1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những tính cách liên quan đến ý hướng khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học An Giang

11 512 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 478,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Keywords: entrepreneurship, entrepreneurial traits/ entrepreneurial characteristics Title: An Giang University student’s entrepreneurial traits and inclination towards business start-up

Trang 1

NHỮNG TÍNH CÁCH LIÊN QUAN ĐẾN Ý HƯỚNG KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trương Thị Thanh Tuyền 1

và Nguyễn Thành Long2

ABSTRACT

This quantitative research used a five-factor measurement scale to test the entrepreneurial traits of students, including perceived need for achievement, self-confidence, innovation, risk-taking, locus of control Research sample was drawn from students of three faculties at An Giang University, i.e Economics and Business Administration, Education, and Agriculture and Natural Resources Preliminary assessment has confirmed the measurement scale for the five traits Among these five traits, risk-taking and innovation had positive relations with inclination to start a business A significant difference in students’ characteristics related to students’ majors and gender was found

Keywords: entrepreneurship, entrepreneurial traits/ entrepreneurial characteristics

Title: An Giang University student’s entrepreneurial traits and inclination towards business start-up

TÓM TẮT

Đây là một nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định sơ bộ thang đo năm tính cách sáng nghiệp của sinh viên: mong muốn thành đạt, tự tin, đổi mới, chấp nhận rủi ro và nội thuộc Sinh viên 3 ngành kinh tế-quản trị kinh doanh, sư phạm và nông nghiệp ở Trường Đại học An Giang được chọn để lấy mẫu Kết quả cho thấy bộ thang đo 5 tính cách được chấp nhận qua đánh giá sơ bộ, trong đó, 2 tính cách chấp nhận rủi ro và đổi mới quan hệ dương với ý hướng mở doanh nghiệp Một số khác biệt tính cách theo ngành học và giới cũng được tìm thấy

Từ khóa: sáng nghiệp, tính cách hướng nghiệp, đặc trưng sáng nghiệp

1 GIỚI THIỆU

Sáng nghiệp (entrepreneurship) thường được hiểu là sự thành lập doanh nghiệp mới bởi một cá nhân Quá trình này khai sinh các doanh nghiệp vừa và nhỏ - động lực quan trọng trong sự phát triển của mọi nền kinh tế thị trường (Bulut & Sayin, 2010) Ở cấp độ và phạm vi này, các nhà nghiên cứu thường dùng cách tiếp cận tâm lý (trait/psychological approach) để xác định các tính cách của cá nhân có khả năng giải thích và dự báo hoạt động tạo lập doanh nghiệp cũng như cơ hội thành công

trong kinh doanh của cá nhân đó trong tương lai Có thể kể ra một số tính cách nổi trội như: đổi mới,

chấp nhận rủi ro, tự chủ, tự tin, nội thuộc (Rauch & Frese, 2000)… chúng được gọi chung là các tính cách sáng nghiệp (entrepreneurial traits) Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng doanh nhân không là bẩm sinh vì năng lực, tính cách doanh nhân là có thể đào tạo được Do đó, việc giáo dục sáng nghiệp (entrepreneurial education) được sự quan tâm của rất nhiều quốc gia Kết quả là, không ít chương trình đào tạo sáng nghiệp đã được triển khai ở các trường đại học trên thế giới (Bulut & Sayin, 2010; Gerba, 2012) Việc mô tả, đo lường các tính cách sáng nghiệp của sinh viên bậc đại học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vì kết quả mô tả, đo lường được xem là chỉ báo kết quả đào tạo sáng nghiệp (vd: Ahmadi, Ahmadi, & Shirzade, 2011; Chen, Weng, & Hsu, 2010; Eeden, Louw, & Venter, 2005) Chủ đề nghiên cứu này ở Việt Nam còn rất ít, nếu không muốn nói là chưa có, do

