1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013

139 529 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 31,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tính chất là tuyến y tế cơ sở, nhưng các chất thải từ các khoa, phòng khám, trạm y tế cũng mang tính chất nguy hại như chất thải từ các bệnh viện.. Thực trạng quản lý chất thải y tế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TE CONG CONG

PHAN THANH LAM

THUC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHÁT THÁI RẮN Y TE CUA TRUNG TAM Y TE HUYEN GIA LAM, NAM 2013

LUAN VAN THAC SY QUAN LY BENH VIEN

MA SO CHUYEN NGANH: 60.72.07.01

Trang 2

Trong quá trình hình thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình

của các thây cô giáo, đông nghiệp, bạn bè và gia đình

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn đến Cô PGS.TS Trần Thị

Ngoc Lan va Ti hay TS La Ngoc Quang đã nhiệt tình hướng dẫn, chia sẻ thông tin để tôi hoàn thành luận văn này, đóng góp nhiều ý tưởng cho nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thay giáo, cô giáo, các phòng ban trường Đại học Y tế công cộng đã góp nhiều công sức trong đào tạo, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm

cùng toàn thể nhân viên trong Trung tâm đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè lớp Cao học Quản lý bệnh viện 4 đã chia sẻ kinh nghiệm học tập, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt 2 năm qua

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình tôi, những người

đã cùng chia sẻ những khó khăn vất vả, những buôn vui, là nguon động viên, nâng

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Hà Nội, ngày 23 tháng 9 năm 2013

Phan Thanh Lam

Trang 3

BOAT VAN DB cosessssssssscecsesserernsseveoceeeernnesiiithsidavnsebsibatnsigeatsesenesorestsenenernmnananto 1

VIUC TIỂU S.551020/2182201620000010008000000 00iriagruEmemmmlUBIT 3

1.1 Thong tin co ban vé chat thai y t6 .sssssssesssessseesseeeseennenneenntensenseenseesnsts 4

1.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới - ++.eereereerrere 11

1.3 Tình hình quản lý chất thải y tế tại Việt Nam -reeerreeeree 13

1.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải y tẾ -esseernseerieerree 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu -22222cvvvvrrrrrtrtrtrrrrtitiiririiiriiriiiiirrrrrrrrrrrrrrree 26

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu -22+csstreeetrirririrrrrirrrrrre 26

9.3: Thiết kế nghiên kẾu 2211616401010 0.01000300101000 80010101082240.040.1C 26

3.4 MẫU và phương pháp chọn THÂN s 46ssssccasseneniaiiniiieirrekereiieeeiiarrre 26

2.5 Phương pháp thu thập SO LGU sssisssssssessarsecsssvssasssavssscsesecsseeeenenessnnssasecescsonsnnnonssoesseenden 27

2.6 Phương pháp phân tích số liệu -+ -2+++cetrrrertrrettrttrrrttrriirrree 29

27 Các biến số nghiên dử -«ccsosnirrorrriiiEH010100011600006100001038801 29

2.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu - -+©++eereerrerrrtrtrtrrrrrirerrrrie 38

Chương 3 KẾT QUÁ NGHIÊN CỨPU . -© ©©5ceeereeeeeeerererrere 39

3.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám

đa khoa khu vực trạm y tế xã, thị trấn thuộc Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm 39

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa,

phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, thị trấn thuộc TTYT huyện Gia Lâm 67

4.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại TTYT huyện Gia Lâm 79

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quán lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm

Y tế huyện Gia Lâm -2+cs2r+eS22tteEtrrErtrrrErrritrrrrtrrrrrrrirrrirrrrrrrrrre 94 4.3 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu -ccccccccrrrrrreeeeerrrrrrrrrrrree 96

Trang 4

1 Thực trạng công tác quan ly chat thai ran y tế tại Trung tâm y tế huyện Gia Lâm 98

2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tẾ - .eeeee 99 KHUYẾN NGHỊ, -22s++e2tt.tttrrttttrE 1.0000000000m0mrrmrrrrt 100 1 Sở Y tế Hà Nội ss+eettreeertrretrrrrtrrriiiirriiiirrirrrrirrirrrrrirrrrirrriir 100 2 Ủy ban nhân dân Huyện Gia Lâm -. -s+retrrnthtertertetrrerrererrrr 100 3 Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn -eererrerrrrttrtrrrrrererrrrrrrnr 100 4 Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm -+sstrretrrrtrrtrrtrtrrrrrrrrrerrier 100 5 Các khoa, phòng khám, trạm y $Bivcccavcuccnvencaronnenennnnntuacnsnnsisiicigeeusbeasussnaceesrernes suber 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO -++sz+s2tetreetrretrterrtrrtrrtrrtrrtrrrr 101 PHỤ LỤC -2+serttereEtE.t 0.1 011.1.mimrmrrriritriitriiri 106 Phụ lục 1: Khung lý thuyẾT - cceerrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrririiiiriiiirrrrrrrriiiiiiiiiriiirir 106 Phụ lục 2: Bảng kiểm đánh giá thực trạng quản lý CTR T -eerreerree 107 Phụ lục 3: Phiếu điều tra kiến thức NVYT về quản lý CTRYT -+- 114

Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo TTYTT -eccesseeeessserirrrrrrie 121 Phụ lục 5: Hướng dẫn phỏng vấn sâu điều dưỡng trưởng TTYT - 123

Phụ lục 6: Hướng dẫn phỏng vấn sâu trưởng phòng khám đa khoa khu vực -‹ 125

Phụ lục 7: Hướng dẫn phỏng vấn sâu điều dưỡng trưởng PKĐKKV 126

Phụ lục 8: Hướng dẫn phỏng vấn sâu hộ lý phòng khám đa khoa khu vực 127

Phụ lục 9: Hướng dẫn phỏng vấn sâu trưởng trạm y ` 128 Phụ lục 10: Hướng dẫn phỏng vấn sâu điều đưỡng hộ sinh trạm y tẾ - 129

Phu luc 11: Hướng dẫn thảo luận nhóm ĐDT các khoa, PKĐKKV, TYT 130

Phụ lục 12: Bảng tổng hợp cỡ mẫu quan sát và phát vấn NVYT - 131

Trang 5

DANH MUC CAC BANG

Bang 3.1 Thong tin chung về đối tượng phỏng van

Bảng 3.2 Kiến thức về phân loại chất thải rắn YB soiskiseeeeeseeecsesreeoreoSTEDRĐCU Bảng 3.3 Kiến thức về thu gom chất thải tắn y lỄ .« e.c.«-ose.seeneaL000016/02100 42 Bảng 3.4 Kiến thức về vận chuyển chất thai tlu ÿ Đ se200.6120 0105068040” 43 Bảng 3.5 Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y Tố sa ae 44 Bảng 3.6 Kiến thức về xử lý chất thải rắn y tẾ rceerrreerreerrrrrrre 45 Bảng 3.7 Liên quan giữa kiến thức phân loại chất thải rắn y tế với các đặc điểm

cá nhân của đối tượng nghiên cứu -+2+++eee++tttttttrrttrtttttrtiirirrirrre 47

Bang 3.8 Liên quan giữa kiến thức vận chuyển chất thải rắn y tế với các đặc

điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu - -+++++cceeerrrertrtrrrrrtrrrtrre 49

Bảng 3.9 Liên quan giữa kiến thức lưu giữ chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá

nhân của đối tượng nghiên cứu -522++++rtrtttrrrrrrrtrtrttrrirrirrrrrrrrrrrtre 50 Bảng 3.10 Liên quan giữa kiến thức xử lý chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá

nhân của đối tượng nghiên cứu -++++e++++tttrrrrttttrrrrtrrrrttrtttrrrrrre 51

Bang 3.11 Dung cu, bao bi dung, thu gom, vận chuyền -xsrrrrrrtrre 52

Bang 3.12 Phân loại chất thải rắn y tẾ -+-rrrrrrttrttrrrrererrrrrrriee 57 Bảng 3.13 Thu gom chất thải rắn y tẾ eeerrrrrrrrrrrtttrrrrrrrrrerrrrrre 60

Bang 3.14 Vận chuyển chất thải rắn y tẾ ceetrrrrrrrrrrrrrrerrrrree 61

Bảng 3.15 Lưu giữ chất thải rắn y tẾ -ccrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrtrrrrrrree 63

Bảng 3.16 Xử lý chất thải rắn y tẾ ccceeeerreerrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrtrrrrr 65

Bảng 3.17 Thực trạng chung về quản lý chất thải rắn y Ô 67

Trang 6

: Điều dưỡng trưởng

: Đối tượng nghiên cứu

: Nhân viên y tế

: Phòng khám đa khoa khu vực

: Phỏng vấn sâu : Thảo luận nhóm

: Trạm y tế

: Trung tâm y tế : Truyền thông giáo dục sức khỏe

: Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 7

Chất thải y tế (CTYT) bao gồm chất thải nguy hại và chất thải thông thường, phát

sinh trong các cơ sở y tế từ các hoạt động khám chữa bệnh phòng bệnh, đào tạo, nghiên

cứu và sản xuất thuốc Chắt thải y tế, đặc biệt là chất thải chứa mầm bệnh lây nhiễm nếu

không được xử lý đúng phương pháp sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Ngành y tế đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường nhằm hạn

chế ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khỏe cho nhân viên y tế và cộng đồng Tuy nhiên

công tác quản lý chất thải y tế hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức

Với tính chất là tuyến y tế cơ sở, nhưng các chất thải từ các khoa, phòng

khám, trạm y tế cũng mang tính chất nguy hại như chất thải từ các bệnh viện Hiện

nay, chưa có nhiều nghiên cứu trên quy mô toàn quốc cũng như tại Thành phố Hà

Nội về tình hình quản lý chất thải y tế tại tuyến y tế cơ sở Để trả lời cho câu hỏi

thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám đa khoa khu vực (PKĐKKV') trạm y tế (TYT) thuộc Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Gia Lâm như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế của

TTYT huyện Gia Lâm? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

Nghiên cứu tiến hành từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2013 trên các đối tượng là

hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải rắn y tế; Chất thải rắn y tế

(CTRYT) tại các khoa, phòng khám trạm y tế: Các cán bộ y tế trực tiếp tham gia công tác quản lý chất thải rắn y tế tại TTYT huyện Gia Lâm

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý chất thải rắn y tế chưa cao (29%) Kiến thức về phân loại đạt tỷ lệ thấp nhất (47.6%) kiến thức về thu gom, vận chuyền, lưu giữ và xử lý chất thải đều đạt tỷ lệ

khá cao (trên 80%)

