1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan

76 599 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 15,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện là nội dung quan trọng trong việc đảm bảo an toàn sinh học tại các bệnh viện, trong đó vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế là một trong những yếu tố qua

Trang 1

VA MOT SO YEU TO LIEN QUAN

LUAN VAN THAC SY QUAN LY BENH VIEN

MA SO CHUYEN NGANH: 60 720 701

HUONG DAN KHOA HOC

TS VIEN CHINH CHIEN

HA NOI, 2012

Trang 2

bệnh viện đang được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng

dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Với tất cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thầy, cô

hướng dẫn TS Viên Chinh Chiến và Ths Bùi Thị Tú Quyên — là những người đã

giúp đỡ tôi từ khi xác định vấn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và

hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc Sở Y tế và bệnh viện

đa khoa huyện: CưM'Gar, Krông Bông và M”Drắk đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu, giúp đỡ, cung cấp số liệu cho nghiên cứu này

Xin cảm ơn những người thân trong gia đình tôi đã chịu nhiều hy sinh,

vất vả, luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và phấn đấu

Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn trong lớp cao học Quản lý bệnh viện khóa 3 Tây Nguyên đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong 2 năm học qua

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hoàng Đức Trường

Trang 3

DANH MUC TU VIET TAT

DTTS Dân tộc thiểu số

DTV Diéu tra vién

GSV Giam sat vién

KAP Knowledge Attitude Practice : Kiến thức-thái độ-thực hành

MRSA Tụ cầu kháng Methixilin

NC Nghiên cứu

NKBT Nhiễm khuẩn bàn tay

KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn

Trang 4

l2 (e8:)9)0ẼỀ0020277 7 4 ii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 2-2 se seeessecsccs «iii 7902.906; 1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2-2e2V©©2z€EEz€EvzzeEcvszerezzszervrzere 2

1- Mu ti6u CHUN 1177 .d3äHẶ)L)L1HẦL Ô 2

= Mine ti@u cuit hte ccssseesvescessnrscensvecsaenavrceiecmemmnemsnnessensmonnntcancmance, 2

Chirong Lessssissiscssees Ne ee Te 4

TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU - 2-22 ©+Z€+sz£CvzseC2vzszccvazserre 4

<6 on 4

2 Các nguồn lây và phương thức gây nhiễm bắn bàn tay -2 4

2.1 Các nguôn lây và phương thứ€ CÏMHg 5+-225ec2csevecveercerverrrreerrre 4 2.2 Nguôn lây và phương thức liên quan đến bàn tay của NVYT 4

3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi rửa tay xà phòng s-ccccccccrscez 5

3.1 Chính sách, quy định về rửa tay xà phòng . cccccccccscrrverrrrerree 5 3.2 Trang bị phương tiện rửa tay XA PRONG .eeseceeceseeseseesensesesessetseseeseseseseeseneeees 6

3.3 Kiến thức và thực hành của nhân viên y tế đối với RTXP -cccc+ 6

4 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nưỚc : +-s+ se ssssscscssce+ ự 4.1 Lịch sử thực hành vệ sinh bàn tay trong phòng chống NKBV 7 4.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nưỚC ¿+ s+++t+x‡xexvxekererrrrrrrsee 7 4.3 Các công trình nghiên cứu trong nƯỚC - ¿+ ++s++x+es+x+esexevesxeeescsee 10 CHƯƠN 2 sat uunhgggeanonisbselE12118516366184616140844085394585516305:4388559886158g538330: G405g058E 16

ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 16

1 Đối tượng, thời gian va địa điểm nghiên cứu -c:+22ccc222Ezsccersccee 16

PD, DGGE cnsonsnonanconeemnnoneocifRgPewceavoneestsvennasvrscaoyscevare vstntvesicrsecuoveesv MO 16

(20.20 .10 1nn6 Ầ.Ầ.ồồ.ồẦ.Aa.Ả 16 1.3 Dia diém nghien COU ceccecccecsescsesssssssssvsssssessssesessvscssesessussessecsssssssucessssuessssscee 16

Trang 5

2 Phương nhấp nghiÊn GỮU ssscssssessiicssdsdgDSUEDHEEEEGGIEERSGSISE1SESĐALS391E4844Đ23854 16

2.2 Cỡ mẫu nghiÊP €ỨPM -2+-©5+2S2xSEEtvE E23 E223 221221112711 211112111211 E11, 16

2.3 CHON MGU oessscssssescssseesserseeeseessesssneseeeesssnnnesseessnnnsescennuneessessnnnneeessesnnuumeesee 17 2.4 Công cụ thu thập BADD nen nese eee 17

2.4.1 Cấu phân xét nghiệm vi Sinh ccccscccsssscsssssssssssessssessssesesssessssuceesssesesssesssssseee 17

Eid Geir BE nuassnrettsontdtitinndiiiautgitbifttirtxgfAgi006010nggpuetunlf 19

2.5 Cdc bién s6 trong Mghi€n CUCU vecseeccsecsssessssesssesssssessesssesssussssecsssesesessssiesesseeese 19

2.6 Diéu tra VIM, DIAG SAL VICI, 00cnvsenensneonevencrssmnaxeomocuscemeseverreaivencevecesoeextestests 24

2.7 Qui trình thu thập 86 UitU cccccescseccscessssesssessseessvesssesssessssesssesssuesssessseesssvecssees 24 2.8 Xử lý sỐ liỆM + 5-52 22s SEE2EE12121122E12T 12111.111.111 Ø5

2:9, Khia canh Gao GIC HIghÏỂH Chit cuissddgttisetti338Doilo33tissSNtOGGEGGGEDVDNEĐPVapsia 25

2.10 Sai số, han ché ctra nghién cru vat COCN KREC PRUC cessesssscessssesssssessevseseeees 25

CHORE Bo cercssesscecsvecesassotsnsensnsvsnssenssteestonssossbustarsnesvoyrunsesegescesustuvenenceresesiseistte 27

KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU - 2° £€v+££v££v££+Ees£zxevvssevvee 27

1 Thông tin chung về bệnh viện và các đối tượng nghiên cứu 37

2 Thực trạng nhiễm khuẩn tụ cầu vàng bàn tay của nhân viên y tế 30

3 Kiến thức, thực hành về rửa tay xà phòng của nhân viên y tế 31

4 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn tụ cầu vàng bàn tay của NVYT 35

Chương 4 BÀN LUẬN 2-2 2s 2s E+sEEtEztEEkseEEsevkserseevksoxece 40 1 Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế tại 3 bệnh viện huyện tỉnh BGK DẶ co stsiseonongrenitsnodiSSOEI03891601958414055301045314411391540859306E033E5E4S04:S8XELEG3 8S gãAvG18 40 2 Kiến thức, thực hành về rửa tay xà phòng của nhân viên y tế - 41

3 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn bàn tay của NVYT 42

4 Bàn luận dựa vào phân tích nguy cơ để đưa ra giải pháp cải thiện: 44

901018 8.00090 00577 47

1 Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của NVYTT tại bệnh viện huyện 47

2 Kiến thức, thực hành rửa tay với xà Phòng;cla NVY TT osseslisasosessarenindesn 47 3 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn bàn tay của NVYT - 47

Trang 6

3 Đối với các nghiên cứu tiếp theo 2¿2¿©22222+++cvxreErxrrrrxrrrrrrerrrcrrr 48 TẠI KIỂU THANE KHẢO cá sec 02nnnHuangggannÿnggn1g0asggge6asesbG01-288 50

Phụ lục 1 : Bộ công cụ thu thập c1 0 ốc 54 Ehụ lục 2: Quy HH TửA: lSY tu nninnga cán 86061 45551348588E464E4089336/383355/54533559148588 65

Trang 7

1

CÁC BANG

Bảng 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=186) - 27 Bảng 2 : Một số thông tin chung về bệnh viện «-s<©vsseccvvssecvsse 28

Bảng 3 : Kiến thức của nhân viên y tế về rửa tay xà phòng -«-‹- 31

Bảng 4: Thực hành của nhân viên y tế về rửa tay xà phòng - 32 Bảng 5 : Số lượng nhiễm khuẩn tụ cầu vàng theo giới -s <-s<+ 35 Bảng 6 : Mối liên quan giữa nhiễm tụ cầu vàng và trình độ chuyên môn 35

Bảng 7 : Mối liên quan giữa nhiễm tụ cầu vàng và khoa / phòng làm việc 35

Bảng 8 : Mối liên quan giữa tỷ lệ nhiễm tụ cầu vàng và công việc hiện đang làm

của nhân ViÊn Y tẾ s-s<se+©+++++st©E++tEksEEvAeEEAeErseErstEEAAeErketrkserksrerrssrrrserre 36

