Nhìn chung các nghiên cứu về tuân thủ điều trị ARV đều chưa đề cập đến việc thực hiện tư vấn trước điều trị, việc kiểm tra giám sát hỗ trợ bệnh nhân uống thuốc có liên quan gì đến TTĐT
Trang 1BO GIAO DUC DAO TAO - BO Y TE TRUONG DAI HOC Y TE CONG CONG
NGUYEN DINH TUAN
ĐÁNH GIÁ MOT SO YEU TO
LIEN QUAN DEN TUAN THU DIEU TRI
THUOC ARV TAI 2 PHONG KHAM NGOAI TRU
O TINH DAKLAK NAM 2012
LUAN VAN THAC SY QUAN LY BENH VIEN
MA SO CHUYEN NGANH: 60720701
HUONG DAN KHOA HOC
TS PHAM VAN HAU
HA NOI, 2012
Trang 2LOI CAM ON
Sau 2 năm miệt mài học tập, đến ngày hôm nay cuốn luận văn tốt nghiệp đã được hoàn thành Với lòng biết ơn chân thành và từ tận đáy lòng mình, Tôi xin chân
thành gửi lời tri ân đến:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, các Thầy, Cô giáo trường Đại học Y
tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ Tôi hoàn thành chương trình
học tập
TS Phạm Văn Hậu, người Thầy, người Anh với đầy nhiệt huyết đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong từng bước đi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Ths Phạm Thị Thùy Linh, không chỉ là người giáo viên hướng dẫn mà còn là người Chị, người bạn luôn động viên, chia sẻ và đồng hành cùng Tôi từ bước đầu xác định vấn đề nghiên cứu đến xây dựng đề cương, chia sẻ thông tin và đến nay là giúp đỡ Tôi hoàn thành luận văn này
Lãnh đạo, cán bộ nhân viên Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS và Bệnh viện
Đa khoa tỉnh ĐắkLắk, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Buôn Ma Thuột - nơi Tôi làm
việc và tiến hành nghiên cứu, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và tham gia vào nghiên cứu
Bó, Mẹ, các Em và đặc biệt là người Vợ thân yêu của Tôi đã luôn động viên,
giúp đỡ, là chỗ dựa vững chắc về tỉnh thần, giúp Tôi vượt qua mọi khó khăn cho đến
ngày hôm nay luận văn đã được hoàn thành
Cuối cùng Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp và tất cả các
Anh, Chị học viên đồng khóa cao học Quản lý bệnh viện Khóa III Tây Nguyên đã
khuyến khích, giúp đỡ Tôi trên con đường học tập và đã cùng nhau học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong những năm qua
ĐắkLắk, ngày 10 tháng 12 năm 2012
Nguyễn Đình Tuấn
Trang 3DANH MUC CAC CHU VIET TAT
Aquired Immunodeficiency Syndrome
là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra AntiRetroVirus (Thuéc khang retrovirus)
AntiRetroVirus Therapy (Diéu tri khang retrovirus)
là vi rút gây suy giảm miền dịch ở người Nhiễm trùng cơ hội
Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con Phòng khám ngoại trú
Phổ thông trung học Phỏng vấn sâu
Quan hệ tình dục
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Trung học chuyên nghiệp Tuân thủ điều trị
Tác dụng phụ
Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (Chương trình phôi hợp Phòng chông HIV/AIDS của Liên Hiệp Quôc)
World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 4MỤC LỤC 2710107: 7070797907 ÔÔÔÔẳÔẳỚẳốÔẨ“ÔÔÔÓÔỌÓÔÓÔƠÔO CỐ CC TU 1-3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3231111101101 11111 ng vớ 4 Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU - S111 **2‡2kkssssssrree 5-31 Chuong 2 PHUONG PHAP NGHIEN CUU
1 D6i tuone nphién ctku sassswssawsewenccexsmnanesrsancereasoeer comaveesseensemceret ee enen 32
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ¿+ c2 S22 12v ven như 32
3 Thiết kế nghiên cứu -. -c c2 1121111112211 1111111221115 511 8 ve 32 4.:Cỡ mẫu: và phương phếp chơn mriỂU ssessssssssksosenin6se96501244400080803908808000E6Le, 32-33
5 Phương pháp thu thập số liệu .- 2222222225252 211Exrrree 33-35
6 Xử lý và phân tích số liệu s++++222 2222211111123 151 EEEEtrrkrereikkre 35
7 Biến số nghiên cứu, các khái niệm dùng, tiêu chuẩn đánh giá 35-37
8 Khia cạnh đạo đức trong nghiên cứu .- - «<< se se 37-38
Chương 3 KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU . 222222232 sers+sves 39-74 Chương 4 BÀN LUẬN . - - c2 122222251 2111111111 12211 1111k re 75-88
Chương 6 KHUYÉN NGHỊ .- SE S11 nhện 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO - c2 2211222222111 1 1235311112513 xkt 92-93 PHỤ LỤC:
Phụ lục 1 Khung lý thuyẾt - c2 222222111111 11 111111111 111111 cớ 94 Phụ lục 2 Các biến số nghiên cứu + + + + sc S335 2223 ssserre 95-102 Phụ lục 3 Phiếu phỏng vấn bệnh nhân điều trị ARV 555255 5<S22 103-108 Phụ lục 4 Bảng thu thập số liệu hồi cứu - - + ¿c2 222222 c+cccscssses 109-110 Phụ lục 5 Bản hướng dẫn PVS cán bộ quản lý PKNT và cán bộ quản lý chương trình- Trung tâm Phòng, chống HTV/AIDS - 222 s22 xey 111-112
Phụ lục 6 Bản hướng dẫn PVS cán bộ trực tiếp điều tri ARV, can bé tu van .113-114
Phụ lục 7 Bản hướng dẫn thảo luận nhóm bệnh nhân đang điều trị ARV .115
Trang 5Phân bố bệnh nhân điều trị thuốc ARV theo dac điểm nhà ở
Tỷ lệ bệnh nhân điều trị ARV uống rượu thường xuyên
Tỷ lệ bệnh nhân điều trị ARV nghiện ma túy
Người hỗ trợ điều trị ARV cho bệnh nhân
Tỷ lệ bệnh nhân được tập huấn nhóm trước khi điều trị ARV
Tỷ lệ bệnh nhân được tư vấn cá nhân trước khi điều trị ARV
Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị dự phòng các bệnh NTCH
Mức độ tư vấn hỗ trợ mỗi lần tái khám cho bệnh nhân điều trị ARV
Bảng 3.10 Tỷ lệ bệnh nhân được CBYT giám sát, hỗ trợ việc dùng thuốc mỗi lần tái khám
Bảng 3.11 Kiến thức của bệnh nhân về khái niệm thuốc điều trị ARV
Bảng 3.12 Kiến thức của bệnh nhân về kết hợp thuốc điều trị ARV
Bảng 3.13 Kiến thức của bệnh nhân về thời gian điều trị bằng thuốc ARV
Bảng 3.14 Kiến thức của bệnh nhân về lợi ích của điều trị ARV
Bảng 3.15 Kiến thức của bệnh nhân về hậu quả khi không TTĐT
Bảng 3.16 Tỷ lệ bệnh nhân biết được các tác dụng phụ của thuốc ARV
Bảng 3.17 Mức độ bệnh nhân nắm được các nguyên tắc tuân thủ điều trị ARV
Bảng 3.18 Tỷ lệ nguyên tắc tuân thủ điều trị ARV được bệnh nhân đề cập tới
Bảng 3.19 Tỷ lệ quên thuốc của bệnh nhân trong 01 tháng gần đây
Bảng 3.20 Tỷ lệ quên thuốc của bệnh nhân trong 03 tháng gần đây
Bảng 3.21 Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV do bệnh nhân tự đánh giá
Bảng 3.22 Tỷ lệ tái khám đúng hẹn và không đúng hẹn của bệnh nhân điều trị ARV
Bang 3.23 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị AR.V tốt và chưa tốt
Bảng 3.24 Tác dụng phụ bệnh nhân gặp khi sử dụng thuốc ARV
Bảng 3.25 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp nhắc nhở uống thuốc ARV của bệnh nhân
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa giới tính và việc thực hiện TTĐT
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa yếu tố tuổi và việc thực hiện TTĐT
Bảng 3.28 Mối liên quan giữa yếu tố dân tộc và việc thực hiện TTĐT
Trang 6Bảng 3.29 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và việc thực hiện TTĐT
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa nghề nghiệp với việc thực hiện TTĐT
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với việc thực hiện TTĐT
Bảng 3.32 Mối liên quan giữa yếu tố nhà ở và thực hiện TTĐT
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa yếu tố thu nhập và thực hiện TTĐT
Bảng 3.34 Mối liên quan giữa khoảng cách từ nhà đến PKNT và thực hiện TTĐT
Bảng 3.35 Mối liên quan giữa thời gian điều trị ARV và việc thực hiện TTĐT
Bảng 3.36 Mối liên quan giữa tập huấn nhóm với kiến thức về điều trị ARV của bệnh
nhân
Bảng 3.37 Mối liên quan giữa tư vấn cá nhân với kiến thức về điều trị ARV của bệnh
nhân
Bảng 3.38 Mối liên quan giữa kiến thức về điều trị ARV với việc TTĐT
Bảng 3.39 Mối liên quan giữa tập huấn nhóm với kiến thức về nguyên tắc TTĐT của
Bảng 3.46 Mối liên quan giữa yếu tố nghiện ma túy và thực hiện TTĐT
Bảng 3.47 Mối liên quan giữa yếu tố Nam giới nghiện ma túy và thực hiện TTĐT
Bảng 3.48 Mối liên quan giữa sử dụng biện pháp nhắc uống thuốc với việc TTĐT
Bảng 3.49 Mối liên quan giữa tác dụng phụ của thuốc và việc thực hiện TTĐT
Bảng 3.50 Mối liên quan giữa yếu tố người hỗ trợ điều trị và việc thực hiện TTDT
Bảng 3.51 Mối liên quan giữa yếu tố hỗ trợ của xã hội với việc thực hiện TTĐT
Trang 7DANH MUC CAC BIEU DO Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân điều trị thuốc ARV theo giới tinh
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân điều trị thuốc ARV theo tuổi
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhân điều trị thuốc ARV theo dân tộc
Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân điều trị thuốc ARV theo trình độ học vấn
Biểu đồ 3.5: Phân bố bệnh nhân điều trị thuốc ARV theo thu nhập
Biểu đồ 3.6: Phân bố bệnh nhân điều trị thuốc ARV theo tình trạng hôn nhân
Biểu đồ 3.7: Phân bố bệnh nhân điều trị thuốc ARV theo khoáng cách từ nhà đến
PKNT
Biểu đồ 3.8 Thái độ của CBYT với bệnh nhân
Biểu đồ 3.9 Hỗ trợ của xã hội đối với các bệnh nhân điều tri ARV
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ đạt và chưa đạt về kiến thức điều trị ARV của bệnh nhân
Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ bệnh nhân nắm kiến thức về các nguyên tắc tuân thủ điều trị ARV
Trang 8TOM TAT NGHIEN CUU Điều tri ARV 1a diéu trị suốt đời do đó việc thực hiện đúng quy trình điều trị và
tuân thủ điều trị tuyệt đối của bệnh nhân là yếu tố rất quan trọng và quyết định đến sự
thành công của liệu pháp điều trị ARV Tại ĐắkLắk, công tác điều trị ARV đã được
triển khai trên 7 năm với 271 bệnh nhân đang được điều trị, nhưng tỉnh ĐắkLắk vẫn chưa có một nghiên cứu hay báo cáo đánh giá nào về việc tuân thủ điều trị ARV, cũng
như những yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân
Nghiên cứu “Đánh giá một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc ARV tại 2 phòng khám ngoại trú ở tỉnh ĐắkLắk năm 2012° được thực hiện tại 2 Phòng khám
ngoại trú đặt tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện Đa khoa Thành phố Buôn Ma
Thuột với 2 mục tiêu : (1) Mô tả kiến thức, thực hành của bệnh nhân điều trị thuốc ARV tại 2 Phòng khám ngoại trú ở tỉnh ĐắkLắk năm 2012; (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc ARV tại 2 Phòng khám ngoại trú ở tỉnh ĐắkLắk