1 Khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học An Giang

2 ThS Trung tâm Nghiên cứu Phát Triển Nông thôn, Trường Đại học An Giang

Email: ntlong@agu.edu.vn

Trang 2

vậy, nghiên cứu này có mục đích khám phá các tính cách sáng nghiệp của sinh viên ở Việt Nam, cụ thể là Trường Đại học An Giang

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Doanh nhân (entrepreneur) và sáng nghiệp (entrepreneurship)

Sáng nghiệp (entrepreneurship) và doanh nhân (entrepreneur) là hai khái niệm trọng tâm trong lý thuyết kinh tế của Schumpeter (1883-1950) Nhà kinh tế học người Áo này cho rằng, doanh nhân là người tạo ra sự mất cân bằng của kinh tế học tân cổ điển bằng các đổi mới (qua một thực thể hay một quá trình) mang tính đột phá, dẫn đến sự tiến hóa của thị trường và của cả nền kinh tế Để làm việc này, doanh nhân phải chấp nhận bất định, rủi ro có thể đến từ chính các đổi mới đó (Kwasnicki, 2007) Một cách tổng quát, sáng nghiệp bao hàm thực thể (cá nhân/tổ chức), quá trình mà thực thể

đó triển khai và kết quả tạo mới của chính quá trình đó; ở một nghĩa hẹp, sáng nghiệp là sự khởi tạo doanh nghiệp của một doanh nhân (Maes, 2003)

2.2 Tính cách sáng nghiệp

Để giải thích, dự báo các hành vi sáng nghiệp (của cá nhân) và phân biệt doanh nhân với người

không là doanh nhân, các nhà nghiên cứu đã dùng 2 tiếp cận: (1) xã hội: tuổi, học vấn, giới, vị trí xã hội, gia thế và văn hóa; (2) tâm lý: các cá tính, tính cách (traits, personalities) liên quan đến sáng

nghiệp, được biểu hiện bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như: entreprenuership characteristics/mood, entrepreneurial traits/personalities/drive … Trong đó, tiếp cận thứ hai cho rằng, các tính cách tâm lý đặc thù là động cơ thúc đẩy cá nhân hành động kinh doanh, và cũng là tố chất cần thiết để kinh doanh thành công (Chen và cs, 2010; Rauch & Frese, 2000) Lược khảo qua một số nghiên cứu tính cách sáng nghiệp ở sinh viên đại học, có thể thấy các chủ đề được quan tâm là: (1) kiểm định, phát triển thang đo, (2) đo lường và kiểm định sự khác biệt mức độ tính cách theo ngành học, năm học, văn hóa quốc gia… (3) kiểm định quan hệ giữa tính cách sáng nghiệp với ý hướng khởi nghiệp (Ahmadi và cs, 2011; Bulut & Sayin, 2010; Chen, et al., 2010; Eeden và cs, 2005; Fakharzadeh & Johnson, 2010; Florin, Karri, & Rossiter, 2007; Yusof, Sandhu, & Jain, 2009) Số lượng và một vài nội hàm tính cách trong các nghiên cứu trước tuy không đồng nhất, nhưng các tính cách sau đây nhận được sự quan tâm chung và tương đối nhất quán về ý nghĩa:

- Chấp nhận rủi ro (risk-taking): chấp nhận một mức độ rủi ro vừa phải, có tính toán để

vẫn có được cơ hội thành công (dẫn theo Eeden và cs, 2005; Yusof và cs, 2009)

- Mong muốn thành đạt (need for achievement): hành động hướng đến sự cạnh tranh nhằm

đạt được mức độ thành công cao nhất (dẫn theo Yusof và cs, 2009)

- Tự tin (self-confidence): niềm tin vào khả năng của bản thân sẽ đạt được mục tiêu đã đặt

ra (dẫn theo Eeden và cs, 2005; Yusof và cs, 2009)