Bảng 9 : Mối liên quan giữa nhiễm khuẩn tụ cầu vàng và tình trạng móng tay: 37

Bảng 10 : Mối liên quan giữa nhiễm khuân tụ cầu vàng và vệ sinh bàn tay 37 Bảng 11 : Mối liên quan giữa nhiễm khuẩn tụ cầu vàng và điều kiện vệ sinh của 0101-20 - ,.,ÔỎ 38

Bảng 12 : Mối liên quan giữa nhiễm tụ cầu và kiến thức NVYT với rửa tay xà

Bảng 13: Mối liên quan giữa nhiễm khuẩn tụ cầu vàng và thực hành NVYT 39

Trang 8

Tý lệ điểm RTXP đạt yêu cầu ở các bệnh viện -. -c 29

Tỷ lệ nhiễm Tụ cầu vàng ở bàn tay của Nhân viên y tế 30

Tỷ lệ nhiễm Tụ cầu vàng ở bàn tay của NVYT theo Bệnh viện 30

Tỷ lệ VSBT trước/sau khi tiếp xúc BN 2 2-©2scczxvrxeerxee 33

Đánh giá chung về kiến thức, thực hành RTXP của NVYT 33

Tỷ lệ cập nhật thông tin về Rửa tay xà phòng - 34

Tỷ lệ của các nguồn thông tin về rửa tay sạch -¿-cccccce 34

Trang 9

ili

TOM TAT NGHIEN CUU

Nhiễm khuẩn bệnh viện luôn là một vấn đề mang tính thời sự tại tất cả các

cơ sở y tế của mọi quốc gia Phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện là nội dung

quan trọng trong việc đảm bảo an toàn sinh học tại các bệnh viện, trong đó vệ

sinh bàn tay của nhân viên y tế là một trong những yếu tố quan trọng liên quan

đến nhiễm khuẩn bệnh viện Với thực trạng quá tải tại các bệnh viện hiện nay, tại

Đắk Lắk một bác sỹ ở khoa Khám bệnh thường phải khám từ 50 - 100 bệnh nhân mỗi ngày Cường độ lao động của nhân viên y tế cao dẫn tới nguy cơ nhiễm

khuẩn qua tay nhân viên y tế và lây nhiễm chéo cho bệnh nhân khi chưa được rửa tay đúng quy trình Tuy nhiên, tại Đắk Lắk đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào

tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh bàn tay ở nhân viên y tế cũng

như thực trạng nhiễm khuẩn ở bàn tay NVYT trong quá trình khám bệnh, đặc

biệt là ở tuyến huyện, nơi điều kiện vệ sinh còn rất hạn chế Vì vậy chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài : “Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế

bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tế liên quan ” Qua

đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn thông quan việc rửa tay xà phòng (RTXP)

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang có phân tích, được thực hiện tại 03 bệnh viện tuyến huyện tinh Dak Lăk Đối tượng nghiên cứu là 186 nhân viên y tế kết hợp lay mẫu xét nghiệm nhiễm khuẩn bàn tay tắt cả các đối tượng đã phỏng vấn giữa ca làm việc buổi sáng

Kết quả cho thấy: Tỷ lệ bàn tay nhân viên y tế có kết quả dương tính với

tụ cầu vàng là rất thấp 26/186 trường hợp chiếm 14% Có tới 98,4% nhân viên y

tế cho rằng rửa tay là rất cần thiết đặc biệt là RTXP trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân Tỷ lệ NVYT trả lời đúng các bước trong quy trình rửa tay bằng xà phòng chỉ chiếm 67,7% Đa số nhân viên y tế đều cho rằng thường xuyên rửa tay

bằng xà phòng trước và sau khi khám/ làm thủ thuật sẽ hạn chế được nhiễm

khuẩn bàn tay và cũng là biện pháp đơn giản nhất Kết quả phân tích cho thấy có

Trang 10

sự liên quan có ý nghĩa thống kế giữa môi trường làm việc và nhiễm khuẩn tụ

cầu vàng Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế thực hành đúng 6 bước về rửa

tay bằng xà phòng trong việc thăm khám và chăm sóc bệnh nhân sẽ phòng chống

được nhiễm tụ cầu vàng đạt 66,1%, mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với

p<0.05

Kết quả của nghiên cứu là bằng chứng khoa học giúp cho lãnh đạo bệnh

viện có nhận định đúng đắn nhiễm khuẩn bệnh viện từ đó có giải pháp can thiệp

nhằm làm tốt công tác phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện

Trang 11

truyền nhiễm Đối với nhân viên y tế (NVYT), là người trực tiếp hỏi bệnh, thăm

khám, lấy mẫu bệnh phẩm, làm xét nghiệm nên bàn tay của họ luôn phơi

nhiễm trực tiếp, vì vậy khả năng nhân viên y tế bị lây nhiễm mầm bệnh qua tay

mình là rất lớn[5] [6]

Theo TCYTTG, chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả

năng lây truyền vi khuẩn Shigella, E.coli[36] Rửa tay bằng xà phòng cũng là một trong những cách ít tốn kém nhất để phòng ngừa bệnh tật, đặc biệt là những

bệnh chưa có vắc xin hay thuốc điều trị đặc hiệu như địch SARS, cúm A (H5N1;

HINI), bệnh Tay chân miệng Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay của NVYT hiện nay ở nước ta còn rất thấp Một nghiên cứu tại miền Bắc cho thấy:

chỉ có 2,6% nhân viên y tế vệ sinh bàn tay trước khi thăm khám cho bệnh nhân,

và 100% tay nhân viên bị ô nhiễm vi khuẩn hiếu khí khi bắt đầu thay băng[ 15] Với thực trạng quá tải tại các bệnh viện hiện nay, tại Đắk Lắk một bác sỹ ở khoa

Khám bệnh thường phải khám từ 50 - 100 bệnh nhân mỗi ngày Đây là một áp

lực rất lớn về cường độ lao động của nhân viên y tế dẫn tới nguy cơ nhiễm khuẩn

qua tay nhân viên y tế và lây nhiễm chéo cho bệnh nhân khi chưa được rửa tay đúng quy trình Tuy nhiên, tại Đắk Lắk đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm

hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh bàn tay ở nhân viên y tế cũng như

thực trạng nhiễm khuẩn ở bàn tay NVYT trong quá trình khám bệnh, đặc biệt là

ở tuyến huyện, nơi điều kiện vệ sinh còn rất hạn chế Vì vậy, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu: “Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tẾ bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan”

Trang 12

Mô tả thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay, kiến thức, thái độ, thực hành về rửa tay bằng xà phòng của nhân viên y tế tại một số bệnh viện huyện tỉnh Đắk Lắk

năm 2012 và một số yếu tố liên quan

2- Mục tiêu cụ thể

2.1 Mô tả kiến thức, thực hành về rửa tay bằng xà phòng của nhân viên y tế tại các bệnh viện này

2.2 Xác định thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế tại một số

bệnh viện huyện của tỉnh Đắk Lắk năm 2012

2.3 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn bàn tay của nhân

viên y tế

Trang 13

e Dân tộc e Nội quy của don vi

e Tuổi e _ Điều kiện cơ sở vật chất cho

e Học vấn RTXP của BV

e _ Tính chất công việc e Thực trạng vệ sinh BV (đánh

e_ Thói quen/tập quán gid dua theo QD 43/2007/ QD-

e _ Bệnh tật của bản thân (dị ứng, © - Đặc điểm khoa phòng

e Áp lực công việc

e Truyền thông

e Kiểm tra, giám sát

PHÒNG PHÒNG

s _ Sự cần thiết phải rửa tay xà s _ Rửa tay trước/ sau khám/

phòng tiệp xúc bệnh nhân

e Thời điểm rửa tay

e Ria tay ding cách

e Thai d6 thuc hién rua tay e Bién phap vé sinh ban tay e Rwa tay xa phong dung cach

e _ Tần xuất vệ sinh bàn tay

Trang 14

Nhiễm khuẩn bàn tay: Là tình trạng bàn tay có các vỉ sinh vật gây bệnh/ có

hại trong đó có Staphylococcus aureus Có rất nhiều loại vi sinh vật ở tay NVYT, trong khuôn khổ của nghiên cứu này chúng tôi chọn 01 loại là Staphylococus aureus (tu cầu vàng), vì đây là loại vi khuẩn mang tính chỉ điểm vệ sinh đã được

rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước lựa chọn[I1], [15] [19] [21] [24]

[28] [29] [31]

Rửa tay bằng xà phòng (RTXP): Là hành vì rửa tay với nước và xà phòng (dạng lỏng hoặc đặc)