năm 2012 Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính
và định lượng và sử dụng số liệu thứ cấp, nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2012 đến tháng 9/2012 Có 230 bệnh nhân đang điều trị ARV được phỏng vấn trực tiếp với
bộ câu hỏi định lượng có cấu trúc đã được thiết kế sẵn Ngoài ra số liệu định tính cũng được thực hiện qua phỏng vấn sâu 7 cán bộ y tế và 2 cuộc thảo luận nhóm với bệnh nhân đang điều trị ARV Nghiên cứu cũng tiến hành thu thập và phân tích các số liệu thứ cấp nhằm tìm hiểu thực trạng điều trị và tuân thủ điều trị ARV tại các phòng khám
nghiên cứu cũng ghi nhận mối liên quan giữa các yếu tố kiến thức về nguyên tắc tuân
thủ điều trị, tập huấn nhóm, hỗ trợ của xã hội với việc tuân thủ điều trị Nghiên cứu
chưa tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố như tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn,
nghẻ nghiệp, tình trạng hôn nhân, nhà ở, thu nhập, khoảng cách từ nhà đến PKNT, uống
rượu thường xuyên, nghiện ma túy, kiến thức về điều trị ARV, sử dụng biện pháp nhắc
Trang 9uống thuốc, tư vấn cá nhân trước điều trị, tác dụng phụ của thuốc, thời gian điều trị, người hỗ trợ điều trị với việc tuân thủ điều trị
Trên cơ sở của kết luận, nghiên cứu đề ra được một số biện pháp để nâng cao được kiến thức, thực hành tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân như tăng cường công
tác tập huấn, tư vấn trước điều trị ARV; tăng cường vai trò của các giáo dục viên đồng đẳng, cộng tác viên trong việc hỗ trợ TTĐT và tư vấn cho bệnh nhân; tăng cường kiểm
tra, giám sát hỗ trợ hoạt động cho các PKNT; bé sung nhân lực, phòng ốc và tăng
cường tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ CBYT của các PKNT
Trang 10Dịch HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức
khỏe con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu, tác
động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát
trién bền vững của đất nước [6] Cùng với sự gia tăng của đại dịch HIV/AIDS thì nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ, điều trị, đặc biệt là điều trị ARV ngày càng tăng [26] và trở thành vấn
đề cấp bách Chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV là một trong những biện pháp để
chống kỳ thị và phân biệt đối xử cũng như kéo dài chất lượng cuộc sống của họ, đồng thời cũng là biện pháp phòng lây nhiễm HIV ra cộng đồng [1]
Theo ước tính của UNAIDS, tính đến cuối năm 2009 trên thế giới khoảng 33,3 triệu người đang sống chung với HIV, tăng 27% so với năm 1999 Tuy nhiên số người tử
vong vì AIDS giảm dần, khoảng 1,4 triệu người được cứu sống nhờ vào liệu pháp kháng
virus từ năm 1996 Tính riêng trong năm 2009 đã có thêm 1,2 triệu người được điều trị
liệu pháp kháng virus, nâng tổng số người được điều trị ở các nước thu nhập thấp và
trung bình lên 5.2 triệu người, tăng 30% so với năm 2008 Tính đến cuối năm 1999 có
36% trong số 15 triệu người nhiễm HIV có nhu cầu điều trị ở các nước thu nhập thấp và
trung bình Trong các nước thu thập được dữ liệu, có 26 nước công bố rằng ít nhất có 95% số người đang duy trì điều trị được 1 năm từ sau khi bắt đầu tiếp nhận điều trị
Trong số 25 nước có số người điều trị HIV cao nhất, Botswana, Brazil và Cameroon đưa
ra công bố rằng có 90% hoặc hơn 90% đang điều trị được 12 tháng kẻ từ khi tiếp nhận
điều trị Các nước Ghana, Án D6, Kenya, Lesotho, Thai Lan, Uganda, Ukraine thi céng
bố có ít nhất 80% số người đang được điều trị ít nhất là 1 năm Ở Sudan, tỷ lệ duy trì điều
trị được 12 tháng là 56% và ở Chad chỉ có 47% [30]
Tại Việt Nam trong những năm qua hoạt động chăm sóc và điều trị bao gồm điều trị ARV đang ngày càng được quan tâm và mở rộng Chương trình điều trị bằng thuốc
kháng virus được triển khai từ cuối năm 2000 và được mở rộng vào cuối năm 2005 Các
dịch vụ điều trị ARV cho người nhiễm HIV được cung cấp tại các cơ sở y tế từ tuyến
huyện trở lên Tính đến tháng 12/2011, trên toàn quốc có 318 cơ sở điều trị HIV/AIDS,
trong đó có 04 cơ sở thuộc tuyến Trung ương, 155 cơ sở tuyến tỉnh, 159 cơ sở tuyến huyện [5] Tính đến cuối năm 2011, đã có 57.663 người lớn và 3.261 trẻ em được nhận
Trang 11người được điều trị trong năm 2005, và bằng 1,5 lần so với thời điểm cuối tháng 12 năm
2009 Năm 2011, độ bao phủ ART cũng tăng lên 53% ở người lớn và 83% ở trẻ em Từ năm 2007, tỷ lệ duy trì điều trị trong chương trình ART trung bình hàng năm ở thời điểm
12 tháng là 80% ở cả người lớn và trẻ em con số này hiện ở mức 82,1% ở người trưởng
thành và 82,8% trẻ em bắt đầu điều trị ART từ năm 2009 Chương trình ART được ước
tính đã ngăn ngừa lũy tích 18.110 ca tử vong liên quan đến AIDS trong giai đoạn năm
2000 và 2009 [26] Tỷ lệ bệnh nhân duy trì điều trị ARV sau 12 tháng ở mức trên 80%
của Việt Nam là tương đương với các nước Ghana, Án Độ, Kenya, Lesotho, Thái Lan,
Uganda, Ukraine, cao hơn Sudan (56%), Chad (47%) và thấp hơn của các nước
Botswana, Brazil va Cameroon (> 90%) [30] Tý lệ tử vong sau 6 tháng điều tri ARV la
12,4% và sau 12 tháng là 15,1%, tỷ lệ bệnh nhân bỏ trị và ngưng điều trị sau 6 tháng là
2,4% và tăng lên 3,9% sau 12 tháng điều trị [8]
Điều trị ARV đòi hỏi mức độ tuân thủ điều trị rất cao >95% [2], [3] nếu không
tuân thủ điều trị sẽ gây ra những hậu quả không mong muốn cho chính bản thân bệnh nhân như không ức chế được sự tăng sinh của virus, bệnh tiếp tục phát triển, khả năng
chống đỡ bệnh tật của cơ thê bị phá hủy, gây ra sự kháng thuốc cho virus HIV, chỉ phí
điều trị tăng cao, ảnh hưởng đến cơ hội được điều trị của các bệnh nhân khác trong tương
lai[2] Chính vi vậy, một trong 5 nguyên tắc điều trị ARV theo Quyết định số 3003/QĐÐ- BYT, ngày 19/8/2009 của Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn chấn đoán và điều trị HIV/AIDS" có quy định: “Bất cứ phác đô điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc
Điều trị ARV là điều trị suốt đời; người bệnh phải tuân thủ điều trị tuyệt đối để đảm bảo
hiệu quả và tránh kháng thuốc ” [4]
Điều tri ARV là điều trị suốt đời do đó việc duy trì tuân thủ điều trị là một việc rất
khó khăn đối với các bệnh nhân Theo nghiên cưu của Sheri Weiser, William Wolfe và
cộng sự ở Cộng hòa Botswana, năm 2000 tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân chỉ
chiếm 54% [32]; Năm 2009 nghiên cứu của Samwel N Wakibi tại Nairobi, Kenya cho kết
quả là 82% [31] Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị ARV
như theo nghiên cứu của Phan Văn Tường, Nguyễn Minh Hạnh tại Hà Nội năm 2007 tỷ
lệ tuân thủ điều trị ARV chiếm tý lệ khá thấp 45,4% [25]; Nghiên cứu của Hà Thị Minh
Trang 12Cần Thơ năm 2009 là 77% [14]; Nghiên cứu của Hà Văn Tuân tại Bình Thuận năm 2008
là 95,4% [24]; Nghiên cứu của Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Tiến Lâm và cộng sự năm
2010 tại các cơ sở chăm sóc điều trị thuộc Dự án Quỹ toàn cầu HIV/AIDS tài trợ tỷ lệ
này khá cao 96,7% [13] Nhìn chung các nghiên cứu về tuân thủ điều trị ARV đều chưa
đề cập đến việc thực hiện tư vấn trước điều trị, việc kiểm tra giám sát hỗ trợ bệnh nhân
uống thuốc có liên quan gì đến TTĐT cũng như phân tích mối liên quan giữa các yếu tố này với TTĐT của bệnh nhân
Tại tỉnh ĐắkLắk công tác điều trị ARV đã được triển khai thực hiện từ năm 2005
[19] hiện có 02 PKNT điều trị ARV được đặt tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện
Đa khoa Thành phố Buôn Ma Thuột Tính đến tháng 4/2012 đã có tổng số 437 bệnh nhân được điều trị ARV, trong đó có 271 bệnh nhân hiện đang điều trị [20] Đặc biệt số bệnh nhân bỏ trị và tử vong trong khi điều trị chiếm tỷ lệ khá cao, tỷ lệ tử vong trong điều trị
ARV tính trung bình cho 3 năm 2007-2009 là 6,5% và tỷ lệ bỏ trị là 18%, số bệnh nhân
bỏ trị sau 3 tháng điều trị chiếm tỷ lệ 33,7%, sau 3-6 tháng chiếm 26,7% [27] Đến nay
tỉnh ĐắkLắk vẫn chưa có nghiên cứu hay báo cáo đánh giá nào về kiến thức, thực hành
cũng như các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân tại 2 PKNT
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên và để có thêm cơ sở khoa học cho việc đề xuất
các giải pháp trong việc xây dựng, triển khai các hoạt động chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV/AIDS nói chung và thực hiện tốt quy trình điều trị ARV nói riêng, nâng cao được kiến thức, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân, nhằm hoàn thành tốt mục tiêu nâng cao hiệu quả điều trị ARV tại các PKNT, Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Đánh giá một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc ARV tại 2 phòng khám
ngoại trú ở tỉnh ĐắkLắk năm 2012"
Khung lý thuyết của nghiên cứu (Xem phụ lục 1)
Trang 141.1 MOT SO THONG TIN CO BAN VE HIV/AIDS
1.1.1 Sơ lược lịch sử phát hiện HIV/AIDS
Tháng 6/1981, Trung tâm kiểm soát các bệnh truyền nhiễm ở Atlanta (Mỹ) xác
định các trường hợp bệnh nhân mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải trên cơ sở
phát hiện của Michael Gottlieb về 5 thanh niên đồng tính luyến ái nam bị nhiễm trùng
Pneumocystis carinii ở Los Angeles (Mỹ) và Friedman Alvin tìm thấy một bệnh nhân bị ung thu da Sarcoma Kaposi vén lanh tinh ma lai gây tử vong [16]
Thang 5/1983, Barre Sinoussi trong kíp nghiên cứu của Luc Montagnier ở Viện
Pasteur Paris phát hiện virus có liên quan đến bệnh hạch và đặt tên là LAV
(Lymphoadenopathy Associated Virus) Năm 1984, Robert Gallo ở Mỹ phân lập được virus có ái tính với lympho T của người nên đặt tên là HTLV typ III (Human lympho trophic virus) Cùng năm 1984, Levy phân lập được l virus, gọi là ARV (AIDS related Virus), virus có liên quan với AIDS Năm 1985, Barin và cộng sự phân lập được 1 virus
HIV thứ hai gọi là HIV2 ở Tây phi Năm 1986, Hội nghị định danh quốc tế thống nhất
gọi cả 3 loại virus (ARV, HTLV và LAV) là HIV1[16]
