hiện vào năm 1857 khi quan sát thấy điện trở của các vật liệu sắt và niken phụ thuộc vào góc giữa dòng điện chiều của véctơ từ độ Hiệu ứng này phát hiện trong nhiều chất bán dẫn và nhiều màng mỏng từ
Trang 7Hàm này đạt giá trị cực đại tại góc 450,
Trang 89Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
4 Từ trở khổng lồ (GMR).
Trang 910 nhóm của Albert Fert
Trang 10( C ) Schematic of the mechanism of the GMR In the parallel magnetic
configuration (bottom), the electrons of one of the spin directions can go
easily through all the magnetic layers and the short circuit through this
channel leads to a small resistance In the antiparallel configuration (top), the electrons of each channel are slowed down every second magnetic layer and the resistance is high From
Chappert etal.,2007
Trang 11Fermi Bức tranh này hoàn toàn áp dụng được cho hai nghuyên tố sắt từ
mạnh Co và Ni Đối với Fe ( chất sắt từ yếu), mật độ trạng thái của các spin thuận ở mức Fermi vẫn tồn tại nhung nhỏ hơn nhiều so với trạng thái spin nghịch
Dộ dẫn điện tổng cộng σ là tổng của độ dẫn điện của các hạt tải đa số
σ+và các hạt tải thiểu số σ- Độ dẫn được mô tả bằng biểu thức sau:
trống hoàn toàn có khả năng xảy ra Trong trường hợp này, chính các mức năng lượng còn trông này như là một cái bẫy để lưu giữ các hạt tải thiểu số lại đó, gây nên điện trở Về bản chất , ảnh hưởng của các trạng thái d ở gần mức Fermi đến tính chất chuyển được hiểu theo 3 luận điểm sau đây:
Trang 12Cơ chế của hiệu ứng GMR
Điện trở của các chất rắn được tạo ra do sự tán
xạ của điện tử, và các đóng góp cho sự tán xạ
này gồm:
Tán xạ trên mạng tinh thể do dao động mạng
tinh thể gọi là tán xạ trên phonon
Tán xạ trên spin của các phần tử mang từ tính,
gọi là tán xạ trên magnon
Tán xạ trên sai hỏng mạng tinh thể (defect)
Gần đây còn có các nghiên cứu chỉ ra sự tán xạ
của điện tử trên các polaron từ để giải thích
hiệu ứng CMR
Như vậy, hiệu ứng GMR có được là do sự tán xạ
của điện tử trên magnon Khi có các phần tử
mang từ tính (ví dụ các lớp sắt từ trong các
màng đa lớp hay các hạt siêu thuận từ trong
các màng hợp kim dị thể) có sự định hướng
khác nhau về mômen từ (do tác động của từ
trường ngoài), sẽ dẫn đến sự thay đổi về tính
chất tán xạ của điện tử và do đó sẽ làm thay đổi
điện trở của chất rắn Một cách chính xác hơn,
hiệu ứng GMR trong các màng đa lớp được giải
thích bằng mô hình hai dòng điện của Mott (đề
Trang 13Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ có thể được giải thích với sự tổ hợp đồng thời của ba giả thiết sau:
1 Vì độ dày của lớp không từ chỉ vào cỡ 1nm, tức là nhỏ hơn hoặc xấp xỉ bằng quãng đường tự do trung bình của các điện tử, nên điện tử có khả năng vượt qua lớp đệm không từ tính để chuyển động từ lớp từ tính này sang lớp từ tính khác
2 Khi chuyển động trong các lớp vật liệu có từ tính hoặc trong vùng chuyển tiếp với các lớp từ tính, sự tán xạ của các điện tử phụ thuộc vào sự định hướng spin của chúng
3 Định hướng tương đối của các véc tơ độ từ hóa trong các lớp có thể thay đổi dưới tác dụng của từ trường ngoài
Trang 14Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
Mô hình GMR vừa trình bày dựa trên mô hình hai dòng điện ( dòng điện của các điện tử có các spin thuận và dòng điện của các điện tử có các spin nghịch) và cơ chế tán xạ phụ thuộc spin của điện tử Đó chính là cơ chế tán xạ s-d ( tức là tán xạ của các điện tử s trên các trạng thái d ở gần mức Fermi)
