Khoá đào tạo thí điểm về phân loại bệnh nhân cho điều dưỡng được thực hiện tai khoa Cấp cứu từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2013 với 33 điều dưỡng tham dự khoá học.. Với sự cần thiết của vi
Trang 1
BO GIAO DUC VA DAO TAO - BO Y TE TRUONG DAI HOC Y TE CONG CONG
HỌC VIÊN: CAO THỊ HOA
ĐÁNH GIÁ KET QUA DAO TAO VA TIM HIEU CAC YEU TO ANH HUONG ĐẾN THỰC HANH PHAN LOẠI BỆNH NHÂN CỦA DIEU DUGNG
BENH VIEN NHI TRUNG UONG NAM 2013
Luan van Thac si chuyén nganh Quan lý bệnh viện
Mã ngành: 60720701
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thanh Hải
ThS Lê Bảo Châu
Hà Nội, 2013
Trang 2
DANH MUC BANG BIEU
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU . -+++++tetrtrrtererett 00.0 nnnnntrrrir 1 DAT VAN ĐỀ +.-eevvveerrrrriiiiiiiiirriiriirrrrrrtnniiiiirtrirrritttrrrrriiirirrir 2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU -++rtttttttttttttttrttrrttrtrrrrrrrrrt 4 CHƯƠNG I: TỎNG QUAN TÀI LIỆU . -. -c-ees°°°°°eeeesteeertreteteerrtte 5
1.1 Điều dưỡng: tóm tắt định nghĩa, chức năng và nhiệm vụ của điều dưỡng 5 1.1.1 Định nghĩa ĐD: - -:-5+ecsccsscrereererterttrtrtettrrrdtrrtrdrdrrrrrtrtrrrri 5
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của ĐÌD: . -terserrrrrererrrrrrrrrrtrtrrrr 6
1.2 Đào tạo điều dưỡng: -cseeeeereretttrittristriiterrrerrrririnttrrrteee 6
1.3 Khái quát về PLBN: -«e««« s+trtrtttttrtttrtrttrttrrriiirirrrirrrrre 8
1.3.1 Định nghĩa PLBN: . -7 scsenrrretttrrtrttrrtrrrrrertrrrrrrittrrrtrtrrere 8
1.3.2 Lịch str PLBN c.sescecssssessesessesseeseeseeseeseenecncanensensenseneenseneenennscassseenscnetanenats 9
1.3.3 Ý nghĩa của PLBN: -ccccsrrrrrrirrirrrririrrrrrrrrrrirrrrrrrrtrrrtrtrr 10
1.3.4 Một số thang điểm PLBN đang được sử dụng: . -: -+-+ 10 1.4 Thực trạng PLBN hiện nay: -ee eeeseerseerttrrtterrterrrterrterrtrrrerree 12
1.4.1 Trên thế giới: -c -ecccccveeertttrrrrriiirirrrrrriiiiirirrrrrrrriiiirlrrree 12
1.4.2 Tại Việt Nam: -cssertettrrserierieririrriieiiiirriinrirrrrtrntr 13
1.5 Thực hiện PLBN và đào tạo về PLBN tại Bệnh viện Nhi TW 14
1.5.1 Giới thiệu về hoạt động PLBN tại BV Nhi TÌW: -ceeerereeee 14
1.5.2 Thực trạng phân loại bệnh nhân tại Khoa Cấp GỮU a g8 220 1xu2analczssea 14
1.5.3 Đào tạo về PLBN tại BV Nhi TƯ: - csscccceeeererrerrrrrrrrrtrrtre 15
1.6 Khung lý thuyết[2] . -c-ccccceccceeees+++++++ttttrttrttrtrrrrrrtrrrrrrrrrrrrrirrrr 17 1.7 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu: . -eeceee«ee+tssttttt+ 18
1.7.1 Thông tin chung: -55 c+snrertetrrrrrriiritiirirrririrrrrirrrittrirrrire 18
1.7.2 Chức năng nhiệm vụ của bệnh viện THỊỊ Í VN, iacci0LgE02X0S58:8.8228esixeiseillonsssn 18
1.7.3 Thông tin chung Về khoa Cấp GỨN¿ sa sssannniaeniaiiiieeereekeslee 19
Trang 3
2.1 Đối tượng nghiên cứu - -+-e+esseeeretttrsttetrttrtersert s22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu . -‹ +-++++++++tttttteetee 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu -veeeeeeeeeeeeeerrrrrrrrrrriirrrrrrtrrrrre 22
2.4 Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu
2.4.1.NC định lượng . -+-c+screnerserttrterttdttrtrrtrrtrrtrrrrrtrrtrrrrrerirrrr 22 2.4.2 NC định tính . -c-ssssetsetterteidertrrrrrrrreiertrrtrrtrrrrrirere 23 2.5 Công cu thu thập số liệu
2.6 Tổ chức thu thập số liệu
2.6.1 Đánh giá kiến thức trước và sau đào tạo (trước/sau khoá học) 26
2.6.2 Đánh giá thực hành trước và sau đào tạo 4 {UẬNccesoenereDsiecosolLS 26
2.6.3 Thu thập số liệu định tính về kết quả đào tạo và các yếu tố liên quan đến
thực hành PLBN của điều dưỡng sau đào tạO rrrrrrrrrererrrrrrernrree 27 2.7 Xác định các chỉ số, biến số nghiên cứu . -ees++++reeeeeeeerrtrtte 37
2.8.Phương pháp phân tích SỐ liỆU 5-cscs+xetersersersrrerenrrerserrrrirree 30
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu -eeeeeees.tttettttttttrttttrrtt 30 2.10 Hạn chế của đề NC, sai số và biện pháp khắc phụe s-esse.bsstes 31
2.10.1 Hạn ch& otha NC cscssssssssssssssssssssssssecececeeceeceeneceecceeecenenenceceqttsnunnnnnntetensnes 31 2.10.2 Sai số của NC .-¿-52-+crrrrkrrrrkertrrrrrttrrrtriirrrrrirrrrriiirrrrrrrrrtrrrrr 31
CHƯƠNG II: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU -©555sseveetteeererettttre 32 3.1 Đặc điểm chung về ĐTNC
3.2 Kiến thức và thực hành của điều dưỡng trước và sau khoá đào tạo 34
3.2.2 Thực hành PLBN -°c++ccrrrterrttrrrtrttritterrrrrrrrrratrrtrrrrrtdtrrrir 35
3.3 Thực hiện PLBN tai Khoa cấp cứu và các yếu tố ảnh hưởng - 43 3.3.1 Tâm quan trọng của PLBN -c-ererrrrrrrerrtetttrrtrtrtrtrrtrrrrre 4 3.3.2.Thực trạng công tác PLBN hiện nay tại khoa Cấp CỨN wesssesess 44
3.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác PLBN -++:+ 44
Trang 43.3.4 Thuan lotis.cscccccccceceseseeeeessssesseeeceereneneneneaeaensesseseseeseseaesenenasesensassescssnenenenes 47
3.3/5, KO KBBEL csssescconcecousssssssnsssnvscossecreeseseneerewseenssossnnsenssennsennesesuneianisonspiens 48 3.3.6 Giải pháp, kiến nghị Set 48 CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN . -c5es+cceeetterrrrrertrrriiirirriiirrerrriree 50 4.1 Thông tin chung về đối tượng NC . -++++rrtttettttttttrrrrrrrrrrrrrre 50
4.2 Đánh giá kết qua đào tạo PLBN cho điều dưỡng - 50 4.3 Một số yếu tố ảnh hướng tới thực hiện PLBN của ĐD tại khoa Cấp cứu.52
6.2 Về phia khoa CAp ctru ssssssssssssssssesesssececcccecceccensssnnsssssscnensseseseccesenesseesesses 57
TAT LIEU THAM KHAO sssssssssssssssssecccssssnnnussesseecnnnnnsssssnnnnnnneesssnsssccgenncnnnsesess 58 Phụ lục 1: PHIẾU KHẢO SÁT KIEN THUC CUA DIEU DUGNG TRONG PHÂN LOẠI BỆNH NHÂN TRƯỚC KHOÁ HỌC -+ 61 Phụ lục 2: PHIẾU KHẢO SÁT KIEN THUC CUA DIEU DƯỠNG TRONG PHÂN LOẠI BỆNH NHÂN SAU KHOÁ HỌC -+ 66 Phụ luc 3: DAP AN BANG DIEM DANH GIA KIÊN THỨC 71 Phu luc 4: BANG KIEM ĐÁNH GIÁ THỰC HÀNH PHAN LOAI BENH
NHAN CUA DIEU DUONG wocssesssssssssssscsssscsssessssessscssescsnecssnscensenssnsonsnocssnesaneees 73 Phụ lục 5: BANG PHAN LOAI DUA VAO CAC DAU HIỆU THỰC THE THEO THANG DIEM PHÂN LOẠI BỆNH NHÂN CỦA ÚC 76 Phụ luc 6: NOI DUNG CHUONG TRINH DAO TAO PHAN LOAI BENH NHÂN CHO DIEU DƯỠNG KHOA CÁP CỨU -«c «ee-<ee++ 78
