Chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Mô hình bệnh của bệnh nhân nội trú và khả năng đáp ứng mô hình bệnh tại Viện Sức khỏe Tâm thần năm 2011” nhằm khảo sát mô hình bệnh tật của bện
Trang 1HSPH 6934
Lv36 _ OLBV3
BO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐẶNG THANH TÙNG
MÔ HÌNH BỆNH CỦA BỆNH NHÂN NỘI TRÚ VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MÔ HÌNH BỆNH
TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THÀN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SO CHUYEN NGANH: 60720701
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYÊN KIM VIỆT
HÀ NỘI, 2012
Trang 2Nhân dịp hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Dai hoc Y tế Công cộng Hà Nội; Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Ban Lãnh đạo
Viện Sức khỏe Tâm thần đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành
khóa học
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc dén thay
PGS.TS.Nguyễn Kim Việt — Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch
Mai - Chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội, và cô Ths.Nguyén
Thi Thanh Nga, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội — những người đã hết lòng hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học hỏi và
hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng môn lớp Cao học Quản lý
bệnh viện khóa 3, Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội và các bạn đồng nghiệp
tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và đã giúp tôi hoàn thành tốt khóa học này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2013 Đặng Thanh Tùng
Trang 3DANH MUC CAC TU VIET TAT
Rối loan tăng động giảm chú ý
Hiệp hội Tâm thần học Mỹ Cán bộ y tế
Số tay Chẩn đoán và Thống kê các bệnh tâm thần lần thứ 4 của
Hiệp hội Tâm thân học Mỹ Gamma Aminobutyric acid
Giường bệnh
Bảng Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
Phòng Điều trị Rồi loạn liên quan stress
Phòng Điều trị Tâm thần Nhi & Người già
Phòng Điều trị Tâm thần phân liệt
Phòng Điều trị Rối loạn cảm xúc
Phòng Điều trị Nghiện chất Rối loạn tâm thần
Thông tư số 08/TTLT - BNV - BYT ban hành ngày 5/6/2007
Tâm thần phân liệt
Trung ương
Tổ chức Y tế thế giới
Trang 4
DAT VAN DEE essssvssssensssservessesccvescsssnsroresnenoenentadnenvenssonisatdugensvenenenesasetssusessusezeesostavoonen 1
CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU -+ -++-++ s+e+ A
1.1 Khái niệm mô hình bệnh tật - -++++tseteerereree 4 1.2 Khái niệm va phân loại bệnh tâm than cna 1.3 Các phương pháp điều trị bệnh tâm thần 29135491 a0 1.4 Các nguyên nhân chính gây rối loạn tâm thần -. -c5c-©cs+ere+ ia) 1.5 Tinh trang bệnh tâm thần trên thế giới và Việt Nam - .-++ 13 1.6 Nguồn lực và mô hình điều trị, chăm sóc bệnh nhân tâm thần trên thế giới
và Việt Nam «eeeertetrrrtririiiiiiiiiiiiiiirrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrtrrrrrrtrrrrrtrrr 17 1.7 Một số thông tin cơ bản và thực hiện chuyên khoa theo mô hình bệnh tại Viện Sức khỏe Tâm KHẤN .- x-essesseiSCSEES85171518108/605028160 0318180179 70050001.-A lerEk 23 1.8 Khung lý thuyẾt -c cccrrrrrrrrrrrreerrierrrrtrrrtrrrdrrirrrrrirrerririe 23
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUỮ -.-cocsisisasondesobroe ZY
2.1 Đối tượng nghiên CỨ c6 sangiby0rieiL6422szeeasasstnsamsosssaz32S2SESSEXIEESEE 27 2.2 Địa bàn và thời gian nghiên cứu -+-+rterrrterrrtereertrrtrrrrtrrrre 2 2.3 Thiết kế nghiên cứu -e-+++ettrtterrerrrrrrrterrttrrterdirrriierrrrrrrteree 21 2.4 Mau va phuong phap chon THẤU 212118503855588545511540115038)183188499014-4L 655e 27
2.6 Xử lý và phân tích số LIEU ccssscscescesocnsersessensesesecesnceneecenesnnnnenensoesastin 29
ĐÀ TÔ Biến số nghiên cứu
3.1 Thông tin chung về bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện - 30 3.2 Mô hình bệnh của bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện czesesanliese 31
3.3 Kha nang dap ing m6 hình bệnh tại Viện Sức khỏe tâm thần 2u 4
4.1 Mô hình bệnh tâm thần điều trị nội trú năm 2011
4.2 Bệnh nhân được điều trị đúng chuyên khoa đạt tỷ lệ thấp -.- 53 4.3 Công suất sử dụng, phân bổ giường bệnh chưa đạt theo hướng chuyên khoa
"11 54
của Vien "1 cinppudsesansgavusecsnstecivsinnencsnneguevenseaneaseaseabep EEGs
4.5 Hạn chế của nghiên cứu
Trang 5iv
Trang 6Bang 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện năm
Bảng 3.2 Mô hình bệnh tâm thần năm năm 2011 31
Bang 3.3 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo nhóm bệnh và giới tính 32
Bảng 3.4 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo mô hình bệnh tật và nhóm tuổi 33
Bảng 3.5 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo mô hình bệnh và ngày điều trị trung bình .osSiEx0E01500001009n015 tee wa vaso guanine oeouevebtattrdonseoeesasecnsoesecttererstearsoeeeetseateny teat 34 Bảng 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân tại các phòng điều trị theo các nhóm bệnh 35
Bang 3.7 Ty lé bénh nhân được diéu tri ding chuyén khoa theo phong diéu tri 36 Bảng 3.8 Công suất sử dụng giường bệnh nội trú năm 21 Ï - 40
Bảng 3.9 Công suất sử dụng giường bệnh theo chuyên khoa năm 201I 42
Bảng 3.11 Nguân nhân lực của Viện Sức khỏe Tâm thẫn 45
Bang 3.12 Nhu cầu nhân lực y tế của Viện Sức khỏe Tâm than theo TT08 .46
Bảng 3.13 Tỷ lệ cán bộ y tốgiường bệnh năm 2010 và 201 1 46
Bảng 3.14 Mô hình nhân lực và giường bệnh các phòng năm 20T áenaleee 47 Bảng 3.15 Mô hình nhân lực và giường bệnh các phòng năm LOLT keaasionalsee 47
Trang 7hoạt động chân đoán và điều trị
Viện Sức khỏe Tâm thần là một viện trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai với chức
năng khám, tư vấn, điều trị ngoại trú và điều trị nội trú người có rối loạn tâm thần trong cả nước Viện tập trung đầy đủ các yếu tố cấu thành mô hình bệnh tật Tuy
nhiên, từ trước đến nay lĩnh vực nghiên cứu này chưa được thực hiện tại Viện
Chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Mô hình bệnh của bệnh nhân nội trú
và khả năng đáp ứng mô hình bệnh tại Viện Sức khỏe Tâm thần năm 2011” nhằm khảo sát mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú và đánh giá khả năng đáp ứng mô hình bệnh của Viện Sức khỏe Tâm thần năm 201 I
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với định tính để tìm hiểu,
phân tích mô hình bệnh tâm thần của bệnh nhân điều trị nội trú và sự đáp ứng về
giường bệnh và nhân lực theo mô hình bệnh của Viện Sức khỏe Tâm thần Chúng tôi
đã thu thập số liệu trên 2.499 hồ sơ bệnh án bệnh nhân ra viện năm 2011 nhằm thu
thập các thông tin về mô hình bệnh và và phỏng vấn sâu lãnh đạo viện và 5 cán bộ
là trưởng/phó các phòng điều trị Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng năm 2011 các
nhóm bệnh có tỷ lệ nhập viện nhiều nhất là các nhóm F20-F29 (32,8%), F40-F48
(23.4%), F30-F39 (18,8%), F10-F19 (13,9%) và F00-F09 (5,7%) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giới trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu Có nhóm tuổi
đặc trưng cho các nhóm bệnh khác nhau Ngày điều trị trung bình năm 2011 1a 16,9 + 10,2 ngày Công suất sử dụng giường bệnh còn chưa đạt (96%) Tình trạng bệnh
Trang 8nhân nằm chưa đúng chuyên khoa khá phổ biến, số bệnh nhân vào đúng chuyên
khoa chỉ đạt từ 14,8% đến 65% Số giường thực hiện cho bệnh nhân đúng chuyên
khoa tại các phòng điều trị chỉ từ 3 — 13,9 giường, với công suất sử dụng giường đúng chuyên khoa là 24,8% Có sự thiếu hụt nguồn nhân lực bác sỹ và điều đưỡng Như vậy các bệnh nhân đã được phân luồng theo chuyên khoa, tuy chưa thực
hiện triệt đề, tất cả các phòng đều điều trị các bệnh nhân ở tất cả các nhóm bệnh