Một số lý thuyết khác cũng đã được đề xuất dựa trên cơ chế sự phụ thuộc cấu trúc vùng của cấu hình từ
Một cách chi tiết hơn, các lý thuyết còn có thể mô tả một cách riêng biệt cho hiệu ứng GMR đối với cấu hình có dòng điện trong mặt phẳng (CIP), hoặc
có dòng điện vuông góc với mặt phẳng màng.(CPP)
Trong cấu hình CIP-GMR, sự chuyển động từ lớp này sang lới khác chỉ
có thể xảy ra nhờ chuyển động nhiệt Trong cấu hình CPP-GMR, các
điện tử bắt buộc phải chuyển qua nhiều lớp interface Khi đó hiệu ứng
bẫy spin xảy ra tại các vùng chuyển tiếp, được xem là một trong các cơ chế quan trọng có thể sử dụng để phát triễn và hoàn thiện lý thuyết về
GMR Hạn chế của cấu hình CPP là điện trở của mẫu trở nên rất nhỏ
theo phương vuông góc với mặt phẳng màng, làm cho việc đo đạc rất
khó khăn
Trang 15Ứng dụng của hiệu ứng GMR
Kể từ năm 1992, hiệu ứng GMR bắt đầu được ứng dụng trong các đầu đọc dữ liệu của ổ đĩa cứng máy tính thay cho các đầu đọc sử dụng hiệu ứng từ điện trở dị hướng cũ, làm tăng tốc độ đọc ghi thông tin Người ta sử dụng các màng mỏng valse-spin để cho các ứng dụng này Một ưu điểm khiến chúng dễ dàng thay thế là khả năng chống nhiễu và chống ồn rất cao
Ứng dụng trong việc chế tạo các cảm biến từ trường nhạy, các cảm biến đo gia tốc
Một ứng dụng lớn nhất mở ra từ hiệu ứng này là việc phát triển các linh kiện spintronics, các linh kiện điện tử thế hệ mới hoạt động dựa trên việc điều khiển dòng spin của điện tử Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ, từ điện trở chui hầm là hai trụ cột của spintronics.
Trang 16Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
5 Liên kết từ trong vật liệu đa lớp.
Hệ số từ trở dao động theo chu kỳ của độ dày của lớp đồng ( do
tương tác trao đổi dạng dao động)
Ba kiểu liên kết: - Sắt từ
- Phản sắt từ
- Liên kết kiểu 900
Trang 176 Các cơ chế liên kết khác trong vật liệu đa lớp.
Trang 18Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
7 Từ trỡ tại điểm làm việc.
Trang 19Từ trỡ tại điểm làm việc.
• Trong ghi từ,
Trang 2021Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
Từ trỡ tại điểm làm việc.
Trang 22Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
Từ trở khổng lồ (GMR)
Trang 24Trong kim loại sắt từ , dòng điện thường được xem xét với hai
dòng hạt tải khác nhau với tên gọi là dòng của các hạt tải đa số
và hạt tải thiểu số tương ứng với các điện tử có các spin thuận nghịch Khái niệm đa số và thiểu số sử dụng ở đây có lý do xuất phát từ số lượng các điện tử có spin thuận và spin nghich trong các phân vùng năng lượng 3d, ở đó do có sự tách vùng và phân vùng năng lượng của các điện tủ có spin thuận có năng lượng
thấp hơn phân vùng năng lượng của các điện tử có spin nghịch Theo nguyên tắc tối ưu về mặt năng lượng, phân vùng spin thuận bao giờ cũng chiếm nhiều điện tử hơn, Các điện tử đa số quyết định chiều của độ từ hóa và hiệu số của số lượng các điện tử đa
số và thiểu số quyết định độ lớn của độ từ hóa Người ta cũng giả thiết rằng , trong các kim loại sắt từ, các hạt tải điện chủ yếu là các điện tử s ( vì các điện tử d có khối lượng hiệu dụng lớn.)
Trong trường hợp này, vùng năng lượng s không bị tách, nên nói
Trang 26sự cân bằng về từ độ Sự tác động của từ trường ngoài dẫn đến việc thay đổi sự định hướng của mômen từ ở mỗi lớp, dẫn đến sự thay đổi về dòng dẫn của các spin phân cực, và dẫn đến sự thay đổi về điện trở suất.
Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
Trang 28Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
9 Sự tích trữ spin.( accumulation).
Độ dài khuếch tán spin lsf là
khoảng độ dài của CPP –
Trang 31TIẾP XÚC XUYÊN HẦM TỪ TÍNH ( MTJ)
Một tiếp xúc tunnel từ tính (MTJ) gồm có hai lớp kim loại từ tính,
chẳng hạn cobal- sắt, được cách ly bởi một lớp cực mỏng chất cách điện, như oxit nhôm với độ dày cỡ 1 nm Lớp cách điện mỏng sao cho các điện tử có thể xuyên hầm qua hàng rào nếu thế hiệu dịch được đặt lên giữa hai điện cực kim loại Trong TMJ dòng điện tunnel phụ thuộc vào sự định hướng tương đối của các độ từ hóa của hai lớp sắt từ.mà có thể thay đổi bằng một điện trường ngoài Hiện tượng này được gọi là Từ điện trở xuyên hầm (TMR)
Trang 32Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
10 Từ trở tunel ( xuyên hầm).
Trang 33phòng Gần đây các giá trị lớn của TMR đã được quan sát thấy trong tiếp xúc (MTJ) tinh thể với các hàng rào MgO trong sự xuyên hầm phụ thuộc spin Các tiếp xúc xuyên hầm từ tính (TMJ) đang hứa hẹn những ứng dụng trong công nghiệp tích trữ thông tin và sensor.
Trang 34Các tiếp xúc chui hầm từ tính được chế tạo bằng công nghệ màng mỏng Với quy mô công nghiệp các lắng đọng màng được thực hiện bằng phún xạ
magnetron ở quy mô phòng thí nghiệm việc lắng đọng bằng phương pháp Epitaxy chùm phân tử, lắng đọng xung laser và lắng đọng hơi vật lý tia điện
tử cũng được sử dụng Các tiếp xúc được chuẩn bị bằng phương pháp
Quang khắc
Trang 36Chương 3 Màng đa lớp và hiệu ứng từ điện trở
hai chất sắt từ được ngăn cách
bởi một chất cách điện mỏng Nếu
lớp cách điện mỏng là đủ mỏng
(thường là một vài nanomet), các
điện tử có thể từ một trong những
vật liệu sắt từ xuyên qua đường
hầm vào chất sắt từ kia Bởi vì
quá trình này không thể xảy ra
trong vật lý cổ điển, nên các Từ
điện trở xuyên hầm là một hiện
tượng trong cơ học lượng tử
Trang 37• Các hiệu ứng sự dịch chuyển phụ thuộc spin không chỉ có mặt trong vùng dẫn kim loại , mà còn trong vùng dẫn tunel
• Trong các dụng cụ, điện trở cao nghĩa là sự tiêu thụ công suất thấp cho
cùng tín hiệu lối ra
Hiệu ứng spin = sự dịch chuyển bảo toàn spin
Là hiệu ứng từ trở xảy ra khi các lớp sắt từ bị ngăn cách bởi các lớp mỏng cách điện cho phép điện tử xuyên hầm qua các lớp cách điện này, và tán xạ trên các lớp sắt từ, gây ra hiệu ứng từ trở lớn.
High R for AP configuration
Low R for P configuration
Trang 39các tiếp xúc từ chui hầm, là các màng mỏng với các lớp màng mỏng sắt từ được ngăn cách bởi lớp điện môi, đóng vai trò lớp rào ngăn cách chuyển động của điện tử Khi chiều dày lớp điện môi
đủ mỏng, hiệu ứng chui hầm lượng tử sẽ xảy ra, cho phép điện tử xuyên qua rào thế của lớp điện môi, tạo thành sự dẫn điện, và do sự tán xạ trên các lớp sắt từ, điện trở của màng sẽ bị thay đổi tùy
theo sự định hướng của mômen từ của các lớp sắt từ.
Hiệu ứng từ điện trở chui hầm thực chất được phát hiện từ năm 1975 bởi nhóm nghiên cứu của Michel Julliere khi phát hiện ra hiệu ứng này xảy ra trong hệ màng đa lớp Fe/Ge/Co, xảy ra ở nhiệt độ thấp tới 4,2 Kelvin với lớp germanium (Ge) đóng vai trò là một lớp điện môi[1]
môi, tỉ số từ điện trở (trong trường
hợp này sử dụng là TMR) phụ thuộc
vào độ phân cực spin của 2 lớp
(P1,P2), và được cho bởi công
thức[4]:
Trang 40Các sự phụ thuộc của TMR
Trang 42Các lý thuyết để giải thích
Trang 43Spin-resolved densities of states (DOS) of the electrodes
Ref.: M Jullière, Phys Lett A 54 (1975) 225.