2 Các nguồn lây và phương thức gây nhiễm bắn bàn tay

2.1 Các nguồn lây và phương thức chung

Qua thực phẩm (k cả nước) và ngược lại : Vi khuẩn từ thực phẩm sống hoặc chưa nấu chín hoặc bị ô nhiễm sẽ bám dính vào bàn tay, những bàn tay có

vi khuẩn lại truyền vi khuẩn sang các thực phẩm khác Ngược lại, vi khuẩn từ tay

ban lại gây ô nhiễm sang thực phẩm tạo ra vòng xoắn lây nhiễm

Qua không khí: Bàn tay bị bám đính bởi các loại vi khuẩn gây bệnh lơ lửng trong không khí bị ô nhiễm hoặc các hạt khí dung (nước mũi do hắt hơi,

nước bọt do ho )

Qua tiếp xúc với các chất bản, vết thương, bề mặt bẩn: Đây là phương

thức phố biến và đa dạng nhất, do phơi nhiễm với các chất thải bẩn như phan,

nước tiểu, rác, bề mặt bị nhiễm bản, tích tụ chất bẩn ở đầu móng tay gây nhiễm

ban bàn tay và bàn tay bị nhiễm bắn có thể sẽ lan truyền cho người khác qua bắt tay, thăm khám, sờ mó Bàn tay đóng vai trò trung gian trong việc làm lan truyền các bệnh dịch qua đường tiêu hóa

2.2 Nguôn lây và phương thức liên quan đến bàn tay của NVYT

Bản thân Nhân viên y tế: NVYT có nguy cơ bị nhiễm khuẩn từ bệnh nhân đồng thời cũng có thể là nguồn truyền nhiễm làm lan truyền vi khuẩn cho BN khi tiến hành các thủ tục thăm khám Một số loại vi khuẩn thường gặp ở tay NVYT

Trang 15

là Tụ cẩu vàng, Liên cẩu tan huyết nhóm A, trực khuẩn nưà xanh Đã có rất nhiều báo cáo trên thế giới về tình trạng nhiễm tụ cầu vàng kháng Methicillin

trên da và đầu ngón tay NVYT [19], [21] [24] [28] [29] [31]

Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân: Cũng giống như NVYT, BN và người nhà BN là những người đang nhiễm khuẩn hoặc mang mầm bệnh không triệu chứng và cũng là nguồn lây truyền VK cho tay NVYT hoặc bị nhiễm chéo VK

từ tay NVYT

Môi trường bệnh viện: Môi trường BV bao gồm: Không khí, nguồn nước, các bề mặt, xe cộ, rác thải Môi trường BV vừa là nguồn chứa vừa là đường lan truyền các tác nhân gây NK bàn tay NVYT Nguồn nước, không khí trong BV

vừa là nguồn chứa song cũng là đường lây các tác nhân gây VK và tác động rất lớn đến bàn tay của NVYT Rất nhiều VSV gây bệnh có thể có mặt trong nước/không khí BV như Tụ cầu vàng, Liên cầu, Trực khuẩn mủ xanh và có thể bám dính vào bề mặt các vật dụng, bàn tay của NVYT Ngoài ra chất thải rắn của

BV, dụng cụ, quần áo bẩn cũng là nguồn chứa tác nhân gây NK bàn tay cho

NVYT[10]

3 Các yếu tố ánh hưởng tới hành vi rửa tay xà phòng

3.1 Chính sách, quy định về rửa tay xà phòng

Nhằm quản lý tất cả các hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn, xây dựng chính sách, triển khai giám sát và báo cáo tại các cơ sở y tế, cần phải có một bộ khung

về phòng ngừa kiểm soát NKBV, đó là:

“_ Hội đồng chống nhiễm khuẩn

" Khoa chống nhiễm khuẩn

" Mạng lưới chống nhiễm khuẩn

Quy chế về hội đồng Chống Nhiễm Khuẩn và khoa Chống Nhiễm Khuẩn

đã được Bộ Y tế ban hành và yêu cầu các cơ sở y tế thực hiện từ năm 1997 [3] Quy định về rửa tay xà phòng tại bệnh viện phải được viết bằng văn bản dựa theo công văn số 7517/BYT-ĐTr của Bộ Y tế ngày 12/10/2007 về việc hướng

dẫn quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay bằng xà phòng Việc thực hiện

quy định về RTXP đòi hỏi sự phối hợp và tham gia của tất cả các đội ngũ nhân

Trang 16

NVYT trong khoa có ý kiến để xây dựng được chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của bệnh viện, tạo được sự đồng thuận, có như vậy mới mong duy trì được lâu dài chính sách, quy định đó

Chính sách, quy định RTXP còn phải bao gồm công tác tập huấn, đào tạo, truyền thông vì chương trình huấn luyện, đào tạo cho NVYT là cần thiết để tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của VSBT, nâng cao kiến thức về quy trình RTXP và chấp hành đúng, tuân thủ những kỹ thuật rửa tay Các chương trình đào tạo phải kết hợp chặt chẽ và chương trình định hướng cho nhân viên mới cũng như các hoạt động đào tạo liên tục (tại bệnh viện hoặc khoa phòng) Đồng thời cũng phải đào tạo cho nhân viên biết theo dõi và thông báo các tác dụng phụ của

hoá chất VSBT để bệnh viện có hướng khắc phục và giải quyết

Và một điều quan trọng không thể thiếu đó là công tác giám sát và tổng hợp, báo cáo kết quả cho các bên liên quan để có biện pháp giải quyết thích hợp cũng như xây dựng được chế tài thưởng phạt rõ ràng Kết quả giám sát (thường quy, đột xuất) sẽ được sử dụng cho khen thưởng hoặc phạt (nhắc nhở, phạt hành chính ) đối với các cá nhân hoặc khoa phòng vi phạm

3.2 Trang bị phương tiện rửa tay xà phòng

Phương tiện RTXP có ảnh hưởng rõ rệt đến công tác RTXP của NVYT Việc trang bị đầy đủ các phương tiện rửa tay (bồn rửa tay, xà phòng, khăn lau tay

sử dụng 1 lần) sẽ giúp cải thiện tình trạng RTXP ở NVYT Tuy nhiên, tại Đắk

Lắk, hầu hết các bệnh viện đều thiếu phương tiện RTXP, đặc biệt là bồn rửa tay

và khăn lau tay sử dụng một lần ở khu vực buồng bệnh

3.3 Kiến thức và thực hành của nhân viên y tế đối với RTXP

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến RTXP là kiến thức và thực hành

của NVYT đối với tầm quan trọng của việc RTXP trong phòng chống NK bàn

tay của NVYT nói riêng và chống NKBV nói chung Rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng vẫn còn một tỷ lệ lớn NVYT chưa có kiến thức đầy đủ và chưa

Trang 17

quan tâm thực hành RTXP trong quá trình làm việc, điều này sẽ làm giảm hiệu quả của công tác phòng chống NKBV [12] [13] [28]

4 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

4.1 Lịch sử thực hành vệ sinh bàn tay trong phòng chỗng NKBV

Ngay từ năm 1822 các được sĩ của Pháp đã khuyến cáo các thầy thuốc nên

sử dụng nước Clo để rửa tay khi thăm khám bệnh nhân Năm 1843, Oliver

Wendell Holmes đã đưa ra kết luận rằng sốt hậu sản là do bàn tay của thầy thuốc

Năm 1846, Ignaz Semmelweis đã rút ra kết luận là sốt hậu sản là do “các tiéu

phan chét ”, tir d6 ông đã đưa ra chính sách rửa tay bắt buộc bằng dung dịch

Clorine khi NVYT đỡ đẻ Mặc dù thời điểm đó người ta vẫn chưa biết về vi trùng

song nhờ 2 kết quả nghiên cứu trên, thực hành rửa tay được chấp nhận như một trong những biện pháp quan trọng nhất phòng ngừa tác nhân gây bệnh ở các cơ

sở y tế Đến năm 1961, Cục Sức Khỏe Cộng Đồng của Mỹ chính thức công bố kỹ thuật rửa tay bằng xà phòng dành cho nhân viên y tế bệnh viện, cụ thể là nên rửa

tay bằng nước với xà phòng ngay trước và sau khi thăm khám bệnh nhân 1-2

phút Tiếp đến, giai đoạn 1975 và 1985, Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát bệnh Hoa Kỳ(CDC) đã xuất bản tài liệu hướng dẫn về thực hành rửa tay trong các BV Giai đoạn 1988 và 1995, Hiệp hội Chống nhiễm khuẩn Mỹ (APIC) cũng

lại xuất bản các hướng dẫn về rửa tay và khử khuẩn bàn tay [23]