khác nhau Vì vậy, viện cần bổ sung thêm nhân lực, xây dựng kế hoạch phân bổ
giường bệnh và nhân lực để phục vụ tốt hơn cho việc chăm sóc bệnh nhân và đáp
ứng yêu cầu điều trị theo chuyên khoa
Trang 9ĐẶT VÁN ĐÈ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới: “Sức khỏe tâm thần là một tình
trạng khỏe mạnh trong đó cá nhân nhận biết được năng lực của bản thân, có thể ứng phó với những stress thông thường của cuộc sống, có thể làm việc một cách
có hiệu qua, và có khả năng đóng góp cho cộng đồng” [44] Trên thế giới cứ 4 người thì 1 người có một hay nhiều rối loạn tâm thần, hoặc hành vi trong suốt cuộc đời Hiện thế giới có khoảng 450 triệu người có các rối loạn tâm thần, trong đó 120 triệu bệnh nhân trầm cảm, 50 triệu bệnh nhân động kinh, 40 triệu bệnh nhân tâm
thần phân liệt Hiện sức khỏe tâm thần được WHO xếp thứ 4 trong các vấn đề sức khỏe Dự kiến đến năm 2020, sức khỏe tâm thần sẽ được xếp hạng thứ 2 sau các bệnh về tim mạch Nguyên nhân theo WHO [L7] là do những yếu tố: điều kiện cuộc
sống (nghèo khổ kéo dài), thiếu điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng công ăn việc làm; công việc quá tải; các thay đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội, xung đột chính trị; và ảnh hưởng của thiên nhiên, đặc biệt là sau các thảm họa
Ở nước ta, sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường và sự giao thoa của các
tiến bộ kỹ thuật, các nền kinh tế, văn hóa đa quốc gia của xã hội hiện đại đã tác
động mạnh mẽ đến sức khỏe tâm thần của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Một
cuộc khảo sát quốc gia giai đoạn 2001-2003 cho thấy Việt Nam có khoảng 14,9%
dân số, tương đương với khoảng 12 triệu người bị mắc các rối loạn tâm thần, chỉ
tính riêng 10 bệnh tâm thần thường gặp, là tâm thần phân liệt, trầm cảm, động kinh,
rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ ở người già, rối loạn tâm thần sau chấn thương sọ não, chậm phát triển tâm thần, rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên, rối loạn tâm thần do
rượu, ma túy, nhiều nhất là nghiện rượu (5,3%), trầm cảm (2,8%) và lo âu (2,6%)
[19] Theo số liệu năm 2009 của WHO [43], tỷ lệ mới mắc bệnh tâm thần trong năm
tại Việt Nam là 40.262 người (chiếm 0,04% dân số) Điều trị các rối loạn tâm thần thường là sự phối hợp điều trị của cả trị liệu tâm lý và liệu pháp hóa dược, tại Việt Nam điều trị các rối loạn tâm thần chủ yếu vẫn là bằng liệu pháp hóa dược [29]
Trang 10mô hình bệnh tật không chỉ đóng vai trò quan trọng trong công tác chuyên môn, hoạt động chân đoán và điều trị của các thầy thuốc lâm sàng mà còn có vai trò quan trọng trong công tác y tế dự phòng, công tác quản lý và theo đối bệnh nhân cũng như trong việc định hướng xây dựng chiến lược phát triển của ngành cho những năm tiếp theo Tuy nhiên, từ trước đến nay những nghiên cứu trong lĩnh vực sức
khỏe tâm thần mới chỉ được tiến hành lẻ tẻ, chưa có tính hệ thống và toàn điện, chúng tôi chưa thấy có nhiều công trình nghiên cứu khoa học lớn về mô hình bệnh tâm thần được công bố trong y văn, mới chí có một vài báo cáo của Bệnh viện Tâm thin TW I, Bệnh viện Tâm thần Bình Định, còn Bệnh viện Tâm thần TW II cũng
chưa có báo cáo chính thức, và trong các báo cáo của Bệnh viện Tâm thần Trung ương I và II, Bệnh viện Tâm thần Bình Định cũng chưa có đánh giá tác động của
mô hình bệnh tâm thần lên việc định hướng phát triển chuyên khoa, phân bỗ giường bệnh, nhân lực, trang thiết bị y tế và xây dựng ngành
Viện Sức khỏe Tâm thần là một viện thuộc Bệnh viện Bạch Mai - một bệnh viện
đa khoa hoàn chỉnh lớn nhất miền Bắc, là tuyến cuối cùng tiếp nhận những trường hợp được chuyển từ các bệnh viện tỉnh/thành tới - có chức năng khám, tư vấn, điều
trị ngoại trú và điều trị nội trú các người bệnh có rối loạn tâm thần trong cả nước Hàng năm Viện tiếp nhận khoảng 3.000 lượt bệnh nhân vào khám và điều trị nội trú
Việc nghiên cứu về các loại bệnh mà Viện Sức khỏe Tâm thần đã thu dung điều trị
sẽ giúp cho các bác sỹ có nhận định đúng đắn về các bệnh tâm thần thường gặp,
giúp cho các cấp lãnh đạo của Viện và Bệnh viện Bạch Mai có cơ sở để vạch ra kế hoạch xây dựng đội ngũ chuyên khoa và các nguồn lực phù hợp với tình hình bệnh tật tâm thần ở hiện tại cũng như trong tương lai
Nhằm phục vụ cho mục đích này, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu:
“Mô hình bệnh của bệnh nhân nội trú và khả năng đáp ứng mô hình bệnh tại Viện Sức khỏe Tâm thần năm 2011”
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mô tả mô hình bệnh nhân điều trị nội trú theo một số đặc điểm nhân khẩu học tại Viện Sức khỏe Tâm thân năm 2011;
Đánh giá khả năng đáp ứng về giường bệnh và nhân lực với mô hình bệnh điều
trị nội trú tại viện.
Trang 12Sức khỏe của con người chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố như: địa lý, dân số, trình độ văn hóa, tâm lý, tập quán kinh tế xã hội và dịch vụ y tế Do vậy mô hình
bệnh tật cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: thời gian, địa điểm, loại hình
bệnh viện, chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện, chất lượng chăm sóc, trình độ của
cán bộ y tế
Như vậy, mô hình bệnh tâm thần ở các bệnh viện là các số liệu thống kê về số
lượng bệnh nhân vào khám chữa bệnh, tỷ lệ phần trăm các nhóm bệnh và các bệnh
phổ biến nhất, về tình hình mắc bệnh, về những yếu tố ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật như tuổi, giới, nghề nghiệp, nơi cư trú
Hiện nay, để nghiên cứu mô hình bệnh tật của một bệnh viện người ta sử dụng chủ yếu hồ sơ bệnh án như là tài liệu duy nhất giúp cho nghiên cứu vấn đề này Nghiên cứu mô hình bệnh tật là một nghiên cứu theo phương pháp thống kê mô tả
Để giúp cho việc nghiên cứu mô hình bệnh tật, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã
soạn thảo Bảng Phân loại bệnh tật áp dụng chung cho toàn thế giới được gọi là Bảng phân loại ICD (International Statistics Classification of Disease) Để phù hợp với tính khách quan của môi trường và sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, Bảng phân loại bệnh tật cũng được WHO điều chỉnh sau mỗi một thời gian
nhất định, đến nay là Bảng ICD-10 (1992)
1.2 Khái niệm và phân loại bệnh tâm thâm:
1.2.1 Khải niệm:
Bệnh tâm thần là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn bởi nhiều
nguyên nhân khác nhau gây ra, làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm thần có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi tác phong không phủ hợp với thực tại, môi trường xung quanh [6]
Trang 13Phạm vi các bệnh tâm thần rất rộng: có những bệnh tâm thần rất nặng (các bệnh loạn thần), quá trình phản ánh thực tại sai lệch trằm trọng, hành vi tác phong bị rối
loạn nhiều Có những bệnh tâm thần nhẹ (các bệnh tâm căn, nhân cách bệnh), quá
trình phản ánh thực tại như hành vi tác phong bị rối loạn ít, bệnh nhân vẫn còn sinh
hoạt, lao động, học tập được, tư duy có giảm sút
1.2.2 Phân loại các rồi loạn tâm thân:
Hai bảng phân loại bệnh tâm thần thông dụng trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng hiện nay là Chương V: Các rối loạn tâm thần và hành vi của Bảng Phân loại
bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế thế giới năm 1992; và Số tay
Thống kê và Chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ IV của Hiệp hội Tâm thần học
Mỹ (DSM-IV-TR) bản sửa đổi năm 2000 [35] Cả hai bảng phân loại đều cung cấp
các mô tả chỉ tiết về các hội chứng tâm thần chính, các rối loạn nhân cách và các rối
loạn hành vi hay chức năng khác
Tại Viện Sức khỏe Tâm thần, việc chân đoán bệnh được quy định theo các mã