Dụng cụ thu gom chất thải rắn y tế đủ nhưng chưa đúng theo quy định của

Bộ Y tế (BYT) Các chất thải rắn y tế đều được phân loại ngay tại nguồn phát sinh

thành 3 nhóm là: chất thải lây nhiễm chất thải thông thường và chất thải hóa học

nguy hại Tỷ lệ thu gom, vận chuyên chất thải đạt tiêu chuẩn qui định là 59% và

Trang 8

49.2% Tắt cả các đơn vị đều có khu vực lưu giữ riêng chất thải nhưng thời gian lưu

giữ tại nơi tập trung dài, khu lưu giữ không đạt tiêu chuẩn Xử lý, tiêu hủy các chất

thải chung đạt 59.1%, xử lý chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải sắc nhọn

và chất thải thông thường thực hiện tốt

Các yếu tố có lợi tác động đến công tác quản lý chất thải rắn y tế là: có sự chỉ

đạo của Sở Y tế Hà Nội; Hướng dẫn cụ thê của TTYT Gia Lâm; Sự ủng hộ và quan

tâm của các cấp chính quyền; Phương tiện, dụng cụ phục vụ cho công tác quản lý

CTRYT được đầu tư Tuy nhiên, cũng còn nhiều khó khăn như cơ sở hạ tang; Kinh

phí; Nguồn nhân lực: Ý thức của nhân viên y tế; Chế độ chính sách

Khuyến nghị cơ bản của nghiên cứu là: Công tác quản lý chất thải y tế cần có các hướng dẫn cụ thẻ và phù hợp với mô hình hoạt động của tuyến y tế cơ sở Bỗ

sung các phương tiện dụng cụ đạt tiêu chuẩn Cần có thiết kế, quy hoạch khu vực lưu giữ và xử lý chất thải y tế khi xây dựng, cải tạo các phòng khám và các trạm y

tế Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, kiểm tra, giám sát Tăng nguồn kinh phí cho công tác quản lý chất thải y tế

Trang 9

chữa bệnh, dự phòng sản xuất thuốc và sinh phẩm y tế Nhiệm vụ quan trọng của ngành y

tế là chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân Tuy nhiên trong quá trình hoạt

động, các cơ sở y tế đã thải ra những chất thải có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường và lan truyền bệnh tật tới các vùng xung quanh, đặc biệt là chất thải y tế nguy hại Theo Tổ chức

Y tế Thế giới, lượng chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 20% tổng lượng chất thải phát

sinh từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe, trong đó có khoảng 10% chất thải nhiễm khuân

và 5% chất thải độc hại như chất phóng xa, chất gây độc tế bào và các hóa chất độc hại

khác [47] [50]

Chất thải y tế nếu không được xử lý và quản lý tốt sẽ trở thành nguồn lây nhiễm bệnh cho nhân viên y tế (NVYT), cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Nhân

viên y tế, bệnh nhân, người xử lý chất thải, người nhặt rác và người dân trực tiếp tiếp xúc

với y tế có nhiều nguy cơ rủi ro từ các chất thải y tế Chất thải y tế sắc nhọn được coi là rất nguy hiểm vì nó gây tồn thương kép như vừa gây tổn thương lại vừa có khả năng lây

truyền các bệnh truyền nhiễm Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy một người bị chắn thương từ một kim tiêm đã sử dụng trên một bệnh nhân có nguy cơ bị lây nhiễm HBV,

HCV và HIV tương ứng là 30%; 1,8% và 0.3% [50] Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước

tính trong năm 2000 trên toàn Thế giới có khoảng 21 triệu ca nhiễm virus viêm gan B, 2

triệu ca nhiễm virus viêm gan C và 260.000 ca nhiễm HIV do tiêm chích kim tiêm bản Nhiều trường hợp có thể đã được tránh khỏi nếu bơm kim tiêm được thải bỏ một cách an

toàn [51] Vì vậy quản lý chất thải y tế đang là mối quan tâm không chỉ riêng ngành y tế

mà còn là mối quan tâm chung của toàn xã hội

Kết quả đánh giá của Tô chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002 tại 22 nước đang

phát triển cho thấy: tỷ lệ các cơ sở y tế không sử dụng các phương pháp thích hợp xử lý

chất thải khoảng từ 18% đến 64% [49]

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường, chỉ có khoảng 50% các

bệnh viện thực hiện phân loại thu gom chat thải y tế đúng Quy chế Quản lý chất thải y tế

[9] Hiện có khoảng 44% bệnh viện có hệ thống xứ lý chất thải y tế trong đó có 76,5%

bệnh viện trung ương; 53% bệnh viện tuyến tỉnh, 37% bệnh viện tuyến huyện Tuy vậy, hệ

Trang 10

hợp đồng với bệnh viện trên địa bàn để xử lý Chất thải rắn y tế tại tuyến xã chưa được

quan tâm và thực hiện, hau hết các trạm y tế xã chưa xử lý chất thải y tế trước khi xả ra môi trường [9]

Công tác quản lý chất thải rắn y tế nhằm bảo đảm vệ sinh môi trường bệnh

viện, nếu thực hiện tốt sẽ đạt được những kết quả quan trọng như: Môi trường bệnh

viện sạch đẹp mang lại những an tượng ban đầu tốt đẹp cho mọi người đến thăm và

thể hiện nếp sống văn hóa, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý bệnh viện

Làm tốt công tác quản lý chất thải y tế tạo ra môi trường thuận lợi giúp người bệnh

chóng bình phục và được thoải mái khi nằm viện Mặt khác, quản lý chất thải rắn y tế tốt

sẽ đảm bảo an toàn lao động nghề nghiệp cho nhân viên trong bệnh viện

Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm là tuyến y tế cơ sở có nhiệm vụ chính là phòng

chống dịch bệnh, thực hiện các chương trình y tế, cấp cứu và khám chữa bệnh ban đầu

Trong quá trình hoạt động, mỗi năm thải ra trên 6.000 kg chất thải lây nhiễm và nguy hại

hại [37][39] Cũng như nhiều trung tâm y tế tuyến huyện, cơ sở vật chất tại các phòng

khám các trạm y tế mặc dù được xây mới, cải tạo, sửa chữa nhưng hệ thống lưu giữ, xử lý chất thải y tế đều chưa được quy hoạch, thiết kế Kinh phí hoạt động nói chung và kinh phí

cho quản lý chất thải y tế nói riêng còn hạn chế Đề trả lời cho câu hỏi thực trạng quản lý

chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám, trạm y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải rắn y tế? Nhằm góp phần giúp lãnh đạo và chính quyền địa phương nắm rõ về thực trạng tình hình,

đưa ra những giải pháp phù hợp để công tác quản lý chất thải y tế được thực hiện tốt

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y té của

Trung tâm Y tễ huyện Gia Lâm, năm 2013”.

Trang 11

Muc tiéu cu thé

La Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa,

phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, thị trấn thuộc Trung tâm Y

tế huyện Gia Lâm, năm 2013

2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y té

tại các khoa, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, thị trần thuộc

Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013.

Trang 12

1.1 Thông tin cơ bản về chất thải y tế

1.1.1 Một số khái niệm

Chất thải: Là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,

dich vu, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [28]

Chất thải y tế: Là vật chất 6 thé rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao

gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [7]

Chất thải y tế nguy hại: Là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người

và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nỗ, dễ ăn mòn hoặc

có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [7]

Chất thải thông thường: Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học

nguy hại phóng xạ dễ cháy, nỗ [7]

Quản lý chất thải y tế: Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu

gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và

kiểm tra, giám sát việc thực hiện [7]

Thu gom chất thải tại nơi phát sinh: Là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và

lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế [7]

Vận chuyển chất thải: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi

xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy [7]

Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ

lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy

Xử lý và tiêu hủy chất thải: Là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm lam mat

khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường [7]

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

1.1.2.1 Phân loại theo Tổ chức Y tế Thế giới

Chat thải y tế được phân thành 8 loại [7]: Chất thải nhiễm trùng, chất thải sắc nhọn,

thuốc thải loại, chất thải có tính độc với tế bào, hóa chát, chất thải chứa kim loại nặng độc,

các bình chứa khí nén, chất phóng xạ

Trang 13

hóa học nguy hại chất thải phóng xạ bình chứa áp suất và chất thải thông thường Tuy

không phân thành 8 loại như WHO nhưng CTYT cũng đã bao gồm cả 8 loại trên [7]

1.1.3 Thành phần và khối lượng chất thải y tế

1.1.3.1 Thành phần chất thải y tế

Thành phần CTYT phát sinh từ các hoạt động chuyên môn của các cơ sở y tế rất đa dạng, phụ thuộc vào mô hình hoạt động, chức năng chuyên môn, quy mô hoạt động của

cơ sở y tế Các chất thải phát sinh từ các hoạt động y tế như [32]:

- Chất thải khoa điều trị: Bộ phận thay bông băng gồm gạc, bông băng dính máu

mủ, tổ chức hoại tử đã cắt lọc Bộ phận tiêm gồm kim tiêm, bơm tiêm, ống thuốc, thuốc thừa Ngoài ra còn có các loại dịch tiết, bệnh phẩm, túi đựng

- Chat thải phòng mổ: bông gạc nhiễm khuẩn, mủ, tổ chức hoại tử, các phần cắt bỏ của cơ thể, máu, dịch, thuốc, hóa chất, kim tiêm, bơm tiêm

- Chất thải phòng khám: bệnh phẩm, mủ, các tổ chức hoại tử, bông băng, gạc

nhiễm khuẩn, dụng cụ, nẹp cố định, quần áo nhiễm khuẩn

- Chat thai khoa xét nghiệm huyết học: môi trường, máu, hóa chất, chai lọ, kim

tiêm

- Chất thải khoa xét nghiệm vi sinh, hóa sinh: bệnh phẩm, phân, nước tiểu, máu,

mủ, đờm, hóa chất, môi trường nuôi cấy

- Chất thải phòng thí nghiệm: các xác động vật, các bộ phận cắt bỏ của động vật

các chất thải của quá trình sản xuất vắc xin

~ Chất thải sinh hoạt từ bệnh nhân, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân: đồ ăn thức uống, vỏ thuốc, giấy loại, quần áo bản

Thành phần chất thải y tế rất đa dạng và phức tạp Các khảo sát cho thấy thành

phần của chất thải y tế bao gồm một số loại chính: giấy các loại (3%); Kim loại, vỏ hộp

(0.7%); Thủy tỉnh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm (3.2%); Bông băng, bột bó gãy

xương (8,8%); Chai, túi nhựa các loại (10.1%); Bệnh phẩm (0,6%); Rác hữu cơ (52.57%):

Đất đá và các vật rắn khác (21,03%) [16].