- Đổi mới (innovation): sẵn sàng vượt ra ngoài những thói quen thông thường để thử

những cách làm mới (dẫn theo Utsch, Rauch, Rothfufs, & Frese, 1999)

- Nội – ngoại thuộc (locus of control): là quan điểm của cá nhân trong xác định yếu tố bên

trong (chủ quan) hay bên ngoài (khách quan) bản thân quyết định thành công và thất bại trong cuộc đời (dẫn theo Yusof và cs, 2009)

Nhìn chung, kết quả các nghiên cứu định lượng này cho thấy các cấu trúc đo lường được khẳng định giá trị, có sự khác biệt nhất định trong tính cách theo các biến phân loại và một số tính cách có tác động dương đến ý hướng làm chủ doanh nghiệp trong tương lai Trường Đại học An Giang là một trường đa ngành, đào tạo cử nhân các ngành kinh doanh (kế toán doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp, tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh, kinh tế quốc tế) và ngoài kinh doanh (vd: sư phạm, công nghệ môi trường, kỹ thuật nông nghiệp…) Câu hỏi đặt ra ở đây là: (1) các tính cách liên quan đến khởi nghiệp của sinh viên ở mức độ nào, (2) các tính cách này có tác động ý hướng tạo lập doanh nghiệp trong tương lai hay không, (3) liệu có sự khác biệt tính cách sáng nghiệp của sinh viên

Trang 3

ngành kinh doanh và ngoài kinh doanh, giữa năm đầu và năm cuối hay không Trả lời các câu hỏi trên sẽ góp phần nhận dạng đặc trưng người học kinh doanh cũng như đánh giá sơ bộ hiệu quả giáo dục sáng nghiệp qua chương trình đào tạo của nhà trường

Căn cứ các lược khảo trên, nghiên cứu lặp lại này đưa ra mô hình và giả thuyết sau

2.3 Mô hình và phương pháp nghiên cứu

H1: Chấp nhận rủi ro quan hệ dương với ý hướng khởi nghiệp, hay mức chấp nhận rủi ro càng được đánh giá cao thì người đó càng mong muốn được khởi nghiệp và ngược lại

H2: Đổi mới quan hệ dương với ý hướng khởi nghiệp

H3: Tự tin quan hệ dương với ý hướng khởi nghiệp

H4: Mong muốn thành đạt quan hệ dương với ý hướng khởi nghiệp

H5: Nội thuộc quan hệ dương với ý hướng khởi nghiệp

H6: Sinh viên ngành kinh doanh có các tính cách sáng nghiệp trội hơn sinh viên ngành khác

H7: Sinh viên năm cuối có tính cách sáng nghiệp cao hơn sinh viên năm đầu

H8: Có sự khác biệt tính cách sáng nghiệp theo giới và khu vực cư trú

Thang đo năm tính cách và ý hướng khởi nghiệp được thiết kế dựa vào các nghiên cứu trước, chủ

yếu của Yusof và cs (2009) và Eeden và cs (2005) với thang Likert 5 Trong đó, các mục đo được hiệu chỉnh theo kết quả nghiên cứu sơ bộ để phù hợp với ngữ cảnh

Hình 1 Mô hình nghiên cứu

Mẫu Sinh viên năm đầu và năm cuối ở các khoa Kinh tế-Quản trị kinh doanh (KD), Sư phạm (SP),

Nông nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên (NN) là tổng thể cho nghiên cứu Mẫu được lấy thuận tiện

và hạn mức (quota) theo Khoa, giới và năm học sao cho các nhóm là xấp xỉ nhau và số lượng mỗi

nhóm không dưới 30

Qui trình Nghiên cứu được tiến hành qua 2 giai đoạn: sơ bộ và chính thức Nghiên cứu sơ bộ là

định tính, dùng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc trực diện 08 sinh viên ở cả 3 ngành để hoàn chỉnh

Trang 4

bản hỏi cho giai đoạn sau Nghiên cứu chính thức là định lượng, dữ liệu từ bản hỏi được phân tích