bệnh của Bảng Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế thế giới
Các mục của Chương V, ICD-10 bao gồm:
F00 —F09 Các rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm cả các rối loạn tâm thần triệu
chứng
E10—F19 _ Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần
F20—F29 Bệnh tâm thần phân liệt, các rối loạn hoang tưởng và rối loạn loại phân
liệt
F30—F39 Các rối loạn khí sắc (cảm xúc)
F40—F48 Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan dén stress va dang cơ thể
F50 —F59 _ Các hội chứng hành vi kết hợp với các rối loạn sinh lý và các nhân tố cơ
thé
F60 —F69 Các rối loạn nhân cách và hành vi ở người thành niên
F70—F79 Chậm phát triển tâm thần
E80 —F89 Các rối loạn về phát triển tâm lý
F90—F98 Các rối loạn cảm xúc và hành vi với sự khởi phát thường xảy ra ở trẻ
em và thanh thiếu niên
F09 Rối loạn tâm thần, không biệt định khác
Trang 14não (thoái hóa não hoặc viêm màng não ) hoặc các tổn thương não đo chấn thương, tai biến mạch máu não, u não hoặc có liên quan trực tiếp với những bệnh cơ thể
ngoài não như nhiễm trùng, nhiễm độc, rối loạn chuyên hóa, nội tiết ảnh hưởng đến
chức năng hoạt động của não [4]
Tùy theo mức độ tốn thương của não nặng hay nhẹ, lan rộng hay khu trú, biểu hiện
lâm sàng được chia thành 2 nhóm:
- Rối loạn tâm thân thực tốn cấp: có những hội chứng tâm thần như rối loạn ý thức,
trí nhớ, kích động, giảm sút trí tuệ
- Rối loạn tâm thần thực tốn mạn: thường biểu hiện bằng những triệu chứng, hội
chứng như ảo giác, hoang tưởng, rối loạn cảm xúc, lo âu, rối loạn nhân cách , đặc biệt là rối loạn tâm thần trong động kinh Theo nhiều tác giả, khoảng 30%-50% bệnh
nhân động kinh có những khó khăn về tâm thần Các rối loạn tâm thần xuất hiện ở
2%-5% các bệnh nhân động kinh
* Tiêu chuẩn chân đoán: theo ICD-10 (mục F00-F09)
1.2.2.2 Các rồi loạn tâm thân và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thân
* Khái niệm: Nghiện là một trạng thái nhiễm độc chất gây nghiện mạn tính hay chu
kỳ với các đặc điểm cơ bản là có nhu cầu không cưỡng lại được phải ding chat gây nghiện, không kiểm soát được tập tính sử dụng, có hiện tượng tăng dung nạp Xuất hiện hội chứng cai khi giảm hoặc ngừng sử dụng chất gây nghiện Sao nhãng các thú vui và công việc vì người nghiện phải dành thời gian để sử dụng chất gây nghiện và tận hưởng những cảm giác kỳ ảo do chất gây nghiện mang lại Người nghiện ý thức
được tác hại của chất gây nghiện nhưng vẫn tiếp tục dùng [5]
* Tiêu chuẩn chẵn đoán: theo ICD-10 (mục F10-F19)
Trang 151.2.2.3 Bệnh tám thân phân liệt, các rồi loạn loại phân liệt và các rồi loạn hoang
tưởng
* Khái niệm: TTPL là một bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynh hướng
mãn tính, làm cho bệnh nhân dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế
giới bên trong, cảm xúc trở lên cùn mòn dần, khả năng làm việc, học tập ngày càng
sút kém, có những hành vi, ý nghĩ kì đị, khó hiểu [5]
Các rối loạn phân liệt có đặc điểm chung là rối loạn cơ bản và đặc trưng tư duy, tri
giác và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn, ý thức còn rõ ràng và năng lực trí tuệ thường được duy tri, mặc dù có một số sa sút về nhân thức có thể xuất hiện trong quá trình tiến triển
* Tiêu chuẩn chẵn đoán: theo ICD-10 (mục F20-F29)
1.2.2.4 Rối loạn khí sắc (cảm xúc)
* Khái niệm: Các rỗi loạn khí sắc bao gồm các rối loạn trong đó các rối loạn khí sắc
hay cảm xúc bệnh lý chiếm ưu thế trên bệnh cảnh lâm sàng Chúng bao gồm 7 rối
loạn sau: giai đoạn hưng cảm, rỗi loạn cảm xúc lưỡng cực, giai đoạn trầm cảm, rối
loạn trầm cảm tái diễn, các trạng thái rối loạn khí sắc (cảm xúc) dai dang, các rối loạn khí sắc (cảm xúc) khác và rối loạn khí sắc (cảm xúc) không biệt định [10]
Các rối loạn khí sắc rất phổ biến Trong hầu hết các khảo sát gần đây, trầm cảm có
tỷ lệ 17% trong quãng đời người, cao nhất trong tất cả các rối loạn tâm thần Tỷ lệ
mắc mới hàng năm là 1,59%, ở nữ giới là 1,89%, nam giới là 1,1% Tỷ lệ mắc hàng năm của rối loạn lưỡng cực là dưới 1% [16]
* Tiêu chuẩn chẩn đoán: theo ICD-10 (mục F30-F39)
1.2.2.5 Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dang co thé
* Tiêu chuẩn chan dodn: theo ICD-10 (mục F40-F48)
* Một số hình thái lâm sàng thường gặp:
- Rối loạn lo âu khác (F41):
Trang 1612 tháng là 17% Nữ giới mắc rối loạn lo âu nhiều hơn nam giới Tỷ lệ mắc rối loạn
lo âu tỷ lệ nghịch với vị trí kinh tế xã hội [16]
- Rồi loạn dạng cơ thể (F45):
Tỷ lệ mắc trong dân số là 0,1%-0,5% Tỷ lệ nữ/nam là 5/1 Tỷ lệ mắc trong quãng đời người ở nữ giới từ 1%-5% Bệnh xuất hiện nhiều hơn ở những người có trình độ học vấn và vị trí kinh tế-xã hội thấp Bệnh thường khởi phát ở thanh thiếu niên và
những người trẻ tuổi [16]
1.2.2.6 Các hội chứng hành vi kết hợp với các rồi loạn sinh lý và các nhân tố cơ
thể
* Tiêu chuẩn chấn đoán: theo ICD-10 (mục F50-F59)
* Một số hình thái lâm sàng thường gặp:
- Các rối loạn ăn uống (F50): Rối loạn ăn uống có đặc trưng là các rối loạn liên quan đến hành vi ăn uống và việc quá quan tâm đến hình ảnh hay trọng lượng cơ thể Các
rối loạn ăn uống chủ yếu bao gồm chán ăn tâm thần (F50.0) và ăn vô độ tâm thần
(F50.2) [30] Chán ăn tâm thần có tỷ lệ 0,5%-1% ở nữ giới, và hơn 90% người mắc
chứng chán ăn tâm thần là nữ giới Tỷ lệ ở nam giới không rõ ràng Tuổi khởi phát
trung bình là 17 Chán ăn tâm thần thường gặp ở các nước phát triển và có vị trí kinh
tế-xã hội cao.Chứng ăn vô độ tâm thần có đặc trưng là ăn liên tục với mục tiêu duy trì
trọng lượng co thé Tỷ lệ là 1%-3% ở nữ giới Tỷ lệ nam:nữ là 1:10 [30]
- Rối loạn giấc ngủ không thực tổn (F51): Rỗi loạn giấc ngủ là một trong những lời phàn nàn thường gặp nhất ở các cơ sở khám chữa bệnh đa khoa và chuyên khoa tâm
thần Ước tính có hơn 20% dân số người trưởng thành bị mắt ngủ kéo dài ở giai đoạn nào đó trong cuộc đời [42] Có khoảng 30% người trưởng thành ở Mỹ mắc một rối
loạn giấc ngủ trong quãng đời người và hơn một nửa là không đi điều trị [16]
Trang 171.2.2.7 Các rối loạn nhân cách và hành vi ở người thành niên:
* Khái niệm: Bao gồm các loại trạng thái và mô hình hành vi có ý nghĩa lâm sảng
với khuynh hướng dai dẳng và biểu hiện những đặc trưng lối sống cá nhân và
phương thức quan hệ với bản thân và với người khác Một số trạng thái và mô hình
hành vi này xuất hiện sớm trong quá trình phát triển cá nhân như là hậu quả của
nhân tố thể chất và kinh nghiệm xã hội trong khi những cái khác được tập nhiễm về
sau trong cuộc sống [10]
Một số các rối loạn điển hình như chứng trộm cắp bệnh lý (F63.2) với tỷ lệ ở Mỹ
là 6/1.000 dân, và là nguyên nhân của 5% vụ trộm cắp trong siêu thị [15]; chứng đánh
bạc bệnh lý (F63.0) với tỷ lệ ở người lớn từ 1%-3%, bệnh khởi phát từ tuổi thanh
thiếu niên thì tỷ lệ là 4%-7%; chứng nhổ tóc (F63.3) với tỷ lệ ở nữ giới là 3,4%, gấp
đôi nam giới (1,5%) [15]
* Tiêu chuẩn chẵn đoán: theo ICD-10 (mục F60-F69)
1.2.2.8 Chậm phát triển tâm than
* Khái niệm: Chậm phát triển tâm thần là một trạng thái phát triển bị ngừng trệ hay
không đầy đủ của trí tuệ, nó được đặc trưng chủ yếu bằng các tật chứng về kỹ năng
thể hiện trong thời kỳ phát triển, nó tham gia và mức độ thông minh chung, nghĩa là
các khả năng nhận thức, ngôn ngữ, vận động và các năng lực xã hội, thường là những
người có chỉ số thông minh IQ dưới 70 [10]
Có khoảng 1%-2% dân số mắc chậm phát triển tâm than, với tỷ lệ nam:nữ là 2:1
Hầu hết bệnh nhân chậm phát triển tâm thần đều ở mức độ nhẹ và vừa [30]
* Tiêu chuẩn chấn đoán: theo ICD-10 (mục F70-F79)
1.2.2.9 Các rối loạn về phát triển tâm lý