Trang 14

khoảng 30% [42]

Tại 172 bệnh viện của 5 thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí

Minh, chỉ có 0,38% là chất thải phóng xạ: 18,39% chát thải lây nhiễm; 2,67% chất thai

nguy hại và 78,6% là chất thải thông thường [8]

Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, chất thải y tế là 26,79%, trong đó chất thải sắc

nhọn là 72,4%, chất thải hóa học là 0,61% [35]

1.1.3.2 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh

Theo WHO, nguồn CTYT chính là các bệnh viện và các cơ sở khám chữa

bệnh; Các trung tâm nghiên cứu, thí nghiệm y khoa; Các trung tâm giải phẫu tir thi, nhà xác Tại những nước có thu nhập cao, bình quân cứ mỗi giường bệnh sẽ thải ra 0,5 kg chất thải y tế nguy hại mỗi ngày, ở những nước có thu nhập thấp thì số lượng

đó là 0,2 kg [51]

Chất thải y tế phát sinh tại các cơ sở y tế thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa,

phụ thuộc các yếu tố: cơ cầu bệnh tật, dịch bệnh quy mô bệnh viện tỷ lệ bệnh nhân nội và

ngoại trú, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm

sóc, số lượng người nhà đến thăm bệnh nhân [21]

Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam khảo sát, đánh giá hiện

trạng quản lý chất thải của bệnh viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn

phát sinh tại các tuyến bệnh viện như sau [21]:

- Bệnh viện tuyến Trung ương:

o_ Chất thải y tế: 0.97 kg/giường bệnh/ngày

o_ Chất thải y tế nguy hại: 0,16 kg/giường bệnh/ngày

- Bệnh viện tuyến tỉnh:

o Chit thai y tế: 0,88 kg/giường bệnh/ngày

o_ Chất thải y tế nguy hại: 0,14 kg/giường bệnh/ngày

- Bệnh viện tuyến huyện:

o Chat thai y tế: 0.73 kg/giường bệnh/ngày

o Chit thai y tế nguy hại: 0,11 kg/giường bệnh/ngày.

Trang 15

tắn/ngày trong đó có 40.5 tắn là CTRYT nguy hại Ước tính số lượng CTRYT năm 2015

là 600 tắn/ngày và năm 2020 là khoảng trên 800 tan/ngay

Các bệnh viện có quy mô càng lớn thì lượng CTYT phát sinh càng nhiều và tỷ lệ các CTYT nguy hại càng cao

Đối với các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế: Tổng lượng

CTRYT phat sinh trong 1 ngày là 31.685 kg, lượng CTRYT nguy hại là 5.122 kg Ước

tính đến năm 2015 sẽ là 43.725 — 48.160 kg/ngày, trong đó khoảng 7 — 7,8 tắn là CTRYT

nguy hai [17]

Đối với hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc sở y tế: Tổng lượng chất thải thông thường phát sinh trong 1 ngày là 104.227 kg Tổng lượng chất thải

lây nhiễm cần được xử lý trong 1 ngày là 24.776 kg [L7]

Đối với các cơ sở y tế dự phòng trên cả nước: Tổng lượng chất thải rắn trung bình trong một ngày tại các TTYT dự phòng tuyến tỉnh khoảng 9.47kg/ngày, TTYT dự phòng tuyến quận huyện khoảng 16.42 kg/ngày [1]

Đấi với các cơ sở sản xuất thuốc ở Việt Nam: Các cơ sở sản xuất thuốc có các loại chất thải khác nhau như: bã dược liệu, chất thải chứa hoạt chất kháng sinh betalactam Số lượng ước tính khác nhau Các cơ sở này thường không có số liệu

thống kê số lượng chất thái rắn [14]

1.1.4 Tác động của chất thải y tế đối với sức khỏe

Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại chất thải rắn khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại cần thận trước

khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng ké [5]

CTYT được loại bỏ khỏi cơ sở y tế theo nhiều cách, chất thải rắn thông thường

được đem chôn lấp, thiêu đốt hoặc đỗ ra các bãi rác chung Các chất thải này nếu không được quản lý, xử lý tốt sẽ tác động trực tiếp và gây ảnh hưởng đến cộng đồng Ngoài ra,

còn gây những tác động khác như: gây mùi xú uế khó chịu, nhiều ruồi muỗi côn trùng, mất mỹ quan đô thị [11] Tất cả các cá nhân tiếp xúc với CTYT nguy hại là những

người có nguy cơ tiềm tàng, gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, người ở ngoài

Trang 16

Theo WHO, CTYT có chứa các vi sinh vật có khả năng gây hại, chúng có thể gây nhiễm cho các bệnh nhân trong bệnh viện, nhân viên y tế và cộng đồng Chất thải và các sản phẩm của nó có thể gây ra những tồn thương: Bỏng do phóng

xạ, vết thương do vật sắc nhọn, ngộ độc và ô nhiễm do thải bỏ dược phẩm [50] 1.1.4.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn

Trong thành phần CTYT có thể chứa đựng một lượng lớn tác nhân vi sinh vat gây bệnh truyền nhiễm Các tác nhân gây bệnh có thể thâm nhập vào cơ thê con người thông qua các cách thức như sau: qua da, niêm mạc, đường hô hấp, đường tiêu hóa

Đối với những bệnh nguy hiểm do virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc

viêm gan C, các nhân viên y tế đặc biệt là các điều dưỡng là những đối tượng có nguy cơ nhiễm cao nhất, do họ phải thường xuyên tiếp xúc với những chất thải bị nhiễm máu hoặc chất tiết của bệnh nhân gây nên Các nhân viên khác và những người vận hành quản lý, xử

lý chất thải bệnh viện hoặc những người bới nhặt rác cũng có nguy cơ đáng kế [16]

1.1.4.2 Nguy cơ của chất thải sắc nhọn

Trung tâm kiểm soát bệnh tật của Mỹ đã phát hiện 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong một năm Tình trạng nhiễm virus viêm gan B có liên quan đến các tôn

thương do vật sắc nhọn gây ra: nhóm điều dưỡng bị nhiễm viêm gan B do tốn thương do

vật sắc nhọn là cao nhất (mỗi năm có 56 — 96 ca bị nhiễm viêm gan B trong số 17.700 — 22.000 điều dưỡng bị tổn thương do vật sắc nhọn) Nhóm nhân viên vệ sinh bị nhiễm viêm

gan B do tốn thương do vật sắc nhọn đứng thứ hai sau nhóm điều đưỡng (mỗi năm có 23 —

91 ca bị nhiễm viêm gan B trong số 11.700 — 45.300 nhân viên vệ sinh bị tồn thương do

vật sắc nhọn) Các nhóm khác như bác sỹ, nha sỹ, nhân viên xét nghiệm bị nhiễm viêm gan B do tổn thương do các vật sắc nhọn gây ra thấp hơn (dưới 15 người mỗi năm) [23]

Tại các quốc gia đang phát triển, các cơ sở y tế chủ yếu phân loại các chất thải y tế nguy hại bằng tay nên người phân loại chất thải đối diện với nhiều nguy cơ

trước mắt như nhiễm khuẩn, nhiễm độc khi bị thương bởi kim tiêm [50]

Báo cáo tại Hội thảo quốc gia về “Dur phong ton thương do các vật sắc nhọn cho nhân viên y tẾ" tại Hà Nội cho thấy, trung bình mỗi ngày bệnh viện Bạch Mai thải ra 50 -

Trang 17

150 kim khâu Số người làm việc liên quan đến việc sử dụng các vật sắc nhọn có nguy cơ

bị tổn thương chiếm 55% chủ yếu là điều dưỡng, kỹ thuật viên hộ lý và một số bác sĩ

Theo điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại bệnh viện Thanh

Nhàn, Trung tâm Y tế Đông Anh, bệnh viện Tràng An cho tháy tổn thương do vật sắc nhọn ở cán bộ y tế chiếm tỷ lệ rất cao Tỷ lệ này ở bệnh viện Thanh Nhàn là 68,7%, Trung tâm Y tế Đông Anh là 85.2% và bệnh viện Tràng An là 50% Công việc thu gom chất thải

bị tổn thương do vật sắc nhọn chiếm 9,8 - 10,8% [3]

1.1.4.3 Nguy cơ của các chất thải hóa học và dược phẩm

Trong y tế có nhiều loại hóa chất và dược phẩm độc dược, chất gây độc gen, chất

ăn mòn là những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người Các dược sỹ, bác sỹ gây mê,

điều dưỡng, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính có thể mắc các bệnh đường hô hấp, bệnh

ngoài da do tiếp xúc với các loại hóa chất dạng lỏng bay hơi, dạng phun sương và các dung

dịch khác Ví dụ như nhiễm độc thủy ngân có thể gây thương tổn thần kinh với các triệu

chứng run rây, khó điễn đạt, giảm sút trí nhớ, liệt, nghễnh ngãng, tử vong [10] [21]

Năm 2000, người ta xác định có 6 trẻ bị mắc bệnh đậu mùa nhẹ sau khi chơi

đùa với các vỏ ống thủy tỉnh chứa vaccin đậu mùa nhặt từ bãi chôn rác tại thành phố

Vladivostok (Nga) [51]

Tại Việt Nam, hiện chưa có thống kê về mức độ phỏ biến của bệnh tật gây ra do

các chất thải hóa học hoặc được phẩm từ các cơ sở y tế đối với cộng đồng, nhưng đã có

nhiều trường hợp tổn thương hoặc ngộ độc liên quan đến việc xử lý các hóa chất và dược phẩm không đảm bảo trong các cơ sở y tế [10] ,

1.1.4.4 Nguy cơ của chất thải phóng xạ

Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe con người do có khả năng gây ảnh hưởng đến chất liệu di truyền Ngoài ra, còn gây ra một loạt các triệu chứng như đau đầu, hoa mắt chóng mặt và nôn nhiều Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao như máy Xquang, máy chụp CT scaner, có thể gây ra một loạt các tôn thương như phá huỷ các mô, từ đó phải phẫu thuật loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể, ngoài ra còn làm biến

Trang 18

dạng tinh trùng gây vô sinh ở nam giới Đặc biệt, có thé gay say thai hoặc các di tat bam

sinh đối với thai nhi nếu người mẹ khi mang thai bị ảnh hưởng bởi chất phóng xạ [16]

Việc sử dụng nguồn phóng xạ trong y học và các ứng dụng khác rất phổ biến

trên toàn thế giới Đôi khi cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải phóng xạ không