để: (1) đánh giá thang đo các tính cách bằng phân tích nhân tố khám phá EFA, (2) kiểm định quan

hệ giữa tính cách và ý hướng khởi nghiệp bằng phân tích tương quan, hồi qui tuyến tính, (3) kiểm định sự khác biệt tính cách theo ngành học (khoa) và năm học

3 KẾT QUẢN NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin mẫu

Dữ liệu được thu thập qua bản hỏi trong tháng 4/2013 Qua kiểm tra, có 237 hồi đáp sử dụng được

Cơ cấu các nhóm nói chung là đạt yêu cầu cho phân tích tiếp sau, ngoại trừ nhóm nam của ngành kinh doanh có số lượng thấp hơn yêu cầu (Bảng 1)

Bảng 1 Thông tin mẫu

Ngành học

Tổng

Giới tính

Năm học

Tổng

3.2 Kiểm định thang đo

Năm cấu trúc: tính cách Mong muốn thành đạt (NEE), Tự tin (CON), Đổi mới (INN), Chấp nhận rủi

ro (RIS), Nội thuộc (LOC) và Ý hướng khời nghiệp (INC) được kiểm định qua hai tiêu chí: (1) độ

Principle Component Analysis Thông thường, thang đo sẽ được chấp nhận với các điều kiện: (1) hệ mục đo lên nhân tố >0,5 Tuy nhiên, vì đây là nghiên cứu khám phá, thang đo được chấp nhận với các yêu cầu thấp hơn, cụ thể là: h

phương sai trích > 45%; hệ số tải > 0,5

Trang 5

Bảng 2 Kiểm định thang đo NEE, CON, INN, RIS , LOC và INC

Trang 6

Kết quả kiểm định sau cùng (Bảng 2) cho thấy các thành phần NEE, CON, INN, RIS, LOC không

có dấu hiệu đa hướng; nhìn chung, tất cả đạt các yêu cầu kiểm định Chỉ một mục đo ở thành phần Chấp nhận rủi ro RIS có hệ số tương quan biến tổng chỉ là 0,28<0,30, nhưng vẫn được giữ lại vì nội dung của nó

3.3 Các tính cách sáng nghiệp

Tần suất 5 mức độ (1: thấp nhất, 5: cao nhất) và trung bình tất cả mục đo cũng như 5 thành phần tính cách sáng nghiệp thể hiện ở Bảng 4 Tất cả tính cách đều có mức trên trung bình (phân bố lệch phải) Tính cách nổi trội nhất là nội thuộc (4,1) và nhóm tính cách yếu nhất là đổi mới (3,4)

Nội thuộc Phần đông sinh viên không tin vào số phận và khẳng chính mình mới là nhân tố quyết

định vận mệnh của bản thân (4,1 4,4) Tuy vậy, khả năng tự kiểm soát trong hoạt động thực tiễn học tập, sinh hoạt của họ thấp hơn (3,8), không tương xứng với nhận thức và niềm tin đó

Mong muốn thành đạt Mong muốn này được thể hiện mạnh mẽ qua việc tự đánh giá rất cao sự nỗ

lực của mình (3,9) Tuy nhiên, nỗ lực chung này lại chưa được biểu hiện một cách tương xứng qua các hành động cụ thể như tự đặt yêu cầu cho chính mình hay kiên trì trong giải bài tập (3,6 3,7)

Chấp nhận rủi ro Có mức trung bình tổng thang đo đứng thứ ba (3,5) Xem từng mục đo, có thể

thấy sự chênh lệch dương giữa thái độ chung (sẵn sàng làm trái ngành: 3,8) và xu hướng hành vi cụ thể (làm nhà nước, lãnh lương cố định: 3,4)

Tự tin Mức trung bình như chấp nhận rủi ro Một lần nữa, sự chênh lệch dương giữa thái độ chung