Tại Việt Nam, việc rửa tay của nhân viên y tế đã được đưa vào qui định của

y văn ngay từ thời kỳ Pháp thuộc và trong tất cả các chương trình đào tạo thầy thuốc từ sơ cấp đến đại học Tuy nhiên, hành vi này mới chỉ chính thức được quy

định chỉ tiết tại Công văn số 17/BYT- ĐTr ngày 12/10/2007 [1] [3]

4.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Hussein và cộng sự tại Mỹ, đã tiến hành quan sát về thực hành vệ sinh bàn

tay của các nhân viên y tế được thực hiện tại một trung tâm chăm sóc thuộc trường đại học bởi một quan sát viên độc lập ở tất cả những đơn vị chăm sóc tích

cực của khoa Nhi và khoa Nội trước và sau những chương trình giáo dục về vệ

sinh bàn tay Nghiên cứu cũng được thực hiện để xác định kiến thức về vệ sinh

tay Trước những can thiệp bằng giáo dục, thói quen vệ sinh tay trung bình ở tất

Trang 18

quen vệ sinh tay ở khoa Nội (81%) 46% NVYT cho rằng việc xoa tay bằng cồn

không có tác dụng đối với nhiễm tụ cầu vàng kháng Methixillin (MRSA) và 21% tin rằng việc xoa tay bằng cồn không thể làm sạch được bàn tay dính đất bẩn Nhìn chung, thói quen vệ sinh tay ở khoa Nội được cải thiện rõ rệt sau can thiệp,

và gia tăng khả năng sử dụng việc xoa tay bằng cồn Tuy nhiên, việc rửa tay

truyền thống vẫn được ưa chuộng hơn [25] [28]

Một nghiên cứu tại Nhật, tiến hành đếm VK gây bệnh trên bàn tay NVYT

trước khi tiến hành rửa tay là 9,1 x 100000 cfu/ bàn tay và sau rửa tay chỉ còn

0,38 cfu/bàn tay Số BN dương tính với MRSA trước khi triển khai hoạt động rửa tay thường qui là 15/402 chiếm 3,7% và sau khi triển khai hoạt động thường qui

về rửa tay là 5/411 chiếm 1,2% Trước khi triển khai phân lập được 13 chủng phụ

typ cla MRSA , sau triển khai chi phân lập được 5 chủng phụ týp MRSA Như

vậy việc tiến hành thường qui rửa tay cho NVYT đã làm giảm rất nhiều tỷ lệ lây

truyền chéo trong BV [26], [33], [35]

Khao sat 50 nhan vién y tế tại các khu chăm sóc đặc biệt của khoa Nội,

Phổi, Sơ sinh, Bỏng của bệnh viện đại học tổng hop Ain Sharm ở Cai Rô - A1 cập cho thấy có tỷ lệ dương tính với tụ cầu vàng kháng Methixillin là 24% trong dịch nước mũi, 4% ở bàn tay, 2% dương tính cả 2 vị trí và tổng tỷ lệ dương tính là

22% [19]

Tụ cầu vàng kháng Methixillin (MRSA) là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng BV tại rất nhiều BV Khảo sát về tác động của tình trạng nhiễm trùng này giữa nhân viên y tế (HCWS) và bệnh nhân, các tác giả đã dựa vào một

vụ bùng phát dich MRSA tai khoa nhi (PICU) trén 61 NVYT và 10 mẫu môi

trường Kết quả trên NVYT cho thấy có 67,2% (41/61) NVYT nhiễm tụ cầu vàng trong đó 16 ca bị nhiễm MRSA ( chiếm 26,2%) Trong 10 mẫu môi trường chỉ có

01 mẫu có dương tính với MRSA Các mẫu MRSA thu được từ những NVYT

cũng như từ môi trường đều kháng đa kháng sinh [31] [32]

Trang 19

Cho dù đã có một nghiên cứu tại Anh cho rằng không ghi nhận sự lây lan MRSA trong các khoa phòng trong bệnh viện, tuy nhiên thực tế là khuyến cáo về tăng cường vệ sinh bàn tay để kháng vi sinh là rất quan trọng Chẩn đoán bằng PCR có thể sẽ giúp cho việc xác định sớm MRSA trên bệnh nhân[27]

Cũng một nghiên cứu tại Anh cho thấy : tỷ lệ tụ cầu vàng phát hiện được trên cổ tay nhân viên y tế có đeo đồng hồ là 25% (n=100) và trên cổ tay nhân

viên y tế không đeo đồng hồ là 22.9% (n=150)[29]

Một nghiên cứu mới đây nhất tại Ai cập cho thấy: Trongsố 1261

lượt nhiễm khuẩn huyết, 735 (58,3%) là nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu vàng mắc phải tại bệnh viện (HA) và 526 (41,7%) là nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu vàng tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe (HCA) Tỷ lệ phần trăm của tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) là 48,2% (354/735) trong nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu vàng mắc phải tại bệnh viện (HA), so với 42,2% (222/526) của nhiễm khuẩn huyết do

tụ cầu vàng mắc phải tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe (HCA); p= 0,04 Tỷ

lệ phần trăm nhiễm khuẩn huyết tụ cầu vàng tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe

(HCA)vànhiễm khuẩn huyết do tụ cầu vàng kháng methicillin

(MRSA) không thay đổi trong suốt thời gian nghiên cứu [22]

Vệ sinh bàn tay là hành động đầu tiên nhằm giảm nhiễm trùng trong y tế cũng như giảm sự lây truyền ngang của các loại vi khuẩn gây kháng thuốc Cơ chế bệnh học của lây truyền bệnh nhân sang bệnh nhân thông qua trung gian bàn tay của nhân viên y tế thể hiện qua 5 bước như sau : 7 Các tác nhân gây bệnh cư trú trên da, trên vết thương của bệnh nhân là môi trường khởi phát 2 Các tác

nhân này sẽ lây truyền đến tay nhân viên y tế ( khi thăm khám khi vệ sinh ) 3 Các tác nhân này sẽ phát triển trên tay nhân viên y tế ít nhất là vài phút 4 Rửa

tay hoặc sát trùng bàn tay NVYT không đầy đủ, bỏ sót các phần khe kẽ (móng) hoặc chất sử dụng vệ sinh bàn tay không phù hợp 5 Tác nhân gây bệnh sẽ từ tay NVYT không sạch lây nhiễm trực tiếp cho bệnh nhân khác (qua thăm khám) hoặc gián tiếp (qua vật dụng dùng chung) Và các tác giả khẳng định đã có đầy

đủ bằng chứng cho cơ chế lây truyền này [34]

Trang 20

Theo Bearman G và nhóm cộng sự có nghiên cứu tại Mỹ cho thấy: tỷ lệ dương tính với tụ cầu vàng kháng Methixillin trên da tay của những nhân viên y

tế dùng găng thông thường là 29% (phase 1) và trong nhân viên dùng găng có

tâm chất khử khuẩn là 13% (phase 2) [21]

Creamer E và các cộng sự tại Aixơlen thu thập 822 mẫu quẹt đầu ngón tay

của 523 NVYT, kết quả có 38/822 (chiếm 5%) mẫu dương tính với MRSA: trong

đó có 12 mẫu sau khi thăm khám lâm sàng; 10 mẫu sau khi tiếp xúc với môi trường bệnh nhân và 15 mẫu không xác định được nguy cơ tiếp xúc [24]

4.3 Các công trình HnghiÊn cứu frong nước

Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế, hơn 80% các bệnh có tỉ lệ mắc

cao nhất hiện nay đều có liên quan đến VIỆC thiếu nước sạch và vệ sinh cá nhân

yếu kém, đặc biệt là hành vi rửa tay với xà phòng [2], [8], [9]

Cũng trong một nghiên cứu gần đây nhất của Chương trình Nước và Vệ sinh

của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho thấy, mặc dù các bà mẹ có con đưới 5

tuổi rất quan tâm đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ, nhưng họ không hiểu biết

về lợi ích của việc rửa tay với xà phòng có thể giúp ngăn ngừa được bệnh tật cho

trẻ Cụ thể, có đến 64% các bà mẹ ở nông thôn không rửa tay trước khi cho trẻ ăn

và tới 60% không rửa tay với xà phòng vì cho rằng không cần thiết [7]