được thải bỏ an toàn có nguồn gốc từ việc điều trị bằng phóng xạ Người ta đã ghi nhận được những trường hợp nghiêm trọng xảy ra ở Brasil vào năm 1988 (có 4

người chết, 28 người bị bỏng xạ) tại Mexico và Morocco năm 1983, ở Algeri năm

1978 va Mexico nam 1962 [51]

1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường

Đối với môi trường đất: Khi CTYT được chôn lắp không đúng thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngắm vào đất gây nhiễm độc đất làm cho việc tái sử

dụng bãi chôn lắp gặp khó khăn

Đối với môi trường không khí: Chất thai y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối

cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom vận chuyên chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi,

hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lắp) phát sinh ra các khí độc hại như dioxin, furan từ lò đốt và CHạ, NHa, HạS từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý gây ảnh hưởng môi trường sống và tác động tới sức khỏe của cộng đồng [10]

Kết quả quan trắc môi trường tại một số bệnh viện khu vực phía Bắc cho biết có 4.8% vị trí quan trắc gần khu bãi chứa rác có nồng độ bụi toàn phần cao hơn mức cho phép

0.3 mg/m’ Chat lượng khí tại tất cả các vị trí thuộc khu vực lân cận bãi rác hoặc nhà tập

kết rác thải rắn của các bệnh viện chỉ đạt loại '°Xấu” theo tiêu chuẩn Safr [2]

Đối với môi trường nước: Chất thải y tế chứa nhiều chất độc hại và tác nhân gây bệnh có kha nang lay nhiém cao nhu: Salmonella, Coliform, tụ cầu, liên cầu Nếu không được xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thống thoát nước chung thì có thể gây ô nhiễm nghiêm

trọng nguồn nước Ở Việt Nam, ô nhiễm nguồn nước là nguyên nhân gây nhiều bệnh như

tiêu chảy, ly trực trùng, tả, thương hàn, viêm gan A, giun sán Các bệnh này gây suy dinh

dưỡng, thiếu máu thiếu sắt có thể dẫn tới tử vong, nhất là ở trẻ em [10].

Trang 19

1.1.6 Xử lý chất thải y tế

* Nguyên tắc tiêu hủy chất thải rắn y tế [7]

- Yêu cầu xứ lý CTYT: CTYT phải được xử lý theo quy định, mỗi loại chất thải

có những yêu cầu xử lý riêng nhưng toàn bộ CTY TT nguy hại đều phải được quản lý và xử

lý triệt để CTYT thông thường xử lý như rác thải sinh hoại

- Yêu cầu chung xứ lý CTYT nguy hại: Không gây ô nhiễm thứ cấp, năm trong quy định chung về quản lý và xử lý chất thải, đảm bảo đúng quy định Luật

bảo vệ môi trường

* Các mô hình xử lý CTRYT tại các bệnh viện ở Việt Nam [17]

- Xử lý tập trung: Áp dụng cho các bệnh viện ở Hà Nội và Thành phó Hồ

Chí Minh chiếm 64% Mô hình thu gom và xử lý tập trung phát huy hiệu quả, tiết

kiệm chỉ phí đầu tư và vận hành, giảm ô nhiễm môi trường do đã trang bị thiết bị

1.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới

Theo WHO, dé dat được những mục tiêu trong quản lý chất thải nguy hại, các cơ

sở y tế cần phải có những hoạt động cần thiết cơ bản như:

- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khói lượng thành phân)

~ Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải

- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm

- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu sắc, đặc điểm các túi, thùng thu gom, nhãn quy định )

- Nhân viên phải được tập huấn về quản lý chất thải và các phương tiện bảo hộ đảm

bảo an toàn khi làm việc

- Các cơ sở y tế phải chịu trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải

Trang 20

- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp [46]

Tùy vào điều kiện kinh tế xã hội, mức độ phát triển khoa học kỹ thuật, nhận thức về

quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách quản lý xử lý chất thải riêng

Các nước phát triển thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp xử lý chất thải

rắn, trong đó có chát thải rắn nguy hại, xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt

xử lý cơ học, hoá/lý, sinh học, chôn lắp rất khác nhau ở mỗi quốc gia [33]

Hồng Kông: Công nghệ chủ yếu là xử lý nhiệt và xử lý hóa/lý đã xử lý được hầu

hết lượng chất thải ngay tại Hồng Kông Nhờ hệ thống nghiền nhỏ để chôn lắp, hệ thống

kiểm soát việc chôn lấp, kiểm soát nơi thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thai, nhất là chất thải rắn nguy hại đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý chất thải nói chung

và chất thải nguy hại nói riêng tại Hồng Kông [33]

Hà Lan: Chất thải nguy hại được xử lý bằng nhiều cách khác nhau, trong đó phần

lớn được thiêu hủy, một phần được tái chế Công nghệ xử lý chất thải nguy hại chủ yếu

được áp dụng là thiêu hủy nhiệt năng Các chất thải được phân loại ngay từ nguồn phát

sinh nhất là đối với chất thải nguy hại Việc thiêu hủy chất thải nguy hại được tiền hành ở những lò đốt hiện đại với kỹ thuật mới nhất [33]

Phần lớn các nước đang phát triển không quản lý tốt CTYT, chưa có khả năng

phân loại CTYT mà xử lý cùng với tắt cả các loại chất thải

Zambia: Năm 2003, Bộ Y tế đã tiến hành đánh giá công tác quản lý CTYT cho thấy: công tác quản lý CTYT là thực sự tồi tệ và nghiêm trọng, nếu không có giải pháp và

can thiệp thì đội ngũ nhân viên y tế, người bệnh, nhân viên thu gom chất thải và cả cộng

đồng sẽ phải đối mặt với nguy cơ phơi nhiễm HIV, HBV, HCV rất cao [45]

Trung Quốc: Với công nghệ tái chế phát triển đã tận dụng lại một phần đáng kế

chất thải nguy hại, còn lại chất thải được thải vào nước và đất Biện pháp xử lý thông thường là đưa vào các bãi rác hở, tuy nhiên có một số chôn lắp hợp vệ sinh [33]

Án Độ: Chat thải nguy hại chủ yếu được thải vào đất và nước, hoặc dé tại bãi rác

công cộng Hiện nay đã xây dựng trang thiết bị xử lý bằng phương pháp chôn lắp [33]

Philippin: Chất thải nguy hại được dé vào nước hay các bãi rác công cộng Hiện tại

Philippin chưa có công trình xử lý chất thải nguy hại tập trung, một số ít chất thải được xử

lý tại chỗ [33].

Trang 21

1.3 Tinh hinh quan lý chất thải y tế tại Việt Nam

1.3.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế

1.3.1.1 Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT

Công tác thu gom, lưu trữ CTRYT đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương

đến địa phương thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao

CTRYT phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế phần lớn được

thu gom và vận chuyền đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyên và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải

đã được cấp phép Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do sở y tế quản lý,

công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTRYT chưa được chú trọng, đặc biệt công tác

phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn [5]

Thống kê mức độ phân loại, thu gom chất thải trong các bệnh viện cho kết quả: có

95.6% bệnh viện đã thực hiện phân loại rác thải trong đó có 91,1% đã sử dụng dụng cụ

tách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải

thông thường được đưa vào CTY TT nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63.3% bệnh viện sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% bệnh viện sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế CTRYT đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên,

chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng Quy chế chủ yếu là bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh Hầu hết các bệnh viện (90.9%) CTRYT được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn cho việc thiết kế lối đi riêng

để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển

CTRYT nguy hại; 53.4% bệnh viện có mái che để lưu giữ chất thải rắn, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý CTYT (Nguồn: Kết quả khảo sát 834 bệnh viện của

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường năm 2006 và báo cáo của các Sở Ÿ tế từ các

địa phương từ năm 2007 — 2009)

Phương tiện thu gom chất thải thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy mua săm phương tiện

thu gom chất thải rắn đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Tại đa số các bệnh viện của 5 thành phố là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh sử dụng thùng

nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khac [5]

Trang 22

Kết quả đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý CTRYT tại 22 bệnh viện

tuyến trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc năm 2008 — 2009 cho biết: Chỉ

có 25% bệnh viện sử dụng túi đúng quy định về độ dầy và thể tích, 21% bệnh viện

sử dụng túi đựng rác có vạch báo và biểu tượng Có 72,2% bệnh viện sử dụng thùng

đựng rác làm bằng vật liệu theo quy định Chỉ có 50% bệnh viện sử dụng thùng rác

có nắp đậy và 27,3% bệnh viện sử dụng thùng có chân đạp để mở nắp Có rất ít

bệnh viện sử dụng các thùng rác màu vàng và màu xanh Có 72.7% bệnh viện sử dụng hộp đựng chất thải sắc nhọn đảm bảo không rò rỉ và vật liệu thiêu đốt được

Số còn lại sử dụng dụng cụ tự tạo mà phô biến là chai đựng dịch truyền và chai

đựng nước uống Chỉ có 22.7% bệnh viện sử dụng xe chuyên dùng để vận chuyển

chất thải và cũng có cùng tỷ lệ này đối với xe có nắp đậy kín Các bệnh viện đều có

nhà lưu giữ CTRYT và nằm riêng biệt, có diện tích phù hợp có mái che và có khoá cửa song hầu hết không đảm bảo ngăn ngừa loại gặm nhắm thâm nhập 50% bệnh viện có các buồng lưu giữ riêng chất thải nguy hại chất thải thông thường và chất

thải tái chế, trong đó tập trung chủ yếu ở bệnh viện tuyến trung ương (100%) Có rất

ít bệnh viện có buồng lạnh hoặc nếu có thì cũng không sử dụng và chỉ một số bệnh viện xây dựng hệ thống thoát nước riêng cho nhà lưu giữ CTRYT [2]

Theo báo cáo điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường trên toàn bộ

các cơ sở thuộc hệ y tế dự phòng tại 63 tỉnh, thành phó năm 2009 cho biết có 50% cơ sở y

tế có thùng thu gom chất thải lây nhiễm màu vàng và tỷ lệ rất thấp có biểu tượng chất thải sinh học và các hướng dẫn khác trên thùng Công tác phân loại thụ gom vận chuyển và xử lý CTRYT tại nhiều cơ sở y tế còn hạn chế, trên 80% cơ sở y tế

đã phân loại chất thải, vẫn còn để lẫn chất thải thông thường với CTRYT nguy hại

Đa số các cơ sở chưa có đường vận chuyển chất thải riêng Chỉ có 50% cơ sở y tế

có thời gian lưu giữ chất thải đúng quy định Nhà lưu giữ CTRYT còn để chung với

nhà lưu giữ chất thải sinh hoạt và vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của Quy chế quản

lý chất thải y tế[ 1]