Trang 5Phu luc 8: CAU HOI PHONG VAN SAU LANH DAO KHOA CAP CUU 82
Phu luc 9: CAU HOI PHONG VAN SAU DD TRUONG KHOA CÁP CỨU83 Phu luc 10: CAU HOI THAO LUAN NHOM DANH CHO DIEU DUONG LÀM VIỆC TẠI KHOA CÁP CỨU cccceeeeeeeeeeeeeeeereetetttte
Phụ lục 11: DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIÁ NGHIÊN CỨU
Phụ lục 12: SƠ ĐỎ TÔ CHỨC BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Trang 6Nghiên cứu Nghiên cứu viên
Phân loại bệnh nhân
Trang 7Bảng 2.1 Tổng hợp qui trình thu thập số liệu, công cụ, phương pháp và địa điểm
thu thập số liệu trong NC -+-rerrrrrrrtrrrterrrrrtrrrdtrrrrrtrrrrrdrrtrtrrrrrrr 25
Bảng 3.1 Thông tin nhân khẩu học của ĐTNC -cccssennreeeerrrrrrrree 32
Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn của đối tượng nghiên cứu -++-t+r 33
Bảng 3.3 Thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu . -+-+rrtsrrerr 33
Bảng 3.4: Đánh giá kiến thức PLBN trước và sau đào †ạO . -+ereerr+ 34 Bảng 3.5 Đánh giá kỹ năng thực hành PLBN trước và sau đào tạo : - 35 Bang 3.6 Danh gia về các tiêu chí trong thực hành PLBN (Tỷ lệ %) - 36
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành của điều dưỡng và một số đặc
điểmvề nhân khẩu học trước đào tạo -¿ -s+++ertrreerrierrrrtrrrrrirrrrrrrrrrrirrrre 38
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa thực hành PLBN của điều dưỡng trước đào tạo và đặc
điểmnhân khẩu học -22+£222++++++£E+Ertttrrrrrrrttrrrrrttttrrrrrrriiirttrtmrrrtrrrrriir 40
Bảng 3.9 Sự hài lòng của học viên với khoá hỌc . -+-t++rsrtrrrerrrrrrtrtrrtre 41
Bang 3.10 Danh gia về khoá học đối với công việc của ĐD -+-r-ee+e+ 42
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ ĐD đã từng được đào tạo về PLBN . -: :::+: .rrreerrrre 34
Trang 8TOM TAT NGHIEN CUU
Phân loại bệnh nhân là một đánh giá lâm sàng nhanh nhằm sàng lọc những
bệnh nhân ưu tiên trong một nhóm bệnh nhân lớn với mục đích sắp xếp bệnh nhân
nặng vào đúng nơi, nhận được đúng những can thiệp y tế phù hợp với mức độ tram trọng của bệnh đặc biệt quan trọng ở những nơi có số lượng bệnh nhân đông, nhân
lực còn thiếu Đây là một công việc mà điều dưỡng là những người phải thường
xuyên đối mặt ở mọi nơi, mọi lúc và ở bất cứ thời điểm nào không kề ngày hay đêm nhất là tại khoa Cấp cứu và khoa Khám bệnh
Bệnh viện Nhi Trung ương là một bệnh viện đầu ngành về nhi khoa trực thuộc
Bộ Y tế với số giường bệnh là 1200 nhưng thường xuyên tiếp nhận số lượng lớn
bệnh nhân nội trú cũng như bệnh nhân ngoại trú trong khi nguồn nhân lực điều
dưỡng còn hạn chế Chính vì vậy, việc cung cấp kiến thức cho điều dưỡng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ điều dưỡng trong bệnh viện là vô cùng cần
thiết Khoá đào tạo thí điểm về phân loại bệnh nhân cho điều dưỡng được thực hiện tai khoa Cấp cứu từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2013 với 33 điều dưỡng tham dự khoá học Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm đánh giá kết quả trước/sau của khoá học về kiến thức, thực hành và tìm hiểu các yếu tổ ảnh hưởng đến việc thực hiện PLBN của điều dưỡng
Kết quả nghiên cứu cho thấy sau đào tạo tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng
tăng từ 6,1% lên 100% và kỹ năng thực hành từ 46,7% tăng lên 77%, sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện phân loại bệnh nhân của điều dưỡng là môi
trường thực hiện phân loại, trang thiết bị, bồ trí, sắp xếp nhân lực cùng với công tác
giám sát, kiểm tra và ý thức của cá nhân
Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong thực hiện phân
loại bệnh nhân Sắp xếp phòng, bổ sung điều dưỡng, mở rộng đối tượng đào tạo,
tăng thời lượng thực hành, sử dụng màu khi phân loại, tăng cường công tác kiểm
tra, giám sát và cải tiến chương trình đào tạo phù hợp.
Trang 9Hiện nay tình trạng quá tải bệnh viện đang là vấn đề nóng tại các Bệnh viện
lớn và được xã hội quan tâm rất nhiều, đặc biệt là các Bệnh viện (BV) trực thuộc
tuyến trung ương, những BV chuyên khoa Cùng với BV Bạch Mai, Việt Đức, BV K Bệnh viện Nhi Trung ương (BVNTU) cũng nằm trong số những BV quá tải ở
khu vực Hà Nội [9] Với số lượng BN khám hàng ngày từ 2500 đến 3000 BN tại
khoa Khám bệnh và khoảng trên dưới 100 BN vào khoa Cấp cứu đặc biệt đây là BV đành cho trẻ em nên sự đông đúc, chật chội càng được thể hiện rõ [13], [14], [15]
Do đặc thù về chức năng, nhiệm vụ của khoa Cấp cứu cùng với sự thiếu thốn về nhân lực nói chung nên sự quá tâi công việc của điều dưỡng là một xiệp khó tránh khỏi Phân loại bệnh nhân (PLBN) là việc sàng lọc, đánh giá nhanh bệnh nhân đến
khám theo mức độ nặng hoặc trầm trọng từ khi tiếp nhận để ưu tiên đưa những bệnh
nhân cần cấp cứu vào khám và xử trí trước, bỏ qua giai đoạn chờ đợi theo quy trình khám chữa bệnh thông thường (dành cho bệnh nhân không cấp cứu) Việc phân loại bệnh nhân ngay từ giai đoạn tiếp đón là vô cùng cần thiết trong bối cảnh quá tải bệnh viện để giảm thiểu các biến chứng và tử vong do cấp cứu người bệnh không kịp thời Đánh giá chính xác mức độ ưu tiên là nhiệm vụ của người Điều dưỡng
(DD) và để thực hiện được điều này người ĐD phải có kiến thức, kỹ năng thực hành
về phân loại bệnh nhân Với sự cần thiết của việc thực hiện PLBN tại khoa Cấp cứu
và các khoa lâm sàng, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực hiện chương trình đào tạo PLBN giúp trang bị kiến thức và kỹ năng thực hành nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ DD trong BV
Nhận biết trẻ bị bệnh nặng, phân loại để lựa chọn nhóm BN ưu tiên và xử trí cấp
cứu ban đầu là nội dung đào tạo cho điều dưỡng trong năm 2013[25] Khoa Cấp cứu là khoa đầu tiên đào tạo thí điểm chương trình này trong BV về PLBN với hy vọng việc
tiếp đón, PLBN ban đầu tại Khoa Cấp cứu có hiệu quả hơn, sàng lọc đúng những
trường hợp nặng, cần xử trí ngay để đưa vào khám trước trong khi những trường hợp không cấp cứu sẽ được chuyển ra phòng khám hoặc chờ đợi trong thời gian cho phép
để giảm tải áp lực công việc tại khoa Cấp cứu.