DOS of a normal
metal (Cu)
DOS of a ferromagnetic metal (Co)
Trang 44Tunneling probability / densities of states
Spin polarisation of an electrode
Tunnel magneto-resistance
The Jullière Model – Counting Electronic States
Zero bias: E = EF
Trang 45khác nhau với tên gọi là dòng của các hạt tải đa số và hạt tải thiểu số tương ứng với các điện tử có các spin thuận nghịch Khái niệm đa số và thiểu số sử dụng ở đây có lý do xuất phát từ số lượng các điện tử có spin thuận và spin nghich trong các phân vùng năng lượng 3d, ở đó do có sự tách vùng và phân vùng năng lượng của các điện tủ có spin thuận có năng lượng thấp hơn phân vùng năng lượng của các điện tử có spin nghịch Theo nguyên tắc tối ưu về mặt năng lượng, phân vùng spin thuận bao giờ cũng chiếm nhiều điện tử hơn, Các điện tử đa số quyết định chiều của độ từ hóa và hiệu số của số lượng các điện tử đa số và thiểu số quyết định độ lớn của độ từ hóa Người
ta cũng giả thiết rằng , trong các kim loại sắt từ, các hạt tải điện chủ yếu là các điện tử s ( vì các điện tử d có khối lượng hiệu dụng lớn.) Trong trường hợp này, vùng năng lượng s không bị tách, nên nói chung só điện tử s có spin thuận và spin nghịch giống nhau
Trang 471 - Người ta thừa nhận spin của các điện tử được bảo toàn trong quá trình tunel Sự tunel của các điện tử spin-up và spin-down là hai quá trình độc lập, vì vậy độ dãn xảy
ra trong hai channel spin độc lập Theo như giả thiế này thì các điện tử có nguồn gốc
từ trạng thái spin của màng sắt từ thứ nhất được tiếp nhận bởi các trạng thái không đầy của cùng spin của màng thứ hai Nếu như hai màng sắy từ được từ hoá song song thì các spin thiểu số sẽ tunel đến các trạng thái thiểu số và các spin đa số tunel đến các trạng thái đa số Song nếu như hai màng được từ hoá phản song song thì tính đồng nhất của các điện tử spin-đa số và spin-thiểu số sẽ thay đổi ngược lại, vì vậy các spin-đa số của màng thứ nhất sẽ tunel đến các trạng thái thiểu số của màng thứ hai và ngược lại.
2- Người tathừa nhận rằng sự dẫn đối với một sự định hướng spin đặc biệt sẽ tỷ lệ với tích của mật độ hiệu dụng của các trạng thái của hai điện cực sắt từ.
Theo như hai giả thiết này thì dòng tunel đối với sự sắp xếp song song và phản song song thì TMR có thể được viết theo
Trang 49Ref.: J.C Slonczewski, Phys Rev B 39 (1989) 6995.
– assume free electrons in a one-dimensional system
Scattering at a step barrier
Determination of the total wavefunction by continuity
Trang 52Ứng dụng của từ điện trở chui hầm
1 Spintronics
Mô hình một số linh kiện spintronics: a) spin diode, b,c,d) spin transistor
Trang 531 Cách nào hiệu quả nhất để phân cực một hệ spin?
2 Một hệ spin có thể nhớ trạng thái định hướng trong bao lâu?
3 Làm thế nào để ghi nhận spin?
Trang 54Các khái niệm và thao tác trên linh kiện spintronics
Độ phân cực: Hiểu một cách đơn giản là tỉ lệ sai lệch giữa spin định hướng theo 2
chiều lên và xuống, được cho bởi công thức:
với lần lượt là mật độ spin up và spin down
Dòng phân cực spin: Là khái niệm được đề xuất năm 1935 bởi Mott để giải thích
các tính chất bất thường của điện trở trong các kim loại sắt từ Mott cho rằng ở
nhiệt độ đủ thấp sao cho tán xạ trên magnon đủ nhỏ thì các dòng chuyển dời điện
tử chiếm đa số (có spin song song với từ độ) và thiểu số (có spin đối song song với
từ độ) sẽ không bị pha trộn trong quá trình tán xạ Sự dẫn điện có thể coi là tổng hợp của hai dòng độc lập và không cân bằng của hai loại spin có chiều khác nhau
Đó chính là khái niệm về dòng phân cực spin Và mô hình của Mott được gọi là mô hình hai dòng điện, và sau đó được nhóm của Campel mở rộng vào năm 19367, và sau đó tiếp tục được bổ sung hoàn thiện và là một khái niệm quan trọng để mô tả hiệu ứng từ điện trở cũng như các quá trình trong linh kiện spintronics
Tiêm spin, bơm spin: Trong một số chất ở trạng thái sắt từ, mật độ spin up và
down là cân bằng nhau và không tạo ra dòng phân cực spin và không hữu ích cho các linh kiện spintronics Người ta có thể tạo ra các dòng phân cực spin trong các chất này bằng cách dùng các nguồn để đưa dòng phân cực spin vào từ bên ngoài, gọi là quá trình tiêm spin (spin injection) hay bơm spin (spin pumping)
Truyền dẫn spin
Tích lũy spin