Nhìn chung, các phương tiện vận chuyên CTRYT còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyên CTRYT nguy hại từ bệnh viện cơ sở y tế đến nơi xử

Trang 23

lý, chôn lấp hầu hết do công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bị

đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn

Đối với các chất thải dược phẩm, đa số các cơ sở sản xuất thuốc đạt GMP có

phân loại và có nơi lưu giữ chất thải rắn từ phân xưởng sản xuất Chất thải rắn

thông thường được công ty môi trường vận chuyền đến bãi tập trung Chất thải rắn

nguy hại được ký hợp đồng để xử lý [14]

1.3.1.2 Thực trạng xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế

CTRYT không nguy hại hầu hết do công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển

và được xử lý tại các khu xử lý chất thải rắn tập trung của địa phương

Khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTRYT nguy hại trên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn là 32%

Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTRYT nguy hại tập trung tại khu xử lý

chung Năm 2006 đã có hơn 500 lò đốt được lắp đặt tại các cơ sở y tế, tập trung chủ yếu ở

các thành phó lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% số lò không được hoạt động do nhiều lý do khác nhau [5]

Theo “Báo cáo tóm tắt kết quả quan trắc môi trường y tế khu vực miền Trung — Tây nguyên giai đoạn 2006 — 2010” của Viện Pasteur Nha Trang cho biết

năm 2006, chỉ có 8,3% bệnh viện có lò đốt CTRYT và 33.3% bệnh viện có phân

loại CTRYT và vận chuyển CTRYT nguy hại đi đốt tại lò đốt chất thải y tế Năm

2008, có 41.7% bệnh viện không có lò đốt CTRYT hoặc lò đốt lạc hậu gây ô nhiễm

16,7% bệnh viện có nhà chứa chất thải y tế đạt chuẩn Năm 2009 có 7/14 bệnh viện không có hệ thống xử lý chất thải y tế riêng và lò đốt của một số đơn vị đã xuống cấp nhiều Năm 2010, chỉ có 9/16 bệnh viện là có lò đốt đang hoạt động [2]

Đối với các bệnh viện, viện có giường bệnh: Có 33,9% bệnh viện xử lý CTRYT

bằng lò đốt; 39,2% bệnh viện hợp đồng với công ty môi trường đô thị thuê xử lý; 26,9% bệnh viện xử lý bằng thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lắp trong khuôn viên bệnh viện, chủ

yếu ở bệnh viện tuyến huyện và một vài bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi [26]

Đối với trạm y tế xã: Cả nước có 11.104 trạm y tế xã [26] tuy nhiên vấn đề quản

“ly CTYT tai tuyến xã chưa được quan tâm và thực hiện Hầu hết các trạm y tế xã chưa

thực hiện xử lý CTYT trước khi thải bỏ Đa số các trạm y tế xã đều xử lý CTRYT bằng

Trang 24

phương pháp thiêu đốt ngoài trời hoặc trong các lò đốt thủ công được xây dựng tại đơn vị, các chất thải khó thiêu đốt thì thường xử lý theo rác đô thị hoặc chôn lắp sơ sài, không đảm

bảo vệ sinh Dụng cụ thu gom còn thiếu và chưa đúng quy định về màu sắc và chủng loại [9]

Đối với hệ y tế dự phòng và các viện nghiên cứu: Hiện có 1.016 cơ sở y tẾ dự

phòng tuyến trung ương, tỉnh, huyện [26] Chỉ có 17% trung tâm y tế dự phòng sử dụng lò

đốt thủ công để xử lý CTRYT và 30% hợp đồng với bệnh viện trên địa bàn đề xử lý [9]

Khối các trường đào tạo y, dược: Tính đến năm 2009, cả nước có 77 cơ sở đào tạo y dược tuyến trung ương và tuyến tỉnh [26] Hoạt động của các cơ sở đào tạo y, dược

cũng làm phát sinh CTYT, tuy nhiên các cơ sở mới chỉ thực hiện xử lý ban đầu hoặc chưa

xử lý CTYT, hầu hết không có hệ thống xử lý CTYT [9]

Khối các cơ sở sản xuất thuốc: Cả nước có 181 cơ sở sản xuất thuốc, trong đó có

91 cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP đều không có hệ thống xử lý chất thải, các cơ sở còn lại chưa

có số liệu thống kê báo cáo [9]

1.3.2 Quản lý chất thải y tế tại Thành phố Hà Nội

Hiện nay, tại Hà Nội, khối lượng chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động y tế ngày càng gia tăng do tốc độ phát triển dịch vụ từ các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng

Theo Sở Y tế Hà Nội, trên địa bàn có gần 100 bệnh viện từ Trung ương đến địa

phương và 29 TTYT quận, huyện, thị xã Hàng ngày, các cơ sở y tế thải ra môi trường

hàng trăm tấn rác thải, trong đó có nhiều chất thải rắn nguy hại, gây ô nhiễm môi trường

nghiêm trọng Kết quả kiểm tra của Chỉ cục Bảo vệ Môi trường tại trên 50 bệnh viện, cơ sở

y tế cho thấy, tổng khối lượng CTRYT phát sinh 41.722 tắn/tháng [19]

Ước tính, lượng chất thải từ các bệnh viện tại Hà Nội chiếm 1,8% tổng số chất thải

của toàn thành phố Trong đó, bình quân mỗi ngày một giường bệnh thải ra khoảng 2,27

kg CTRYT, 25% là CTRYT nguy hại Hà Nội là một trong 15 tỉnh có lượng chất thải y tẾ nguy hại lớn nhất trong cả nước và chỉ đứng hàng thứ 2, sau thành phó Hồ Chí Minh [19]

Hiện có 92,5% bệnh viện, cơ sở y tế ký hợp đồng thu gom, vận chuyển CTRYT với

Công ty Cổ phần môi trường đô thị và công nghiệp Tuy nhiên, việc xử lý CTRYT trên địa

bàn Hà Nội đang gặp nhiều khó khăn do một số cơ sở chưa thực hiện đúng quy định về

quản lý CTRYT Kinh phí cho các hoạt động xử lý CTRYT còn hạn hẹp dẫn đến xử lý

Trang 25

chậm Nhân lực làm công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu, hầu hết là kiêm nhiệm Các phương tiện thu gom CTRYT nói chung, CTRYT nguy hại nói riêng như: Túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ Hoạt động vận chuyển CTRYT nguy hại từ các bệnh viện cơ sở y tế tới nơi xử lý, không có các

trang thiết bị che chắn, an toàn [19]

Sở Y tế Hà Nội đang thực hiện 5 dự án đầu tư cho hệ thống xử lý CTYT với tổng kinh phí 213 tỷ đồng Việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý CTYT tại các đơn vị sẽ thay thế

dần các phương pháp xử lý chất thải thô sơ bằng những phương pháp công nghệ hiện đại

đảm bảo tiêu chuẩn, yêu cầu cần thiết về vệ sinh môi trường [29]

1.3.3 Một số thông tin về công tác quản lý chất thái y tế tại Trung tâm Y tế huyện

Gia Lâm

Gia Lâm là một huyện ngoại thành nằm ở phía Đông Bắc của Thành phố Hà Nội

Diện tích là 114km, dân số là 253.643 người Huyện gồm có 20 xã và 2 thị tran

TTYT huyện Gia Lâm gồm: 2 phòng nghiệp vụ 5 khoa chuyên môn, 3 phòng khám đa khoa khu vực: 22 trạm y tế xã, thi tran Tổng số cán bộ của Trung tâm là 294, trong đó có 34 bác sỹ, 69 y sỹ, 98 điều dưỡng, 35 hộ sinh, 8 kỹ thuật viên, 24 được sỹ

trung học, 3 hộ lý, 23 cán bộ khác [39]

Một số chức năng, nhiệm vụ chính của Trung tâm Y tế Gia Lâm: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật về phòng chống dịch bệnh, HIV/AIDS, phòng chống các bệnh xã hội tai nạn thương tích, sức khỏe lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe môi trường, truyền thông giáo dục sức khỏe theo phân cấp và theo quy định của pháp luật; Tổ chức thực hiện cấp cứu,

khám chữa bệnh ban đầu và khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại các phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế xã, thị trắn; Chỉ đạo hoạt động của trạm y tế xã, thị trấn thực hiện các

nhiệm vụ được giao trên địa ban quan ly [38]

Trang 26

TRUNG TAM Y TE HUYEN GIA LAM

|

Lanh dao Trung tam Y té

huyén Gia Lam

|

Hanh k Cham : An &

- hoạch Y te » dịch ote Khoa kham Tram chinh sẽ a sóc sức s toàn vệ £

Ậ nghiệp công + bệnh, š Xét đa ytê

Tô z khoẻ sinh sa x

hú vu- cộng inh HIV/ th nghiệm khoa xã, thị

vụ SK san & pham vực

CBXH

Ghia ——* Chỉ đạo trực tiếp từ cấp trên

Năm 2012, Trung tâm đã đạt được một số kết quả nồi bật sau:

- Chương trình tiêm chủng mở rộng: trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ

đạt: 4.322/4.515 (94,68%), phụ nữ có thai tiêm phòng uốn ván: 4.591/4.800 (95,64%); phụ

nữ sinh năm 1997 được tiêm phòng uốn ván: 1.468/1.473 (99,7%); tiêm vác xin sởi bổ

sung cho trẻ em từ 1 — 6 tuổi: 4.299/4.555 (93,7%)

- Công tác khám chữa bệnh: Tổng số lượt khám bệnh: 212.988, chụp X quang:

13.731 lượt: Siêu âm: 10.678 ca ; Điện tim: 2.570; Xét nghiệm máu, nước tiểu: 117.585

tiêu bản; Xét nghiệm đờm phát hiện lao mới: 1.700 lam; Xét nghiệm HIV: 1.950 ca trong

Trang 27

đó có 32 ca dương tính; Thu nhận, nhuộm soi: 520 lam kính sốt rét Cấp cứu: 3.348 ca tai

nạn thương tích; Nạo hút thai: 1.052 ca; Do đẻ tại các trạm y tế: 594 ca [36], [38]

Qua một số khảo sát ban đầu tại huyện Gia Lâm cho thấy: mỗi phòng khám đa

khoa khu vực và các khoa trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 2kg chất thải lây nhiễm mỗi trạm y tế trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 0,5kg chất thải lây nhiễm Như vậy mỗi năm

thải ra khoảng trên 6.000 kg chất thải lây nhiễm Trung tam Y tế đã có quy định về phân

loại, thu gom vận chuyển và xử lý CTRYT tại các đơn vị và cũng đã ký hợp đồng với