(chấp nhận phê phán, vượt khó:3,7 3,8) và hành vi cụ thể (kiểm tra, phát biểu, trình bày trước đám đông: 3,1 3,5)

Đổi mới Là tính cách có mức độ tự đánh giá thấp nhất (3,4) Có thể thấy, khuôn thức định sẵn vẫn là

chỗ dựa đáng kể cho sinh viên trong học tập

Nhìn chung, nhận thức hay quan điểm chung của sinh viên đối với 5 tính cách sáng nghiệp của mình

là rất tích cực Tuy nhiên các nhận thức này chưa được thể hiện tương xứng qua biểu hiện hành vi hay xu hướng hành vi cụ thể Nói khác đi, sinh viên “làm” hay thực thi kém tích cực so với những gì

họ “nghĩ” hay tâm niệm

Trang 7

Bảng 3 Mô tả các tính cách NEE, CON, INN, RIS , LOC và ý hướng INC

Cấu trúc

(TB) Mục đo

% tần số

TB

1 2 3 4 5

NEE

(3,7)

Khi học, tôi luôn yêu cầu cao ở bản thân mình 2 6 35 46 11 3,6

Khi không giải được bài tập tôi sẽ thử một cách

CON

(3,5)

Khi quyết định rồi tôi nhất định thực hiện, chấp

Tôi tin mình có khả năng vượt qua được mọi

Trước mỗi kỳ thi/kiểm tra, tôi đều tin rằng

Khi giáo viên đặt câu hỏi, tôi thường xung

Tôi không thấy ngại khi thuyết trình hoặc giải

INN

(3.4)

Khi làm việc nhóm, tôi thường đưa ra những

cách làm mới mà các bạn còn lại không nghĩ

đến

Khi học, tôi luôn tự mình đặt ra nhiều câu hỏi 0 7 39 42 12 3,6

Với tôi bài giải mẫu không quá quan trọng 11 17 35 30 7 3,1

Khi giải bài tập tôi thích thử những cách làm

RIS

(3,5)

Sau này làm việc tôi thích nhận lương theo

Tôi không ngại thử sức ở một công việc mà

mình quan tâm dù không đúng chuyên ngành

Sau khi tốt nghiệp, tôi muốn làm ở công ty tư

LOC

(4,1)

Tôi chịu trách nhiệm cho những thành công,

Tôi kiểm soát được hoàn toàn việc học tập, sinh

Tôi tin số phận của mình là do chính mình làm

Kết quả việc học tập của tôi phụ thuộc vào sự

Chú thích : - Tính cách đo bằng Likert 5: 1: hoàn toàn không đồng ý 5: hoàn toàn đồng ý -Ý hướng khởi nghiệp đo bằng Likert 5: 1: nhất định không … 5: nhất định mở

Trang 8

Kiểm định mối quan hệ giữa tính cách với ý hướng khởi nghiệp

Kiểm định này qua 2 bước: (1) phân tích tương quan và (2) hồi quy tuyến tính Kết quả phân tích tương quan (mức ý nghĩa 5%) ở Bảng 3 cho thấy:

Chấp nhận rủi ro và đổi mới và chấp nhận mơ hồ là những nhóm tính cách có tương quan dương với

ý hướng khởi nghiệp, nhưng không cao, chỉ ở khoảng 0,23 0,26

Ba tính cách còn lại: mong muốn thành đạt, tự tin và nội thuộc không tương quan với ý hướng khởi nghiệp

Do vậy, chỉ có hai biến độc lập là chấp nhận rủi ro (RIS) và đổi mới (INN) được đưa vào mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là ý hướng kinh doanh (INC) Kết quả hồi qui được trình bày ở Bảng 5

Bảng 4 Phân tích tương quan giữa các nhóm tính cách với ý hướng kinh doanh

**

: Tương quan đạt mức ý nghĩa 0,01

Bảng 5 Kiểm định mô hình hồi quy: INC=f(RIS, INN)