1.1.2 HIV là gì?
HIV (Viết tắt từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Human Immunodeficiency Virus) 1a tên gọi tắt của một loại virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người [7]
1.1.3 AIDS là gì?
AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra - là giai đoạn cuối của
quá trình nhiêm HIV [7]
1.1.4 Quá trình phát triển từ nhiễm HIV thành AIDS trong cơ thể người
Quá trình phát triển từ nhiễm HIV thành AIDS sẽ trải qua 3 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1 là nhiễm HIV cấp, người nhiễm HIV hầu như không có biểu hiện gi
hoặc chỉ có ít những triệu chứng thông thường giống như cảm cúm, thường kéo đài từ 2 tuân đên 3 tháng, đôi khi tới 6 tháng
- Giai đoạn 2 là nhiễm HIV không có triệu chứng, có thé kéo dài nhiều năm, trung
bình là từ 8-10 năm, có thê làm lây truyền HIV sang người khác
Trang 15các biểu hiện NTCH như nấm miệng hoặc ở hầu hong, ho dai dang, sung hach,
- Giai đoạn 4 là AIDS, là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV trong cơ
thé, với một số biểu hiện triệu chứng bệnh ra bên ngoài như ia chảy kéo dài, sút cân trên
10% trọng lượng cơ thể, ho dai dẳng kéo dài Thường kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm, nếu không được điều trị bằng thuốc kháng virus thì kết thúc bằng tử vong [7]
1.1.5 Những dấu hiệu cho biết một người nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn
AIDS
Nhiễm HIV được coi như đã chuyển sang giai đoạn AIDS khi ở người nhiễm HIV
xuất hiện í nhất 02 triệu chưng chính cộng 01 triệu chứng phụ sau:
Nhóm triệu chứng chính: Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể; Tiêu chảy kéo dài trên
1 tháng; Sốt kéo đài trên 1 tháng
Nhóm triệu chứng phụ: Ho dai dẳng trên một tháng: Nhiễm nắm Candida ở hầu họng:
Ban đỏ, ngứa da toàn thân; Herpes, Zona tái phát; Nổi hạch ở nhiều nơi trên cơ thể [7] 1.1.6 Các đường lây truyền HIV
- Qua đường tình dục: quan hệ tình dục với một người bị nhiễm HIV, nếu không
dùng bao cao su
- Qua đường máu: Nhận máu của người nhiễm HIV do truyền máu, dùng chung bơm kim tiêm, các vật sắc nhọn đâm qua da mà không được tiệt trùng đúng cách, hoặc tiếp xúc trực tiếp với máu và địch tiết của người bị nhiễm HIV qua các vết thương hở
- Lây truyền từ mẹ sang con: Mẹ bị nhiễm HIV có khả năng truyền cho con trong qúa trình mang thai, khi đẻ và khi cho con bú [21]
1.1.7 Cách phòng tránh lây nhiễm HIV
- Phòng lây nhiễm qua đường tình dục bằng cách: Luôn sử dụng bao cao su khi
quan hệ tình dục; Người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục có nguy cơ nhiễm HIV rất cao cần đi khám để phát hiện và chữa sớm
- Phòng lây nhiễm qua đường máu : Không tiêm chích ma túy; Chỉ tiêm chích khi
thật cần thiết và phải vô trùng bơm kim tiêm trước khi sử dụng; Thực hiện an toàn truyền
máu; Thực hiện tốt vô trùng, tiệt trùng các dụng cụ y tế; Luôn đeo găng khi tiếp xúc trực
tiếp với máu, dịch tiết của người khác và khi làm các thủ thuật
- Phòng lây truyền từ mẹ sang con: Nên đi xét nghiệm HIV trước khi kết hôn và trước khi có thai; Khi đã nhiễm HIV nên đến các cơ quan y tế dé được tư vấn [21]
Trang 161.2.1 Chân đoán nhiễm HIV:
Nhiễm HIV ở người lớn được chẩn đoán trên cơ sở xét nghiệm kháng thể HIV
Một người được xác định là nhiễm HIV khi có mẫu huyết thanh dương tính cả ba lần xét nghiệm kháng thể HIV bằng ba loại sinh phẩm khác nhau với nguyên lý phản ứng và phương pháp chuẩn bị kháng nguyên khác nhau
1.2.2 Phân giai đoạn nhiễm HIV
* Phân giai đoạn lâm sàng:
e Sút cân mức độ vừa không rõ nguyên nhân (< 10% trọng lượng cơ thể); Nhiễm trùng hô hâp tái diễn; Zona (Herpes zoster); 'Viêm khoé miệng; Loét miệng tái điên; Phát ban dát sân, ngứa; Viêm da bã nhờn; Nhiễm nâm móng
Giai đoạn lâm sàng 3: Triệu chứng tiên triển
e Sút cân nặng không rõ nguyên nhân (> 10% trọng lượng cơ thể)
e _ Tiêu chảy không rõ nguyên nhân kéo dài hơn 1 thang
e Sét không rõ nguyên nhân từng đợt hoặc liên tục kéo dài hơn 1 tháng
s Nhiễm nấm Candida miệng tái diễn; Bạch sản dạng lông ở miệng; Lao phổi; Nhiễm trùng nặng do vi khuân; Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng;
e Thiếu máu (Hb< 80g/L), giảm bạch cầu trung tính (< 0.5x109/L), và/hoặc giảm
tiểu cầu mạn tính (< 50x109/L) không rõ nguyên nhân
e Viém phéi do Pneumocystis jiroveci (PCP); Nhiém Herpes simplex man tinh;
Nhiễm Candida thực quản; Lao ngoai phéi; Sarcoma Kaposi; Bénh do
Cytomegalovirus (CMV) ở võng mạc hoặc ở các cơ quan khác; Bệnh do
Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương; Bệnh lý não do HIV; Bénh do
Cryptococcus ngoài phổi bao gồm viêm màng não;
* Phân giai đoạn miễn dịch:
Trang 17
và/hoặc
AIDS được xác định khi người nhiễm HIV có bắt kỳ bệnh lý nào thuộc giai đoạn 4 (chân
đoán lâm sàng hoặc xác định), hoặc sô lượng CD4 < 200 TB/mm3 [4]
1.3 DIEU TRI THUOC KHANG HIV [4]
1.3.1 Mục đích và nguyên tắc điều trị ARV
* Mục đích của điều trị ARV:
- Ức chế sự nhân lên của virus và kìm hãm lượng virus trong máu ở mức thấp nhất
- Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội
- Cải thiện chất lượng sống và tăng khả năng sống sót cho người bệnh
* Nguyên tắc điều trị ARV:
- Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý
và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS
- Điều trị ARV chủ yếu là điều trị ngoại trú và được chỉ định khi người bệnh có đủ tiêu
chuẩn lâm sàng, và/hoặc xét nghiệm và chứng tỏ đã sẵn sàng điều trị
- Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc Điều trị ARV là điều trị suốt đời; người bệnh phải TTĐT tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc
- Người nhiễm HIV được điều trị ARV vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm virus cho người khác
- Người nhiễm HIV được điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chưa phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh NTCH [4]
1.3.2 Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV
Nếu có xét nghiệm CD4, chỉ định điều tri ARV khi:
3 Người nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng 4, không phụ thuộc số lượng tế bào CD4
4 Người nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng 3 với CD4 < 350 TB/mm3
5 Người nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng 1, 2 với CD4 < 250 TB/mm3
Nếu không làm được xét nghiệm CD4, chỉ định điều trị ARV khi người nhiễm HIV ở
giai đoạn lâm sàng 3, 4
Trang 18Quá trình chuẩn bị điều trị ARV cần phải được tiến hành ngay từ khi người bệnh được quản lý tại cơ sở điều trị;
* Đánh giá trước điều trị ARV:
Các nội dung đánh giá trước điều trị đối với người bệnh HIV đủ tiêu chuẩn điều trị ARV
về lâm sàng và/hoặc CD4,
- Ghi nhận giai đoạn lâm sàng và số CD4 (nếu có) trước điều trị
- Sàng lọc lao và các bệnh nhiễm trùng cơ hội; điều trị lao và các bệnh NTCH cấp tính nếu có; phối hợp với các dịch vụ y tế khác (lao, sản, đa liễu, v.v ) khi cần
- Làm các xét nghiệm cơ bản và xét nghiệm để lựa chọn phác đồ như: CTM/Hgb và men gan (ALT); xét nghiệm HBsAg va anti-HCV (néu cé diéu kién)
- Hỏi tiền sử dùng thuốc ARV trước đó: lý do sử dụng, nơi cung cấp, phác đồ cụ thể, lưu
ý tiền sử dùng các phác đồ không đúng: TTĐT, tiến triển trong quá trình điều trị, v.v
- Đánh giá mong muốn được điều trị của người bệnh và khả năng có người hỗ trợ điều trị
- Dự kiến phác đồ ARV thích hợp cho bệnh nhân; xem xét tương tác giữa các thuốc ARV
và các thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hôi đồng thời và các thuốc khác
Thông báo về kế hoạch chuẩn bị điều trị ARV cho bệnh nhân
Điều trị dự phòng cotrimoxazole ; các đự phòng khác nếu có chỉ định
* Cung cấp thông tin và Tư vấn về điều trị ARV:
- Tiến hành cung cấp thông tin theo nhóm về điễn biến nhiễm HIV, dự phòng lây nhiễm HIV, sống khỏe mạnh, dinh dưỡng và điều tri ARV sau do tư vấn cá nhân
Mỗi người bệnh cần được tư vấn trước khi điều trị ARV 3 lần
- Tư vấn cụ thể về điều trị ARV, phác đỗ điều trị của từng bệnh nhân, tầm quan trọng của tuân thủ điều trị và kế hoạch hỗ trợ TTĐT cũng như xử trí các vấn đề nảy sinh trong quá
trình điều trị như quên thuốc, tác dụng phụ,
- Tư vấn các nội dung cụ thể, thích hợp cho các người bệnh còn sử dụng ma túy, phụ nữ
có thai
* Đánh giá sẵn sàng điều trị:
- Đánh giá hiểu biết của người bệnh về nhiễm HIV, về điều trị ARV và tầm quan trọng
của TTĐT và cách xử trí khi quên uống thuốc
Trang 19- Đánh giá hiểu biết của người bệnh về cách sử dụng thuốc, các TDP thường gặp và hướng xử trí
- Đánh giá khả năng TTĐT của người bệnh qua việc tham gia các buổi tư vấn đầy đủ, tái khám đúng hẹn, TTĐT dự phòng cotrimoxazole, có kế hoạch TTĐT (lịch uống thuốc, các biện pháp nhắc nhở uống thuốc, có người hỗ trợ TTĐT); và người bệnh đồng ý và cam kết tham gia ĐT
- Kiểm tra lại các yếu tố khác như: nơi cư trú, khả năng liên lạc khi cần
E1 Người bệnh đủ tiêu chuân về sẵn sàng điều trị: bắt đầu điều trị ARV
* Bắt đầu điều trị:
- Hướng dẫn lại cách sử dụng thuốc, lịch cấp thuốc, lịch hẹn tái khám; đảm bảo người
bệnh có kế hoạch TTĐT và biết cách xử trí khi gặp khó khăn `