Công ty Urenco 10 từ năm 2005 để thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế đặc biệt là

chất thải lây nhiễm tại 3 phòng khám, năm 201] vận chuyển 1.634 kg, năm 2012 vận

chuyển 2.046 kg CTRYTỊ37]

Từ năm 2007 đến nay, 3 phòng khám đa khoa khu vực đều được xây dựng khang

trang, đủ các máy móc và các trang thiết bị y tế nhưng không được thiết kế và xây dựng hệ thống lưu giữ chất thải rắn y té 22 trạm y tế xã, thị trấn được xây mới, sửa chữa, nâng cấp,

cung ứng đủ các trang bị thiết bị thông thường và các máy móc phục vụ công tác khám chữa bệnh như máy siêu âm, doppler tim thai, xét nghiệm nước tiểu, sinh hóa máu va

đều được công nhận Chuẩn Quốc gia về y tế từ năm 2006, nam 2012 đề nghị công nhận 5

xã đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã, nhưng hiện tại một số trạm y tế cơ sở hạ tầng đã

xuống cấp Các trạm y tế cũng đã được xây lò đốt rác bằng xi măng hoặc được cấp lò đốt

rác bằng kim loại Tuy nhiên, một số lò đốt rác cũng đã vỡ, hỏng hoặc han gỉ, công suất và hiệu quả sử dụng chưa đạt yêu cầu, một số lò đốt rác được xây dựng hoặc lắp đặt ở những

vị trí không thuận lợi nên việc xử lý thiêu huỷ chất thải y tế chưa đúng quy định Các dụng

cụ thu gom chứa đựng rác do Trung tâm trang bị nhưng cũng chưa theo quy định của Quy chế

Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế [37]

Thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu

chí Quốc gia y tế xã giai đoạn 2011 — 2020, kế hoạch của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà

Nội, Sở Y tế Hà Nội, Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lâm và Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm,

phấn đấu đến năm 2018, 100% số xã thị trắn sẽ đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai

đoạn 2011 - 2020 các trạm y tế xã thị trấn, các phòng khám đa khoa khu vực đang được

đầu tư, xây mới và sửa chữa, nâng cáp cơ sở hạ tầng Năm 2012, phòng khám Yên Viên và

3 trạm y tế được xây mới toàn bộ một số trạm y tế được cải tạo và sửa chữa Hiện tại, 3

Trang 28

phòng khám đa khoa khu vực đã được lắp đặt hệ thống xử lý chất thải lỏng Năm 2012,

việc thực hiện quy trình phân loại, thu gom và xử lý CTRYT được Sở Y tế Hà Nội đưa

vào bảng điểm kiểm tra, đánh giá công tác y tế tại các trung tâm y tế [38] [37] [39] [40]

Qua đó, chứng tỏ công tác quản lý CTYT đã và đang được các cấp chính quyền quan tâm

và chú trọng nên việc triển khai nghiên cứu về công tác quản lý CTYT sẽ nhận được sự

quan tâm của các cấp chính quyền và kết quả nghiên cứu sẽ giúp Trung tâm Y tế huyện

Gia Lâm có chiến lược phù hợp hơn để triển khai công tác quản lý CTYT trên địa bàn 1.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải y té

1.4.1 Nghiên cứu về quản lý chất thái y tế trên Thế giới

Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các

nước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan

tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý CTYT (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái

sử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất

thải), tác hại của CTYT đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của CTYT và

phòng chống tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng [20] [23] [30] [31]- Gần

đây nghiên cứu về CTYT được quan tâm ở nhiều khía cạnh:

- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn đối với sức khỏe cộng đồng

- Ảnh hưởng của CTYT đối với việc lan truyền bệnh địch trong và ngoài bệnh viện

- Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT

- Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe

- Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng hộ lý và nhân viên thu gom chất thải,

nhiễm khuẩn bệnh viện nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu gom chất thải, vệ

sinh viên và cộng đồng

~ Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế

Năm 2004, WHO đánh giá có 18 — 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách 50% số bệnh viện vận chuyển chất thải đi qua khu vực bệnh nhân và không

đựng trong xe thùng có nắp đậy [47]

Nam 2009, Birpinar và cộng sự phân tích hién trang quan ly CTYT theo Quy

chế quản lý CTYT ở Istanbul, Turkey cho biết chất thải tái chế được phân loại riêng

đạt 83% Phân loại CTRYT khác nhau luôn được thực hiện, 25% các bệnh viện

Trang 29

trang bị các phương tiện không phù hợp 63 các bệnh viện có kho lưu trữ tạm thời

[43]

Cũng vào năm 2009, nghiên cứu của Yong va Guanxing, Tao va Dawei 6

Nam Kinh, Trung Quốc cho thay 73% bệnh viện thực hiện phân loại CTYT 93,3%

bệnh viện có khu vực lưu trữ CTYT tạm thời Chỉ có 20% bệnh viện phổ biến quy

chế quản lý CTYT, CTRYT được xử lý bằng hệ thống xử lý tập trung đã được xây dựng dựa trên công nghệ đốt 77% số NVYT cho rằng quản lý CTYT là một yếu tố

quan trọng trong việc lựa chọn các dịch vụ bệnh viện [52]

Nam 2010, Ferdowsi M, Ferdosi A, Mechrani, Narenjkar P @ Tabriz, Iran nghién ctru tam quan trong cua van dé quản lý CTYT tại các bệnh viện của Istanbul

để có thể kích thích cho các hoạt động kiểm soát hệ thống xử lý CTYT Kết quả là

hầu hết các bệnh viện không xử lý CTYT Các bệnh viện thu gom CTYT và hợp

đồng với các dịch vụ đô thị vận chuyển chất thải hai ngày mỗi lần Các bệnh viện có

hệ thống phân loại tại nguồn để tách các chất thải lây nhiễm và chất thải không lây nhiễm Tuy nhiên, không thực hiện xử lý các CTYT mà chôn trong một bãi rác ở

Zainal gần Isfahan Chỉ có một lò đốt CTYT hoạt động trong bệnh viện Fatemch Zahra Chat thải lây nhiễm được phân loại khỏi các chất thải khác ở tất cả các bệnh

viện Thùng đựng rác đều phù hợp, đầy đủ và được lưu giữ tại các địa điểm thích

hợp ở hầu hết các bệnh viện [44]

1.4.2 Một số kết quả nghiên cứu gần đây về quản lý chất thái y tế ở Việt Nam

Năm 2002, Trần Duy Tạo nghiên cứu “Đánh giá thực trạng, quản {ý và ảnh hưởng của chất thải y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ lên môi trường xung quanh”

cho biết quá trình thu gom, lưu giữ, vận chuyền, xử lý CTRYT không hợp vệ sinh và chưa đúng quy định của Bộ Y tế, chỉ có 15,6% số NVYT có kiến thức phân loại đúng CTYT; 43.8% NVYT không biết về xử lý CTYT Chất thải phát sinh hàng ngày được thu gom

nhưng chỉ có một số khoa phân loại ngay sau khi thu gom Vận chuyển bằng xách tay mỗi ngày l lần và phải đi qua các khoa khác để đến nơi lưu giữ Nơi lưu giữ là hồ đất đào ngay sau bệnh viện, không tách biệt với môi trường xung quanh, không có hàng rào bảo vệ

Thời gian lưu giữ chung là 3 ngày Xử lý chung với chất thải sinh hoạt và thiêu đốt ngay

trong hó, sau thiêu đốt không chôn lắp mà lại tiếp tục vận chuyên chất thải mới đến [3]

Trang 30

Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu “Đánh giá thực trạng quản lý chất thải

y té tai hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngai’ cho biết chỉ có 9.4%

NVYT ở bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và 22,2% NVYT ở bệnh viện đa khoa

Quảng Ngãi biết phân loại đúng CTRYT Dụng cụ đựng CTRYT không có đủ mã màu quy định, thu gom và phân loại của cả 2 bệnh viện đều chưa đúng quy định Nơi lưu giữ CTRYT cũng không có mái che và hàng rào bảo vệ Chất thải giải phẫu chôn lấp 2

lần/ngày, các chất thải khác ký hợp đồng với Công ty Môi trường đô thị [20]

Nghiên cứu về “Thực trạng quan lý chất thải y tế, kiến thức về quản lý chất thải y tế của nhân viên trạm y lễ xã tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2004” của Vũ Quốc Hải cho thấy 100% các trạm y tế không có đủ dụng cụ đựng chất thải đạt tiêu chuẩn và có tới 94.4% CTRYT không được phân loại đúng ngay khi phát sinh 26,7% NVYT hiểu biết không đúng về thu gom, bảo quản, vận chuyển, xử lý CTRYT 50% NVYT chưa hiểu biết về tiêu chuẩn bao bì đựng chất thải 80% NVYT không biết cần lưu giữ riêng chất thải sinh hoạt với chất thải y tế

41.9% NVYT không biết yêu cầu về nơi lưu giữ CTRYT 45.3% NVYT không biết

thời gian lưu giữ chất thải tại trạm 98.8% NVYT chưa được đào tạo về quản lý

CTYT [13]

Năm 2007, kết quả nghiên cứu của Đào Ngọc Phong “Mô ứđ thực trạng ô

nhiễm môi trường do chất thải y tế, các giải pháp xử lý chất thải y tế và triễn khai

mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện, trung tâm y tế huyện” đưa ra

nhiều kết luận về thực trang quan ly CTYT, tinh hinh 6 nhiễm môi trường bệnh viện

và các kết quả áp dụng mô hình quản lý CTYT tại các bệnh viện tuyến huyện [24]

Năm 2007, kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Tam vé: “Thue trang quan ly, ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường trong các bệnh viện huyện tỉnh Hải

Dương” cho biết có 8/11 bệnh viện có màu sắc của túi, thùng đựng rác không đúng quy

định, 4/11 bệnh viện để chung rác lâm sàng với rác sinh hoạt, 9/11 bệnh viện có thời gian

lưu giữ chất thải lâm sàng quá quy định, 4/11 bệnh viện xử lý chất thải lâm sàng không

đảm bảo vệ sinh và chỉ có 4/11 bệnh viện huyện xử lý rác bằng lò đốt rác thủ công hoặc lò

đốt chuyên dụng NVYT biết được quy định màu sắc túi, hộp thùng đựng CTYT là

Trang 31

49.5%, biết đủ 5 loại chất thải là 46,9%, tỷ lệNVYT không biết biện pháp xử lý chất thải y

tế còn cao [30]