Trang 10Khoá đào tạo đầu tiên về PLBN được thực hiện tại khoa Cấp cứu Bệnh viện
Nhi Trung ương Với mục tiêu đánh giá kết quả của khoá đào đào tạo thí điểm này
nhằm mục đích lựa chọn chương trình đào tạo phù hợp hơn cho điều dưỡng trong
toàn bệnh viện cũng như tạo điều kiện hỗ trợ điều dưỡng thực hiện tốt việc PLBN,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả đào tạo phân loại BN và tìm hiểu
các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành phân loại bệnh nhân của điều dưỡng khoa Cấp
cứu Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2013”
Trang 11Muc tiéu cu thé
1 Đánh giá kết qua đào tạo điều dưỡng về phân loại bệnh nhân thông qua
đánh giá kiến thức và thực hành trước và sau đào tạo tại khoa Cấp cứu, BVNTƯ
2 Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện phân loại bệnh nhân
của điều dưỡng tại khoa Cấp cứu, BV Nhi Trung ương năm 2013
Trang 12CHƯƠNG I: TONG QUAN TAI LIEU
1.1 Điều dưỡng: tóm tắt định nghĩa, chức năng và nhiệm vụ của điều dưỡng: Điều dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh tại các cơ Sở y tế và tại cộng đồng [21Ỏ các nước trên thế giới, điều dưỡng là một nghề riêng biệt như các ngành nghề khác và sự phát triển của nó cũng
có nhiều tiến bộ vượt bậc Tại Việt Nam từ năm 1990 đến nay, ngành DD đã khẳng
định được vai trò của mình, từng bước phát triển nghề nghiệp để hội nhập cùng các
nước trên thế giới
1.1.1 Định nghĩa ĐD:
Dinh nghia vé DD ctia Nightingale 1860 “DD la mot nghệ thuật sử dụng môi
trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của ho”.DD 1a cham sóc, hỗ trợ các
hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khoẻ của người bệnh hoặc người khoẻ [10]
DD 1a sự bảo vệ, nâng cao, tối ưu hoá sức khoẻ và năng lực, ngăn ngừa bệnh tật và chấn thương, giảm bớt đau đớn thông chẩn đoán và điều trị với đáp ứng của con người, phát triển sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cho cá nhân, gia đình, cộng đồng
và toàn xã hội [19]
Thời Trung cổ, Giáo hội Công giáo có cung cấp rất nhiều dịch vụ gần giống như điều dưỡng mang tính trợ cấp, cứu tế như: nhà đưỡng lão, trại trẻ mồ côi, nhà
thương cho người ốm mọi lứa tuổi, nơi ở cho người bệnh phong, nhà trọ cho khách
qua đường và khách hành hương với giá ăn ở rẻ, phân phát thức ăn khi có nạn đói
và cho người nghèo[20]
ĐD là việc sử dụng đánh giá lâm sàng trong chăm sóc, nhằm cải thiện, duy trì
hoặc phục hồi sức khoẻ, đối phó với các vấn đề về sức khoẻ, và nhằm đạt mức chất
lượng sống cao nhất có thể, kể cả cho những người mặc bệnh hoặc tàn tật, cho tới
khi chết [26]
ĐD là một nghệ thuật và một môn khoa học liên quan đến các môn khoa học
xã hội cơ bản, khoa học tự nhiên, đạo đức, các vấn đề đương thời và nhiều lĩnh vực
Trang 13đình trong việc cải thiện, duy trì sức khoẻ và các vấn đề về sức khoẻ DD phải đảm
nhận nhiều nhiệm vụ cùng lúc, trực tiếp làm công tác chăm sóc sức khoẻ, đưa ra
quyết định chẩn đoán lâm sàng, nhà nghiên cứu đối với bệnh nhân và gia đình bệnh
nhân, người hướng dẫn, tư vấn giáo dục sức khoẻ[28]
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của DD:
Chức năng:
Chức năng phụ thuộc: thực hiện y lệnh của BS
Chức năng phối hợp: phối hợp với BS trong thực hiện điều trị, tư vấn và giáo
dục sức khoẻ cho người bệnh
Chức năng độc lập: chủ động chăm sóc người bệnh theo nhiệm vụ đã qui định [6]
Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ của ĐD là thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện, bắt đầu từ khi
BN nhập viện cho tới khi BN xuất viện Công việc họ phải thực hiện là nhận định
tình trạng người bệnh, đánh giá những đáp ứng của họ đối với bệnh tật, với điều trị,
chăm sóc và đưa ra kế hoạch chăm sóc phù hợp với mức độ bệnh tại từng thời điểm
Bên cạnh công tác chăm sóc người bệnh toàn diện theo thông tư 07, ĐD còn phải tham gia công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý tài sản, vật tư, trang thiết bị
y tế và đảm bảo môi trường làm việc an toàn, phát triển nghề nghiệp và hành nghề theo y đức và pháp luật [6], [7]
1.2 Đào tạo điều dưỡng:
Đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn là vấn đề rất quan trọng trong quản
lý nhân lực Nếu cán bộ không được đào tạo lại thì rất nguy hiểm vì chuyên môn sẽ mai một dần Lý do phải đào tạo trong nhiều ngành nhất là trong ngành y của chúng
ta là do khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, nhu cầu của nhân dân tăng cao, mô hình bệnh tật thay đổi Nội dung đào tạo tùy thuộc từng cá nhân, từng khoa phòng, từng
BV nhưng nhìn chung cần đào tạo ở các lĩnh vực về chuyên môn, quản lý và y đức
Trang 14Công tác đào tạo phải mang tính liên tục, luôn đổi mới và đa dạng hóa các hình thức
đào tạo (chính qui hoặc không chính qui) [8] Nâng cao chất lượng chăm sóc của điều
dưỡng chính là chìa khóa cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu của Việt
Nam.Việc tiếp tục nâng cao trình độ cho người DD ca kiến thức và thực hành lâm
sàng là điều rất quan trọng bởi những thay đổi có tính toàn cầu, những tiến bộ về
khoa học công nghệ, mô hình bệnh tật mới
Theo các quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh và Thông tư số
07/2008/TT-BYT về hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế thì vấn đề đào tạo
liên tục đã trở thành quy định bắt buộc đối với cán bộ y tế để được cấp và duy trì
giá trị pháp lý của chứng chỉ hành nghề trong khi cả nước có rất nhiều trường đào
tạo dành cho điều dưỡng [7] Từ môi trường này điều dưỡng mang một chuỗi lý thuyết để làm việc tại các cơ sở y tế nhưng tại đây họ gặp rất nhiều khó khăn khi
phải đối mặt với thực tế khác rất nhiều so với lý thuyết trong trường học Ở nơi làm
việc mới, họ sẽ phải học rất nhiều, từ đồng nghiệp, những người đi trước, từ các lớp
đào tạo ngắn ngày, đài ngày, từ thực tế Một lý do nữa cần phải đào tạo là sau khi tốt nghiệp ĐD đa khoa, ĐD về công tac tai BV được điều về các chuyên khoa khác nhau do đó công tác đào tạo để bù đắp thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng để đáp ứng được với môi trường làm việc của các ĐD là vô cùng cần thiết [4]
Bên cạnh đó, nhân lực chính là tài sản quí giá của cơ quan, tổ chức Công tác quản lý và sử dụng nguồn nhân lực một cách có hiệu quả là mục tiêu mà các cơ
quan, tổ chức đều mong muốn thực hiện nhằm đạt được năng suất lao động cao
nhất, chất lượng công việc hiệu quả nhất và lợi nhuận tốt nhất [12] ĐD là đội ngũ
đông đảo trong BV, là những người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân và đóng góp rất nhiều công sức trong công tác khám chữa bệnh tại các BV Đào tạo để nâng cao kiến thức, thực hành của Điều dưỡng cũng góp phần cải thiện chất lượng công việc.Thực hiện thông tư 07, Bệnh viện Nhi TƯ đã triển khai công tác chăm sóc người bệnh toàn diện tại các khoa lâm sảng, đặc biệt là các khoa Cấp cứu phải thực hiện làm việc theo ca [7] Trong điều kiện hiện nay, BN tập trung nhiều tại các BV tuyến trên với nhiều lý do khác nhau gây nên tình trạng quá tải làm cho Bệnh viện
Trang 15kiến thức và kỹ năng thực hành của điều dưỡng được đặt lên hàng đầu nhằm mục đích
sử dụng nguồn nhân lực điều đưỡng có hiệu quả ở từng khoa để đàm bảo thực hiện
được công tác chăm sóc người bệnh toàn diện với đặc thù người bệnh là trẻ em
Niên giám thống kê y tế của Bộ Y tế năm 2010 đưa ra tống số ĐD tại 1087
bệnh viện trên toàn quốc là 81.248 người Một số lượng ĐD tương đối đông và được đào tạo tại nhiều trường trong cả nước chiếm gần 40% nhân lực y tế[2].Trước
đây, ĐD chủ yếu được đào tạo trình độ là sơ cấp, trung cấp sau đó là trình độ cao
đẳng.Từ năm 1994, ĐD Việt Nam bắt đầu đào tạo chính qui ở trình độ đại học (4 năm) và sau đại học trong thời gần đây Đến nay, nước ta có 29 trường đại học, 37
trường cao đẳng và trên 40 trường trung học y tế đang đào tạo ĐD ĐD hiện nay khi
ra trường đều là ĐD đa khoa, khi về các BV họ sẽ phải tiếp tục được đào tạo thêm
nhiều về thực hành và bổ sung thêm kiến thức chuyên khoa Việc tổ chức đào tạo