- Chỉ định phác đồ bậc một cho người nhiễm HIV mới bắt đầu điều trị ARV;
- Người nhiễm HIV có tiền sử dùng các thuốc ARV trước đó hoặc điều trị gián đoạn, cần
được đánh giá lâm sàng và xét nghiệm để quyết định sử dụng phác đồ bâc 1 thích hợp
hoặc chuyền phác đồ bậc 2 nếu có thất bại điều trị
1.3.4 Các phác đồ điều trị ARV bậc một:
* Phác đồ chính
* Phác đồ thay thế: Phác đồ AZT + 3TC + EEV hoặc d4T + 3TC + EFV
1.3.5 Theo dõi điều trị ARV
- Người bệnh bắt đầu điều trị ARV cần được tái khám và phát thuốc định kỳ
- Thăm khám thường xuyên trong giai đoạn đầu để được tư vấn, hỗ trợ tuân thủ và theo dõi tác dụng phụ khi bắt đầu điều trị
- Khi người bệnh tuân thủ và dung nạp thuốc tốt, các triệu chứng lâm sàng được cải thiện,
thời gian giữa các lần tái khám và phát thuốc là 1 tháng, một số trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt có diễn biến lâm sàng, tuân thủ tốt thì thời gian giữa các lần tái khám có thể 2
tháng và do nhóm điều trị quyết định
- Mỗi lần tái khám, người bệnh được đánh giá tiến triển lâm sàng, làm các xét nghiệm cần thiết, cung cấp tư vấn và hỗ trợ cần thiết Các thông tin đều phải được ghi lại trong
bệnh án và số khám bệnh của phòng khám
Trang 20* Theo dõi tiến triển lâm sàng
Mỗi lần tái khám, người bệnh cần được đánh giá tiến triển lâm sàng, phát hiện và xử trí
các tác dụng phụ hoặc các NTCH mới, cụ thể:
-_ Theo dõi cân nặng, nhiệt độ, mạch, huyết áp và khả năng vận động
-_ Theo dõi các đấu hiệu lâm sàng liên quan đến tác dụng phụ của thuốc
- Phat hiện các NTCH mới, tái phát; phân biệt nguyên nhân phục hồi miễn dich hay thất
bại điều trị để có hướng xử trí phù hợp
- Đánh giá lại giai đoạn lâm sàng
- Đánh giá khả năng mang thai để thay thuốc ARV khi cần
Các dấu hiệu lâm sàng chứng tỏ người bệnh đáp ứng với điều trị ARV:
- Tăng cân, thèm ăn trở lại và ăn ngon miệng, chức năng vận động tốt hơn
- Hết các dấu hiệu liên quan đến các NTCH và bệnh lý liên quan đến HIV
* Theo dõi xét nghiệm
Trước Thời gian điều trị
Các xốt nghiệm thường: quy ce đầu tuần tháng nu i Ai
Lipid va glucose mau lúc đói, khi sử dụng Ý mỗi năm một lần hoặc khi người
phác đồ có PI hoặc các phác đồ khác bệnh có biểu hiện loạn đưỡng
Đánh giá lại về sự TTĐT trong tất cả các lần tái khám
- Đánh giá tuân thủ dựa trên đếm số thuốc còn lại, tự báo cáo của bệnh nhân, sổ nhỏ tự ghi, báo cáo của người hỗ trợ điều trị và đánh giá về diễn biến lâm sàng và xét nghiệm
- Kiểm tra lại cách dùng thuốc, cách xử trí khi quên uống thuốc
Nếu người bệnh tuân thủ không tốt, tìm hiểu lý do Người bệnh cần được tư vấn về cách khắc phục các rào cản tuân thủ và nhận được sự hỗ trợ kịp thời đảm bảo tuân thủ tốt [4]
Trang 211.4 QUY TRINH DIEU TRI CHO BENH NHAN AIDS [3]
1.4.1 Quan ly bénh nhan:
* Thu tuc tiép nhận bệnh nhân 4IDS:
a) Đối với bệnh nhân khám lần đầu: Tiến hành lập bệnh án ngoại trú trên cơ sở đánh giá
lâm sàng và xét nghiệm, cấp thẻ điều trị ngoại trú;
b) Bệnh nhân tái khám: Chuẩn bị hồ sơ bệnh án ngoại trú và thực hiện các bước tái khám theo hướng dẫn
c) Đối với trẻ em, nếu chưa xác định tình trạng nhiễm HIV, cần làm xét nghiệm khẳng
định nhiễm HIV theo quy định tại Quyết định số 1418/2000/QĐ-BYT về việc ban hành Thường quy giám sát HIV/AIDS ở Việt Nam
* Tự vấn hỗ trợ:
Trên cơ sở đánh giá nhu cầu hỗ trợ của người nhiễm HIV mỗi lần đến cơ sở chăm sóc và điều trị, cán bộ y tế có nhiệm vụ: Giải thích về chăm sóc và điều trị lâu dài, tư vấn giáo dục về TTĐT, hỗ trợ tâm lý xã hội và giới thiệu các dịch vụ chuyển tiếp, tư vấn về dinh
dưỡng và sống tích cực, tư vấn dự phòng lây truyền HIV, thực hành hành vi an toàn và kế
hoạch hoá gia đình, tư vấn về TTĐT, đối với trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi được giới thiệu
đến cơ sở chăm sóc đặc biệt
* Đánh giá lâm sàng và xét nghiệm
a) Hỏi bệnh sử và tiền sử, bao gồm tiền sử dùng thuốc, đặc biệt là thuéc ARV;
b) Đánh giá toàn thân, tình trạng chức năng, triệu chứng lâm sàng, giai đoạn lâm
sàng: riêng đối với trẻ em, đánh giá sự phát triển tỉnh thần, thể chất và nhận thức;
c) Các thuốc đang sử dụng, TDP của thuốc;
d) Chẩn đoán các NTCH, sàng lọc bệnh lao và các bệnh khác;
đ) Thực hiện các xét nghiệm cần thiết;
* Xử trí
a) Điều trị dự phòng NTCH, điều trị NTCH, điều trị triệu chứng và bệnh lý khác
b) Điều trị dự phòng bằng Cotrimoxazole cho người lớn, trẻ em và cho trẻ sinh ra
từ bà mẹ nhiễm HIV từ 4 - 6 tuần tuổi
e)_ Đánh giá tiêu chuẩn diéu tri ARV:
Trang 22- Bệnh nhân chưa đủ tiêu chuẩn điều trị ARV: Lên kế hoạch theo đối lâu dài và đánh giá lại tiêu chuẩn điều trị ARV
- Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn điều trị ARV: Thực hiện các bước chuẩn bị sẵn sàng điều trị ARV
- Bệnh nhân đang điều trị ARV:
+ Bệnh nhân đang theo dõi điều trị ARV: Thực hiện quy trình mỗi lần tái khám
+ Bệnh nhân đang điều trị ARV từ nơi khác chuyển đến: Đánh giá lại, nếu đang điều
trị đúng thì tiếp tục điều trị; nếu bệnh nhân đang điều trị ARV không theo đúng “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS” từ nơi khác chuyển đến: thì tiến hành các
bước chuẩn bị điều trị, hội chẩn, tư vấn chuyên gia trong việc lựa chọn phác đồ
d) Làm thủ tục nhập viện đối với các trường hợp có NTCH phức tạp, có TDP nặng, thất bại điều trị Hoặc tiến hành hội chẩn, chuyển tuyến trong trường hợp vượt quá khả năng điều trị của cơ sở và phối hợp với các chuyên khoa lao, da liễu, sản khoa và chương trình dự phòng lây truyền từ mẹ sang con, v.v khi cần
* Kế hoạch theo dõi và những hỗ trợ cần thiết khác
a) Lịch tái khám cụ thể cho từng bệnh nhân:
- Bệnh nhân chưa đủ tiêu chuân điều trị: tái khám 3-6 tháng/lần Bệnh nhân đủ tiêu
chuẩn điều trị: theo lịch hẹn tái khám để chuẩn bị sẵn sàng điều trị
- Bệnh nhân đang điều trị ARV: theo lịch tái khám định kỳ;
b) Khi có biểu hiện bắt thường, bệnh nhân cần đến cơ sở y tế ngay đề kịp thời xử trí e) Phát thuốc theo chỉ định
d) Két hợp các hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng
e) Đối với trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi, chuyên gửi đến các cơ sở chăm sóc đặc biệt
Ð Hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án [3]
1.4.2 Xét duyệt điều trị ARV:
* Chuẩn bị điều tri ARV:
Thực hiện quy trình chuẩn bị sẵn sàng điều trị ARV ít nhất 4 tuần trước khi bắt đầu điều trị Nhóm điều trị thực hiện các bước chuẩn bị sẵn sàng điều trị sau:
a) Đăng ký điều trị ARV:
Trang 23- Nhóm điều trị khám, hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án, xét nghiệm cần thiết, xác định
bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm, điều trị dự phòng cotrimoxazol, đưa
bệnh nhân vào danh sách đăng ký điều trị ARV và dự kiến phác đồ thích hợp cho từng
bệnh nhân
- Riêng đối với bệnh nhân là trẻ em: Đánh giá hoàn cảnh gia đình của trẻ Xác định người chăm sóc trẻ để tiến hành các bước tập huấn sẵn sàng điều trị Người chăm
sóc trẻ phải mong muốn trẻ được điều trị Hỏi kỹ tiền sử bệnh tật, dị ứng, tiền sử điều trị
ARV cia tré và của mẹ trong thời kỳ mang thai để lựa chọn phác đồ thích hợp
b) Tập huấn sẵn sàng điều trị:
- Đối với bệnh nhân là người lớn: Tập huấn nhóm và tư vấn cá nhân cho bệnh nhân và người hỗ trợ điều trị
- Đối với bệnh nhân là trẻ em: Giáo dục và cung cấp thông tin, tư vấn cá nhân cho
trẻ và người chăm sóc trẻ Chuẩn bị sẵn sàng điều trị đảm bảo trẻ và người chăm sóc TTĐT tốt, biết cách chia thuốc, đong thuốc, giải quyết tình huống trẻ nôn sau uống thuốc,
kế hoạch thăm khám tại cơ sở điều trị, thăm nhà, chăm sóc trẻ và theo dõi điều trị
e) Đánh giá sẵn sàng điều tri ARV:
- Đối với bệnh nhân là người lớn: Nhóm điều trị đánh giá sự sẵn sàng điều trị của từng bệnh nhân và trình Ban xét duyệt
- Đối với bệnh nhân là trẻ em: Sau khi người chăm sóc và/hoặc trẻ được tập huấn, nhóm điều trị đánh giá hiểu biết, sự tuân thủ và mức độ hợp tác điều trị của người chăm sóc và/hoặc trẻ, chuẩn bị các dạng thuốc phù hợp cho trẻ và trình cho ban xét duyệt
- Tiêu chuẩn tuân thủ và sẵn sàng điều trị: Thể hiện sự hiểu biết về HIV/AIDS, điều trị ARV, tầm quan trọng của TTĐT, cách sử dụng thuốc, TDP thường gặp, hướng xử
trí Thể hiện sự TTĐT (tham gia tập huấn đầy đủ, tái khám đúng hẹn, TTĐTdự phòng
cotrimoxazole) Có kế hoạch điều trị và hỗ trợ điều trị (lịch uống thuốc, các biện pháp
nhắc nhở uống thuốc, xác định người hỗ trợ TTĐT) và người bệnh đồng ý và cam kết
tham gia điều trị
đ) Xét duyệt điều trị ARV:
- Nhóm điều trị lập hồ sơ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn điều trị bao gồm bệnh án, phiếu đánh giá tiêu chuẩn và trình lên Ban xét duyét điều trị;
Trang 2415
- Ban xét duyệt họp và đánh giá từng bệnh nhân về các tiêu chuẩn (lâm sàng và xét
nghiệm, TTĐT, xem xét ưu tiên) và chọn lựa các bệnh nhân được đưa vào điều trị ARV
- Đối với các trường hợp chưa được xét duyệt điều trị đo không đủ tiêu chuẩn điều trị hoặc không đủ thuốc được đưa vào danh sách chờ xét duyệt trong những lần tiếp theo Mọi trường hợp trì hoãn điều tri bang ARV can phai giải thích rõ ràng cho bệnh nhân
* Bat dau điều tri:
Phác đồ điều trị: Theo quy định của Bộ Y tế;