Theo kết quả nghiên cứu của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường - Bộ Y tế năm 2007 thì chỉ có 0.8% số người rửa tay xà phòng sau tiểu tiện, 14,6% có thực

hiện hành vi rửa tay xà phòng sau khi đi đại tiện và 2,6% tỷ lệ các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi có rửa tay bằng xà phòng trước khi cho trẻ ăn, 10,5% sau

khi cho trẻ đi tiểu/đại tiện, 16,1% sau khi đổ phân cho trẻ Còn ở những nơi công

cộng như trường học, trạm y tế, UBND xã chỉ có 2,5% số người có rửa tay bằng

xà phòng sau khi đi đại tiện (trong đó 2,3% là học sinh mam non va 15% số

người đi đại tiện ở trạm y tế, 0% tại các bậc học lớn hơn và UBND xã), 6.3% số

người đi tiểu tiện ở trạm y tế là có rửa tay bằng xà phòng, còn tất cả học sinh (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở) và những người ở UBND xã đều không có thói quen này [6]

Trang 21

sigh

Qua nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Bộ môn Vi sinh - Trường Đại học

Y Hà Nội (2007) cho thấy: đa số các vi sinh vật đều có thể gây nhiễm khuẩn bệnh viện nhưng các vi khuẩn chủ yếu gây nhiễm trùng bệnh viện hiện nay

là Staphylococcus aureus (tu cau vang), Enterococci (liên cầu đường ruột), họ vi khuan đường ruột Enterobacteriaceae (E.coli, Klebsiella pneumoniae, Enterobacter cloaceae, Seratia marcescens ), P.aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh) và Aecinetobacter baumanrnii Trước những năm 2000, nhiễm trùng do cầu khuân Gram dương chiếm ưu thế, hiện nay nhiễm trùng thường do các vi khuẩn Gram âm

Đối với đánh giá bàn tay sạch, chúng tôi không đánh giá vi khuẩn khác là

do có rất nhiều loại vi sinh vật ở tay NVYT, trong khuôn khổ của nghiên cứu này chúng tôi chọn 01 loại là Staphylococus aureus (tụ cầu vàng), vì đây là loại vi

khuẩn mang tính chỉ điểm vệ sinh đã được rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước lựa chọn Hơn nữa do kinh phí, nhân lực và thời gian có hạn nên chúng tôi

chỉ dừng lại ở việc xét nghiệm tìm tụ cầu vàng

Nghiên cứu của tác giả Lưu Thị Kim Thanh tại 3 bệnh đa khoa là BV Đa khoa TW Thái Nguyên, BV Đa khoa tỉnh Thái Nguyên và BV Đa khoa tỉnh Bắc Kạn cho thấy: chỉ có 2,6% nhân viên y tế vệ sinh bàn tay trước khi thăm khám

cho bệnh nhân, 4,2% vệ sinh bàn tay trước khi chuyén tir thao tac ban sang thao

tác sạch trên cùng bệnh nhân Và 100% tay nhân viên bị ô nhiễm vi khuẩn hiếu khí khi bắt đầu thay băng [15]

Ngoài ra cường độ làm việc của nhân viên y tế cũng là một yếu tế ảnh hưởng đến công tác VSBT Cường độ làm việc của NVYT càng cao thì số cơ hội

cần VSBT càng nhiều, song sẽ không đủ thời gian để NVYT VSBT Tỷ lệ thực

hành VSBT giảm 5% khi tăng thêm 10 cơ hội VSBT trong 1 giờ Mức độ kích

ứng da của các hoá chất vệ sinh bàn tay, loại hoá chất được dùng để rửa tay hoặc

sát khuẩn tay nhanh cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới việc NVYT có chấp hành rửa tay hay không|[ 12]

Nghiên cứu của Hồ Việt Mỹ và CS tại Bình Định ở một số bệnh viện huyện

của khu vực cho thấy: Tay của nhân viên y tế là một trong những nguyên nhân

Trang 22

hàng đầu gây nhiễm khuẩn bệnh viện, nếu nhân viên y tế không thực hiện việc

rửa tay đúng quy trình thì họ sẽ chính là những người mang vi khuẩn gây bệnh từ người bệnh này sang người bệnh khác Tần suất vi khuẩn phân lập được ở tay

NVYT cho thấy tỷ lệ vô khuẩn của tay nhân viên y tế chỉ đạt 37,8% (với tỷ lệ

nhiễm khuẩn bàn tay tương ứng là 62,2%), tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh có trên tay

nhân viên y tế là 13,4% Nhờ sự cải thiện về các bồn rửa tay, khăn tay và công

tác giám sát thường xuyên nên NVYT đã có ý thức hơn về vệ sinh bàn tay [13] Tại Bệnh viện Việt Nam — Thuỷ Điền Uông Bí (Quảng Ninh), Tác giả Trần

Liên Hương và CS, có kết quả đánh giá về kiến thức và thực hành VSBT có yếu

tố trình độ chuyên môn tác động: Tỷ lệ điểm đạt về kiến thức VSBT của NVYT

trong các khoa được khảo sát là: 72,76% song không đồng đều giữa các đối tượng: Bác sĩ (74,78%); Điều dưỡng (73,65%) trong khi hộ lý/nhân viên ICT chỉ

có 58,82% [12]

Kết quả trên cho thấy có mối liên quan giữa vấn đề đào tạo, tập huấn với kiến thức của NVYT Số lượt NVYT được tập huấn càng nhiều thì tỷ lệ(%) NVYT có kiến thức đúng về thực hành VSBT càng tăng Do đó cần thiết phải đưa công tác giáo dục, đào tạo, tập huấn các kiến thức cơ bản về kiểm soát nhiễm

khuẩn và thực hành VSBT thường quy vào chương trình hoạt động chống nhiễm khuẩn nhằm nâng cao kiến thức của NVYT làm cơ sở cho việc tuân thủ theo đúng những quy trình kỹ thuật trong thực hành chống nhiễm khuẩn

Theo một số nghiên cứu thì những chương trình giáo dục, tập huấn, phổ

biến thông tin đưới nhiều hình thức như phát tờ rơi, tổ chức hội thảo, phản hồi lại

kết quả giám sát thực hành VSBT có tác dụng cải thiện rõ rệt ý thức VSBT ở

NVYT, trong đó giám sát và thông báo phản hồi kết quả thực hành VSBT được

xem là chiến lược hiệu quả nhất nhằm tăng cường VSBT ở NVYT Và tại BV Việt Nam-Thuy Điển Uông Bí, báo cáo hàng tháng của khoa CNK chính là kết

quả của việc giám sát và thông báo phản hồi kết quả CNK mà cụ thể là công tác

VSBT tới các bên liên quan (Ban Giám đốc, ban CNK bệnh viện và NVYT các khoa phòng) NVYT không chỉ cần có kiến thức VSBT cho bản thân mình mà

họ cần phải tuyên truyền rộng rãi và hướng dẫn được trước hết cho gia đình

Trang 23

13

mình, con em mình, cộng đồng nơi mình sinh sống, cho người nhà bệnh nhân,

cho bệnh nhân [ 12]

Từ kết quả trên cho thấy được tham gia tập huấn và thường xuyên được tập

huấn nhắc lại sẽ giúp cho NVYT có kiến thức đúng về VSBT đạt tỷ lệ cao Điều

này cũng phù hợp với nghiên cứu của Ts Nguyễn Việt Hùng và cộng sự (2005)

tại 3 bệnh viện thuộc tỉnh Điện Biên, Hoà Bình và Quảng Ninh, NVYT có kiến

thức đúng về VSBT thường quy tăng từ 29,4% tại thời điểm chưa được tập huấn

và tăng tới 76,5% trong giai đoạn đã có tập huấn kiến thức về VSBT [11]

Kiến thức sai dẫn đến thái độ, thực hành sai Kiến thức đúng sẽ là nền tảng

cho thực hành đúng Tỷ lệ NVYT mô tả đúng 6 bước của rửa tay thường quy là 72%; 20% NVYT chưa nắm vững các bước và đặc biệt 8% NVYT không nắm được một bước nào về rửa tay thường quy [4]

Năm 2010, tác giả Hoàng Đức Trường - Sở Y Tế Đắk Lắk có nghiên cứu

“Thực trạng về hành vi rửa tay sạch của trẻ em 6-10 tuổi tại xã EaKao - TP

Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk” Có một số khác biệt về kiến thức giữa học sinh nam

và nữ Thời điểm rửa tay trước khi ăn; sau khi xì mũi, ho, hắt hơi và sau khi chạm tay vào thức ăn sống thì tỷ lệ ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ, lần lượt

là 80,0%, 17,4% và 16,3% Còn sau khi chạm tay vào đồ bản thì tỷ lệ ở nữ cao

hơn nam (34.1% so với 24,2%) với p<0,05 Các thời điểm còn lại khác thi không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa học sinh nam và học sinh nữ

(p>0,05)[16]