cho DD tai các BV nhiều nhưng thường mới chỉ tổ chức đào tạo mà chưa có nhiều
NC đánh giá được hiệu quả của đào tạo và rút ra những bài học kinh nghiệm [5]
1.3 Khái quát về PLBN:
1.3.1 Định nghĩa PLBN:
PLBN là một đánh giá lâm sàng nhanh để đưa ra hướng giải quyết kịp thời cho người bệnh Việc phân loại nhằm đánh giá sơ bộ tình trạng nguy kịch của BN với độ chính xác cho phép đề xác định mức độ ưu tiên cấp cứu cho bệnh nhân [25]
PLBN trước hết là chọn lọc BN nặng, nhẹ khác nhau để có hướng cấp cứu kịp
thời, hạn chế tình trạng tử vong và chuyển tới các cơ sở y tế phù hợp với tình trạng bệnh, góp phần giảm tình trạng quá tải khi BN đổ dồn về các trung tâm hoặc các phòng cấp cứu Động thái này cũng giúp các y, bác sỹ không lãng phí thời gian vàng đối với các trường hợp khẩn cấp Cụ thể BN cần được chia thành nhiều nhóm:
thượng khẩn — cấp cứu ngay, khẩn - cấp cứu trong vòng 10 phút, cấp cứu - trong
vòng 30 phút, không cần cấp cứu - có thể xử lý trong vóng 1 đến 2h []]
PLBN là sắp xếp BN vào các nhóm ưu tiên để xử trí phù hợp với mức độ bệnh
Khái niệm này ban đầu được áp dụng trong quân đội sau chuyển sang dân sự với
Trang 16mục đích chăm sóc ban đầu ở khoa Cấp cứu Theo từ điển Oxford, “triage” có 2 nghĩa là hoạt động, sắp xếp phân loại dựa theo đặc tính (dùng trong y học) và sự
phân chia theo mức độ cấp cứu của vét thương hay bệnh tật để quyết định thứ tự
điều trị cho một số lượng lớn BN hoặc người bị thương Thông thường “triage” hay
được hiểu theo nghĩa thứ hai Tóm lại “triage” có thể định nghĩa một cách ngắn gọn
là phương pháp phân loại BN, sắp xếp BN theo mức độ phù hợp với tình trạng khân
cấp của bệnh [16]
1.3.2 Lịch sử PLBN
Phân loại bệnh nhân lần đầu được áp dụng vào y học trên các chiến trường của
Pháp trong việc phân loại các nạn nhân xem ai sẽ bị bỏ lại Từ đó khái niệm phân loại bệnh nhân không được áp dụng vào y học nữa cho tới tận Chiến tranh Thế giới
thứ II [18] Vào những năm 60, hệ thống y tế của Mỹ cũng như nhiều nơi khác phát
triển thành một ngành dịch vụ hoàn toàn khác biệt so với trước kia, tập trung chủ
yếu vào các Bệnh viện Bệnh nhân lần đầu tiên được một bên thứ ba đứng ra chỉ trả
cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, những đơn vị bảo hiểm này bắt đầu xuất hiện
với số lượng ngày càng tăng tại các Bệnh viện Các bệnh nhân từ các tỉnh được
chuyển thẳng tới một nơi trong Bệnh viện và nơi đó gọi là “Phòng Cấp cứu” Cho
tới nay, việc phân loại bệnh nhân là một trong những tiêu chí để bên bảo hiểm ra quyết định có thanh toán viện phí hay không Do số lượng bệnh nhân nhập viện tăng liên tục, hoạt động phân loại bệnh nhân nhanh chóng chiếm vị trí trung tâm trong việc nhận dạng bệnh nhân nào cần được ưu tiên khám trước, thay vì nguyên tắc “đến trước, khám trước” Tại Mỹ, một hệ thống phân loại đơn giản theo thang điểm 1, 2, 3 được sử dụng phổ biến Mục tiêu của quy trình này rất đơn giản, đảm
bảo các bệnh nhân bất ổn hoặc có nguy cơ bất ồn được phát hiện nhanh chóng, còn
các bệnh nhân tình trạng có chiều hướng không xấu đi thì có thể an toàn chờ đến
lượt Hệ thống phân loại bệnh nhân của Khoa Cấp cứu từ rất sớm đã do các nhân
viên y tế thực hiện và thường là các điều dưỡng ra quyết định phân loại [17] Tới
những năm 80, hoạt động cấp cứu đã trở thành một khía cạnh quan trọng của dịch
vụ y tế Quốc hội Hoa Kỳ trở nên quan ngại về sự lan rộng của các bài báo vê vân
Trang 17đề “bỏ rơi bệnh nhân” Do đó, đạo luật Cấp cứu và chủ động diéu tri (EMTALA) da
được thông qua, tạo ra ảnh hưởng pháp lý sâu sắc đối với mọi khía cạnh của hoạt động cấp cứu Cùng với việc áp dụng các tiêu chuẩn pháp lý của đạo luật EMTALA, Cục Quản lý tài chính y tế Mỹ (HCFA) đã nêu rõ thêm rằng việc phân
loại BN tại Khoa Cấp cứu khác biệt với việc sàng lọc y tế đơn thuần theo như các
đạo luật hay quy định đi kèm [17]
Trong giai đoạn những năm 70, có một nhóm nhân viên cấp cứu tại Ipswich
của Úc đã bắt đầu quan tâm tới việc phân loại bệnh nhân và sử dụng một số thang phân loại, bao gồm cả những thang có trên 3 mức Sau một thời gian, nhóm đã phát triển một thang phân loại 5 mức phù hợp với hoàn cảnh địa phương Tuy nhiên, thang phân loại này đã trở nên phổ biến và được áp dụng trên toàn nước Úc vào năm 1993 [17], [18] Tới năm 1995, một nhóm nhân viên y tế Canada cũng phát
triển một thang phân loại bệnh nhân tương tự, tuy nhiên có một chút khác biệt về
mức độ nặng của bệnh nhân, được Hiệp hội Cấp cứu Canada cho áp dụng trên toàn
quốc[22] Tại nước Anh, hiện nay cũng được áp dụng một thang phân loại 5 mức
được phát triển bởi Nhóm phân loại bệnh nhân Manchester.edu[23 ]
1.3.3 Ý nghĩa của PLBN:
e Đảm bảo cho BN được điều trị theo thứ tự cấp cứu của họ dựa trên mức
độ bệnh
e Đảm bảo BN nhận được các can thiệp y tế kịp thời
© Xác định được nơi mà tại đó BN được đánh giá và điều trị thích hợp nhất
e Sap xếp phân công nhân lực hợp lý[16]
1.3.4 Một số thang điểm PLBN đang được sử dụng:
PLBN được thực hiện thường quy tại các nước trên thế giới Mỗi nước đều có
những thang điểm PL được thống nhất theo qui định của từng quốc gia Trong phần này, NCV xin giới thiệu một số thang điểm phân loại bệnh nhân đang được sử dụng
*Phân loại BN đơn giản:
Thang điểm phân loại này áp dụng trong những trường hợp chấn thương với
Trang 1811
số lượng lớn nạn nhân nhằm sắp xếp BN thành nhóm khẩn cấp cần chuyển đi BV
ngay lập tức và nhóm ít nghiêm trọng hơn Sự PLBN dựa trên mức độ nghiêm trọng của tốn thương, có thể sử dụng thẻ phân loại hoặc là thẻ theo màu[30]
e Màu đen: BN tử vong Nhân viên y tế xác nhận và việc xử trí, vận chuyển
nhóm này dành cho những người không có chuyên môn
e Màu đỏ hay ưu tiên I: can thiệp ngay tức thì BN được chuyển đi ngay lập
tức bằng xe cứu thương cùng với sự chăm sóc y tế Những BN này ở trong tình trạng nguy kịch và sẽ chết nếu không được xử trí ngay
e Màu vàng hay ưu tiên 2: nhóm này có thể trì hoãn chăm sóc y tế cho đến
khi nhóm ưu tiên 1 đã được xử trí xong Nhóm này ở trong tình trạng ổn định nhưng cần có sự giúp đỡ y tế
e Mau xanh hay ưu tiên 3: nhóm này cần chăm sóc y tế nhưng có thể đợi chờ
được trong Ít nhất vài giờ sau khi các nhóm ưu tiên 1 và 2 đã được xử trí
*Thang điểm PLBN của Úc (ATS) dành cho trẻ em [18]
e Loại l: De doa tính mạng tức thì Loại này gặp trong trường hợp BN ngừng thở, ngừng tim, nguy cơ tắc nghẽn đường thở tức thì, khó thở rất nặng sốc nặng không đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng với đau hoặc BN đang co giật, co giật kéo dài, nguy cơ trẻ bị bạo hành
e Loại 2: Sắp đe doạ tính mạng Gặp trong những trường hợp nguy cơ tắc
nghẽn đường thở, khó thở nặng, tổn thương tuần hoàn, đường máu < 2mmol /1 BN
lơ mơ/ giảm tri giác, sốt và li bì, chấn thương lớn, chấn thương khu trú lớn hoặc bị bắn axit/ kiềm vào mắt
eLoại 3: Nguy cơ đe doạ tính mạng BN khó thở vừa, SpO2 90 — 95%, mat
máu nặng, đường máu > 16mmol/I, co giật (hiện tỉnh táo), có sốt ở BN ức chế miễn
dịch, nôn kéo dài, mắt nước, chấn thương sọ não có mất trí nhở - tỉnh, chấn thương
chỉ Trẻ đau vừa, đau bụng có yếu tố chỉ điểm, trẻ sơ sinh ôn định
eLoại 4: Có nguy cơ nặng: Trẻ hít phải dị vật, nuốt khó không khó thở, chấn thương lồng ngực, chảy máu nhẹ, chấn thương sọ não, chấn thương chỉ, viêm mắt
hoặc dị vật mắt, thị lực bình thường Rối loạn hành vi tâm thần, có vấn đề về sức
Trang 19
khoẻ tâm thần đang được theo dõi
eLoại 5: Không khẩn cấp: Đau nhẹ, vết thương nhẹ hoặc những BN khám
theo hẹn hoặc chỉ đến tiêm chủng
* Thang điểm PLBN của Manchester tại Anh: thang điểm này kết hợp thang điểm PLBN của Úc và Canada và cũng chia làm 5 loại theo các màu khác nhau [23]
Do: de doa tính mạng - cần can thiệp ngay tức thì
e Da cam: rất khẩn cấp — cần thăm khám trong 10 phút
e Vang: khẩn cấp -cần thăm khám trong | gid
e Xanh lá cây: thường qui — cố gắng thăm khám trẻ này trong vòng l — 2 giờ
e Xanh da trời: những trẻ này có thể đợi đến 4 giờ
* Thang điểm PLBN của Canada: Về cơ bản, thang điểm này gần giống thang
điểm PLBN của Úc nhưng có thêm một số triệu chứng ngoài các dấu hiệu mà thang điểm của Úc đã đưa ra[29]