Hướng dẫn lại cách sử dụng thuốc, lịch cấp thuốc, lịch hẹn tái khám, đảm bảo bệnh nhân có kế hoạch tuân thủ điều trị và biết cách xử trí khi gặp khó khăn
* Theo dõi bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ARV:
Theo đõi bệnh nhân điều trị ARV bao gồm theo dõi tiến triển lâm sàng, xét nghiệm, TTĐT để đánh giá TDP, hiệu quả điều trị
- Lịch hẹn tái khám:
+ Tháng thứ nhất: Tái khám 1 tuần/lần
+ Tháng thứ hai: Tái khám 2 tuần/lần
+ Sau 2 tháng đầu điều trị, nếu bệnh nhân dung nạp tốt với thuốc, đảm bảo tuân
thủ điều trị việc tái khám có thể tiến hành định kỳ mỗi tháng một lần
+ Bệnh nhân có thê tái khám bắt cứ khi nào nếu cần
+ Trường hợp bệnh nhân không đến khám đúng hẹn, cần tìm hiểu ly do và có các
biện pháp hỗ trợ như gọi điện nhắc nhở, thăm nhà, v.v
- Theo dõi cấp phát thuốc:
Bệnh nhân được phát thuốc theo lịch tái khám định kỳ Tuy nhiên, tùy điều kiện của từng cơ sở và mức độ tuân thủ của mỗi bệnh nhân, trong thời gian đầu có thể điều
chỉnh lịch cấp phát thuốc phù hợp như phát thuốc hàng ngày, hai ngày một lần Hướng
dẫn bệnh nhân cách bảo quản thuốc tại nhà theo quy định đối với từng loại thuốc
- Theo dõi TTĐT:
Dựa vào số thuốc ARV bệnh nhân đã sử dụng, số lần tái khám đúng hẹn, TTĐT
dự phòng bằng cotrimoxazole (nếu có), hỏi bệnh nhân, kết hợp với đánh giá tiễn triển lâm
sàng Trường hợp TTĐT chưa tốt, cần xem xét và đánh giá các cản trở đến việc TTĐT của bệnh nhân đề có biện pháp hỗ trợ kịp thời
Trang 25- Theo dõi TDP: Dựa vào hỏi bệnh, khám lâm sàng và xét nghiệm cần thiết Nếu
tác dụng phụ mức độ nặng, cần theo dõi lâm sàng chặt chẽ, điều trị triệu chứng, cân nhắc
việc thay đổi phác đồ hay ngừng điều trị hoặc chuyển tuyến
- Theo dõi hiệu quả điều trị:
Dựa vào hỏi bệnh, khám lâm sàng và xét nghiệm cần thiết Nếu có hội chứng phục
hồi miễn dịch tiến hành điều trị triệu chứng và căn nguyên, tiếp tục điều trị ARV và khi cần nên hội chẩn hoặc chuyển tuyến trên Nếu thất bại điều trị, cân nhắc chuyển phác đồ
điều trị bậc 2 hoặc chuyển tuyến [3]
1.5 MOT SO KIEN THUC CO BAN VE DIEU TRI ARV VA TUAN THU DIEU
TRI ARV [2]
1.5.1 Điều trị thuốc ARV là gi ?
- Thuốc ARV là thuốc kháng HIV, được phối hợp nhiều loại thuốc làm ngăn chặn
sự phát triển của virus trong CD4
- Thuốc ARV không làm người nhiễm HIV (dương tính) trở thành không nhiễm
HIV (âm tính)
- Để điều trị có hiệu quả, bạn nên tuân thủ việc uống thuốc [2]
1.5.2 Nguyên tắc điều trị ARV
- Điều trị ARV chỉ là khâu cuối cùng trong chu trình chăm sóc và hỗ trợ người
nhiễm HIV/AIDS toàn diện
- Do điều trị lâu dài cả đời nên TTĐT quyết định sự thành công của điều trị [2] 1.5.3 Điểm có lợi khi điều trị ARV
- Làm cho số lượng HIV giảm đi do đó làm giảm số virus tấn công hệ miễn dịch
- Hệ miễn dịch mạnh lên và có thể tránh được mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội
(sốt, tiêu chay )
- Cơ thể sẽ ít bệnh hơn và sẽ cảm thấy khỏe mạnh hơn trong thời gian dài
- Kéo dài được tuổi thọ
- Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con [2]
1.5.4 Điểm bất lợi khi điều trị ARV
- Điều trị kéo dài suốt đời
- Không chữa khỏi bệnh
Trang 26- Uống nhiều viên thuốc hàng ngày, vào thời gian nhất định
- Nếu quên uống thuốc HIV sẽ nhân lên rất nhanh và điều trị ARV không có khả
năng làm giảm lượng HIV xuống
- Một số thuốc liên quan đến ăn uống
- Tác dụng phụ của thuốc
- Có thê gây kháng thuốc, khi đó không đùng được thuốc kháng virus nữa [2] 1.5.5 Tuân thủ điều trị là thế nào?
- Tuân thủ nghĩa là dùng ARV đều đặn
- Tuân thủ nghĩa là không quên uống thuốc
- Tuân thủ nghĩa là dùng ARV đúng thời gian
- Tuân thủ nghĩa là uống thuốc đúng liều [2]
1.5.6 Tại sao tuân thủ điều trị là quan trọng?
- Nhỡ >5% số viên thuốc — that bai
- Dùng thuốc muộn >1 giờ — thất bại
- Tuân thủ điều trị giúp các thuốc phát huy tác dụng như mong đợi
- Cần tuân thủ ART ở mức độ cao để cho thuốc có hiệu quả
- Hầu như lúc nào cũng cần dùng thuốc đúng cách (trên 95%): Để giữ đủ thuốc trong hệ tuần hoàn; Để tránh phát sinh kháng thuốc [2]
1.5.7 Các đạng không tuân thủ điều trị
- Bỏ một liều thuốc trong số các thuốc chỉ định
- Bỏ một số liều trong số các thuốc chỉ định
- Bỏ một ngày không uống thuốc
- Không quan tâm khoảng thời gian giữa các lần uống thuốc
- Không theo đúng hướng dẫn về chế độ ăn uống [2]
1.5.8 Tác hại của việc không tuân thủ điều trị
- Không ngăn chặn được sự tăng sinh của virus
- CD4 giảm và khả năng chống đỡ bệnh tật của cơ thể bị phá hủy
- Bệnh tiếp tục tiến triển uống thuốc không hiệu quả
- Phát sinh virus mới : virus có thể trở nên kháng lại sự điều trị và giảm sự lựa
chọn chữa trị đối với bệnh nhân không tuân thủ điều trị
Trang 27- Dòng virus kháng thuốc có thể truyền cho người khác
- Hạn chế cơ hội điều trị trong tương lai
- Bản thân và chương trình ARV phải chịu chỉ phí cao hơn [2]
1.6 TINH HINH NHIEM HIV/AIDS, DIEU TRI ARV VA MOT SO NGHIEN CUU
VE KIEN THUC VA TUAN THU DIEU TRI ARV
1.6.1 Trên thế giới
Theo ước tính của UNAIDS, tính đến cuối năm 2009 thế giới có 33,3 triệu người
đang sống chung với HIV (dao động trong khoảng từ 31,4 triệu đến 35,3 triệu), tăng 27%
so với năm 1999, các ca nhiễm mới có xu hướng giảm dần vào năm 2009, theo ước tính
có khoảng 2,6 triệu ca nhiễm mới bằng 19% so với năm 1999, từ năm 2001 đến 2009, tỷ
lệ nhiễm HIV hàng năm đã giảm hơn 25% ở 33 nước; trong đó có 22 nước ở khu vực nam Sahara, Châu Phi Số ca tử vong hàng năm vì AIDS giảm từ 2.1 triệu người năm
2004 xuống 1.8 triệu người năm 2009 Khoảng 1,4 triệu người được cứu sống nhờ vào liệu pháp kháng virus từ năm 1996 Tính riêng trong năm 2009 đã có thêm 1,2 triệu người được điều trị liệu pháp kháng virus, nâng tổng số người được điều trị ở các nước thu nhập thấp và trung bình lên 5.2 triệu người, tăng 30% so với năm 2008 Tính đến cuối
năm 1999 có 36% trong số 15 triệu người nhiễm HIV có nhu cầu điều trị ở các nước thu
đưa ra công bố rằng có 90% hoặc hơn 90% đang điều trị được 12 tháng kể từ khi tiếp
nhận điều trị Các nước Ghana, Án Độ, Kenya, Lesotho, Thai Lan, Uganda, Ukraine, và
Việt Nam thì công bế có ít nhất 80% số người đang được điều trị ít nhất là 1 năm Ở
Sudan, tỷ lệ duy trì điều trị được 12 tháng là 56% và ở Chad chỉ có 47% [30]
Một lý do làm giảm tỷ lệ duy trì điều trị là do bắt đầu tiếp nhận điều trị khi HIV ở
giai đoạn cuối và do người nhận điều trị tử vong trước khi điều trị Các bằng chứng cho
thấy tỷ lệ duy trì điều trị cần phải được thúc đẩy hơn, ít nhất là phải được phần nào đó,
thông qua những nỗ lực không ngừng nhằm bắt đầu áp dụng điều trị HIV sớm hơn Duy
Trang 28trì điều trị trong thời gian dài đóng vai trò rất quan trọng cho việc mang lại hiệu quả cho sức khỏe, nhưng nhiều người đã không theo được trong suốt năm điều trị đầu tiên Càng ngày, những trường hợp không theo kịp được với điều trị càng có xu hướng tăng lên [30]
Malawi, khu vực thực hiện mở rộng liệu pháp kháng virut tăng lên rất nhanh trong những năm gần đây đã đưa ra dữ liệu cho thấy có 70% vẫn duy trì được điều trị sau 24
tháng kể từ khi bắt đầu điều trị, giảm khoảng 55% sau 48 tháng Ở Burundi và Cộng hoa
Trung Phi, tỷ lệ duy trì điều trị sau 48 tháng là từ 60% đến 70% trong khi ở Botswana, con số này vượt quá 80% [30]
Cần phải có hiểu biết tốt hơn về các yếu tố làm cản trở đến duy trì điều trị, và cần
có những phương pháp mới nhằm thúc đẩy duy trì điều trị liệu pháp kháng virus Các yếu
tố có thể hạn chế duy trì điều trị bao gồm những ràng buộc trong hệ thống y tế và cộng đồng như: các chương trình điều trị tập trung làm hạn chế sự tiếp cận về mặt địa lý; tình
trạng thiếu nhân viên y tế; thiếu thuốc điều trị; và kiến thức điều trị của cộng đồng còn
kém [30]
Năm 1999 Robert H Remien và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “7wân thủ điều
trị: Nghiên cứu định tính các nhân tố và rào cản ở một nhóm bệnh nhân nam, nữ nhiễm
HIV tại 4 thành phố của Mỹ" Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, tổng cộng
toàn bộ có 152 cuộc phỏng vấn được thực hiện với số người tham gia là 52 nam có quan
hệ tình dục đồng giới, 56 nữ, và 44 người tiêm chích ma túy, những cuộc phỏng vấn này
được thực hiện từ tháng 12/1998 đến tháng 8/1999 tại 4 thành phố của Mỹ ((Los Angeles,
Milwaukee, New York, and San Francisco) Két quả nghiên cứu cho thấy một số rào cản
đối với việc TTĐT của bệnh nhân như có rất nhiều trường hợp bệnh nhân bắt đầu quá
trình điều trị mà chưa nhận thức được rằng mình chưa sẵn sàng cho cuộc điều trị, với
mong muốn đem lại những điều tốt nhất cho bệnh nhân, bác sĩ đã đẩy nhanh các bước điều trị mà không xem xét kỹ đến việc bệnh nhân có sẵn sàng và sẵn lòng làm điều đó hay không; Chất gây nghiện dường như có ảnh hưởng đến thái độ, cách ứng xử tự chăm
sóc bản thân cũng như sự tuân thủ dùng thuốc chống virut HIV, đặc biệt với những cá
nhân đã từng nghiện thuốc quá nhiều có thể phải đối mặt với thêm rất nhiều thử thách và
những vấn đề về điều trị cũng như y học tương đối phức tạp, do đó, cần có sự hỗ trợ đặc
biệt và có sự can thiệp về mặt lâm sàng; Sự tác động mạnh mẽ về mặt xã hội đối với việc