Nghiên cứu 363 học sinh tiểu học, cho thấy có đến 194 (53,4%) trả lời là biết cách rửa tay Tuy nhiên, khi yêu cầu kể cụ thể các bước rửa tay thì tỷ lệ học

sinh mô tả được 6 bước rửa tay chỉ có 11,6% Cả học sinh nam và học sinh nữ

đều có kiến thức về cách rửa tay như nhau (p>0,05) Phương pháp kiểm tra này giúp tránh được những trường hợp trả lời “vẹt” của các câu hỏi đóng mà học sinh

tiểu học thường có thói quen sử dụng Như vậy, thực tế hiểu biết đúng về cách

rửa tay sạch thì chỉ có 11,6%

Cũng theo đánh giá này, tỷ lệ rửa tay bằng xà phòng của người dân trong

cộng đồng thấp không hẳn do thiếu nước sinh hoạt (90% gia đình của những

Trang 24

người được điều tra có đủ nước sinh hoạt hàng ngày), cũng không hắn do nơi rửa

tay cách quá xa nơi ăn hay nơi đại, tiểu tiện (khoảng một nửa số gia đình quan sát

có nơi rửa tay cách xa nơi ăn và đại tiểu tiện không quá 5m) Thói quen này liên

quan đến trình độ học vấn, mức thu nhập của gia đình khá và vị trí để xà phòng

gần với nơi rửa tay, có ảnh hưởng hỗ trợ cho việc thực hiện hành vi rửa tay xà phòng Bên cạnh đó, yếu tố sẵn xà phòng rửa tay có tác động rất rõ tới hành vi rửa tay xà phòng, đặc biệt là nhận thức đúng về tác dụng của rửa tay xà phòng, một số người chỉ “ki nào rửa bằng nước không sạch được thì mới nghĩ đến rửa

Các yếu liên quan có ảnh hưởng đến hành vi thực hiện rửa tay sạch là: đa

số các gia đình có điều kiện để rửa tay sạch, bao gồm nơi rửa tay (74.7%), có sẵn nước (87,1%) và có sẵn xà phòng Việc có khăn dé lau tay sau khi rửa thì chỉ có 43.5% Tuy nhiên, việc có điều kiện rửa tay với xà phòng sẵn chỉ là những tác nhân mang tính nguồn lực, còn để có được hành vi tốt là tổng hợp của kiến thức, niềm tin, kỹ năng nguồn lực và sự hỗ trợ Điều này chỉ ra rằng, học sinh cần tăng cường nhận thức về hành vi rửa tay, các trường học, gia đình tạo điều kiện cho các em có được sự hỗ trợ cần thiết khi rửa tay với xà phòng [ 16]

Kết quả thống kê tại các cơ sở y tế Đắk Lắk cho thấy chỉ có 5/18 bệnh viện tuyến tỉnh và huyện có đầy đủ Hội đồng CNK và khoa CNK, chiếm tỷ lệ 27,25 % [14]

Tại bệnh viện huyện CưMGar, các khoa phòng đã xây dựng quy trình xử

lý dụng cụ bẩn, có bảng hướng dẫn qui trình rửa tay thường qui và cung cấp đủ

hoá chất và dụng cụ để khử khuẩn, tiệt khuẩn Bệnh viện cũng thành lập tổ Kiểm

soát nhiễm khuẩn với khu vực thanh trùng độc lập và tổ chức tập huấn phòng

chống nhiễm khuẩn, thu gom và xử lý chất thải Tổ chức kiểm tra vi sinh môi

trường phòng mổ, bàn tay phẫu thuật viên, dụng cụ phòng mổ và mẫu nước sinh

Trang 25

15

hoạt Có tiến hành xử lý mẫu nước sinh hoạt chưa đảm bảo chất lượng về vi sinh

vật và đã được kiểm định lại tại Viện Vệ sinh Dịch té Tây Nguyên

Bệnh viện huyện Krông Bông có tổ chức kiểm tra giám sát thường xuyên

để phát hiện nhiễm khuẩn tại bệnh viện Thông qua chấm điểm đánh giá theo tiêu

chuân bảng điểm công tác chống nhiễm khuẩn hàng quý

Bệnh viện huyện MˆĐRắk đã tổ chức xây dựng qui trình khử khuẩn, tiệt khuẩn NVYT được phổ biến và thực hiện qui trình kiểm soát nhiễm khuẩn, có

kiểm tra định kỳ và đột xuất công tác kiểm soát nhiễm khuẩn Có đầy đủ bảng hướng dẫn qui trình rửa tay thường qui tại các vị trí rửa tay của các khoa phòng

Các nhân viên tuân thủ khá tốt qui trình rửa tay trước và sau khi tiếp xúc người bệnh hoặc thực hiện các thủ tục xâm Ian

Dụng cụ, trang thiết bị được hấp sấy theo qui định, nhất là ở các khoa phòng nhạy cảm như Ngoại Sản, Cận lâm sàng Rác thải bệnh viện được phân

loại theo qui định và thu gom, vận chuyển theo một chiều về nơi tập kết, rác y té

được tiêu huỷ tại lò đốt của bệnh viện, rác sinh hoạt có hợp đồng với công ty vệ sinh môi trường xử lý

Bệnh viện M°ĐRắk năm 2011 đã tổ chức tập huấn cho hơn 70 NVYT về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn theo Thông tư số 18/2009/ TT- BYT ngày 14/10/2009 của Bộ Y tế

Tuy nhiên, chưa có bệnh viện nào tiến hành đánh giá thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế và điều tra KAP về kiến thức thái độ thực

hành về rửa tay bằng xà phòng của nhân viên y tế

Trang 26

Chương 2

ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

1.1 Đối tượng

- _ Nhân viên y tế hiện đang công tác tại 3 bệnh viện huyện của tỉnh Đắk Lắk

-_ Bệnh viện và khoa phòng bệnh viện

* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

- Nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, bệnh phẩm trong bệnh

viện

-_ Có thời gian công tác tại bệnh viện ít nhất là 1 năm

* Tiêu chí loại trừ đối tượng

- _ Nhân viên y tế đang dùng thuốc điều trị bệnh lý (ndm mong, cham, mun,

vết thương ) ở bàn — ngón tay

Nhân viên y tế từ chối tham gia nghiên cứu

1.2 Thời gian nghiên cứu

dich, dựa theo tiêu chí tương đồng về số lượng NVYT, tần số tiếp xúc với bệnh

nhân và bệnh phẩm trong ngày làm việc và đại diện cho các vùng điều kiện kinh

tế xã hội ở 3 mức (so với tỉnh) Khá (Cư M” Gar), trung bình (M'ĐRắk) và nghèo (Krông Bông) Các huyện này khá tương đồng về cơ cấu dân số và đại diện cho các hình thái phát triển văn hoá, xã hội và kinh tế của tỉnh ĐắkLắk

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích

2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu cắt ngang

Trang 27

17

Z(s)" p*(1~P)

Trong äó:

- n: là cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu

- p: là ước tính tỷ lệ % đặc tính nghiên cứu

- Z -u1,96 (hệ số tin cậy với mức ý nghĩa ơ = 0,05)

- d: sai số chấp nhận trong nghiên cứu

Theo công thức tính toán ở trên và sử dụng các giá trị giả định từ các nghiên cứu

của Bearman: p = 0,29 [2I] và d=0,07, cỡ mẫu tính được là 186 NVYT Trên

thực tế chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn và xét nghiệm vi khuẩn ban tay cho 186

NVYT ở 3 bệnh viện huyện (mỗi bệnh viện 62 NVYT)

2.3 Chọn mẫu

Chọn mẫu phân tầng không tỷ lệ, mỗi bệnh viện được coi là một tầng, số

lượng NVYT trong mỗi tầng là như nhau và bằng 62 NVYT

Trong mỗi tầng chúng tôi tiến hành chọn NVYT theo phương pháp ngẫu

nhiên đơn Dựa trên danh sách NVYT của các bệnh viện và đặc thù công việc

của các nhân viên y tế, nhóm nghiên cứu đã lập danh sách tất cả các NVYT đáp

ứng tiêu chí chọn mẫu trong excel, lấy ngẫu nhiên các đối tượng dựa trên câu

lệnh RAND trong excel Tổng số có 271 NVYT đủ tiêu chuẩn được đưa vào khung mẫu và từ đó chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 186 NVYT

Thời điểm lấy mẫu và phỏng vấn bắt đầu từ 8h30' (giữa ca làm việc buổi sáng điều tra) Các ĐTV quan sát tất cả các khoa phòng có NVYT được chọn vào mẫu

nghiên cứu làm việc, ngoài ra cũng quan sát và thu thập số liệu của cả bệnh viện

2.4 Công cụ thu thập số liệu

2.4.1 Cầu phần xét nghiệm vi sinh

Nghiên cứu viên đã xác định sự hiện diện của Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) bằng phương pháp nuôi cấy vi khuẩn tại Khoa Vi khuẩn —