* Thang điểm PLBN tại Việt Nam: hiện tại khoa Cấp cứu BV Bach Mai đang thực hiện PLBN sử dụng theo thang điểm phân loại bệnh nhân của Úc có cải biên
Từ 5 mức độ của thang điểm này, chương trình phân loại chia làm 4 mức độ Mức
độ 1,2,3 giống của Úc, riêng mức độ 4 và 5 xếp chung với nhau và xử trí như mức
độ 4 [16]
1.4 Thực trạng PLBN hiện nay:
1.4.1 Trên thế giới:
Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng bảng phân loại bệnh nhân, tại khoa Cấp
cứu ở các BV của Úc chương trình phân loại bệnh nhân được thực hiện thường qui [27] Trong những năm 2005 — 2006, có gần 4.8 triệu bệnh nhân được đưa vào các
khoa cấp cứu trong những bệnh viện lớn của Úc Tuy nhiên chỉ 12% trong số đó là
những ca không khẩn cấp và 69% số bệnh nhân trên được khuyến cáo là cần thăm
khám trong khoảng thời gian họ đã được phân loại với nửa trong số họ được thăm khám dưới 24 phút Mặc dù các nhân viên làm việc phân loại bệnh nhân phải chịu nhiều áp lực, nhưng các con số thống kê cho thấy họ đã thực hiện việc phân loại
Trang 2013
tương đối tốt Đánh giá chính xác và kịp thời những bệnh nhân nặng dựa trên mức
độ khẩn cấp là yếu tố cần thiết cho hoạt động của hệ thống phân loại BN[27]
Theo nghiên cứu về “Hiệu quả của phân loại bệnh nhân trẻ em và thang điểm
phân loại bệnh nhân cấp tính của Canada trong bệnh viện”, trong khoảng thời gian
trên một năm, đã có 58.529 bệnh nhân đã được phân loại tại Khoa Cấp cứu Trong
tổng số bệnh nhân nhập viện, 63% trong tình trạng cần cấp cứu ngay (mức độ l), 37% trong tình trạng cấp cứu (mức độ 2), 14% trong tình trạng khẩn cấp (mức độ 3), 2% trong tình trạng bán khẩn cấp (mức độ 4) và chỉ có 1% số bệnh nhân trong
phục vụ BN sẽ được cải thiện nhờ thực hiện hệ thống PLBN được tiêu chuẩn hoá và
được áp dụng ở các khoa Cấp cứu[24]
1.4.2 Tại Việt Nam:
Báo cáo của Cử nhân Đỗ Thị Hải Vân tại trường đại học Y Hà Nội 2008 với
tiêu đề “Bước đầu đánh giá tình hình PLBN theo mức độ cấp cứu tại khoa Cấp cứu,
BV Bạch Mai” nhằm đánh giá việc thực hiện PLBN tại khoa Cấp cứu, BV Bạch
Mai Việc PLBN tại đây ứng dụng thang điểm PLBN của Úc có cải biên.Từ 5 mức
độ của thang điểm PLBN của Úc, khoa Cấp cứu BV Bạch Mai chuyển thành 4 mức
độ Nghiên cứu này đưa ra được kết quả việc áp dụng PLBN của DD ở mức độ rất nặng và nặng thi không có sự khác biệt nhiều giữa lý thuyết và thực hành nhưng BN
ở mức độ 3 và 4 thì có sự khác biệt rõ rệt Một kết quả nữa là số BN ở trong tình
trạng cấp cứu chiếm xắp xỉ 43% chứng tỏ việc PLBN chưa tốt dẫn đến việc nhiều
trường hợp có thể trì hoãn nhưng vẫn được BS khám ngay làm giảm sự tập trung nguồn nhân lực vào các ca cấp cứu khác Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ BN nhẹ
đi sau phân loại và xử trí 1 giờ chiếm tỷ lệ cao nhất (80,2%) và đó chính là hiệu quả
Trang 21
của PLBN cũng như các can thiệp y tế kịp thời [16]
Hiện nay ở Việt Nam chương trình đào tạo PLBN chưa được đưa vào các trường mà học sinh, sinh viên chỉ được học các môn cơ sở, bệnh học từ đó tự đánh giá BN và cho rằng BN có nặng hay không Hầu hết các BV tự đưa ra các tiêu chuẩn cấp cứu của mình và vấn đề này chủ yếu là bằng chứng để giải quyết BN được hưởng chế độ BHYT trong trường hợp BN nặng
1.5 Thực hiện PLBN và đào tạo về PLBN tại Bệnh viện Nhi TW
1.5.1 Giới thiệu về hoạt động PLBN tại BV Nhi TW:
BV Nhi Trung ương là một BV chuyên khoa hạng đặc biệt trực thuộc Bộ Y té Với tổng số giường bệnh là 1200 giường nhưng số lượng BN nội trú thường xuyên
vượt quá ngưỡng số giường qui định và khoảng 2500 đến 3000 BN khám hàng
ngày Cơ sở vật chất đã xuống cấp và hiện nay đang được sửa chữa, mở rộng Trang thiết bị được bổ sung nhiều tuy chưa đáp ứng đủ với nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân Với một số lượng nhân lực xấp xỉ 1800 nhân viên, BV đã
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Bộ Y tế giao phó Là BV chuyên khoa nhỉ đứng
đầu trong cả nước, BV đã có nhiều thành công trong nhiều lĩnh vực hoạt động của
BV, tạo được thương hiệu trong nước cũng như ngoài nước Hoạt động PLBN vẫn
được nhắc đến nhưng việc thực hiện phân loại chủ yếu do ĐD tự cập nhật kiến thức,
người trước truyền kinh nghiệm cho người đến sau và phối hợp cùng với bác sỹ
trong nhận định và chăm sóc người bệnh
1.5.2 Thực trạng phân loại bệnh nhân tại Khoa Cấp cứu:
Hiện tại với lưu lượng BN đến khám và cấp cứu tại khoa Cấp cứu trung
bình khoảng 100 BN trong một ngày và một số lượng BN lớn nữa đang nằm
điều trị tại các khoa, Khoa Khám bệnh tiếp nhận khoảng 2500 đến 3000 BN,
trên 600.000 BN trong một năm việc sàng lọc BN theo mức độ bệnh là việc
làm rất quan trọng [13], [14], [15] Cùng với Khoa Khám bệnh, khoa Cấp cứu
là nơi có nhiệm vụ tiếp đón, phân loại BN đến khám và xử trí cấp cứu khi BN tới BV trong những trường hợp nặng Phần lớn số BN này đều tập trung vào
cùng thời điểm, đặc biệt là đến khoa Cấp cứu ngoài giờ hành chính với số
Trang 2215
lượng đông hơn BN nhi khi đến BV, một môi trường xa lạ với trẻ, trẻ sẽ quấy khóc rất nhiều và người nhà bệnh nhi sẽ rất khó chịu, chỉ muốn khám xong rồi về Chính
vì vậy họ đều muốn coi em bé của mình là cấp cứu để được khám nhanh Khi không
thỏa mãn được điều này cùng với việc giải thích của nhân viên y tế về tình trạng
bệnh chưa rõ ràng sẽ gây nên những bức xúc khó giải quyết đối với người nhà BN
và các bài báo, các lời phàn nàn, gọi vào đường dây nóng của BV là cách mà họ thường sử dụng Làm cách nào để giải quyết vẫn đề này? Và làm thế nào để người nhà BN chấp nhận chờ đợi khi mà tình trạng của trẻ không nặng? Một lý do nữa là
tỉ lệ tử vong chung của BV có xu hướng giảm nhưng tỉ lệ BN tử vong trước 24h lại gia tăng đáng kể, thể hiện tình trạng BN nặng đến BV ngày càng nhiều và việc phân loại BN cần được chú trọng hơn để giảm tải những trường hợp BN đến không trong
tình trạng cấp cứu có thể chuyển đến những nơi khác [13], [14], [1Š]: Rất nhiều
trường hợp tử vong xảy ra trong 24h đầu nhập viện nhiều trường hợp có thể phòng tránh được nếu những trẻ rất nặng nhanh chóng được đánh giá và điều trị ngay khi tới BV Nhiều BV trên thế giới, trẻ em không được thăm khám trước khi tới BV nên những trường hợp trẻ bị bệnh nặng phải chờ đợi rất lâu trước khi được thăm khám và
điều trị [27] Chính những van đề nỗi cộm như trên, chương trình hỗ trợ đào tạo PLBN cho ĐD khoa Cấp cứu được tiến hành trước tiên sau đó sẽ triển khai tại khoa Khám
bệnh và các khoa khác trong toan BV nhằm nâng cao nang lye cho DD, gop phan cai
thién chất lượng dịch vụ y tế trong điều kiện BN đông mà nhân lực còn hạn chế Việc
cung cấp kiến thức, kỹ năng thực hành cho ĐD là yếu tố cần thiết để nâng cao trình độ
chuyên môn giúp ĐD tự tin trong thực hiện PLBN
1.5.3 Đào tạo về PLBN tại BV Nhỉ TU:
Chương trình đào tạo về phân loại BN hiện nay chưa được thực hiện tại các trường đào tạo ĐD, học sinh chỉ được học kiến thức về bệnh học, các qui trình kỹ thuật ĐD và một số môn cơ sở Tại BVNTƯ việc PLBN của ĐD hiện nay dựa vào
một số tiêu chí của chương trình Cấp cứu nhỉ khoa để nhận định BN nặng và có những xử trí phù hợp với mức độ tram trọng của bệnh[25] Trước đây mới có duy
nhất một lớp học đào tạo về PLBN do BV phối hợp với nhóm giảng viên của BV
Nhi Hoàng gia Melbourne thực hiện từ năm 2005 Cho đến nay, nhóm học viên đó
Trang 23da nghi huu tuong đối nhiều, việc đào tạo không được triển khai tiếp tục và
hiện nay vẫn xảy ra tình trang DD ty tim hiểu, ĐD cũ truyền lại kinh nghiệm
cho ĐD mới kèm theo có các bảng hướng dẫn phân loại treo tại các quầy tiếp
đón BN Hoạt động PLBN vẫn được nhắc đến nhưng để việc phân loại bệnh
nhân được thực hiện thường qui như là một qui trình kỹ thuật thì chưa thực
hiện được Một lý do ngăn cản việc thực hiện PLBN chính là điều dưỡng còn
chưa được đào tạo, kiến thức và thực hành còn thiếu Chính vì vậy, lớp thí
điểm đào tạo PLBN đầu tiên cho điều dưỡng theo một chương trình đào tạo
chính thức, sử dụng bài giảng, bộ câu hỏi đánh giá của chương trình đào tạo