Trang 29tuân thủ nghiêm khắc có thể có tác động tốt đến thái độ tiêu cực của bệnh nhân đối với việc sử dụng thuốc hoặc cải thiện hiểu biết của từng bệnh nhân đối với với việc tuân thủ
nghiêm ngặt Nghiên cứu này cũng được tiến hành theo phương pháp lắng nghe ý kiến
từng cá nhân, điều này cho phép làm phong phú thêm việc tìm hiểu về tuân thủ quá trình
điều tri, dựa trên chính những ý kiến của những người tham gia nghiên cứu Nghiên cứu
cũng đã đưa ra được một số rào cản đối với việc TTĐT như bệnh nhân chưa sẵn sàng
điều trị ARV, sử đụng chất gây nghiện, tác động của xã hội Tuy nhiên nghiên cứu chưa
đề cập đến kiến thức điều trị ARV của bệnh nhân, cũng như chưa tìm hiểu mối liên quan
giữa kiến thức điều trị ARV, việc tư vấn nhóm, tư vấn cá nhân trước điều trị với việc
TTĐT [29]
Năm 2000, Sheri Weiser, William Wolfe và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu
“Những rào cản cho việc tuân thủ điều trị ART đối với những người sống chung với HIV
và AIDS ở Cộng hòa Botswana”, sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định
lượng, bao gồm các bản câu hỏi, các cuộc phỏng vấn những bệnh nhân đang điểu trị ART
và đang được hỗ trợ chăm sóc sức khỏe (109 bệnh nhân và 60 nhân viên chăm sóc sức
khỏe được chọn để phỏng vấn) Kết quả nghiên cứu cho thấy có 98% bệnh nhân trả lời
được ít nhất là I câu về các đường lây như truyền máu, quan hệ tình dục, truyền từ mẹ sang con, dùng chung kim tiêm, 96% bệnh nhân biết cách phòng lây nhiễm HIV như: bao cao su, kiêng cữ, một vợ một chồng 47% bệnh nhân đã sử dụng các biện pháp
truyền thống ngăn chăn lây nhiễm HIV Theo đánh giá của các nhân viên chăm sóc 71%
bệnh nhân là tuân thủ điều trị, 29% không tuân thủ Trong số những bệnh nhân báo cáo
có gián đoạn trong điều trị thì có 34% tuân thủ, 6% không tuân thủ Qua đánh giá của
chính bệnh nhân thì có 54% tuân thủ điều trị với >95% thuốc theo đúng đơn đã kê Những rào cản chính cho việc TTĐT được đưa ra trong nghiên cứu: Khó khăn tài chính (44%), Su ky thi (15%), du lich/di cư (10%), tác dụng phụ (9%), 78% người chăm sóc
cho rằng sư thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của phác đồ trị liệu đôi khi hoặc thường
xuyên dẫn đến hiện tượng không tuân thủ điều trị [21 Ưu điểm của nghiên cứu là đã đánh giá được tình hình hiểu biết của bệnh nhân về kiến thức cơ bản về HIV/AIDS như
đường lây cách phòng chống , nghiên cứu xác định được tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV từ
sự đánh giá của chính bệnh nhân và từ các cán bộ chăm sóc điều trị, và đặc biệt đã xác
Trang 30định được một số rào cản chính của quá trình tuân thủ điều trị ARV và xác định được mối
liên quan giữa chỉ phí điều trị với việc TTĐT Tuy nhiên nghiên cứu đã không đánh giá
kiến thức của bệnh nhân về điều trị ARV, kiến thức tuân thủ điều trị của bệnh nhân,
nghiên cứu chưa tìm hiểu và đánh giá mối liên quan của một số yếu tố đặc tính riêng của
bệnh nhân như trình độ học vấn, hôn nhân, nhà ở, nghiện ma túy, , yếu tố kiến thức TTĐT của bệnh nhân, thực hiện tư vấn trước điều trị, yếu tố kiểm tra giám sát hỗ trợ điều
trị với việc thực hiện TTĐT của bệnh nhân Ngoài ra việc xác định, đánh giá tỷ lệ TTĐT
của bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu dự vào phỏng vấn, phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bệnh nhân và các cán bộ chăm sóc điều trị chưa có yếu tố khách quan để có độ tin cậy cao trong đánh giá [32]
Năm 2005, Julian Elliott, Pisith Phlong và cộng sự tiến hành nghiên cứu về “Ý nghĩa xã hội tuân thủ điều trị kháng rerovius ở CamPuChia”°, Nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu được thực hiện với 27 người sống chung với HIV Kết quá cho thấy những
quy định khó khăn mà bệnh viện đề ra như thời gian hẹn lấy thuốc, đếm số viên thuốc và
quá trình tư vấn khi dùng ART là những yếu tố trái ngược so với những gì người bệnh nghĩ khi sử dụng những loại thuốc trước kia Họ bị buộc phải bỏ những thói quen hiện tại như hút thuốc và uống rượu Các tiến trình và quy định giúp người bệnh hiêu để sử dụng
ART rất nghiêm ngặt và đòi hỏi chính xác Người tham gia phỏng vấn cho biết rằng khi
dùng thuốc không liên tục và đừng hẳn sẽ dẫn đến những hậu quả khác nhau Cụ thê là, dùng thuốc không liên tục sẽ làm tích lũy kháng thuốc, hạn chế tính hiệu quả cho liệu pháp sau Trong khi đó, ngừng điều trị thì phần lớn làm giảm dần tình trạng sức khỏe của
người bệnh Nghiên cứu đã đưa ra được những yếu tố xã hội có liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh nhân Tuy nhiên nghiên cứu cũng đã không đề cập đến kiến thức điều trị
ARV, kiến thức TTĐT của bệnh nhân, chưa tìm hiểu và đánh giá mối liên quan của các
yếu tố kiến thức TTĐT của bệnh nhân, thực hiện tư vấn trước điều trị, yếu tố kiểm tra
giám sát hỗ trợ điều trị với việc thực hiện TTĐT của bệnh nhân Ngoài ra việc xác định,
đánh giá tỷ lệ TTĐT của bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu dự vào phỏng vấn, phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bệnh nhân và các cán bộ chăm sóc điều trị chưa có yếu tố khách quan đề có độ tin cậy cao trong đánh giá [28]
Trang 31Năm 2009, Samwel N Wakibi và cộng sự tiến hành nghiên cứu về “Các yếu tố liên
quan đến sự không tuân thủ trong điều trị kháng virus hoạt tính cao ở Naừobi, Kenya" Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả dựa trên nhiều loại phương tiện với sự tham gia của 416 bênh nhân trên 18 tuổi do hệ thống lựa chọn ngẫu nhiên, họ được phỏng vấn theo bảng câu hỏi đã được sắp xếp trước có nội dung liên quan
đến kinh nghiệm sử dụng ART Ngoài ra còn có thêm các dữ liệu được chọn lọc từ bệnh
viện Kết quả nghiên cứu cho thấy: tất cả các bệnh nhân đều có hiểu biết nhiều về điều trị
ART, 82% bệnh nhân biết về quá trình tuân thủ, 100% bệnh nhân phân biệt được các loại
thuốc, nhưng chỉ có 49% đề cập đến tầm quan trọng của việc sử dụng bao cao su, 43%
bệnh nhân không bị ảnh hưởng của tác dụng phụ, 97% đang được hỗ trợ từ cộng đồng,
17% bệnh nhân thất bại khi điều trị, 46% mặc cảm khi dùng thuốc ART Tỷ lệ tuân thủ
điều trị ARV của bệnh nhân là 82%, không tuân thủ chiếm 18% Ưu điểm của nghiên
cứu là đã đánh giá được khá đầy đủ về tình hình kiến thức của bệnh nhân từ kiến thức cơ
bản về phòng, chống lây nhiễm HIV đến kiến thức chung về điều trị ARV và kiến thức về
tuân thủ điều trị ARV, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị
CASE được sự hỗ trợ của Trung tâm đánh giá hỗ trợ tuân thủ điều trị (CASE) thuộc Viện
Nghiên Cứu y học New York (NYAM) xác định tỷ lệ TTĐT và không TTĐT của bệnh
nhân Ngoài ra nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố liên quan như tuổi tác, hỗ trợ
từ xã hội, thời gian điều trị, khoảng cách giữa các phòng khám với việc TTĐÐT của bệnh
nhân Tuy nhiên nghiên cứu vẫn chưa đánh giá được mối liên quan giữa các yếu tố như
kiến thức điều trị ARV, kiến thức về nguyên tắc TTĐT, tư vấn trước điều trị, kiểm tra, giám sát, hỗ trợ dùng thuốc với việc tuân thủ điều trị ARV [31]
1.6.2 Tại Việt Nam
Theo báo cáo của Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam, tính đến ngày
31/03/2012 cả nước có 201.134 người nhiễm HIV đang còn sống, số bệnh nhân AIDS
hiện còn sống là 57.733 và 61.579 trường hợp tử vong do AIDS Đánh giá chung về tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam: Dịch HIV/AIDS tiếp tục có xu hướng giảm, số trường
hợp nhiễm HIV báo cáo phát hiện trong quý I năm 2012 thấp hơn báo cáo cùng kỳ năm
2011 Tỷ lệ nhiễm HIV có độ tuổi 30-39 đang có xu hướng gia tăng, tỷ trọng người nhiễm HIV là nữ ngày một càng nhiều hơn so với trước đây, số người nhiễm HIV cho
Trang 32biết lây truyền do quan hệ tình dục không an toàn ngày càng chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với
các nhóm khác Số trẻ em sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV bị nhiễm HIV có xu hướng giảm
phát hiện trong quý 1 năm 2012 thấp hơn báo cáo cùng kỳ năm 2011 [9]
Trong những năm qua hoạt động chăm sóc và điều trị bao gồm điều trị ARV đang ngày càng được quan tâm và mở rộng Chương trình điều trị bằng thuốc kháng virus được
triển khai từ cuối năm 2000 và được mở rộng vào cuối năm 2005 Các dịch vụ điều trị
ARV cho người nhiễm HIV được cung cấp tại các cơ sở y tế từ tuyến huyện trở lên Tính
đến tháng 12/2011, trên toàn quốc có 318 cơ sở điều trị HIV/AIDS, trong đó có 04 cơ sở thuộc tuyến Trung ương, 155 cơ sở tuyến tỉnh, 159 cơ sở tuyến huyện [5] Tính đến cuối
năm 2011, đã có 57.663 người lớn và 3.261 trẻ em được nhận ART tại Việt Nam Con số
này tương đương với một sự gia tăng gấp 22 lần tổng số người được điều trị trong năm
2005, và bằng 1,5 lần so với thời điểm cuối tháng 12 năm 2009 Năm 2011, độ bao phủ
ART cũng tăng lên 53% ở người lớn và 83% ở trẻ em Từ năm 2007, tỷ lệ duy trì điều trị trong chương trình ART trung bình hàng năm ở thời điểm 12 tháng là 80% ở cả người lớn và trẻ em, con số này hiện ở mức 82,1% ở người trưởng thành và 82,8% trẻ em bắt
đầu điều trị ART từ năm 2009 [26] Chương trình ART được ước tính đã ngăn ngừa lũy