Trang 28

Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên Sử dụng môi trường thạch nuôi cấy vi khuẩn và tủ

ấm 37°C

Phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm

Lấy mẫu bàn tay nhân viên y tế: Dùng tăm bông vô trùng chấm vào nước muối NaCl 9 %o9 rồi quệt vào từng ngón tay, kẽ tay từ trong ra ngoài, vừa quệt vừa xoay tăm bông Cho vào ống nghiệm đựng canh thang vô trùng, đưa về phòng xét nghiệm vi sinh ủ ấm ở nhiệt độ 37C trong 24 giờ Sau đó đem ra đọc kết quả

Nuôi cấy, phân lập và xác định vi khuẩn

Kỹ thuật nuôi cấy phân lập và xác định vi khuẩn theo thường qui trong

“Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh y học” của tác giả Hoàng Thuỷ Long

Các ống canh thang đựng bệnh phẩm ủ ấm ở nhiệt độ 37C trong 24 giờ

Sau đó, nhuộm Gram để định hướng cho nuôi cấy tiếp

Nếu thấy cầu khuẩn Gr (+) thì cấy tiếp vào thạch máu ủ ấm ở nhiệt độ 37C

trong 24 giờ Xác định tính chất vi sinh vật và phân lập để xác định Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus)

Dung cu

- Ong nghiém dung tam béng vé tring

- Que cay, lam kính, diêm, đèn cồn

- Tủ ấm, tủ sấy

Môi trường hoá chất

- Canh thang glucose

- Dung dich NaCl 9 °/op v6 tring

- Một số môi trường phân lập khác

Trang 29

19

2.4.2 Đối với điều tra KAP

Sử dụng bảng phỏng vấn có cấu trúc (phụ lục 1) Bộ công cụ được xây

dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu và sự tham khảo các tài liệu, nghiên cứu có

liên quan cũng như kinh nghiệm của các ĐTV Công cụ sau khi xây dựng được thử nghiệm qua phỏng vấn 05 NVYT bệnh viện để chỉnh sửa từ ngữ, nội dung

cũng như logic của bộ câu hỏi

Quan sát các khoa phòng có nhân viên y tế làm việc và bệnh viện sử dụng

bảng kiểm đánh giá tình trạng vệ sinh

2.5 Các biến số trong nghiên cứu

theo năm dương lịch vân

Là dân tộc của NVYT|Nhi phân | Phỏng

và khác

Là trình độ chuyên môn | Danh mục | Phỏng

4 | Trình độ chuyên môn |trong ngành Y của vấn

NVYT hiện tại

5 Tinh trạng bệnh tật | Là những bệnh ngoài da | Danh mục | Phỏng

ngoài da vùng bàn tay | vùng bàn tay mà NVYT van/

7 | Tiên sử dịứng Có tiên sử dị ứng với các | Danh mục | Phỏng

Trang 30

stt | Biên sô Định nghĩa biên/

thập

bệnh nhân

9| Số lượt BN tiếp xúc | Là số lượt BN trung bình | Rời rạc Phỏng

trung bình NVYT tiếp xúc trong 1 vấn

ngày

Kiến thức về rửa tay xà phòng

Cần thiết phải rửa tay | Hiểu biết của NVYT về | Danh mục | Phỏng

ia Tác dụng và thái độ | dụng có được của việc vấn

cho việc RTXP RTXP qua hiểu biết của

NVYT Thực hành vệ sinh bàn tay/ rửa fay xà phòng

Là việc NVYT thực hiện | Danh mục | Phỏng

vệ sinh bàn tay trước khi vấn

T Vệ sinh bàn tay trước | có những tiếp xúc trực

khám/tiếp xúc BN tiếp với bệnh nhân như

thăm khám, làm thủ

thuật

si š - Là tân suât NVYT| Thứ bậc Phỏng

Tân suât vệ sinh bàn

, | thường thực hiện VSBT vân

15 |tay trước khám/ tiệp

trước khi thăm khám/

xúc BN làm thủ thuật

Trang 31

stt | Bién so Dinh nghia bién/

thap

Là biện pháp NVYT | Danh mục | Phỏng Biện pháp VSBT 5 :

thường sử dụng đê VSBT vân

16 | trước khi thăm khám/

trước khi thăm khám/

làm thủ thuật

làm thủ thuật

Là việc NVYT thực hiện | Danh mục | Phỏng

vệ sinh bàn tay sau khi vấn

Vệ sinh bàn tay sau sở

, | có những tiÊỆp xúc trực

17 |khi thăm khám(tiêp| „

tiệp với bệnh nhân như xúc BN

thăm khám, làm thủ

thuật

L Là tân suât NVYT | Thứ bậc Phỏng Tân suât vệ sinh bàn ,

, | thường thực hiện VSBT vân

18 |tay trước khám/ tiép

trước khi thăm khám/

19 | trước khi thăm khám/

sau khi thăm khám/ làm làm thủ thuật

thủ thuật

Là những lý do dẫn đến | Danh mục | Phỏng

Lý do không RTXP

việc NVYT không RTXP vân

20 |trước/ sau khi thăm

sở trước, sau khi tiếp xúc

khám/ tiêp xúc BN

BN

Là tần suất sử dụng găng | Thứ bậc PHong

7 Sử dụng găng tay khi | tay của NVYT khi thăm vấn

nhân

22 |Phương pháp VSBT|Là các phương pháp | Danh mục | Phỏng

Trang 32

stt | Biên sô Định nghĩa biên/

thập

dùng trong buổi điều tra NVYT rửa tay xà phòng | Danh mục | Quan

23 | Rửa tay đúng kỹ thuật | đúng kỹ thuật (qua 6 sát

bước) La việc NVYT tháo nữ | Nhị phân Quan Tháo nữ trang/ đông : `

24 tổ trang, đông hô khi rửa sát

ô

tay

Là tình trạng vệ sinh bàn | Danh mục | Quan

2s Tình trạng vệ sinh | tay bao gồm cả móng tay sát

bàn tay NVYT được cắt ngắn, bàn tay

, Là tân suât các NVYT | Thứ bậc Phỏng Việc nhắc nhở RTXP , ,

27 trong khoa phòng nhắc vân

ở khoa phòng

nhở nhau RTXP

Là việc NVYT đã được | Danh mục | Phỏng

„ |Jnghe hoặc đọc những vấn Nghe, đọc hướng dân ~ :

28 | , hướng dân vê rửa tay

vê rửa tay sạch

sạch qua tài liệu, sách

báo, tờ tuyên truyền

Là nguôn cung câp các | Danh mục | Phỏng

29 | Nguồn thông tin thông tin về rửa tay sạch cho NVYT vấn

Trang 33

23

` Là việc BV có thành lập | Nhi phan | Báo cáo

Có hội đông chông ;

30 - 3 hội đông, ban chông

nhiém khuân -

nhiém khuan bénh vién

Là việc BV ban hành nội | Nhị phân Báo cáo

31 | Nội qui về RTXP qui về RTXP và áp dụng

trong BV

Là việc bệnh viện có | Nhị phân Báo cáo

Kiêm tra/ giám sát „

32 xuyên đi kiêm tra/ giám vân RTXP

sát việc RTXP của nhân viên

Là việc BV có những | Nhị phân Báo cáo Tập huấn RTXP cho hoạt động tập huấn về Phỏng

33

nhan vién RTXP cho cac can bd van

nhân viên trong BV La viéc BV cung cap du | Nhi phan | Phỏng Cung cap xa phong

34 xà phòng cho các khoa vân cho khoa phòng

phòng trong BC

Là việc BV có cung câp | Nhị phân Phỏng

we Cung cấp tờ hướng |các tờ hướng dẫn qui van/ dẫn qui trình RTXP trình RTXP cho các khoa quan sát

phòng : a Là tông sô điểm rửa tay | Rời rạc Phỏng

Sô lượng điêm RTXP ,

36 ; có xà phòng trong khuôn vân/ trong bệnh viện „

khô bệnh viện báo cáo

37 | Số lượng điểm RTXP | Là tổng số điểm rửa tay | Rời rạc Phỏng

Trang 34

sít | Biên sô Định nghĩa biên/

thập

trong bệnh viện đạt | xà phòng đạt yêu câu có van/ yéu cau trong BV báo cáo

2.6 Điều tra viên, giám sát viên

Điều tra Kiến thức, Thực hành do các cán bộ có kinh nghiệm thuộc Trung tâm truyền thông GDSK tinh Dak Lak lam DTV truc tiếp thực hiện Nuôi cấy và đọc kết quả vi khuẩn do các cán bộ thuộc khoa Vi khuẩn - Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên trực tiếp lấy mẫu và làm xét nghiệm tại labo vi khuẩn - Viện Vệ sinh Dịch tễ