* Khái niệm: Các rỗi loạn về phát triển tâm lý có những điểm chung sau: (a) Bắt
buộc phải bắt đầu ở lứa tuổi trẻ bé hay trẻ lớn; (b) Suy giảm hay chậm trễ trong sự
phát triển các chức năng có liên quan chặt chẽ đến sự chín mudi sinh học của hệ thần
Trang 18kinh trung ương; và (c) Một sự phát triển liên tục không có những thời kỳ thuyên
giảm và tái phát là những nét đặc trưng cho nhiều rối loạn tâm thần [10]
* Tiêu chuẩn chẩn đoán: theo ICD-10 (mục F80-E89)
1.2.2.10 Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên
* Tiêu chuẩn chẩn đoán: theo ICD-10 (mục F90-F98)
* Một số hình thái lâm sàng thường gặp:
- Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) (F90): là rối loạn có đặc trưng hay bị sao
nhãng, tăng hoạt động, có những hành vi bột phát và không thể duy trì tập trung vào
công việc hay hoạt động nào
ADHD (Attention Deficit Hyperactivity Disorder) 1a rối loạn tâm thần được
nghiên cứu và chẩn đoán nhiều nhất ở trẻ em Các nghiên cứu cho thấy ADHD ảnh hưởng từ 3%-5% trẻ em, xuất hiện ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái [32], và được chan
đoán từ 2%-16% trẻ trong độ tuổi đi học [34] Đây là rối loạn mạn tính với 30%-50% người có chẩn đoán ADHD từ thời thơ ấu tiếp tục có các triệu chứng trên ở tuôi
trưởng thành Ước tính có khoảng 4,7% người Mỹ trưởng thành mắc ADHD [14]
1.2.2.11 Rối loạn tâm thân, không biệt định cách khác (mục F99)
Mục này không khuyến khích dùng, khi không thể sử dụng mã nào khác từ F00 — F98
1.3 _ Các phương pháp điều trị bệnh tam than:
1.3.1 Liệu pháp tâm lý:
Liệu pháp tâm lý là liệu pháp mà trong đó nhà trị liệu sử dụng tác động tâm lý một cách tích cực, có hệ thống vào mục đích phòng và chữa bệnh Trị liệu tâm lý
nhằm mục đích tăng ý thức của bệnh nhân về bản thân Nhà trị liệu thực hiện các kỹ
thuật dựa trên việc xây dựng mối quan hệ, cuộc đối thoại, giao tiếp và thay đổi hành
Trang 1911
vi đã được thiết kế trước để cải thiện sức khỏe tâm thần cho bệnh nhân hoặc cải
thiện mối quan hệ nhóm [12]
Có rất nhiều loại liệu pháp tâm lý Theo Herink, có khoảng 250 liệu pháp tâm lý
(1980), nhưng theo Karasu (1986) có hơn 400 các liệu pháp tâm lý khác nhau Phân loại theo phương thức tác động có liệu pháp tâm lý gián tiếp, liệu pháp tâm lý trực
tiếp (ám thị, thôi miên ); phân loại theo thành phần người tham gia điều trị có liệu
pháp tâm lý cá nhân, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp gia đình hay liệu pháp điều
trị cặp đôi; phân loại theo tính thời đại có liệu pháp tâm lý cô điển (giải thích hợp
lý, ám thị, thôi miên, thư giãn ), liệu pháp tâm lý hiện đại (liệu pháp hành vi, liệu
pháp nhận thức, liệu pháp gia đình ); phân loại theo mục đích điều trị có các liệu
pháp điều trị triệu chứng (giải thích hợp lý, ám thị, liệu pháp hành vi ), và các liệu
pháp hướng tới nhân cách (liệu pháp thân chủ trọng tâm, liệu pháp nhóm, liệu pháp gia đình ) [12]
1.3.2 Liệu pháp hóa được:
Thuốc hướng thần gồm 8 nhóm sau [3]:
-_ Nhóm các thuốc tăng cường chuyển hóa, nuôi đưỡng tế bào thần kinh
- - Nhóm các thuốc gây ngủ, chống co giật
- - Nhóm các thuốc gây loạn than
1.4 Các nguyên nhân chính gây rối loạn tâm thần
Nguyên nhân gây ra các rối loạn tâm thần là sự kết hợp phức tạp va thay đổi theo từng cá nhân và rối loạn cụ thể Tất cả các yếu tố như di truyền, chấn thương, sử
Trang 20dụng chất, bệnh cơ thể, các cơ chế tâm lý/thần kinh, những trải nghiệm cuộc sống, xã hội và văn hóa đều có thể góp phần vào việc phát triển hay tiến triển các rối loạn tâm
Sau chấn thương sọ não thường xuất hiện tỷ lệ cao các rối loạn khí sắc, loạn thần
và lạm dụng chất [22] Các bệnh u não, áp-xe não, thoái hóa não, nhiễm khuẩn, nhiễm
độc thần kinh (viêm não, giang mai não, nhiễm độc nghề nghiệp ), các bệnh mạch
máu não (tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch não ), các bệnh cơ thể ảnh
hưởng đến hoạt động của não (bệnh hệ thống ngoài não, bệnh chuyển hóa nội tiết ),
một số bệnh ở chất trắng đều có thể gây ra các triệu chứng của rối loạn tâm thần [5:4:41]
1.4.3 Sinh hóa não
Nhiều nghiên cứu khoa học đã đưa ra vai trò của các chất trung gian hóa học thần kinh như: acetylcholine, serotonin, dopamine, norepinephrine, gamma aminobutyric
acid (GABA) và gần đây là melatonin có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiến đến
các rối loạn tâm thần như sự tăng hoạt động của hệ thống dopamine đi từ trung não
đến hồi viền sẽ dẫn đến triệu chứng dương tính trong tâm thần phân liệt (TTPL),
còn sự giảm hoạt động của hệ thống dopamine từ vùng trung não đến vỏ não sẽ dẫn đến các triệu chứng âm tính (cùn mòn cảm xúc, thu mình xã hội ) [Š]
1.4.4 Các yếu tố về tâm lý
Các bằng chứng nghiên cứu cũng cho thấy tầm quan trọng của các yếu tố tâm lý
xã hội lên bệnh lý tâm thần [36] Các sự kiện gây stress gây ra các rối loạn lo âu và
Trang 2113
cảm xúc [8] Bị ngược đãi từ thời thơ ấu và khi trưởng thành như lạm dụng tình dục,
xâm hại về cơ thể, ngược đãi về mặt cảm xúc, bạo lực gia đình đều có liên quan đến
sự phát triển các bệnh tâm thần qua tương tác phức hợp của các yếu tố xã hội, gia
đình, tâm lý và sinh lý [28], [39]
1.4.5 Các yếu tố văn hóa, xã hội
Các vấn đề ở cộng đồng hay nền văn hóa bao gồm tình trạng đói nghèo, thất
nghiệp hay thiếu việc làm, thiếu các mối quan hệ xã hội, di cư, các stress và áp lực
liên quan đến vị trí kinh tế-xã hội cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các
rối loan tâm thần [36;31:33]
1.5 Tình trạng bệnh tâm thần trên thế giới và Việt Nam
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 1/3 dan sé 6 hau hết các nước ở thời điểm
nào đó trong cuộc đời có các rối loạn đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của một hoặc hơn
một loại rối loạn tâm thần thường gặp [48] Ở Mỹ 46% dân số đáp ứng tiêu chuẩn
chân đoán một rối loạn tâm thần tại một thời điểm nào đó trong quãng đời người Một khảo sát tiến cứu cho thấy các rối loạn lo âu là phổ biến nhất, tiếp theo là các rối loạn cảm xúc, rồi đến các rối loạn liên quan nghiện chất và rối loạn kiểm soát xung năng
[35] Những cuộc khảo sát về rối loạn lo âu ở các nước khác cho thấy tỉ lệ trung bình
trong quãng đời người khoảng 16,6%, phụ nữ có tỉ lệ mắc trung bình cao hơn [38]
Tương tự, những cuộc khảo sát về rối loạn cảm xúc ở các nước khác nhau cho thấy tỉ
lệ mắc trong quãng đời người là 6,7% đối với rối loạn trầm cảm và 0,8% rối loạn
lưỡng cực [42] Ở My, tần suất của các rối loạn là: rối loạn lo âu (28,8%), rối loạn cảm xúc (20,8%), rối loạn kiểm soát xung năng (24,8%), rối loạn sử dụng nghiện chất (14,6%) [40] Một nghiên cứu cắt ngang ở Châu Âu năm 2004 cho thấy khoảng 1⁄4
dân số ở một thời điểm nào đó trong quãng đời người đáp ứng tiêu chuẩn đối với ít nhất một trong số các rối loạn tâm thần trong DSM-IV, bao gồm các rối loạn cảm xúc (13,9%), rối loạn lo âu (13,6%), rối loạn liên quan đến rượu (5,2%) Khoảng 1/10 dân
số đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán trong giai đoạn 12 tháng Phụ nữ va những người trẻ tuổi mắc nhiều hơn [13] Một khảo sát năm 2005 ở 16 nước Châu Âu cho
Trang 22thấy 27% người trưởng thành bị ít nhất một rối loạn tâm thần trong giai đoạn 12
tháng [44] Các nước Châu Á có tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần tương đối thấp như ở Trung Quốc là 13,2%, 14,4% ở Iran và 18% ở Nhật Bản [19] Các nghiên cứu quốc tế
[37] về tỷ lệ tâm thần phân liệt cho thấy con số trung bình là 0,4% trong quãng đời người; tỷ lệ này cũng thấp hơn ở những nước nghèo hơn Khoảng 70% bệnh nhân
TTPL có đợt loạn thần lần thứ hai sau lần đầu 5-7 năm [16] Theo các thống kê của
Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Mỹ [21], khoảng 20% bệnh nhân hồi phục hoàn
toàn; tuy nhiên, có 10% từng tự sát vì trong 10 năm đầu sau khi được chẳn đoán mắc
— một tỷ lệ cao hơn gấp 20 lần so với quần thể dân số chung Theo nghiên cứu của Joel Adeleke Afolayan (2010) [26], tỷ lệ bệnh nhân TTPL điều trị nội trú trong giai
đoạn 2005 — 2009 là 58,19%
Theo Ủy ban Các dịch vụ Con người và Y tế Mỹ [21], 14% nam giới trong độ tuôi 18-29 có các triệu chứng của nghiện rượu, 20% cho biết việc uống rượu đã mang lại
những hậu quả tiêu cực đến cuộc sống của họ Ở nữ giới từ 18-29, nghiên cứu tương
tự cũng cho thấy 5%-6% có các triệu chứng của nghiện rượu Khoảng 10% nữ giới và 20% nam giới đáp ứng tiêu chuẩn chẳn đoán lạm dụng rượu trong quãng đời người Nguy cơ trong quãng đời người mắc nghiện rượu là 10%-15% ở nam giới và 3%-5%
ở nữ giới Khoảng 200.000 người chết mỗi năm có nguyên nhân do rượu và khoảng
50% tai nạn giao thông là do lái xe say rượu [16] Ở Anh [35], ước tính có khoảng
30.000 người nhập viện mỗi năm do hội chứng nghiện rượu, 15.000 trường hợp liên
quan đến lạm dụng rượu, trong khi đó có 20.000 người lạm dụng rượu chết sớm Theo một nghiên cứu ở Trung tâm Tâm thần Thành phố Đài Bắc, Đài Loan [23] trên
400 bệnh nhân điều trị nội trú, tỷ lệ trong quãng đời người nghiện rượu là 8,3%, lạm
dụng rượu 1,5%, và rối loạn sử dụng rượu là 9,8% Ở Mỹ [16] có khoảng 1.000.000
người nghiện heroin Tỷ lệ sử dụng heroin trong quãng đời người là 2% Tỷ lệ
nam/nữ là 3/1 Hầu hết người nghiện ở những năm tuổi 30 và 40
Theo một nghiên cứu trên 213 bệnh binh nội trú ở Khoa Tâm thần và Thần kinh,
Bệnh viện Quân y Phramongkutklao, Thái Lan (2010) [24] tỷ lệ 10 bệnh tâm thần
hàng đầu là nghiện rượu (39,9%), TTPL (28,6%), rối loạn lưỡng cực (9,4%), nghiện
Trang 2315
amphetamine (5,2%), rối loạn sự thích ứng (4,7%), trầm cảm (3,3%), rối loạn nhân cách (2,3%), mắt trí (1,9%), loạn khí sắc (0,9%), rối loạn phân liệt cảm xúc (0.9%),
rối loạn hoang tưởng (0,9%), rối loạn lo âu (0,5%), và nghiện đa chất (0,5%)
Tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần thường như nhau ở cả nam giới và nữ giới, tuy nhiên nữ giới có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn Mỗi năm có 73 triệu phụ nữ mắc trầm cảm, và tự sát xếp hàng thứ 7 trong số các nguyên nhân gây tử vong ở nữ giới trong
độ tuổi 20-59 Các rối loạn trầm cảm gây mắt năng lực hoạt động ở 41,0% nữ giới so
với 29,3% ở nam giới [45]
Ở Việt Nam, theo báo cáo của Bệnh viện Tâm thần TW I (2002) [19] trầm cảm có
tỷ lệ cao thứ hai trong 10 bệnh tâm thần thường gặp Một nghiên cứu cộng đồng mang tính quốc gia gần đây ở nhóm tuổi 14-25 [19] đã cho thấy 32% có trải nghiệm
cảm xúc buồn chán, 25% cảm thấy rất buồn và thất vọng đến mức ảnh hưởng đến các
hoạt động thường ngày, 21% cảm thấy thất vọng về tương lai, 0,5% đã từng có mưu toan tự sát và 2,8% đã từng làm hại bản thân.Tỷ lệ từng tự sát cao nhất ở nữ giới trẻ,
đặc biệt ở nhóm tuổi 18-21, với 6,4% sống ở thành thị và 4,1% sống ở nông thôn
Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hương & cộng sự (2010) [29] cũng cho các kết quả tương tự, tỷ lệ có ý nghĩ tự sát trong quãng đời người là 8,9%, 1,1% đã có kế hoạch tự sát và 0,4% đã từng tự sát Fisher và cộng sự (2004) [25] báo cáo 33% nữ giới đến các trung tâm y tế đa khoa ở Thành phố Hồ Chí Minh có trầm cảm, và 19% trong số
họ từng có ý tưởng tự sát Một nghiên cứu của WHO [19] cho thấy 20% bà mẹ có con
1 năm tuổi mắc trầm cảm hoặc lo âu với tỷ lệ tử vong do tự sát tương ứng là 8%- 16,9% (trong vòng 42 ngày sau khi sinh) Theo thống kê của Chính phủ đến cuối
năm 2007 có tới 178.000 người nghiện có hồ sơ kiểm soát Dự báo sau năm 2010,
người chết do nghiện ma túy lên tới con số 10.000 mỗi năm Độ tuổi lần đầu sử dụng ma túy liên tục giảm, tỷ lệ học sinh sinh viên sử dụng ngày càng tăng Độ tuổi
trung bình sử dụng ma túy là 23 Hầu hết đều bắt đầu bằng hút, 57% sau đó chuyển sang chích [11] Theo thống kê của WHO [6], tỷ lệ mắc bệnh TTPL là 0,48%-0,69%
dân số, tỷ lệ này ở Việt Nam là 0,3%-1%; bệnh thường phát sinh ở lứa tuổi 18-40, tỷ
lệ nam/nữ là 1,2/1
Trang 24Theo Báo cáo phân loại người bệnh nội trú năm 2010 theo ICD-10 của Bệnh viện Tâm thần TW I [2] các rối loạn tâm thần thường gặp nhất bao gồm các nhóm: Bệnh tâm thần phân liệt, các rối loạn hoang tưởng và rối loạn loại phân liệt (F20-F29) 48,7%; Các rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm cả các rối loạn tâm thần triệu chứng
(F00-E09) 13,6%; Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm
thần (F10-F19) 8,6%; Các rối loạn khí sắc (F30-F39) 6,1%; Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể (F40-F49) 3,6%, và Chậm phát triển tâm thần (F70-F79) 3,2%
Theo một nghiên cứu 5 năm (2007-2011) của Bệnh viện Tâm thần Bình Dinh [1]
về mô hình bệnh tật trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện cho thấy nhóm
bệnh F20-F29 có 53,5%; nhóm F40-F49 có 12,8%; nhóm F00-F09 có 6,0%; nhóm F10-F19 có 4,7%; nhóm F30-F39 có 2,6%; nhóm F70-F79 có 2,3%; và F90-F98 có
1,9% 10 bệnh tâm thần phổ biến ở Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bình Định là Bệnh
TTPL (F20) với tỷ lệ 30,6%; Các rối loạn phân liệt cảm xúc (F25) có 9,1%; Các rối
loạn loạn thần cấp và nhất thời (F23) có 8,2%; Các rối loạn tâm căn khác (F48) có
5,9%; Các rồi loạn loại phân liệt (F21) có 5,3%; Các rối loạn tâm thần và hành vi do
sử dụng rượu (F10) có 4,6%; Mắt trí không biệt định (F03) có 3,2%; Các rối loạn dạng cơ thể (F45) có 2,6%; Các rối loạn lo âu khác (F41) có 1,9% và Chậm phát triển tâm thần vừa (F71) có 1,6%
Tại Viện Sức khỏe Tâm thần [9], theo một báo cáo tại Hội nghị khoa học năm
2009 với 642 lượt bệnh nhân nội trú ra viện trong thời gian 03 tháng, độ tuổi chủ
yếu là 20-29 (27,9%); tỷ lệ nam/nữ khác biệt không đáng kể (1/1,08); nhóm F20-
F29 có 34,0%, nhóm F40-F49 có 27,0%, nhóm F30-F39 có 18,4%, nhóm F10-F19
có 9,5%, và nhóm F00-F09 có 7,0%
Trang 25T7
1.6 Nguồn lực và mô hình điều trị, chăm sóc bệnh nhân tâm thần trên thế giới
và Việt Nam
1.6.1 Nguồn lực chăm sóc bệnh nhân tâm than
* Trên thế giới Theo báo cáo của WHO (2011) về tổng quan chăm sóc sức khỏe
tâm thần trên toàn thế giới [43], các nguồn lực để điều trị và phòng ngừa các rối
loạn tâm thần còn thiếu, gần một nửa dân số thế giới sống ở nông thôn và trung bình chỉ có dưới 1 bác sỹ tâm thần cho 200.000 dân Khoảng 63% giường bệnh nội trú tâm thần được đặt trong các bệnh viện tâm thần và 67% kinh phí của ngành tâm thần tập trung cho các cơ sở này Con số trung bình của các cơ sở điều trị rối loạn
tâm thần cho mỗi 100.000 dân là 0,61 cơ sở điều trị ngoại trú, 0,05 cơ sở điều trị nội
trú ban ngày, 0,01 trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bệnh tâm thần và 0,04 bệnh
viện tâm thần Trong các bệnh viện đa khoa, số giường bệnh nội trú tâm thần là
1,4/100.000 dân 77% bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú tại các bệnh viện tâm thần có thời gian điều trị dưới 1 nam, điều này có nghĩa là gần 1⁄4 số bệnh nhân điều trị nội trú có thời gian điều trị trên 1 năm tại các bệnh viện tâm thần Chỉ có
32% các nước có các bệnh viện tâm thần cung cấp dịch vụ chăm sóc sau điều trị,
con số này cũng thay đổi theo mức thu nhập, 7% ở các nước thu nhập thấp, 29% ở
các nước trung bình thấp, 39% các nước thu nhập trên trung bình và 45% ở các nước thu nhập cao cung cấp dịch vụ chăm sóc sau điều trị ở đa số các bệnh viện tâm
thần Tương tự, chỉ có 44% các nước có phần lớn các bệnh viện tâm thần cung cấp