tích 18.110 ca tử vong liên quan đến AIDS trong giai đoạn năm 2000 và 2009 [26] 1ỷ lệ bệnh nhân duy trì điều trị ARV sau 12 tháng ở mức 80% của Việt Nam là tương đương
với các nước Ghana, Án Độ, Kenya, Lesotho, Thai Lan, Uganda, Ukraine, cao hon Sudan (56%), Chad (47%) va thấp hơn của các nước Botswana, Brazil và Cameroon Œœ 90%) [30]
Theo báo cáo kết quả điều trị thuốc kháng Retrovirus và thí điểm thu thập chỉ số
cảnh báo sớm HIV kháng thuốc năm 2007 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS cho thấy tỷ
lệ bệnh nhân người lớn còn sống và đang được điều trị ARV tại thời điểm 6 và 12 tháng
tương ứng là 85,2% và 81%, tỷ lệ tử vong sau 6 tháng điều trị ARV là 12,4% và sau 12 tháng là 15,1%, tỷ lệ bệnh nhân bỏ trị và ngưng điều trị sau 6 tháng là 2,4% và tăng lên
3,9% sau 12 tháng điều trị[8]
Các đối tác và các dịch vụ cộng đồng ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp chân đoán và điều trị, chăm sóc và hỗ trợ HIV Các hướng dẫn quốc gia và quy chế thực hành chuẩn công tác chăm sóc tại nhà và tại cộng đồng đã được phê duyệt
Trang 33năm 2010, hỗ trợ việc mở rộng và chuẩn hóa các dịch vụ này Một số lớn những người
sống với HIV và các quần thể chính bị ảnh hưởng đã làm việc chặt chẽ với Phòng khám
ngoại trú HIV để thúc đây chân đoán sớm, hướng dẫn làm các thủ tục từ thoi diém chan
đoán HIV cho đến lúc bắt đầu chăm sóc và hỗ trợ duy trì và TTĐT ở những người đã ở trong chương trình chăm sóc và ART Các nhóm hỗ trợ là người có HIV hiện đang tích
cực hoạt động trong cả nước, năm 2011, đã có hơn 200 nhóm tự lực dành toàn lực hoặc
một phần nỗ lực hoạt động cho việc hỗ trợ người sống với HIV, nhiều người trong số đó
hỗ trợ tích cực việc tiếp cận và duy trì trong điều trị, chăm sóc và hỗ trợ [26]
Việc tuân thủ dưới mức quy định là một vấn đề đáng quan tâm Thông qua ước
lượng tương đối VAS, cứ 4 bệnh nhân điều trị ART thì có 1 bệnh nhân không tuân thủ tối
ưu trong tháng trước đó, còn thông qua đo lường tỷ lệ sử dụng thuốc đúng giờ trong vòng
4 ngày của Nhóm nghiên cứu Lâm sàng A4IDS ở người lon (AACTG) thì có khoảng 29,1% được xem là không tuân thủ [12]
Năm 2006, Nguyễn Quốc Tiến và Vũ Văn Công, nghiên cứu về “7? hiếu nhận
thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân, người hỗ trợ đối với HIV/AIDS và quá trình điều
trị” Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu địch tễ học mô tả, phỏng vắn trực tiếp
300 bệnh nhân và người hỗ trợ bệnh nhân trong điều trị Kết quả nghiên cứu cho thấy có
96% bệnh nhân, 95% người hỗ trợ hiểu được thuốc ARV không chữa khỏi hẳn bệnh AIDS; 95% bệnh nhân, 90% người hỗ trợ biết điều tri ARV là điều trị suốt đời; 91,7% bệnh nhân và người hỗ trợ nắm được kiến thức về tác dụng phụ của thuốc; 92,7% và 96%
người hỗ trợ nắm được kiến thức tuân thủ điều trị Tỷ lệ bệnh nhân quên không uống thuốc chiếm 5%, có 6,7% cho rằng không cần người hỗ trợ tuân thủ điều trị; 95% hiểu được các khó khăn gặp phải khi tuân thủ điều trị [17] Nghiên cứu đã mô tả được một số
kiến thức điều trị ARV, kiến thức về tuân thủ điều trị và thực hành của bệnh nhân điều trị ARV Tuy nhiên việc mô tả kiến thức, thái độ thực hành chưa được rõ ràng, cụ thể,
nghiên cứu chưa đưa ra các phân tích các mối liên quan đến TTĐT Ngoài ra việc xác
định, đánh giá tỷ lệ TTĐT của bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu dự vào phỏng vấn,
phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bệnh nhân, có độ tin cậy chưa cao
Năm 2007, Phan Văn Tường và Nguyễn Minh Hạnh, nghiên cứu vé “Sy tudn thi điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS điều trị ngoại trú và một số yếu tố liên quan ở 8
Trang 34quận, huyện thành phố Hà Nội năm 2007” Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt
ngang định lượng kết hợp định tính, nghiên cứu đã phỏng vấn trực tiếp toàn bộ 182 bệnh
nhân đang điều trị ARV, phỏng vấn sâu 3 CBYT, 2 cuộc thảo luận nhóm với 8-10 người
hỗ trợ điều trịnhóm Kết quả nghiên cứu cho thấy 98,2% bệnh nhân được tập huấn, tư vấn trước điều trị ARV, 90,8% bệnh nhân nắm được nguyên tắc phối hợp thuốc, 97,5% bệnh nhân biết uống thuốc ARV sẽ bị một số TDP, 92,6% bệnh nhân nắm được 4 nguyên tắc TTĐT, 97,5% bệnh nhân biết cần phải uống thuốc 2 lần/ngày, tỷ lệ quên thuốc trong
01 tháng gần nhất là 46%, trong 3 tháng là 54%, lý do khiến bệnh nhân quên thuốc được
nghiên cứu đưa ra là bận việc (85,6%), đi công tác không mang theo (11,6%) Nghiên
cứu đã xác định tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị ARV tét chiếm 45,4%, chưa tốt chiếm 54,6% Nghiên cứu cũng tiến hành phân tích, đánh giá nhưng chưa tìm thấy mối liên
quan giữa một số yếu tố như tuổi, học vấn, hôn nhân, thu nhập, người hỗ trợ, hỗ trợ của
CBYT đến việc TTĐT [25] Ưu điểm của nghiên cứu là đã mô tả được khá đầy đủ, chỉ tiết về kiến thức thực hành, tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân, đặc biệt nghiên cứu đã
có mô tả về thực trạng tư vấn trước điều trị ARV của bệnh nhân, ngoài ra nghiên cứu cũng đã tiến hành phân tích, xác định mối liên quan của một số yếu tố về đặc tính riêng
của bệnh nhân với tuân thủ điều trị ARV Tuy nhiên nghiên cứu vẫn chưa có đánh giá về mối liên quan giữa việc thực hiện quy trình điều trị ARV với việc tuân thủ điều trị ARV,
ví dụ mối liên quan giữa tập huấn nhóm, tư vấn cá nhân trước điều trị với TTĐT
Năm 2008, Hà Văn Tuân tiến hành “Khảo sát sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân
AIDS tại Bình Thuận năm 2008” Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang và phân
tích trên 151 người gồm bệnh nhân và người hỗ trợ điều trị Kết quả cho thấy 69% bệnh
nhân, 78 % người hỗ trợ biết AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch ở người; có 75%
bệnh nhân, 80% người hỗ trợ biết tác nhân gây bệnh AIDS là do vi rút HIV, 98% bệnh
nhân biết HIV lây qua đường máu và quan hệ tình dục; 97,7% bệnh nhân và 97% người
hỗ trợ được tư vấn trước điều trị; 100% bệnh nhân biết TTĐT là uống đúng thuốc, đúng giờ, 96,5% biết TTĐT là uống đúng cách Có 89,7% bệnh nhân đã uống thuốc đúng giờ:
17,2% bệnh nhân quên uống thuốc trong vòng một tháng qua., có 12,6% bệnh nhân quên uống thuốc 1 đến 2 lần trong tháng qua và 4,6% bệnh nhân quên uống thuốc 3 lần trở lên
Tỷ lệ bệnh nhân TTĐT 95% trở lên là 95,4% [24] Ưu điểm của nghiên cứu là đã đánh
Trang 35giá được thực trạng kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và kiến thức về tuân thủ điều trị ARV
của bệnh nhân và cả người hỗ trợ, ngoài ra nghiên cứu cũng đã xác định được tỷ lệ TTĐT tốt ARV và mức độ của bệnh nhân tại các phòng khám Tuy nhiên nghiên cứu chưa phân tích được mối liên quan giữa các yếu tố đặc tính riêng của bệnh nhân như trình độ học
vấn, tuổi, nhà ở, đặc biệt là việc thực hiện quy trình điều trị ARV như tập huấn, tư van
trước điều trị ARV, kiểm tra hỗ trợ uống thuốc với việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân
Ngoài ra việc xác định, đánh giá tỷ lệ TTĐT của bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu dự vào phỏng vấn, phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bệnh nhân, chưa có yếu tố khách quan
để có độ tin cậy cao trong đánh giá
Năm 2009 Võ Thị Năm, tiến hành nghiên cứu “Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên
quan đến việc tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại Thành pho Cân Thơ”
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trực tiếp 267 bệnh nhân
đang điều trị ARV Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân điều trị ARV nghiện ma túy chiếm 19%, thời gian điều trị > 37 tháng chỉ chiếm 5%, tỷ lệ bệnh nhân biết ARV không chữa khỏi HIV/AIDS là 91%, 69% bệnh nhân nắm được TDP của thuốc, 80% bệnh nhân biết phải tái khám hàng tuần đúng hẹn, 99% bệnh nhân có tư vấn trước điều trị, 55% bệnh nhân có kiến thức chung đúng, 72% bệnh nhân được tư vấn dự phòng Tỷ lệ tuân thủ uống thuốc
ARV nghiên cứu đưa ra là 77% Nghiên cứu cũng xác định được một số yếu tố liên quan với tuân thủ điều trị ARV là kiến thức về tái khám, kiến thức chung, được cung cấp thông
tin về TDP, được tư vấn dự phòng [14] Ưu điểm của nghiên cứu là đã mô tả được một số
thực trạng về kiến thức như kiến thức về điều trị ARV, mô tả việc thực hiện tư vấn, cung cấp thông tin cho bệnh nhân, đánh giá được tỷ lệ TTĐT của bệnh nhân đặc biệt nghiên
cứu đã phân tích và đưa ra được một số yếu tố liên quan đến TTĐT Tuy nhiên nghiên cứu vẫn có một số hạn chế sau: chưa mô tả đánh giá được kiến thức, thực hành/tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân một cách cụ thể, rõ ràng; Mặc dù có phân tích và đưa ra một
số yêu tố liên quan nhưng nghiên cứu chưa phân tích mối liên quan giữa việc thực hiện
quy trình điều trị ARV như tập huấn, tư vấn trước điều trị ARV, kiểm tra hỗ trợ uống thuốc với việc TTĐT của bệnh nhân Ngoài ra việc xác định, đánh giá tỷ lệ TTĐT của
bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu dựa vào phỏng vấn, phụ thuộc vào ý kiến chủ quan
của bệnh nhân, có độ tin cậy chưa cao.