PLBN của Úc Khoá đào tạo đầu tiên này được thực hiện tại khoa Cấp cứu là
cơ sở để xem xét, rút kinh nghiệm, cải tiến chương trình nhằm tiếp tục triển
khai rộng hơn
Trong số ĐD đang làm việc tại khoa Cấp cứu, phần lớn đối tượng này
đều chưa được đào tạo, việc thực hiện phân loại chỉ dựa vào kinh nghiệm làm
việc và người trước truyền cho người đến sau Với sự giúp đỡ của dự án AP trong 10 năm, BV Nhi Hoàng Gia Melbourne — Australia cùng với BVNTƯ
xây dựng và triển khai nhiều chương trình đào tạo cho cán bộ BVNTƯ như
Cấp cứu nhỉ khoa, giảng viên thực hành, PLBN Riêng chương trình cấp cứu
nhỉ khoa và đào tạo giảng viên đã được triển khai thực hiện rất tốt Vì vậy,
chương trình đào tạo về PLBN được lựa chọn đầu tiên trong năm 2013 vì đây
là chương trình cắp thiết nhất để bổ sung kiến thức và kỹ năng thực hành cho
DD, là những kiến thức ĐD bắt buộc phải có trong quá trình hành nghề Chương trình này với mong muốn cung cấp kiến thức và kỹ năng phân loại
BN giúp các ĐD có thể tự tin thực hiện được công việc này tránh để những tai biến không đáng có xảy ra
Khoá tập huấn đào tạo cho điều dưỡng về kiến thức cơ bản và:kỹ năng
PLBN sử dụng thang điểm PLBN của Úc [17].Thang điểm này dựa vào các dấu hiệu thực thể người ta chia làm 5 loại Việc đánh giá PLBN dựa trên 4
phương diện cụ thể là A (đường thở), B (thở), C (tuần hoàn) và D (thần
kinh) để xếp loại mức độ nặng/nhẹ của bệnh nhân Dựa vào bảng phân loại
Trang 24——————— See
17
theo 5 mức độ này, ĐD định hình được thời gian tiếp cận các can thiệp y tế và có
hướng xử trí kịp thời tránh các tai biến hoặc tử vong không đáng có do cấp cứu
không đúng lúc hoặc chuyển những BN không trong tình trạng nặng để giảm tải
cho khoa Cấp cứu Khoá đào tạo về PLBN sẽ tập trung hướng dan DD sit dung
thang điểm phân loại này (chỉ tiết tại phụ lục 5)
Số BN được thực hiện PL đúng
-Tuổi / giới
tiên công tác - Thái độ của - G/s hỗ trợ - Áp lực từ
-Kiến thức thực hành - Kiểm tra đột oe
thực hành vê đào t xuât
PLBN trước aon
dao tao
Trang 25
1.7 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu:
1.7.1 Thông tin chung:
BV Nhi Trung ương được thành lập năm 1969 với tên gọi là Viện Bảo vệ sức
khoẻ trẻ em Năm 1997 đổi tên thành Viện nhỉ và tháng 6/ 2003, Bộ Y tế có quyết
định chính thức với tên gọi là BV Nhi TƯ Ngoài ra còn có những tên gọi không chính thức như BV Nhi — Thuy Điển, BV Olof— Palmer BV được thành lập trên cơ
sở là khoa Nhi BV Bạch Mai.Năm 1972 với cuộc chiến ác liệt của Đế quốc Mỹ, cơ
sở hạ tầng bị hư hỏng nặng Được sự giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Thuy
Điển, BV đã được khởi công xây dựng năm 1975 và bắt đầu đi vào hoạt động từ
năm 1981
Cơ cấu tổ chức: BV chia làm 3 khối (xem phụ lục 11) gồm khối hành chính, khối chuyên môn và Viện NC sức khoẻ trẻ em
1.7.2 Chức năng nhiệm vụ của bệnh viện nhỉ TW:
BV Nhi TƯ được Bộ Y tế giao nhiệm vụ là đơn vị đầu ngành của hệ thống nhỉ
khoa toàn quốc BV là trung tâm viện - trường và là tuyến điều trị cao nhất về nhỉ khoa trong cả nước BV có những chức năng chính sau:
e Tiếp nhận khám và điều trị cấp cứu cho bệnh nhân nhỉ trong cả nước, là
tuyến cao nhất điều trị cho trẻ em Trong những năm qua, Bệnh viện đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Bộ Y tế giao phó Chất lượng điều trị đã được nâng cao, nhiều kỹ thuật mới đã được áp dụng vào việc điều trị bệnh nhân Phẫu thuật nội soi
đã được áp dụng từ năm 1977, nhiều loại phẫu thuật phức tạp đã được thực hiện
như phình đại tràng, thận niệu quản đôi, thoát vị hoành, mủ màng tim, còn ống động mạch BV đã tiến hành các ca ghép thận gan, tuỷ xương và đạt được kết quả tốt Trong những năm qua, cùng VỚI SỰ tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, tỷ lệ tử
vong chung trong toàn BV đã giảm Công tác chăm sóc người bệnh ngày một tốt hơn, được bệnh nhân và gia đình bệnh nhân khen ngợi, thông qua các phiên họp hội
đồng gia đình người bệnh tại khoa, tại Bệnh viện và các thư khen trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trang 2619
e Nghiên cứu khoa học rất được chú trọng BV đã mở nhiều lớp đào tạo về
nghiên cứu cho các Bác sĩ và đội ngũ điều dưỡng Nghiên cứu và ừng dụng các kỹ thuật mới trong khám và chữa bệnh đã được thực hiện.Tổ chức các Hội nghị khoa học đành cho BS và ĐD trong nước và quốc tế hàng năm
e Đào tạo cán bộ: BV cùng với Viện nghiên cứu kết hợp với trường đại học
Y Hà Nội đào tạo sinh viên nhi khoa, BS chuyên khoa I, chuyên khoa II, ĐD chuyên khoa I, Thạc sĩ, Tiến sĩ nhi khoa BV là cơ sở thực hành của trường Đại học
Y Hà Nội, đào tạo lại cho cán bộ tuyến dưới, tham gia đào tạo các chương trình quốc gia, các chương trình, dự án phối hợp với nước ngoài Tiếp nhận đào tạo cho các thực tập sinh nước ngoài đến học tập, nghiên cứu tại Bệnh viện
e Chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật: là cơ quan đầu ngành nhi BV đã tập trung chỉ đạo ngành theo phương hướng chăm sóc sức khoẻ ban đầu và nâng cao
chất lượng chẩn đoán, điều trị Trong những năm gần đây, BV tập trung chỉ đạo
nâng cao chất lượng của hệ thống cấp cứu và phấn đấu giảm tỉ lệ tử vong sơ sinh
e Phòng bệnh: hoạt động giáo dục sức khoẻ, giáo dục kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ, phòng bệnh, phát hiện sớm các bệnh di truyền.Duy trì lịch sinh hoạt gia đình người bệnh hàng tuần để tư vấn cho người nhà bệnh nhân về chăm sóc nuôi dưỡng và cách phòng chống một số bệnh thường gặp ở trẻ em
e Quản lý bệnh viện: Quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Bệnh
viện theo qui định của Nhà nước, cụ thể là quản lý nhân lực, quản lý tài chính, tài
sản, quản lý dự án, phát triển kỹ thuật cao và chuyên sâu kết hợp với đào tạo và
nghiên cứu khoa học
« Hợp tác quốc tế: BV có quan hệ hợp tác với các tổ chức nước ngoài như
JICA, BV trẻ em hoàng gia Melburne, Hội hữu nghị ICPH Thuy Điển, tổ chức Cựu chiến binh Mỹ, tổ chức REI Hoa Kỳ
1.7.3 Thông tin chung về khoa Cấp cứu
e Chức năng, nhiệm vụ: thực hiện 7 chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện
Khoa tiếp nhận, khám và xử trí tất cả các trường hợp bệnh nặng đến thắng khoa Cấp
cứu hoặc từ khoa Khám bệnh chuyển vào, điều trị BN nặng trong giai đoạn đầu, BN
Trang 27thé may, BN trước mổ, BN theo dõi ngoại khoa, BN chưa rõ chẩn đoán và lưu lại
những BN đến BV sau 22h
e Cơ sở vật chất, TTB: Khoa Cấp cứu nằm tại tầng 1 của dãy nhà C gần cổng
BV, là cơ sở cũ của phòng khám đa khoa trước kia Diện tích nhỏ, hẹp gồm 8 phòng
bệnh và một phòng Cấp cứu mới được mở rộng, TTB phục vụ cho công tác chuyên môn đã được cung cấp tương đối nhưng chưa đầy đủ
e Nhân lực:Tổng số nhân lực của khoa gồm [3]
Theo báo cáo của khoa Cấp cứu trong vòng 5 năm từ 2005 — 2011, số lượng
BN đến khám tương đối đồng đều trong các năm (từ 22000 — 25000/ năm) Lứa tuôi
chiếm tỷ lệ cao là nhóm trẻ < 6 tuổi Nhóm bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất là hô hấp,
ngoại khoa sau đó là tiêu hoá, sơ sinh, nhiễm trùng Bệnh thuộc lứa tuổi sơ sinh chiếm 50% tỷ lệ tử vong do suy hô hấp sơ sinh, nhiễm khuẩn huyết, sơ sinh non yếu Trẻ > 1 tháng tuổi nguyên nhân tử vong chính là do nhiễm khuẩn huyết, viêm
phổi, nhiễm khuẩn thần kinh, các dị tật bâm sinh [11]
e_ Hoạt động thực hiện PLBN: khoa Cấp cứu có một bàn tiếp đón để thực hiện PLBN DD tiép đón là người tiếp nhận, phân loại và quyết định chuyển BN tới nơi
điều trị thích hợp Với chương trình đào tạo về cấp cứu nhỉ khoa, ĐD tại khoa thực
hiện PLBN dựa theo ABCD tức là đường thở, thở, tuần hoàn, thần kinh là các yếu
tố quyết định sự sống và sự rối loạn của của các chức năng này thường dẫn đến tử
Trang 2821
vong va viéc phan loai trong chuong trình này chủ yếu là nhận định BN nặng hay
không nặng, không có xếp loại BN 3 Mặc dù vẫn nói rằng các ĐD đang thực hiện
PLBN nhưng thực tế phần lớn trong số họ lại chưa được đào tạo Chính vì vậy, sai
sót trong đánh giá BN nặng vẫn xảy ra, giao tiếp của ĐD còn hạn chế dẫn đến
những thắc mắc không đáng có và việc này gây nên những hậu quả khó lường.