Nghiên cứu về: “Kiến thức, thải độ, hành vi của nhân viên y tẾ trong thực hiện

quy chế quản If chat thải y tế tại bệnh viện Nhỉ Đồng 2 năm 2008" cho biết có 79.5%

NVYT có kiến thức tổng quát; 96% có kiến thức phân loại: 97.9% có kiến thức thu gom;

95.6% có kiến thức vận chuyển: 38,2% có kiến thức lưu trữ; 83,1% có thái độ đúng và

82,9% có hành vi đúng [22]

Nghiên cứu về “Đánh giá nhận thức, thái độ của điều dưỡng dỗi với việc thu gom, phân loại chất thải y tễ tại 6 bệnh viện khu vực thành phố Nam Dinh”

của Tống Vĩnh Phú và cộng su, kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng về

định nghĩa CTYT là 50,3%, điều dưỡng có kiến thức đúng về CTYT nguy hại là 81,5 %,

điều dưỡng các bệnh viện trả lời đúng về phân loại CTYT là 69,7%, thời gian lưu

giữ CTYT đạt tỷ lệ 34,29%, kiến thức về thiêu huỷ CTYT là 3,43% [27]

Năm 2008 — 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu “Thực trang

môi trường và hoạt động quản lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyến Trung ương và

tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc” kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng công tác quan ly,

xử lý CTRYT đã được các bệnh viện quan tâm và thực hiện nghiêm túc theo Quy chế Sai

phạm phổ biến nhất là sử dụng các túi, thùng đựng rác không đúng quy định 50% bệnh

viện có buồng lưu giữ chất thải riêng tập trung ở bệnh viện tuyến trung ương Tuy nhiên, còn phổ biến tình trạng thực hiện không đúng về mặt kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế, nguyên nhân chủ yếu được cho là thiếu nguồn cung cấp dụng cụ thiết bị chuyên dụng, vướng mắc về kinh phí (thiếu nguồn kinh phí hoặc cơ chế sử dụng kinh phí chưa rõ ràng)

Phương pháp thiêu đốt còn nhiều bắt cập về môi trường và kỹ thuật, nhất là đối với bệnh

viện tuyến huyện [2]

Năm 2009, Hoàng Thị Liên đã tiến hành “Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tô liên quan đến quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên ”

cho biết CTYT được phân nhóm theo quy định của Bộ Y tế, đặc biệt đã phân loại chất thải

sắc nhọn trong nhóm chất thải lây nhiễm Chất lượng hoạt động phân loại, thu gom, vận

chuyển, lưu giữ CTRYT đạt mức độ trung bình từ 51.9 — 63% Chất lượng hoạt động xử lý

chat thải rắn đạt kết quả tốt (95.7%) 77,1% NVYT và vệ sinh viên được tập huấn vẻ quy

Trang 32

chế quản lý CTYT trong đó chỉ có 12% vệ sinh viên có kiến thức tốt về phân loại chất thải;

99,6% NVYT và vệ sinh viên thực hành phân loại CTRY T tại nguồn phát sinh [18]

Nghiên cứu về “Thực trạng phát sinh chất thải, kién thức và thực hành của

nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tẾ tại bệnh viện Bạch Mai, năm 2010" của Nguyễn Việt Hùng và Nguyễn Quốc Anh cho biết: Tỷ lệ các túi chất thải phân loại sai và

thu gom sai là 18,5% và 11,5% Tỷ lệ chất thải lây nhiễm bị phân loại sai là 41,6% Tỷ lệ

chất thải sắc nhọn thu gom sai là 20,2% 58.2% không buộc kín miệng túi chất thải thông thường Với bộ câu hỏi về kiến thức CTRYT, NVYT đạt 71,3 +14.6 tổng điểm tối đa trong khi đó nhóm nhân viên thu gom, vận chuyên chất thải chỉ đạt 59,5 + 66,7 điểm [15]

Mới đây, nghiên cứu của Hoàng Giang về “Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2011” cho biết, bệnh viện Việt Đức có đủ

phương tiện, dụng cụ thu gom, 87% túi, thùng đủ mã màu sắc theo quy định, 100% không

có hộp đựng chất thải sắc nhọn đúng quy định 2/15 khoa có số lượng chat thải thu gom

quá quy định 8/15 khoa không có đường vận chuyền chất thải riêng biệt, 7/15 khoa xe vận

chuyên không đúng quy định, 10/15 kho lưu giữ chất thải tạm thời tại các khoa không đạt

tiêu chuẩn 60% NVYT đạt kiến thức về phân loại, 64% NVYT biết phân loại đúng các

chất thải thông thường, lây nhiễm, tái chế Kiến thức của NVYT vẻ lưu giữ khá tốt [12]

Nghiên cứu về “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tẾ và kiến thức, thực hành của cán bộ các trạm y tế trên địa bàn Thành phố Việt Trì năm 2011” của Đình Quang

Tuấn: chỉ có 30.4% trạm y tế đạt yêu cầu quản lý CTRYT, các bước trong quy trình quản

lý gồm: phân loại thu gom, vận chuyên lưu giữ và xử lý có tỷ lệ đạt yêu cầu tương ứng là:

39,1%: 43,5%; 82,6%; 65,2% Chỉ có 43,5% số trạm y tế có đủ dụng cụ chứa đựng

CTRYT đúng quy định 24.5% NVYT có kiến thức đầy đủ về quản lý CTRYT Tỷ lệ đạt các kiến thức về phân loại, thu gom vận chuyển - lưu giữ và xử lý chất thải lần lượt là

64%; 91.2%; 42,1%; 78,1% Tỷ lệ cán bộ thực hành đúng quy trình chi đạt 10.5% [41]

Cũng vào năm 201 1, nghiên cứu về '*Thực rạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến

thức, thực hành của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh” của Hoàng Thị Thúy cho thay hau hết các dụng cụ thu gom chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt

tiêu chuẩn của Bộ Y tế Tỷ lệ thu gom lẫn các chất thải còn cao (33.9%), vận chuyển chất

thải bằng tay là chủ yếu Thời gian lưu giữ chất thải tại nơi tập trung dài 48 giờ), điều

Trang 33

kiện bảo quản không đúng quy định Tỷ lệ NVYT đạt kiến thức chung về quản lý chất thải

là 86,8%, kiến thức chung về phân loại chat thai là 63.2% trong đó kiến thức về các nhóm

chất thải và chất thải lây nhiễm rất thấp, chỉ đạt 27.2% và 54.4% Kiến thức chung về thu gom vận chuyển, lưu giữ lần lượt là 48,5%; 96,3%; 75.4% Thiếu kinh phí là yếu tố chính

ảnh hưởng đến công tác quan ly CTRYT [34]

Tóm lại, các nghiên cứu về thực trạng quản lý CTRYT chủ yếu tập trung nghiên

cứu ở các bệnh viện, chỉ có rất ít nghiên cứu về thực trang quan ly chat thải rắn y tế thuộc

hệ y tế dự phòng nói chung và tại tuyến y tế cơ sở nói riêng, nếu có cũng chỉ nghiên cứu tại các trạm y tế chứ hiếm có nghiên cứu nào tiến hành một cách toàn diện tại tuyến y tế cơ sở

gồm các khoa, các phòng khám đa khoa khu vực và các trạm y tế.

Trang 34

- Chat thải rắn y tế của 3 khoa (Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản, khoa Kiểm soát

dịch bệnh, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh xã hội, khoa Xét nghiệm), 3 phòng khám

đa khoa khu vực (Phòng khám Trâu Quỳ, phòng khám Yên Viên, phòng khám Da Tốn),

22 trạm y tế xã, thị trấn

- Toàn bộ nhân viên y tế tham gia trực tiếp vào công tác quản lý chất thải rắn y tế

gồm: điều dưỡng, hộ sinh tại 3 khoa, 3 phòng khám và 22 trạm y tế

- Lãnh đạo Trung tâm Y tế Gia Lâm và một số cán bộ lãnh đạo, nhân viên các

khoa, phòng khám, trạm y tế

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 6 năm 2013

~ Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm Hà Nội

Khối TTYT: gồm 3 khoa (Khoa Kiểm soát dịch bệnh, HIV/AIDS và các bệnh xã

hội, khoa Chăm sóc sức khỏe sinh san, khoa Xét nghiệm), 3 phòng khám đa khoa khu vực: (Phòng khám Trâu Quỳ phòng khám Đa Tốn, phòng khám Yên Viên)

Khối TYT: gồm 22 trạm y tế xã, thị trấn

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu định lượng:

Cỡ mẫu cho quan sát thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyên, lưu giữ và xử lý

chất thải rắn y tế: chọn quan sát toàn bộ các khoa, phòng khám, trạm y tế Mỗi khoa,

phòng khám trạm y tế quan sát tại tất cả các phòng có liên quan trực tiếp đến việc quản lý CTRYT va quan sát trong 1 ngày (các khoa phòng khám: quan sát 4 khâu đầu trong quy trình là phân loại, thu gom vận chuyền lưu giữ CTRYT Các trạm y tế quan sát ngoài 4

Trang 35

khâu đầu còn quan sát thêm khâu xử lý CTRYT) Tổng số lượt quan sát là 61, trong đó:

khối TTYT có 17 lượt quan sát, khối TYT có 44 lượt quan sát (Phụ lục 12)

Cỡ mẫu đánh giá kiến thức nhân viên y tế gồm toàn bộ điều dưỡng hộ sinh ngoài

nhiệm vụ chuyên môn họ còn có chức trách, nhiệm vụ nữa là phải thường xuyên, trực tiếp

tham gia vào công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám, trạm y tế nơi họ

đang công tác và có trong danh sách của Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm đến tháng 12 năm

2012 Tổng số: 124 (Khối TTYT: 40; khối TYT: 84) (Phụ lục 12)

- Chọn mẫu định tính: Chọn mẫu có chủ đích

Tiến hành 8 cuộc phỏng vân sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm:

+ Phỏng vấn sâu (PVS) được thực hiện với đối tượng được chọn mẫu có chủ đích đại diện cho các nhóm: Lãnh đạo Trung tâm tế, lãnh đạo và nhân viên của các khoa,

phòng khám và trạm y tế Cụ thể:

Khối TTYT: 5 cán bộ y tế gồm lãnh đạo TTYT, điều dưỡng trưởng TTYT, trưởng

phòng khám, điều dưỡng trưởng phòng khám và hộ lý phòng khám

Khối TYT: 3 cán bộ y tế gồm: trưởng trạm y tế, điều dưỡng và hộ sinh trạm y tế

+ Thảo luận nhóm (TLN):