Tây Nguyên

Gồm 10 điều tra viên là các cán bộ thuộc TT truyền thông GDSK tỉnh và 05 giám sát viên là lãnh đạo Sở Y tế, TT truyền thông GDSK và TT phòng chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk

2.7 Qui trình thu thập số liệu

Bước l1: Thông báo đến các bệnh viện được chọn vào nghiên cứu Chuẩn bị

khung mẫu, danh sách mẫu của 03 bệnh viện dựa trên số liệu thứ cấp của các

bệnh viện

Bước 2: Tổ chức tập huấn điều tra viên, giám sát viên kỹ năng phỏng vấn

và nội dung bộ phiếu phỏng vấn Cung cấp danh sách mẫu cho các DTV, GSV Bước 3: ĐTV tiếp cận đối tượng có trong danh sách mẫu, cung cấp thông tin về nghiên cứu lấy sự đồng ý tham gia nghiên cứu của đối tượng

Bước 4: Phỏng vấn đối tượng theo phiếu phỏng vấn có cấu trúc

Bước 5: Lấy mẫu bàn tay xét nghiệm VSV, do cán bộ của khoa Vi Khuẩn -

viện Vệ Sinh Dịch Tễ Tây Nguyên thực hiện với tất cả NVYT đã được được phỏng vấn làm xét nghiệm vi sinh vật

Bước 6: Tiến hành xét nghiệm các mẫu thu thập được tai labo Vi khuẩn -

Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên

Bước 7: Hoàn tất phiếu điều tra (sao kết quả xét nghiệm vi khuẩn vào phiếu)

Trang 35

25

2.8 Xử lý số liệu

Thông tin sau khi thu thập được làm sạch và nhập bằng phần mềm

Epidata Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS theo các thuật toán thống

kê ứng dụng trong y học Các giá trị mô tả như tỷ lệ, giá trị trung bình được sử

dụng Sử dụng kiểm định Khi bình phương để xem xét mối liên quan của một số

yếu tố đến nhiễm khuẩn bàn tay của NVYT

2.9 Khía cạnh đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trước tiên phải được Sở Y tế Đắk Lắk chấp nhận Ngoài ra nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo Đức của trường Đại Học Y Tế

Công Cộng thông qua

Được sự đồng ý và giúp đỡ của lãnh đạo 3 bệnh viện CưM'ˆGar, M'°ĐRắk

và Krông Bông

Đặc biệt tất cả các NVYT tham gia nghiên cứu đã được giải thích về mục

đích và nội dung nghiên cứu một cách rõ ràng NVYT tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện và có giấy đồng ý tham gia nghiên cứu

Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu

và là cơ sở dé các bệnh viện xem xét điều chỉnh phần nào đó chương trình phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện, ngoài ra kết quả nghiên cứu không phục vụ cho mục đích nào khác

Kết quả nghiên cứu sẽ phản hồi lại cho bệnh viện Kết quả nghiên cứu có

thể làm cơ sở cho việc nâng cao tỷ lệ rửa tay sạch của NVYT

2.10 Sai số, hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục

Do hạn chế về nguồn lực và thời gian nên nghiên cứu chỉ thực hiện được tại 03 bệnh viện huyện tỉnh Đắk Lắk trên một cỡ mẫu không lớn và chỉ thực hiện

việc xét nghiệm bàn tay của nhân viên y tế đối với loại vi khuẩn là tụ cầu vàng

Chúng tôi không đủ thông tin để phân tích nhiễm khuẩn bàn tay theo đặc trưng

của từng khoa phòng hay tính chất công việc của nhân viên y tế

Nghiên cứu thực hiện điều tra kiến thức, thực hành và lấy mẫu xét nghiệm đối với các đối tượng là NVYT của bệnh viện huyện Để hạn chế sai số

trong quá trình thu thập thông tin, chúng tôi tập huấn kỹ cho GSV, ĐTV, các

Trang 36

DTV là cán bộ Trung Tâm Truyền thông Giáo dục sức khoẻ, Sở Y Tế và Trung

tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Đắk Lắk có kinh nghiệm về công tác truyền

thông trực tiếp Nhóm XNV là cán bộ chuyên môn giàu kinh nghiệm của khoa Vi

khuẩn - Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên Với sự hỗ trợ của Lãnh đạo các bệnh

viện triển khai nghiên cứu Đồng thời giải thích rõ mục đích của nghiên cứu, động viên sự tham gia và nhắc lại các câu hỏi nhiều lần để các NVYT hiểu và

hợp tác, kết hợp với sự quan sát thực tế

Bộ câu hỏi phỏng vấn được thử nghiệm trước với 05 NVYT để chỉnh sửa những sai sót trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức.

Trang 37

2)

Chuong 3

KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU

Qua phỏng vấn và lấy mẫu xét nghiệm bàn tay của 186 nhân viên y tế đang làm việc tại 03 bệnh viện huyện thuộc tỉnh Đăk Lăk cũng như quan sát môi

trường bệnh viện chúng tôi thu được một số kết quả như sau:

1 Thông tin chung về bệnh viện và các đối tượng nghiên cứu

Bang 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=186)

Trang 38

Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 33.3 tuổi (thấp nhất

là 20, cao nhất 54 tuổi) Theo kết quả bảng 1 cho thấy đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu là nữ (76,3%), dân tộc kinh (84,9%), nhóm đưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (52.7%) và thấp nhất là nhóm trên 50 tuổi (5,9%), trình độ chuyên môn

có tỷ lệ cao nhất là nhóm Hộ lý, điều dưỡng, NHS (60,3%) và thấp nhất là nhóm KTV (9,1%), về công việc đang làm thì nhóm trực tiếp chăm sóc BN (46,8%) và thấp nhất là nhóm trực tiếp làm XN (4,3%)

Bảng 2 : Một số thông tin chung về bệnh viện

1 Bệnh viện có thành lập hội đông/Ban CNK 3

2 Bệnh viện có ban hành nội qui về RTXP không

A Có đoàn kiêm tra/ giám sát về rửa tay xà phòng của 3

nhân viên

5 Có tap huan vé RTXP cho NV trong BV 3

6 Vệ sinh của bệnh viện sạch theo đánh giá cảm quan 3

H BV cung cap đủ Xà phòng cho các khoa/phòng sử 3

dụng

‘ BV cung cấp đủ tờ hướng dẫn qui trình RTXP cho 3

các điềm rửa tay

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  kiểm  đánh  giá  tình  trạng  vệ  sinh. - Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan
ng kiểm đánh giá tình trạng vệ sinh (Trang 29)
Bảng  2  :  Một  số  thông  tin  chung  về  bệnh  viện - Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan
ng 2 : Một số thông tin chung về bệnh viện (Trang 38)
Bảng  3  :  Kiến  thức  của  nhân  viên  y  tế  về  rửa  tay  xà  phòng - Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan
ng 3 : Kiến thức của nhân viên y tế về rửa tay xà phòng (Trang 41)
Bảng  4:  Thực  hành  của  nhân  viên  y  tế  về  rửa  tay  xà  phòng - Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan
ng 4: Thực hành của nhân viên y tế về rửa tay xà phòng (Trang 42)
Bảng  5  :  Số  lượng  nhiễm  khuẩn  tụ  cầu  vàng  theo  giới - Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan
ng 5 : Số lượng nhiễm khuẩn tụ cầu vàng theo giới (Trang 45)
Bảng  8  :  Mối  liên  quan  giữa  tỷ  lệ  nhiễm  tụ  cầu  vàng  và  công  việc  hiện  đang  làm  của  nhân  viên  y  tế - Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan
ng 8 : Mối liên quan giữa tỷ lệ nhiễm tụ cầu vàng và công việc hiện đang làm của nhân viên y tế (Trang 46)
Bảng  10  :  Mối  liên  quan  giữa  nhiễm  khuẩn  tụ  cầu  vàng  va  vé  sinh  ban  tay - Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan
ng 10 : Mối liên quan giữa nhiễm khuẩn tụ cầu vàng va vé sinh ban tay (Trang 47)
Bảng  1l  :  Mối  liên  quan  giữa  nhiễm  khuẩn  tụ  cẩu  vàng  và  điều  kiện  vệ  sinh  của  buông  bệnh - Thực trạng nhiễm khuẩn bàn tay của nhân viên y tế bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2012 và một số yếu tố liên quan
ng 1l : Mối liên quan giữa nhiễm khuẩn tụ cẩu vàng và điều kiện vệ sinh của buông bệnh (Trang 48)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w