Trang 29CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
ø_ Đối tượng NC định lượng: tất cả Điều dưỡng khoa Cấp cứu cũng chính là nhóm học viên tham gia khoá đào tạo về PLBN
e_ Đối tượng nghiên cứu định tính: lãnh đạo Bệnh viện, BS phụ trách công tác PLBN tại khoa, ĐD khoa Cấp cứu
e_ Đối tượng loại trừ: các ĐD đang nghỉ đẻ, nghỉ ốm, đi công tác, đi học trong
thời gian thực hiện nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian thực hiện nghiên cứu và thu thập số liệu từ tháng 3 — tháng 4 năm 2013 tại khoa Cấp cứu, khoa Khám bệnh Bệnh viện Nhi Trung ương
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, đánh giá và so sánh trước sau, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính
2.4 Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu:
2.4.1 NC định lượng:
Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: chọn toàn bộ điều dưỡng đang làm việc tại khoa Cấp cứu vào thời điểm nghiên cứu, cũng là những ĐD tham dự khoá đào
tạo, tổng số 33 người đã được tiếp cận và đồng ý tham gia nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu:
Số liệu thứ cắp:thu thập các thông tin về tình hình nhân lực và hoạt động
chung của Khoa Cấp cứu và toàn bệnh viện thông qua
Báo cáo nhân lực tại phòng Tổ chức cán bộ [3]
Báo cáo công tác hoạt động chuyên môn từng năm tại phòng Kế hoạch — Tổng hợp[13]
Trang 3023
Báo cáo tổng kết hoạt động hàng năm của BV [14] [I5]
Mô hình bệnh tật tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương [I 1]
Đánh giá trước và sau khoá học:
e Đánh giá kiến thức PLBN của điều đưỡng trước đào tạo (pre-test) và sau đào tao (post-test) bằng phương pháp phat vấn Nghiên cứu viên (cũng chính là nhóm giảng viên) sử dụng cùng một bộ câu hỏi đánh giá trước và sau khoá học do
điều dưỡng tự điền (xem phụ lục 1,2 và 3) Phần này thực hiện tại lớp học
e Dánh giá kỹ năng thực hành phân loại bệnh nhân của ĐD trước/ sau khoá học được thực hiện bời nghiên cứu viên (NCV) và giám sát viên có kinh nghiệm trong PLBN bằng cách quan sát và sử dụng bảng kiểm đánh giá kỹ năng thực hành
PLBN để đánh giá kết quả PL của ĐD tại khoa Cấp cứu Mỗi điều dưỡng/học viên
thực hiện phân loại 10 bệnh nhân Phần đánh giá này được thực hiện tại khoa Cấp
cứu trước khoá học Giám sát quan sát và tham gia đánh giá rồi tích vào bảng kiểm những bước thực hiện của ĐD đúng hoặc sai rồi dựa vào bảng tiêu chuẩn phân loại
để kết luận ĐD đó thực hiện PLBN đã đúng hoặc chưa đúng Ngoài việc đánh giá
đúng mức độ phân loại, chương trình còn yêu cầu học viên phải đánh giá theo đúng thứ tự trong bảng kiểm để tránh bỏ sót triệu chứng Mỗi BN sử dụng 1 bảng kiểm đánh giá phân loại thực hành (xem phụ lục 4) Tổng cộng có 660 bệnh nhân đã được đánh giá trước đào bởi 33 điều dưỡng và 660 phiếu đánh giá đã được thu thập và phân tích Đánh giá thực hành trước khoá học được thực hiện l tuần trước khi khoá
học bắt đầu còn đánh giá thực hành sau khoá học được thực hiện sau 4 tuần khi
khoá học kết thúc
e Tài liệu đào tạo và công cụ sử dụng đánh giá kiến thức, kỹ năng thực hành được xây dựng theo tài liệu chương trình PLBN của Úc trong khuân khổ hợp tác giữa Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Nhi Hoàng gia Melbourne đã được thông qua Hội đồng khoa học của Bệnh viện
2.4.2 NC định tính:
Số liệu định tính được thu thập sau khi đánh giá định lượng nhằm mục đích trả
Trang 31lời mục tiêu nghiên cứu thứ 2 là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện
PLBN của điều dưỡng tại Khoa Cấp cứu
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện 03 cuộc PVS với 01 lãnh đạo BV kiêm lãnh đạo khoa Cấp cứu, 01 BS phụ trách công tác PLBN của khoa, 01 DD trưởng khoa Cấp cứu để tìm hiểu về thực trạng thực hiện phân loại bệnh nhân và các yếu tố liên quan tới thực hành phân loại bệnh nhân của điều dưỡng trong khoa, những thuận
lợi, khó khăn, đề xuất và giải pháp nâng cao kết quả thực hành phân loại bệnh nhân
của điều dưỡng sau đào tạo để từ đó mở rộng triển khai áp dụng trong toàn bệnh
viện Dựa vào kết quả phân tích số liệu định lượng sơ bộ, nhóm nghiên cứu lựa
chọn 2 nhóm điều đưỡng có kết quả thực hiện PLBN khác nhau, một nhóm tốt và
một nhóm chưa tốt và thực hiện 02 thảo luận nhóm với 2 nhóm này để tìm hiểu về
những yếu tố ảnh hưởng đến việc PLBN trên thực tế Lý do phân loại đúng, lý do phân loại chưa đúng, nguyên nhân, thuận lợi, khó khăn và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thực hành PLBN tại khoa cho đội ngũ DD
2.5 Công cụ thu thập số liệu:
e Phiếu đánh giá kiến thức PLBN của điều dưỡng trước và sau khóa học được
xây dựng dựa trên bộ tài liệu PLBN theo thang điểm PLBN của Úc và được thông
qua HĐKH Bệnh viện để sử dụng đánh giá trong khoá học
e Đánh giá thực hành PLBN của điều dưỡng trước/sau đào tạo: là bộ tiêu
chuẩn thực hiện PLBN được xây dựng dựa vào bộ tài liệu PLBN theo thang điểm phân loại BN của Úc và được thông qua HĐKH Bệnh viện để sử dụng đánh giá
thực hành PLBN trước khoá học
e Hướng dẫn PVS lãnh đạo BV
e Hướng dẫn PVS BS phụ trách công tác PLBN
e Hướng dẫn PVS điều dưỡng trưởng khoa
e Hướng dẫn TLN điều dưỡng.