- Thảo luận nhóm của điều dưỡng trưởng 3 phòng khám và 3 khoa

- Thảo luận nhóm của điều dưỡng trưởng 22 trạm y tế xã, thị tran

- Đối tượng loại trừ:

Những nhân viên từ chối tham gia nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Số liệu định lượng:

- Quan sát trực tiếp:

Sử dụng bảng kiểm để đánh giá thực trạng quản lý CTRYT của các khoa, phòng

khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, thị trần Nội dung bảng kiểm được xây dựng dựa trên

quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế

Tiến hành quan sát kín đáo, không để cho nhân viên của các cơ sở y tế biết Quan

sát lồng ghép với giám sát công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và thực hiện các chương trình

y tế Mỗi khoa, phòng khám, trạm y tế quan sát trong l ngày và tiến hành quan sát đồng

Trang 36

thời tại các phòng buồng có phát sinh chất thải rắn y tế của mỗi khoa, phòng khám, trạm y

tế đó Vì mỗi khoa phòng có những đặc thù riêng nên vị trí quan sát và số lượng quan sát không giống nhau, ví dụ như các phòng khám nếu có bác sỹ chuyên khoa răng hàm mặt hoạc chuyên khoa tai mũi họng thì mới chọn vị trí quan sát là phòng khám răng hàm mặt

hoặc phòng thủ thuật tai mũi họng

* Quan sat thực trạng phân loại, thu gom chát thải rắn: Buổi sáng 8h00 — 10h30,

buổi chiều 14h — 16h30, thời gian mỗi quan sát từ 30 — 40 phút Vị trí quan sát:

Khoa Kiểm soát dịch bệnh, HIV/ADS và các bệnh xã hội: Quan sát tại phòng

Tiêm chủng mở rộng (1 quan sát)

Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản: Quan sát tại phòng Kế hoạch hóa gia đình tại

03 địa điểm đặt tại 3 phòng khám Trâu Quỳ, Yên Viên, Đa Tén (3 quan sát)

Khoa Xét nghiệm: Quan sát tại Labo xét nghiệm bệnh phẩm (1 quan sát)

03 Phòng khám:

Phòng khám Trâu Quỳ: Quan sát tại phòng Cấp cứu, phòng Thủ thuật, phòng khám Răng — Hàm — Mặt, phòng Xét nghiệm (4 quan sáU)

Phòng khám Đa Tốn: Quan sát tại phòng Cấp cứu, phòng Thủ thuật, phòng khám

Răng — Hàm — Mặt, phòng Nội soi và thủ thuật Tai - Mũi - Họng, phòng Xét nghiệm (Š quan sát)

Phòng khám Yên Viên: Quan sát tại phòng Cấp cứu, Phòng Thủ thuật, phòng Xét nghiệm (3 quan sát)

22 trạm y tế: Quan sát tại phòng Cấp cứu — Thủ thuật, Phòng Đẻ - Kế hoạch hóa gia đình (44 quan sát)

* Quan sát vận chuyền chất thải:

Thời gian quan sát: Sáng: I1h— 11h30; Chiều: 16h30 — 17h

Các khoa, phòng khám: Cuối hành lang các phòng khám, khoa và lối đi ra khu

vực lưu giữ chất thải

Trạm y tế: Lối đi giao nhau giữa sân và lối đi ra khu vực lưu giữ chất thải

* Quan sát lưu giữ chất thải: Tại khu vực lưu giữ chất thải của các phòng khám,

khoa và các trạm y tế

* Quan sát xử lý chất thải: tại khu vực xử lý chất thải của các trạm y tế.

Trang 37

Người quan sát: Điều tra viên

Công cụ: Bảng kiểm (Phụ lục 2)

- Đánh giá kiến thức của nhân viên y tế:

Bằng phương pháp phát vấn sử dụng bộ câu hỏi tự điền Nội dung các câu hỏi

được thiết kế xây dựng dựa trên Quy chế quản lý CTYT của Bộ Y tế có tính đến sự phù

hợp thực tế đối với hoạt động y tế trên địa bàn qua thảo luận với lãnh đạo TTYT Gia Lâm

Người thực hiện: Điều tra viên

Công cụ: Phiếu điều tra kiến thức (Phụ lục 3)

2.5.2 Số liệu định tính:

Nghiên cứu viên tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu gồm lãnh đạo TTYT Gia Lâm

(Phụ lục 4) điều dưỡng trưởng TTYT (Phụ lục 5), trưởng phòng khám da khoa khu vực (Phụ lục 6), điều dưỡng trưởng phòng khám đa khoa khu vực (Phụ lục 7), hộ lý phòng

khám đa khoa khu vực (Phụ lục 8), trưởng trạm y tế (Phụ lục 9), điều dưỡng trạm y tế và

hộ sinh trạm y tế (Phụ lục 10) Tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm điều dưỡng trưởng khối

trung tâm y tế và thảo luận nhóm điều dưỡng trưởng trạm y tế (Phụ lục 11) Nội dung chủ yếu trong các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm là thực trạng QLCTRYT, khó khăn, thuận lợi, các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp khắc phục, kiến nghị

Người phỏng vấn: Nghiên cứu viên

Người thảo luận nhóm: Nghiên cứu viên, có sự hỗ trợ của nhân viên y tế phòng

Kế hoạch nghiệp vụ - Truyền thông Giáo dục sức khỏe (Tổ chức và thư ký cho các cuộc

thảo luận)

Thời gian phỏng vấn: mỗi người 30 — 60 phút

Thời gian thảo luận nhóm: 60 — 90 phút

Công cụ hỗ trợ: Máy ghi âm biên bản ghi chép

2.6 Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu định lượng: Số liệu được nhập, làm sạch bằng phần mềm Epidata 3.1 và

phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Áp dụng các thuật toán thống kê mô tả và thống kê

phân tích, sử dụng kiểm định Khi bình phương để kiểm định các yếu tố liên quan

- Thông tin định tính: Phân tích theo chủ đề

2.7 Các biến số nghiên cứu

Trang 38

Biến số về phân loại, thu gom, vận chuyên, lưu giữ, xử lý

thải riêng loại chât thải khác nhau

, _ | Tai dung chat thai có đủ 04

Màu sắc túi ,

, màu: vàng, đen, xanh, trăng để

3 đựng chât thải , Nhị phân Quan sát

- đựng các chât thải theo quy đúng quy định

định của BYT Thê tích tôi đa ä j

- Túi nilon có thê tích tôi đa

của túi đựng 5 -

4 0.1m” tương đương với túi nilon | Nhị phân Quan sát

- đựng 10kg ngoài thị trường quy định

Có dụng cụ | Có hộp đựng chât thải săc nhọn

5 | đựng chất thải | riêng, không để lẫn với chất thải | Nhị phan | Quan sat

thải theo phân loại của Bộ Y tê đê

thực hiện thu gom

Trang 39

Phan loai Thực hiện tách riêng các loại

CTRYTngay | CTRYT khác nhau vào các Quan sat,

tại nơi phát | dụng cụ khác nhau ngay trong phỏng vân

sinh quá trình thực hiện các thủ thuật

Phân loại đúng | Các chất thải khác nhau dựng

8 các loại chất | trong các dụng cụ khác nhau | Nhị phân Quan sát

thải theo quy định

A3 Thu gom chất thải rắn y tế

| Là quá trình tập hợp, đóng gói

9 ‘i và lưu giữ tạm thời chât thải tại | Nhị phân Quan sát

theo quy định của BYT

| Mỗi loại chât thải được thu gom

Thu gom chât Quan sát,

11 - vào các dụng cụ thu gom theo | Nhị phân i

mã màu quy định Thu gom đúng | Lượng chất thải không vượt quá

sô lượng 3⁄4 túi tính từ đáy tới miệng túi

A4 Vận chuyển chất thải rắn y tế

: Là quá trình chuyên chở chât Vận chuyên

13 - thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử Nhị phân | Quan sat

chat thai `

lý ban đâu, lưu giữ, tiêu hủy

Tần suấtvận | Các khoa vận chuyên CTRYT

Trang 40

, Là quá trình giữ lại chât thải từ Quan sát,

16 h cac khoa, phong, tram y té ké tir} Nhi phan | phỏng

khoa, phong | phát sinh đên khi được vận

đúng quy định chuyền về khu lưu giữ

Thời gian lưu LH

2 Chất thải được lưu giữ không Quan sát,

18 quá 48 giờ, tính từ khi chất thải | Nhị phân |_ phỏng

dung tai TTYT

Phương pháp xử | Là cac bién phap ma TTYT Denti

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.2.  Kiến  thức  về  phân  loại  chất  thải  rắn  YB  soiskiseeeeeseeecsesreeoreoSTEDRĐCU  Bảng  3.3 - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.2. Kiến thức về phân loại chất thải rắn YB soiskiseeeeeseeecsesreeoreoSTEDRĐCU Bảng 3.3 (Trang 5)
Bảng  3.3.  Kiến  thức  về  thu  gom  chất  thải  rắn  y  tẾ - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.3. Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tẾ (Trang 50)
Bảng  3.4.  Kiến  thức  về  vận  chuyển  chất  thải  rainy  té - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.4. Kiến thức về vận chuyển chất thải rainy té (Trang 51)
Bảng  3.5.  Kiến  thức  về  lưu  giữ  chất  thai  ran y  té - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.5. Kiến thức về lưu giữ chất thai ran y té (Trang 52)
Bảng  3.7.  Liên  quan  giữa  kiến  thức  phân  loại  chất  thải  rắn  y  tế  với  các  đặc  điễm - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.7. Liên quan giữa kiến thức phân loại chất thải rắn y tế với các đặc điễm (Trang 55)
Bảng  3.9.  Liên  quan  giữa  kiến  thức  lưu  giữ  chất  thải  rắn  y  tế  với  các - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.9. Liên quan giữa kiến thức lưu giữ chất thải rắn y tế với các (Trang 58)
Bảng  3.3  cho  thây  có  44.3%  có  bảng  hướng  dẫn  phân  loại  và  thu  gom  chất - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.3 cho thây có 44.3% có bảng hướng dẫn phân loại và thu gom chất (Trang 68)
Bảng  3.15.  Lưu  giữ  chất  thải  rắn  y  tế - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.15. Lưu giữ chất thải rắn y tế (Trang 71)
Bảng  3.17.  Thực  trạng  chung  về  quản  lý  chất  thải  rắn  y  tẾ - Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của trung tâm y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
ng 3.17. Thực trạng chung về quản lý chất thải rắn y tẾ (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w