các can thiệp tâm lý xã hội, trong đó 14% ở các nước thu nhập thấp, 34% ở các nước trung bình thấp, 61% ở các nước thu nhập trên trung bình và 59% ở các nước
tâm lý lâm sàng với trình độ từ đại học trở lên; cán sự xã hội — là nhân viên y tế có
bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành công tác xã hội Tỷ lệ trung bình nhân viên y
Trang 26tế làm trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần trên toàn thế giới là 10,7 người/100.000 dân, các nước châu Phi có tỷ lệ thấp nhất (1,7) còn các nước châu Âu có tỷ lệ cao nhất (43,9); tương tự, tỷ lệ nhân viên y tế làm trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần ở
các nước thu nhập thấp là 1,3 còn ở các nước thu nhập cao là 50,8 Tỷ lệ trung bình điều dưỡng cao nhất so với các nhóm nhân viên y tế khác (5,8/100.000 dân)
Nhìn chung điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất trong lĩnh vực sức khỏe tâm than, tỷ
lệ trung bình của điều dưỡng là 5,8/100.000 dân, lớn hơn tỷ lệ của các nhóm nhân lực khác cộng lại Nguồn nhân lực trong lĩnh vực này nhiều hơn rõ rệt ở các nước
có thu nhập cao hơn, ví dụ trung bình có 0,05 bác sỹ tâm thần/100.000 dân ở các
nước thu nhập thấp, 0,54 ở các nước thu nhập trung bình thấp, 2,03 ở các nước trên
trung bình và 8,59 ở các nước có thu nhập cao
1.6.2 Các cơ sở cung cấp dich vụ chăm sóc sức khỏe tâm thân trên thế giới:
(1) các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đâu — các cơ sở này thường cung cấp những
đánh giá và điều trị ban đầu cho các bệnh thông thường và chuyển tuyến chuyên khoa với những trường hợp cần chẩn đoán và điều trị sâu hơn;
(2) các cơ sở điều trị bệnh tâm thân, bao gồm các:
e_ Cơ sở điều trị ngoại tri — tap trung chủ yếu vào việc quản lý các rối loạn tâm
thần và các vấn đề sức khỏe có liên quan ở mức độ ngoại trú, cán bộ y tế là
những người đã được đào tạo về sức khỏe tâm thần Trên thế giới, trung bình có
0,61 cơ sở điều trị ngoại trú trên 100.000 đân, cao nhất ở các nước châu Âu và
Tây Thái Bình đương (1,47), thấp nhất ở các nước châu Phi (0,06) Tỷ lệ bệnh
nhân ngoại trú trung bình hàng năm là 384/100.000 dân, từ 80/100.000 dân ở các nước châu Phi đến 1.926/100.000 dân ở các nước châu Âu Tỷ lệ bệnh nhân ngoại trú ở các nước có thu nhập cao hơn các nước thu nhập thấp gấp 38 lần
e_ Cơ sở điều trị ban ngày — là nơi cung cấp các dịch vụ y tế ban ngày, bệnh nhân được điều trị theo nhóm và giao tiếp trực tiếp với nhân viên y tế và/hoặc tham gia các hoạt động trị liệu, thời gian thường từ nửa ngày đến cả ngày (4 — 8
Trang 2719
tiếng) cho một ngày hay nhiều ngày trong tuần Các cơ sở điều trị ban ngày có ở 74% các nước trên thế giới, trung bình có 0,05 cơ sở/100.000 dân, tỷ lệ trung bình cao hơn ở các nước châu Âu (0,31) và các nước Tây Thái Bình dương (0,23) Tỷ lệ điều trị trung bình là 0,0 bệnh nhân/100.000 dân ở các nước thu
nhập thấp, 1,1 ở các nước trung bình thấp, 4,0 ở các nước trên trung bình và 44.4 ở các nước thu nhập cao
Khoa tâm thần trong bệnh viện ấa khoa — dành cho việc chăm sóc và điều trị
các bệnh nhân có rối loạn tâm thần Khoa tâm thần trong các bệnh viện đa khoa
có ở 85% các nước trên thế giới Tỷ lệ giường nội trú trung bình trên toàn cầu là 1,4/100.000 dân, ngoại trừ các nước châu Âu, tất cả các vùng còn lại của WHO
đều có dưới 2 giường bệnh/100.000 dân Các nước thu nhập thấp và thu nhập
trung bình có tỷ lệ giường nội trú tâm thần trong bệnh viện đa khoa tương đương nhau, ở các nước thu nhập trên trung bình có tỷ lệ là 2,7giường /100.000
dân và thu nhập cao là 13,6 giường/100.000 dân Tỷ lệ nhập viện trung bình là
24,2 người/100.000 dân Theo khu vực chỉ có các nước Tây Thái Bình dương
và châu Âu cao hơn tỷ lệ trung bình, với tỷ lệ ở các nước châu Âu cao gấp 5 lần
so với tỷ lệ trung bình
Trung tâm lưu trú cộng đồng — nơi lưu trú cho những người bệnh tâm thần, thường dành cho những người bệnh tâm thần khá ổn định không cần nhiều đến can thiệp y tế Các trung tâm lưu trú cộng đồng có ở 54% các nước trên thế giới
Tỷ lệ trung bình của các trung tâm này là 0,008/100.000 dân trên toàn thế giới
Ở các nước thu nhập cao con số này là 0,066/100.000 dân, các nước thu nhập
trên trung bình là 0,005, các nước thu nhập dưới trung bình là 0,003 và 0 ở các
Trang 28môn hóa khác nhau đáng kể, một số bệnh viện chỉ cung cấp các dịch vụ điều trị dài ngày, các bệnh viện khác lại có cả các dịch vụ điều trị ngắn ngày
Các bệnh viện tâm thần có ở 80% các nước trên thế giới Tý lệ trung bình là
0,03/100.000 dân, và từ 0,002/100.000 dân ở các nước Tây Thái Bình Dương
đến 0,16/100.000 dân ở các nước châu Âu Tương tự, tỷ lệ giường bệnh cũng khác nhau theo các khu vực, trung bình có 7,04 giường bệnh/100.000 dân, và từ 0,9 ở các nước Đông Nam Á đến 39,4 ở các nước châu Âu Số bệnh viện ở các
nước thu nhập cao và trên trung bình (0,1/100.000 dan) hon gap 5 lần so với các nước thu nhập dưới trung bình (0,01/100.000 dân) và thu nhập thấp
(0,02/100.000 dân) Số giường nội trú trung bình từ 1,3/100.000 dân ở các nước
thu nhập thấp đến 30,9/100.000 dân ở các nước thu nhập cao Ở tất cả các nước
trung bình 77% bệnh nhân có thời gian điều trị nội trú tại các bệnh viện tâm
thần dưới 1 năm 23% có thời gian điều trị trên 1 năm Tỷ lệ này khác nhau theo
tình trạng thu nhập của mỗi nước, trung bình phần trăm số bệnh nhân nằm điều trị nội trú dưới 1 năm là 95% ở các nước thu nhập thấp, 77% ở các nước thu nhập dưới trung bình, 67% ở các nước thu nhập trên trung bình và 71% ở các nước thu nhập cao
Thống kê số giường bệnh ở tất cả các trung tâm lưu trú cộng đồng, khoa tâm thần trong bệnh viện đa khoa, các bệnh viện tâm thần, số giường trung bình là
3,2/100.000 dân Số giường ở các bệnh viện tâm thần chiếm 2/3 số giường bệnh nội trú tâm thần trên toàn thế giới (62%), số giường nội trú tâm thần ở các bệnh viện đa
khoa chỉ chiếm 21% và trung tâm lưu trú là 16%
1.6.3 Các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tam than ở Việt Nam
* Việt Nam Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2010 [17], Việt Nam nằm trong nhóm nước có thu nhập trung bình thấp (1.006 USD - 3.975 USD), cùng
nhóm với một số nước trong khu vực như Thái Lan hay Philippin Theo phân vùng
của WHO, Việt Nam nằm trong nhóm các nước Châu Á Thái Bình Dương, cùng
nhóm với các nước như Nhật Bản hay Úc Theo số liệu của WHO [17], tổng số
Trang 2921
giường bệnh dành cho bệnh nhân tâm thần trên 100.000 dân là 6,3, số giường bệnh
tâm thần trong các bệnh viện tâm thần là 5,9, so với số giường bệnh tâm thần trung
vị trên thế giới là 7,0/100.000 dân, ở các nước có cùng mức thu nhập là 4,5, và ở
thu nhập và 0,0 ở các nước trong cùng phân vùng), 0,15 cán sự xã hội (so với tỷ
suất trung vị 0,13 ở các nước có cùng mức thu nhập và 0,0 ở các nước trong cùng
phân vùng), và 0,8 cán bộ y tế khác làm trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần (so với tỷ
suất trung vị 1,33 ở các nước có cùng mức thu nhập và 2,86 ở các nước trong cùng phân vùng) Tính theo số cán bộ y tế trên một giường bệnh thì có 0,06 bác sỹ tâm
thần, 0,22 điều dưỡng, 0,01 cán bộ tâm lý, cán sự xã hội và 0,08 cán bộ y tế khác/1 giường bệnh tại các bệnh viện tâm than
Các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần gồm có:
(1) các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đấu — Tất cả các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban
đầu đều có bác sỹ Đa số các bác sỹ chăm sóc sức khỏe ban đầu (51-80%) mỗi tháng đều chuyển ít nhất một bệnh nhân đến các bác sỹ chuyên khoa tâm thần (2) các cơ sở điều trị bệnh tâm than, bao gém các:
e_ Các cơ sở điều trị ngoại trú — Có 600 cơ sở khám và điều trị ngoại trú các rối