Trang 3225
Bang 2.1 Tổng hợp qui trình thu thập số liệu, công cụ, phương pháp và địa
điểm thu thập số liệu trong NC
thức và thực kiên thức trước ĐT Quan sát Tại khoa CC, hành trước đào Bảng tiêu chuân Phỏng vấn khoa Khám
tạo quan sát, phỏng bệnh
vân thực hành
+ des
Bảng tiêu chuân khoa Khám quan sát, phỏng bệnh
x
và sự hài long kết thúc khoá Quan sát
hành sau đào tạo chuẩn quan Phỏng vấn
sát, phỏng vân
thực hành
Xem xét số liệu thứ Hướng dẫn Phỏng vấn sâu Hội trường,
Phỏng vấn sâu, thảo sâu, thảo luận nhóm
Trang 33
2.6 Tổ chức thu thập số liệu:
2.6.1 Đánh giá kiến thức trước và sau đào tạo (trước/sau khoá học)
Trước khi bắt đầu khoá học và ngay sau khi kết thúc khoá học, các nghiên cứu
viên được giới thiệu về mục tiêu, phương pháp NC và giải thích cách sử dụng bộ
câu hỏi phát vấn Sau đó nhóm NCV phát phiếu cho tất cả các điều dưỡng và yêu
cầu hoàn thành trong 30 phút (phát vấn) trước khi giảng dạy và ngay sau khi khoá học kết thúc Khi ĐTNC nộp phiếu đã điền xong, nhóm NC kiểm tra xem các thông
tin và yêu cầu bổ sung đầy đủ Phần đánh giá này được thực hiện trên lớp học Điều
tra viên là 4 người trong nhóm giảng viên của khoá học
2.6.2 Đánh giá thực hành trước và sau đào tạo 4 tuân:
ø Đánh giá thực hành PLBN trước khoá học: trước khoá học 1 tuần, mỗi ĐD được thực hiện phân loại 10 BN tại khoa Cấp cứu, khoa Khám bệnh (số BN trung
bình ĐD phải theo dõi và chăm sóc) Giám sát viên quan sát và thảo luận với ĐD
trong từng ca bệnh về mức độ PLBN, những dấu hiệu, triệu chứng để xếp loại và
đánh dấu vào bảng kiểm theo hướng dẫn Giám sát viên đánh giá các bước thực hiện cỉa ĐD đúng hoặc sai Khi xếp loại BN, ĐD phải đánh giá BN theo thứ tự
ABCD tức là đánh giá từ đường thở, thở, tuần hoàn, thần kinh (các dấu hiệu sống)
Trong khuôn khổ của chương trình đào tạo cũng yêu cầu học viên phải tuân thủ qui trình đánh giá theo thứ tự ưu tiên khi thực hiện PLBN Thời gian đánh giá các ĐD được thực hiện cả trong giờ hành chính và giờ trực tại Khoa Cấp cứu và Khoa
Khám bệnh
e Đánh giá thực hành phân loại bệnh nhân sau đào tạo: được thực hiện sau 4
tuần khi kết thúc khoá học với quy trình đánh giá như trước khoá học Thời gian
thực hiện là 1 tuần
e Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành đạt/ không đạt (xem phụ lục 1,2,4)
Trang 3427
2.6.3 Thu thập số liệu định tính về kết quả đào tạo và các yếu tố liên quan đến
thực hành PLBN của điều dưỡng sau đào tạo
Sau kết quả thu được từ kiến thức và thực hành phân loại của ĐD, NCV chia
ĐD đại diện thành 2 nhóm, nhóm PLBN tốt và nhóm thực hiện chưa tốt Với 2
nhóm này NCV tổ chức 2 cuộc TLN theo tuổi, trình độ, kinh nghiệm, thời gian làm
việc để tìm hiểu các yếu tố thuận lợi, khó khăn, lý do thực hiện tốt hoặc chưa tốt
TLN cũng đưa ra những kiến nghị, đề xuất để cải thiện việc PLBN của ĐD tại khoa
03 cuộc PVS được NCV thực hiện với lãnh đạo BV kiêm lãnh đạo khoa, BS phụ
trách công tác đào tạo và ĐD trưởng khoa Cấp cứu về thực trạng PLBN hiện nay, kiến thức và kỹ năng thực hành của ĐD và những yếu tố ảnh hưởng đến công việc PLBN ctia DD
2.7 Xác định các chỉ số, biến số nghiên cứu:
1 | Tudi Số tuổi của ĐTNC tính đến | Rời rạc | Phat van
thời điểm nghiên cứu
phân
3 |Trình độ chuyên | Bằng cấp chuyên môn cao | Phân Phát vấn
bậc
4 | Thời gian công tác | Thời gian tính từ ngày nhận | Liên tục | Phát vấn tại BV quyết định công tác tại BV
Nhi TƯ của ĐTNC
5 | Thời gian công tác | Thời gian tính từ ngày nhận | Liên tục | Phát vấn
Trang 35
tại khoa Câp cứu quyết định công tác tại khoa
Cấp cứu, BV Nhi TƯ của
ĐTNC
II | Kiến thức về PLBN
7 |Kiến thức về | Là bộ câu hỏi liên quan đến | Định Phát vấn
PLBN trước/sau | những dấu hiệu, triệu chứng | danh
đào tạo thực thể của BN để xếp loại
II | Đánh giá về thực hành PLBN
8 |Thực hành về | Là bảng tiêu chuẩn PLBN so | Định Quan sát
PLBN sánh với BN cụ thể để xếp loại | danh Phéng van
9 Xếp loại theo 5 mức | Lựa chọn các dấu hiệu, triệu | Định Quan sát
IV | Đánh giá về khoá học và hiệu quả của đào tạo PLBN
12 | Đánh giá về khoá | Ý kiến của ĐTNC về tổ chức, | Định Phát vấn
đào tạo thời gian và chương trình của | danh
Trang 3629
132 | Ứng dụng của khoá Ý kiến của ĐTNC về lợi ích | Định Phát vấn
học đối với công | mà khoá học đem lại cho đối | danh
hàng ngày
14 | Khả năng ứng dụng | Là khả năng ứng dụng kiến | Định Phát vấn
phù hợp với thực tế | thức, kỹ năng thực hành phù | danh
hợp với điều kiện, hoàn cảnh
nơi thực hiện công việc
15 | Kiến nghị về khoá | ĐTNC đưa ra ý kiến về khoá | Định Phát vấn
chương trình, đánh giá
16 |Kiến nghị để thực | Là những đề xuất của ĐTNC | Định Phát vấn
hiện tốt PLBN về các giải pháp hỗ trợ cho qui | danh
trình thực hiện PLBN có hiệu
quả
V_ | Các yếu tố ảnh hưởng thực hành PLBN
17 | Cơ sở vật chất, tổ | Là hạ tầng cơ sở, sự sắp xếp, | Định Phát vấn
chức khoa phòng tổ chức khoa phòng danh
18 | Trang thiết bị Số TTB phục vụ cho thực hiện | Dinh Phát vấn
19 | Tinh hình nhân lực ĐD Số lượng DD hiện có Rời rạc Số thứ cấp liệu
Trang 37
20 |Phân công công | ĐTNC được thực hiện công | Định Phát vấn
việc việc đúng với trình độ chuyên | danh
môn và khả năng thực hiện
21 | Áp lực công việc Tình trạng quá nhiều công | Định Phát vấn
việc phải cùng thực hiện danh
22 | Hệ thống giám sát | Hoạt động của đội ngũ giám | Định Phát vấn
2.8 Phương pháp phân tích số liệu:
Số liệu định lượng thu được sau khi làm sạch được nhập bằng phần mềm Epi
Data 3.1 và được xử lý, phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
Thông tin định tính: Băng ghỉ âm được gỡ băng và thông tin định tính được
phân tích, tổng hợp theo chủ đề nhằm bổ sung và giải thích cho kết quả định lượng
Một số ý kiến được trích din minh hoa cho két qua NC
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công
cộng trước khi tiến hành thu thập số liệu
Nghiên cứu đã sử dụng một chương trình tập huấn nhằm cung cấp kiến thức,
thực hành và giao tiếp trong PLBN cho các đối tượng tham gia nghiên cứu ĐIỨNC
đã được giải thích rõ mục đích, nội dung chương trình một cách rõ ràng Nghiên cứu có tác động trực tiếp và nâng cao kiến thức cả lý thuyết và thực hành cho ĐTNG Số ĐTNC đều đồng ý tự nguyện tham gia Danh tính người được phỏng van không bị tiết lộ, chỉ nghiên cứu viên được phép sử dụng và phổ biến thông tin vào
mục đích NC Trong quá trình thu thập số liệu, không có đối tượng nào từ chối trả
Trang 3831
lời hoặc ngừng phỏng vấn
2.10 Hạn chế của đề NC, sai số và biện pháp khắc phục:
2.10.1 Hạn chế của NC:
e Cỡ mẫu nhỏ, hạn chế về phạm vi, kết quả NC chưa mang tính đại diện
e Kiến thức, thực hành của ĐTNC có thể khác so với thực tế do sai số nhớ lại
hoặc sai số do có mặt ĐTV Điều này cũng tác động đến kết quả và làm ảnh
hưởng đến chất lượng thông tin thu thập được
© Chưa có nhiều tài liệu tham khảo, nhiều NC tương tự nên phần đánh giá kết
quả, so sánh hoặc bàn luận khi phân tích sẽ bị hạn chế
2.10.2 Sai s6 cia NC:
© DTNC tra loi khong ding sy that, trả lời lấy lệ hoặc hiểu sai câu hỏi
Sai số do nhớ lại trong quá trình thu thập thông tin
Sai số do có mặt người quan sát
e Sai số trong quá trình nhập dữ liệu
2.10.3 Biện pháp khắc phục sai số:
øe Giải thích rõ mục đích, các bước cần phải thực hiện với ĐTNC
e Xây dựng bộ công cụ dễ hiểu, dễ làm
e_ Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi thực hiện, chỉnh sửa cho phù hợp
e Giám sát chặt chẽ quá trình thu thập số liệu.
Trang 39a2
CHUONG II KET QUA NGHIEN CUU
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Cấp cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương, có
tổng số 33 điều dưỡng tham gia khoá học đào tạo về phân loại bệnh nhân, tất cả đều
đủ tiêu chuẩn và tham gia nghiên cứu Tổng số 66 phiếu đánh giá kiến thức trước và
sau khoá học cùng với 660 phiếu đánh giá thực hành phân loại bệnh nhân của ĐD (cũng chính là nhóm học viên của khoá học) trước khoá đào tạo và sau khi đào tạo 4
tuần với sự giám sát hỗ trợ của nhóm hướng dẫn viên
3.1 Đặc điểm chung về ĐTNC:
Bảng 3.1 Thông tin nhân khẩu học của ĐTNC
là trẻ, chưa được đào tạo một cách cơ bản, đặc biệt là khi giao tiếp với BN (nam,
BS khoa Cấp cứu)
Tỷ lệ giới của đối tượng trong NC có sự khác biệt giữa nam và nữ cũng phù hợp với tính chất công việc của nghề ĐD.Trong tổng số 33 điều dưỡng tham gia khoá học, chỉ có 1 DD 1a nam
Trang 40Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 cho thấy trong tổng số 33 ĐD thuộc đối tượng NC, DD trung học
chiếm tỉ lệ cao hơn, xắp xỉ 64% Điều dưỡng đại học và cao đẳng chiếm 36%
Bảng 3.3 Thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu
Thời gian làm việc tại khoa
Thời gian làm việc tại BV Le
Bảng 3.3 cho kết quả về thâm niên công tác của đối tượng NC Thời gian làm
việc tại Bệnh viện của các đối tượng nghiên cứu chưa nhiều, đông nhất là nhóm
điều dưỡng làm việc tại BV dưới 5 năm chiếm tỉ lệ xấp xi 70%, nhóm làm việc trên
5 năm chiếm 30.,%
Thời gian làm việc tại khoa Cấp cứu cũng tương đương thời gian làm việc tại
BV, như vậy có thể thấy hau hét nhém DD đều làm việc tại khoa Cấp cứu ngay từ
khi về làm việc tại BV, chỉ có một số rất ít làm việc tại các khoa khác sau đó mới chuyển về khoa Cấp cứu tiếp tục làm việc Tuy nhiên, có tới 9 trường hợp mới về làm việc tại Khoa chưa được | nam