Biến chuẩn hóa t-value Sig

Trị thống kê F của mô hình cũng như giá trị T-value của các hệ số hồi quy đạt mức ý nghĩa <5%, điều này chứng tỏ rằng mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và do đó, có thể sử dụng được Tuy nhiên, hệ số R2

hiệu chỉnh cho thấy chỉ có 7,6% khác biệt về ý hướng sáng nghiệp

Trang 9

có thể được giải thích bởi sự khác biệt giữa các tính cách đổi mới, chấp nhận rủi ro và chấp nhận mơ

hồ Giá trị R2

thấp có thể do quá trình đo lường chưa tốt, cũng có thể ngoài những tính cách được đưa vào đo lường vẫn còn nhiều tính cách có tác động đến ý hướng sáng nghiệp Điều đó khiến cho những biến độc lập giải thích được rất ít sự khác biệt của biến phụ thuộc Đến đây, 5 giả thuyết nghiên cứu đầu tiên, từ H1 đến H5, đã được kiểm định Kết quả cho thấy giả thuyết H1 và H2 được chấp nhận, các giả thuyết H3, H4 và H5 bị bác bỏ

3.4 Kiểm định khác biệt trong tính cách liên quan sáng nghiệp

Theo ngành học và năm học

Bảng 6 Khác biệt tính cách sáng nghiệp theo ngành và năm học

Ngành

Năm học

CON 3,4 3,5 3,6

RIS 3,6 3,3 3,7

LOC 4,1 4,0 4,2

In đậm: có sự khác biệt ở mức ý nghĩa 0,05

Phân tích ANOVA với mức ý nghĩa 5% được dùng để kiểm định sự khác biệt về tính cách sáng nghiệp của sinh viên giữa ngành khác nhau và năm học khác nhau (Bảng 6) Kết quả cho thấy sự khác biệt giữa các ngành học chỉ được khẳng định ở 3 tính cách: tự tin, chấp nhận rủi ro và nội thuộc Điều đặc biệt là sinh viên ngành nông nghiệp có tính cách sáng nghiệp cao hơn hai ngành còn lại – nhất là ở tự tin và nội thuộc Trong khi đó, sinh viên ngành kinh doanh chỉ hơn ngành sư phạm

ở tính cách chấp nhận rủi ro Do đó, giả thuyết H6 bị bác bỏ Kiểm định cũng cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa về tính cách sáng nghiệp giữa sinh viên năm đầu và năm cuối, ngay cả ở ngành kinh doanh Như vậy, giả thuyết H7 cũng bị bác bỏ

Theo giới và nơi cƣ trú

Kiểm định T-Test (mức ý nghĩa 5%) khẳng định nam giới có mức tự tin và đổi mới cao hơn nữ giới Tuy sinh viên ở thành phố, thị xã có mức tự tin thấp hơn đôi chút, nhưng nhìn chung, không có chênh lệch đáng kể tính cách sáng nghiệp theo địa bàn cư trú Như vậy, giả thuyết H8 được chấp nhận

Trang 10

Bảng 6 Khác biệt tính cách sáng nghiệp theo giới và khu vực cư trú

Giới Khu vực cƣ trú

CON 3,7 3,4 3,4 3,5 3,5

INN 3,5 3,2 3,2 3,4 3,4

In đậm: có sự khác biệt ở mức ý nghĩa 0,05

4 KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN

Đây là một nghiên cứu khám phá định lượng nhằm kiểm định bước đầu thang đo của 5 tính cách sáng nghiệp tiêu biểu trong sinh viên đại học Sinh viên các ngành kinh doanh, sư phạm và nông nghiệp của Trường Đại học An Giang được chọn để lấy mẫu cho nghiên cứu Qua phân tích dữ liệu

từ 237 hồi đáp, các kết quả chính của nghiên cứu như sau:

Một là, qua đánh giá sơ bộ bằng độ tin cậy và giá trị hội tụ, thang đo năm tính cách được chấp nhận

Tuy nhiên, các chỉ tiêu kiểm định phải hạ thấp hơn bình thường (vì đây là nghiên cứu khám phá)

Hai là, kết quả nghiên cứu khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa một số tính cách sáng nghiệp với

ý hướng khởi nghiệp, cụ thể là hai tính cách: đổi mới và chấp nhận rủi ro Tuy các tính cách còn lại trong nghiên cứu này không được chứng minh là có mối quan hệ với nhân quả với ý hướng khởi nghiệp, nhưng kết quả này có thể bị ảnh hưởng bởi giá trị thang đo không cao và phương pháp lấy

mẫu thuận tiện Ba là, một số khác biệt trong tính cách sáng nghiệp được khẳng định, cụ thể là: tự

tin, chấp nhận rủi ro và nội thuộc Sinh viên ngành kinh doanh được học hỏi nhiều về kinh doanh, được kỳ vọng vượt trội tính cách liên quan đến sáng nghiệp Tuy nhiên, kết quả lại cho thấy sinh viên ngành kinh doanh chỉ trội hơn ngành sư phạm ở chấp nhận rủi ro, nhưng lại kém sinh viên ngành nông nghiệp tự tin và nội thuộc Ngoài ra, các tính cách không có sự khác biệt giữa sinh viên năm đầu và năm cuối ở tất cả các khoa Điều này cho phép đặt ra giả thuyết là hoạt động đào tạo sáng nghiệp trong trường vẫn chưa thực sự có hiệu quả, dẫn đến sinh viên sau quá trình đào tạo không có những tiến bộ, phát triển về mặt tính cách sáng nghiệp

Nghiên cứu này có các hạn chế chính sau đây: (1) kết quả kiểm định thang đo không cao, điều này

có thể do thiết kế thang đo chưa tốt, (2) mức giải thích ý hướng khởi nghiệp dù có ý nghĩa nhưng cũng ở mức thấp, cho thấy có thể thang đo chưa tốt và bỏ sót biến giải thích, (3) cách lấy mẫu thuận tiện, cỡ mẫu nhỏ nên khó tổng quát hóa, (4) là nghiên cứu cắt ngang, khó đánh giá hiệu quả đào tạo chính xác Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần hoàn chỉnh bộ thang đo tính cách này, lấy cỡ mẫu lớn hơn và nhiều trường hơn Một hướng nghiên cứu khác có thể quan tâm là nghiên cứu so sánh cấu trúc, nội dung, qui trình đào tạo sáng nghiệp ở trường Đại học An Giang với các trường khác

Ngày đăng: 14/08/2015, 23:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mô hình nghiên cứu - Những tính cách liên quan đến ý hướng khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học An Giang
Hình 1. Mô hình nghiên cứu (Trang 3)
Bảng 1. Thông tin mẫu - Những tính cách liên quan đến ý hướng khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học An Giang
Bảng 1. Thông tin mẫu (Trang 4)
Bảng 2. Kiểm định thang đo NEE, CON, INN, RIS , LOC và INC - Những tính cách liên quan đến ý hướng khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học An Giang
Bảng 2. Kiểm định thang đo NEE, CON, INN, RIS , LOC và INC (Trang 5)
Bảng 3. Mô tả các tính cách NEE, CON, INN, RIS , LOC và ý hướng INC - Những tính cách liên quan đến ý hướng khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học An Giang
Bảng 3. Mô tả các tính cách NEE, CON, INN, RIS , LOC và ý hướng INC (Trang 7)
Bảng 6. Khác biệt tính cách sáng nghiệp theo giới và khu vực cư trú - Những tính cách liên quan đến ý hướng khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học An Giang
Bảng 6. Khác biệt tính cách sáng nghiệp theo giới và khu vực cư trú (Trang 10)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w