loạn tâm thần Tuy nhiên không có cơ sở nào dành riêng điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên Trong năm 2004, các cơ sở này đã điều trị cho 46.070 người
bệnh (56,9/100.000 dân), trong đó có 39% là nữ giới và 17% là trẻ em và thanh thiếu niên 100% cơ sở điều trị ngoại trú cung cấp dịch vụ chăm sóc tiếp theo ở
Trang 30cộng đồng, trong đó 100% có đội chăm sóc sức khỏe tâm thần lưu động Số ít các cơ sở này (< 20%) có các can thiệp tâm lý xã hội cho người bệnh
Cơ sở điều trị ban ngày — Có hai cơ sở điều trị ban ngày Năm 2004, các cơ sở này cũng đã điều trị cho 3.000 người bệnh (3,7/100.000 dân), trong đó 33% là
nữ giới và 10% là trẻ em và thanh thiếu niên Trung bình mỗi bệnh nhân được
điều trị 40 ngày/năm ở các cơ sở điều trị ban ngày
Khoa Tâm thần trong bệnh viện a khoa và Trung tâm phòng chỗng bệnh xã
hội - Có 25 khoa tâm thần thuộc các Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội, 26
khoa tâm thần trong các bệnh viện đa khoa tỉnh/thành phố và 3 trạm tâm thần trên toàn quốc Số giường bệnh tâm thần trong các bệnh viện đa khoa là 0,4/100.000 dân
Trung tâm lưu trú cộng đồng — Không có trung tâm lưu trú cộng đồng cho
bệnh nhân tâm thần
Bệnh viện tâm thân - Việt Nam hiện có 35 bệnh viện tâm thần trên toàn quốc,
trong đó ba bệnh viện trung ương (Bệnh viện Tâm thần Trung ương I, Bệnh viện Tâm thần TW II và Viện Sức khỏe Tâm thằn-Bệnh viện Bạch Mai) và 32
bệnh viện tâm thần tỉnh Tổng số giường bệnh là 5.000 giường (6,18
giường/100.000 dân) [46] 4% giường bệnh trong các bệnh viện tâm thần dành
cho trẻ em và thanh thiếu niên Bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
với chủ yếu ba nhóm bệnh: F20-F29 (60%), F30-F39 (15%) và F40-F48 (15%)
Số bệnh nhân được điều trị tại các bệnh viện tâm thần năm 2004 là 54.500 bệnh
nhân Thời gian nằm viện trung bình là 35 ngày
Theo Quyết định số 4605/QĐ-BYT ngày 23/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Tâm thần TW I, các khoa lâm sàng bao gồm:
Trang 3125
4 Khoa Ban cap tinh Nam I 15 Khoa Phuc hôi chức năng người lớn
5 Khoa Bán cap tính Nam II 16 Khoa Phục hôi chức năng trẻ em
6 Khoa Bán cap tính Nam III 17 Khoa Giám định Pháp y và Điều trị bắt
buộc
7 Khoa Bán cấp tính Nam IV 18 Khoa Cai nghiện
8 Khoa Ban cap tinh Ni I 19 Khoa Hôi sức Câp cứu
9 Khoa Bán câp tính Nữ II 20 Khoa Y học Cô truyện
10 Khoa Tâm thân Nhi 21 Khoa Điêu trị Tự nguyện
11 Khoa Tâm thân người cao tuôi
1 Khoa Khám bệnh Tâm thân 12 Khoa Tâm thân do nghiện các chât
2 Khoa Khám bệnh Nội Thân kinh chức | 13 Khoa Tâm thân Lao - HIV/AIDS năng
3 Khoa Động kinh Nam 14 Khoa Tâm thần Truyền nhiễm
4 Khoa Động kinh Nữ 15 Khoa Tâm thần Pháp y
5 Khoa Động kinh Nam I 16 Khoa Phục hôi chức năng
6 Khoa Động kinh Nam II 17 Khoa Tâm lý lâm sàng
7 Khoa Động kinh Nữ I 18 Khoa Bệnh chức năng Thân kinh
8 Khoa Động kinh Nữ II 19 Khoa H6i sức Câp cứu
9 Khoa Tâm thần người cao tuổi 20 Khoa Y học Cô truyện
10 Khoa Tâm thân trẻ em 21 Khoa Điêu trị Tự nguyện
11 Khoa Tâm thân Cán bộ và Quốc tê
Quy mô giường bệnh và số lượng các khoa phòng được điều chỉnh theo nhu cầu thực tế
1.7 Một số thông tin co bản và thực hiện chuyên khoa theo mô hình bệnh tại
Viện Sức khỏe Tâm thân
1.7.1 Một số thông tin cơ bản về Viện Sức khỏe Tâm than
Viện Sức khỏe Tâm thần được thành lập ngày 08 tháng 08 năm 1991 theo Quyết
định số 784/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế trên cơ sở kết hợp Khoa Tâm thần,
Bệnh viện Bạch Mai và các cán bộ biệt phái của Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học
Y Hà Nội
Viện Sức khỏe Tâm thần có các chức năng nhiệm vụ sau:
Trang 32
- Tiép nhận mọi người bệnh mắc các rối loạn tâm thần từ ngoài vào hoặc các
bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú
- Nghiên cứu và chỉ đạo các cơ sở chuyên khoa nghiên cứu những vấn đề về Tâm thần học và tâm lý xã hội cấp bách hiện nay
-_ Đào tạo và bổ túc cán bộ chuyên khoa Tâm thần bậc đại học và sau đại học
để phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng
- Kết hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương trong công tác chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật chuyên khoa Tâm thần học trong cả nước
-_ Cùng với Viện Giám định Pháp y Tâm thần Trung ương, và các Bệnh viện
Tâm thần Trung ương thực hiện nhiệm vụ giám định pháp y tâm than
- Hop tác về khoa học kỹ thuật thuộc lĩnh vực Tâm thần học với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm phát triển và nâng cao hoạt động của chuyên ngành
Tâm thần học ở nước ta
- Phối hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương và các cơ quan hữu quan tuyên truyền giáo dục kiến thức phổ cập về công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần trong nhân dân
Viện Sức khỏe Tâm thần chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Y tế về kế hoạch,
nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế Các mặt hoạt động khác theo quy chế Viện nghiên cứu đặt trong Bệnh viện Bạch Mai
Bước đầu xây dựng Viện Sức khỏe Tâm thần gồm có Phòng Tổng hợp giúp Viện trưởng về các mặt kế hoạch, hành chính quản trị và nhân lực; hai phòng điều trị
bệnh nhân nội trú là Phòng Điều trị Bệnh nhân Tâm thần nam (T4) và Phòng Điều
trị Bệnh nhân Tâm thần nữ (T5), Phòng Khám và Điều trị nội trú ban ngày, Phòng Điện não đồ và Phòng Trắc nghiệm tâm lý với tổng số 50 giường bệnh (trong đó có
45 giường nội trú và 05 giường ngoại trú)
Trang 3325
Hiện nay tổng số cán bộ nhân viên của Viện là 63 người, với 166 giường bệnh
nội trú Là một viện nằm trong bệnh viện đa khoa, với chức năng chính là nghiên
cứu và đào tạo
1.7.2 Quá trình thực hiện chuyên khoa của Viện Sức khỏe Tâm thân
Dựa trên các chức năng nhiệm vụ theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ
trưởng Bộ Y tế về việc thành lập Viện Sức khỏe Tâm thần và tham khảo các Quyết định số 4605/QĐ-BYT và 4606/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành
điều lệ tổ chức và hoạt động của các Bệnh viện Tâm thần TW I và II, từ tháng 1/2011 Viện Sức khỏe Tâm thần đã tiến hành chuyên khoa sâu các đơn nguyên điều
trị bệnh nhân nội trú nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng quản lý, chăm sóc và điều trị bệnh nhân tâm thần, tăng cường năng lực cho các đơn nguyên chuyên khoa thành các cơ sở nghiên cứu khoa học, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật chuyên sâu chuyên ngành và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Trên cơ sở đó, Viện đã tổ chức thành 7 phòng, trong đó có 5 phòng chuyên khoa điều trị nội trú, bao gồm:
Phòng Tổng hợp, giúp Viện trưởng về các mặt kế hoạch, hành chính quản trị,
vật tư thiết bị y tế, tài chính kế toán và nhân lực;
- Phòng Khám, Tư vấn và Điều trị ngoại trú (M2): thực hiện các chức năng
khám, tư vấn, điều trị ngoại trú và thăm dò chức năng (trắc nghiệm tâm lý, điện
não đồ, lưu huyết não đồ);
- Phong Điều trị Rối loạn liên quan stress (M3): Khám và điều trị nội trú bệnh
nhân có các rối loạn tâm thần thuộc Chương F4x.x (Các rồi loạn bệnh tâm căn
có liên quan đến stress và dạng cơ thê) và Chương F5x.x (Các hội chứng hành
vi kết hợp với các rồi loạn sinh lý và các nhân tổ cơ thể) của Bảng Phân loại bệnh ICD-10;
- Phòng Điều trị Tâm thần Nhi và Người già (M4): Khám và điều trị nội trú
bệnh nhân có các rối loạn tâm thần thuộc Chương F0x.x (Rối loạn tâm thân
thực tổn bao gom cả rồi loạn tâm thân triệu chứng), Chương F6x.x (Rối loạn nhân cách và hành vi của người thành niên), Chương F7x.x (Chậm phát triển
Trang 34tâm thần), Chương E8x.x (Các rồi loạn về phát triển tâm lý) và Chương F9x.x (Các rồi loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu
niên) của Bảng Phân loại bệnh ICD-10;
- _ Phòng Điều trị Tâm thần phân liệt (M5): Khám và điều trị nội trú bệnh nhân
có các rối loạn tâm thần thuộc Chương F2x.x (Bệnh Tâm thần phân liệt, các rồi loạn loại phân liệt và các rồi loạn hoang tưởng) của Bảng Phân loại bệnh ICD- 10;
- Phong Diéu trị Rối loạn cảm xúc (M6): Khám và điều trị nội trú bệnh nhân có các rối loạn tâm thần thuộc Chương F3x.x (Rối loạn cảm xúc) của Bảng Phân
Mô hình bệnh tật của bệnh Các đặc điểm nhân khẩu học của bệnh
nhân vào viện điều trị nội trú nhân nội trú (tuổi, giới)
Bệnh nhân được Khả năng đáp Khả năng đáp ưng
điều trị theo đúng ứng giường bệnh nguồn nhân lực
chuyên khoa theo chuyên khoa theo chuyên khoa
Trang 3527
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối với nghiên cứu định lượng, toàn bộ bệnh nhân điều trị nội trú đã ra viện
trong năm 2011 tại Viện Hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân này được sử dụng để thu
thập số liệu
Đối với nghiên cứu định tính, lãnh đạo Viện và các bác sỹ trưởng/ hoặc phó các phòng điều trị Tat cả có 6 đối tượng được tiến hành phỏng vấn sâu
2.2 Địa bàn và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, được tiến hành từ tháng 01/2012 đến tháng 8/2012
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với phương pháp định tính để mô tả được mô hình bệnh tâm thần và sự đáp ứng của nguồn lực (giường bệnh, nhân lực) với mô hình bệnh hiện tại của Viện
Nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp hồi cứu, sử dụng số liệu thứ cấp
là các thông tin trong hồ sơ bệnh án nhằm tìm hiểu mô hình bệnh tật của bệnh nhân
điều trị nội trú và cơ sở vật chất, nhân lực của Viện
Nghiên cứu định tính được thiết kế nhằm thu thập các thông tin về thực trạng thực hiện định hướng chuyên khoa (về kết quả điều trị, thời gian điều tri) va su dap ứng của nguồn lực đối với lượng bệnh nhân nội trú
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trong nghiên cứu định lượng, nghiên cứu chọn toàn bộ bệnh án đã ra viện tại
Viện Sức khỏe Tâm thần trong năm 2011 Tổng số có 3.195 hồ sơ bệnh án được lựa
chọn Tuy nhiên, tổng số có 2.499 HSBA được nhập và xử lý trong tổng số 3.195
HSBA, chiếm 78,2% Sự thay đổi này do đến thời điểm thu thập số liệu, Bảo hiểm xã
hội Việt Nam đang làm công tác thanh tra, giám định các hồ sơ bệnh án của bệnh
Trang 36nhân bảo hiểm tại Bệnh viện Bạch Mai, nên đã rút ngẫu nhiên 696 hồ sơ bảo hiểm y
tế của Viện Sức khỏe Tâm thần đem đi giám định, chưa trả lại Kho lưu trữ - Phòng
Kế hoạch Tổng hợp, Bệnh viện Bạch Mai trong suốt thời gian thu thập số liệu
Nghiên cứu định tính tiến hành chọn mẫu chủ đích trưởng/ phó các phòng và
lãnh đạo viện nhằm thu được thông tin chính xác Cuối cùng lãnh đạo Viện và
trưởng các phòng điều trị đều tham gia nghiên cứu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu định lượng tiến hành thu thập số liệu thứ cấp theo các bước sau:
- _ Xây dựng phiếu thu thập thông tin dựa trên bảng biến số của nghiên cứu
- Chọn các bệnh án đã ra viện tại Viện Sức khỏe Tâm thần trong năm 2011
Tổng số có 2.499 hồ sơ bệnh án được lựa chọn
- Xây dựng khung nhập liệu trên SPSS dựa trên bảng biến số nghiên cứu Nghiên cứu viên đã tiến hành nhập số liệu trên phần mềm này vì ít biến số và
giữa các biến số không có sự ràng buộc, không có các bước nhảy phức tạp
Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu các đối tượng nghiên
cứu Phương pháp thảo luận nhóm không được sử dụng vì đây là những vấn đề nhạy
cảm, đo đó, việc trao đổi thông tin trong thảo luận nhóm sẽ không thu được thông
tin chính xác
2.6 Xứ lý và phân tích số liệu
Số liệu thu được từ các HSBA nhập vào phần mềm SPSS 16.0 Sau đó sẽ dùng
phần mềm này để phân tích số liệu định lượng
Với các cuộc phỏng vấn sâu, nghiên cứu viên đã mã hóa thông tin dựa trên nội dung nghiên cứu Sau đó, sử dụng để làm rõ hơn về việc thực hiện chuyên khoa của
Viện về phân bổ giường bệnh và nguồn nhân lực
Trang 372.2
29
Biên số nghiên cứu
Nghiên cứu đã sử dụng một số biến số chính để phân tích nhằm làm rõ các mục
tiêu nghiên cứu
Nhóm biến mô tả nguôn lực theo chuyên khoa của Viện
Số giường bệnh theo phòng điều trị
Số giường bệnh thực tế theo chuyên khoa
Công suất sử dụng giường bệnh
Số cán bộ y tế theo phòng điều trị
Trình độ học vấn của cán bộ y tế theo lĩnh vực điều trị
Số cán bộ y tế theo chức danh chuyên môn
Vẫn đề đạo đức trong nghiên cứu:
Nghiên cứu khảo sát hồi cứu mô tả hồ sơ bệnh án, không có sự can thiệp nào ảnh
hưởng đến người bệnh Các số liệu và kết quả nghiên cứu chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
Nghiên cứu đã tuân thủ các qui định trong nghiên cứu y sinh học của Hội đồng
đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội.
Trang 38CHUONG 3 KET QUA NGHIEN CỨU
3.1 Thông tin chung về bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện năm
2011
Bac Trung Bộ và Duyên hải miễn Trung 268 10,7
(29,5%) và nhóm tuổi 16-24 (25,1%) Hai nhóm tuổi nhỏ nhất (dưới 16 tuổi) và cao
nhất (trên 60 tuổi) là bệnh nhân nội trú chiếm tỷ lệ thấp nhất (khoảng 7%).
Trang 3931
Phân bố bệnh nhân nội trú theo nghề nghiệp chính hiện tại, nhóm bệnh nhân
không làm việc có tỷ lệ cao nhất là (26,7%), sau đó đến nhóm hiện đang làm ruộng
(23,2%), học sinh sinh viên (15,8%) Nhóm có việc làm ổn định là cán bộ viên chức
và công nhân có tỷ lệ thấp nhất (tương ứng với 7,8% và 5,4%)
Đa số bệnh nhân điều trị nội trú tại viện hiện đang sinh sống tại các tỉnh xung
quanh Hà Nội (vùng Đồng bằng sông Hồng), có 76,8% trong tổng số bệnh nhân,
tiếp theo là 2 vùng Miền núi phía Bắc (11,6%) và Miền Trung (Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung) (10,7%)
3.2 Mô hình bệnh của bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện
Bảng 3.2 Mô hình bệnh tâm thần năm năm 2011
Bệnh tâm thân phân liệt, các rôi loạn loại phân liệt 819 32,8
và các rối loạn hoang tưởng (F20 - F29)
Rối loạn khí sắc (cảm xúc) (F30 — F39) 470 18,8
Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đên stress 585 23.4
và dạng cơ thể (F40 — F48)
Các hội chứng hành vi kết hợp với các rồi loạn 63 25
sinh lý và các nhân tố cơ thể (F50 - F59)
Các rối loạn nhân cách và hành vi ở người thành 5 0,2
niên (E60 — F69)
Cham phát triển tâm thân (F70 — E79) 23 0,9 Các rối loạn về phát triển tâm lý (F80 - F89) 2 0,1
Các rỗi loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát 23 0,9
ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên (F90 - F98)
Khác 19 0,8 Tổng số 2.499 100
Năm 2011, nhóm bệnh có số bệnh nhân vào điều trị nội trú nhiều nhất là nhóm
F20-F29, chiếm 32,8% trên tổng số bệnh nhân điều trị Tiếp đó là đến nhóm bệnh E40-F48 (23,4%), nhóm bệnh rối loạn cảm xúc F30-F39 (18,8%) và nhóm bệnh liên
Trang 40quan đến nghiện chất F10-F19 (13,9%) Các nhóm bệnh còn lại có số bệnh nhân vào không đáng kể
Bảng 3.3 Phân bỗ tỷ lệ bệnh nhân theo nhóm bệnh và giới tính
Mã bệnh N % N % Các rôi loạn tâm thân thực tôn bao gồm cả
Các rỗi loạn tâm thân và hành vi do sử dụng
Bệnh tâm thân phân liệt, các rôi loạn loại
phân liệt và các rôi loạn hoang tưởng (F20- 409 49,9 410 50,1
5 | 6 | 148
Các hội chứng hành vi kết hợp với các roi
loạn sinh lý và các nhân tố cơ thể (F50- 17 27,0 46 73,0
F59)
Các rỗi loạn nhân cách và hành vi ở người
Cham phat trién tâm thân (F70-F79) 12 522 11 47,8
Các rỗi loan vé phat trién tam ly (F80-F89) 1 50,0 1 50,0
Các rỗi loạn hành vi và cảm xúc thường
khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên 17 73,9 6 26,1
(73,0%) Ở các nhóm bệnh khác, sự khác biệt là không đáng kể.