Trang 36Năm 2009, Hà Thị Minh Đức và Lê Vinh nghiên cứu “Kiến thức thực hành về
tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại Phòng khám ngoại trú Quận 10 Thành
phố Hồ Chí Minh năm 2009” Nghiên cứu cắt ngang gồm phỏng vấn 400 bệnh nhân chọn ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách đang điều trị ARV Kết quả nghiên cứu cho thấy thời
gian điều trị > 36 tháng chiếm 7%, tỷ lệ bệnh nhân có người trợ giúp là 85%, tỷ lệ bệnh
nhân sống với gia đình là 92%, tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng về tuân thủ điều trị ARV là 69%; có 98,8% bệnh nhân biết cách uống thuốc, 99,5 bệnh nhân biết thời gian uống thuốc, 64% bệnh nhân nắm được TDP của thuốc Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị ARV là 67%, Tỷ lệ bệnh nhân không quên thuốc là 86%, có 70% tái khám đúng hẹn [10] Nghiên cứu cũng tìm thấy một số yếu tố liên quan đến TTĐT như yếu tố người hỗ trợ điều trị, kiến thức về TDP của thuốc Nghiên cứu đã mô tả khá rõ về kiến thức, thực hành TTĐT của bệnh nhân như kiến thức về điều trị ARV, kiến thức về TTĐT, xác định được
tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV Tuy vậy nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế sau: việc xác
định, đánh giá tỷ lệ TTĐT của bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu dựa vào phỏng vấn,
phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bệnh nhân, có độ tin cậy chưa cao Ngoài ra nghiên cứu chưa có phân tích đánh giá mối liên quan giữa một số yếu tố về đặc điểm riêng của
bệnh nhân, việc thực hiện quy trình điều trị ARV với việc tuân thủ điều trị ARV
Năm 2010, Đỗ Mai Hoa, Michael Dunne, Phạm Việt Cường, Nguyễn Văn Kính và
cộng sự nghiên cứu “Tân thủ điều trị trong các bệnh nhân điều trị thuốc kháng vi rut tai
Hà Nội và Hải Dương: Thực trạng và các yếu tố liên quan” Nghiên cứu này được thiết
kế bao gồm nhiều giai đoạn và sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Trước
tiên, nghiên cứu định tính đã tiến hành 4 cuộc thảo luận nhóm và 30 cuộc phỏng vấn sâu
với bệnh nhân điều trị ARV, người chăm sóc họ, đồng đẳng viên và cán bộ y tế để tìm hiểu các quan điêm của các nhóm đối tượng khác nhau về mức độ tuân thủ điều trị ARV
và khám phá yếu tô ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị này Tiếp theo, bộ câu hỏi được thử nghiệm trước khi tiến hành điều tra với 615 bệnh nhân điều trị ARV tại 5 PKNT bằng
kỹ thuật ACASI (tự trả lời với sự hỗ trợ của máy tính và các phương tiện nghe) và thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án Theo kết quả nghiên cứu định tính, trong khi các CBYT
đều cho rằng bệnh nhân tuân thủ điều trị ARV rt t6t, thi bệnh nhân, người nhà của họ và các đồng đẳng viên cho biết tuân thủ điều tri ARV là rất khó thực hiện do cả lý do khách
Trang 37“đi công tác” v v ), đang uống rượu hoặc bia, đang bận rộn với việc khác (như “nấu
cơm”, “giặt quần áo”, “đang làm dở một công việc nào đó” ), nhiều khi là do bệnh nhân
không có tiền để “ăn uống bồi dưỡng” hoặc “đi làm xét nghiệm”, một số bệnh nhân ngủ quên, hoặc muốn tránh các TDP của thuốc, hoặc đơn giản là đo quên v.v Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng không TTĐT khá phổ biến trong các bệnh nhân điều trị
ARV, 24,9% bệnh nhân đã bỏ ít nhất 5% số thuốc ARV cần phải uống trong tháng trước
khi phỏng vấn và 29,1% bệnh nhân đã ít nhất một lần uống thuốc không đúng giờ trong 4 ngày trước khi phỏng vấn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê với không tuân thủ điều trị ARV là uống nhiều rượu, sử dụng ma túy, đã từng dùng thuốc dự phòng NTCH, trầm cảm, các TDP của thuốc, quan niệm cho rằng sức
khỏe là do may mắn quyết định, chất lượng thông tin kém từ CBYT, sự không hài lòng của bệnh nhân với những hỗ trợ của gia đình, với bạn bè và tổ chức xã hội, mối liên quan
giữa bệnh nhân với những người xung quanh kém Đây là nghiên cứu đo lường mức độ tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan có cỡ mẫu lớn và áp dụng nhiều phương pháp thu thập thông tin một cách hệ thống Đặc biệt, nghiên cứu này đã sử dụng kỹ thuật ACASI có tác dụng tăng cường tính chính xác của kết quả nghiên cứu [12] Nghiên cứu
đã đưa ra nhiều phân tích về những yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của bệnh
nhân và nghiên cứu cũng đưa ra được những lý đo chính làm bệnh nhân quên thuốc Tuy nhiên nghiên cứu chưa dé cập nhiều đến thực trạng về kiến thức điều trị ARV, kiến thức TTĐT của bệnh nhân, cũng như chưa phân tích về mối liên quan giữa việc thực hiện quy
trình điều trị ARV với việc tuân thủ điều trị ARV, ví dụ mối liên quan giữa tập huấn nhóm, tư vấn cá nhân trước điều trị với tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân.
Trang 38Năm 2010 Nguyễn Thị Thu Trang đã tiến hành nghiên cứu “Sự tuân thủ điểu trị
thuốc ARV và một số yếu tô liên quan của người nhiễm HIV/AIDS tại 4 phòng khám ngoại trú ở Thanh Hóa năm 2010” Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang và hồi cứu hồ sơ bệnh án Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kiến thức đạt về điều trị ARV
chỉ chiếm 18%; tỷ lệ kiến thức đạt về TTĐT là 66,2%; 86% có thái độ tích cực về TTĐT
40,5% bệnh nhân quyên thuốc trong vòng 01 tháng trở lại đây; 90,5% sử dụng các biện pháp nhắc nhở uống thuốc, 36,5% có gặp TDP trong khi điều trị ARV, 77,5 bệnh nhân TTĐT tốt về thời gian uống thuốc, số lần uống thuốc và quên thuốc không quá 3 lần/tháng Có mối liên quan giữa kiến thức về TTĐT và việc bệnh nhân được tập huấn trước điều trị từ 3 lần trở lên, trình độ học vấn, những người nhiễm dưới 3 năm có thái độ TTĐT tốt hơn [18] Nghiên cứu đã mô tả khá rõ về kiến thức thái độ thực hành của bệnh nhân điều trị ARV, nghiên cứu cũng đã có phân tích đánh giá một số yếu tố liên quan đến
TTĐT, đặc biệt là nghiên cứu đã đưa ra được những yếu tố tăng cường thực hành TTĐT Tuy nhiên nghiên cứu chưa mô tả rõ về thực hiện quy trình điều trị ARV cũng như phân tích mối liên quan giữa việc thực hiện quy trình điều trị ARV, yếu tố xã hội, sự kỳ thị
phân biệt đối xử với việc TTĐT
Năm 2010 Nguyễn Văn Kính và Nguyễn Tiến Lâm nghiên cứu về “Đán}h giá tuân
thủ điều trị và liên quan của tuân thủ điều trị với hiệu quả điều trị bằng thuốc kháng vi
rut” tại các điểm điều trị tuyến quận/huyện do Dự án Quỹ toàn cầu HIV/AIDS tài trợ
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu hồi cứu các hồ sơ
bệnh án của bệnh nhân Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 1.276 bệnh nhân đang điều trị ARV và thu thập số liệu từ 1.276 hồ sơ bệnh án Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
tuân thủ của các bệnh nhân trong nghiên cứu này là 96,7%; tỷ lệ thành công của điều trị
về lâm sàng và miễn dịch là 95,8% Các rào cản tuân thủ là: còn bị kỳ thị, sống một mình, không có phương tiện đi lại và liên lạc, phải uống nhiều thuốc, sợ bị TDP của thuốc,
không nắm rõ quá trình điều trị bằng thuốc kháng vi rút ARV và bị bệnh trầm cảm [13]
Ưu điểm của nghiên cứu là ngoài việc mô tả được các đặc tính riêng của đối tượng
nghiên cứu, xác định được tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV, tỷ lệ thành công về lâm sàng và miễn dịch, nghiên cứu còn xác định được những rào cản của TTĐT và xác định được mối
liên quan giữa TTĐT và hiệu quả điều trị ARV Tuy vậy nghiên cứu chưa mô tả được
Trang 39một cách rõ nét về kiến thức, thái độ thực hành/TTĐT của bệnh nhân, ngoài ra nghiên
cứu cũng chưa phân tích mối liên quan giữa việc thực hiện quy trình điều trị ARV, cụ thể
như mối liên quan giữa tập huấn, tư vấn trước điều trị ARV, yếu tố kiểm tra giám sát hỗ
trợ bệnh nhân với việc tuân thủ điều trị ARV cua bệnh nhân
Tóm lại, các nghiên cứu tuân thủ điều trị ARV chưa nhiều, hầu hết các nghiên cứu tiến hành nhưng chưa đánh giá được thực trạng cũng như mối liên quan của việc thực
hiện các quy trình điều trị ARV với việc tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân, cụ thê như
yếu tố tập huấn nhóm, tư vấn cá nhân, kiểm tra, giám sát hỗ trợ bệnh nhân uống thuốc
Các yếu tố liên quan đến TTĐT được mô tả chủ yếu là: uống nhiều rượu, sử dụng ma túy,
dự phòng NTCH, trầm cảm, các TDP của thuốc, quan niệm cho rằng sức khỏe là do may
mắn quyết định, thông tin kém từ CBYT, sự không hài lòng của bệnh nhân với những hỗ
trợ của gia đình, với bạn bè và tổ chức xã hội, mối liên quan giữa bệnh nhân với những
người xung quanh kém, tập huấn trước điều trị từ 3 lần trở lên, trình độ học vấn, những người nhiễm dưới 3 năm có thái độ TTĐT tốt hơn, người hỗ trợ điều trị, kiến thức về
TDP của thuốc; kiến thức về tái khám, kiến thức chung, được tư vấn dự phòng
1.6.3 Tại tỉnh ĐắkLắk
Tại tỉnh Đắk Lắk từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1993, tính đến
tháng 5/2012 toàn tỉnh có 1.735 người nhiễm HIV, trong đó có 1.347 người nhiễm HIV còn sống, 743 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS (355 người còn sống) và 388 trường hop tir vong do AIDS 15/15 huyén/thi xã/thành phố và 149/184 xã, phường, thị trấn đã
phát hiện có người nhiễm HIV, trong đó số người nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở Thành
phố Buôn Ma Thuột chiếm hơn 41,9% Nam giới chiếm 78,04%, đường lây nhiễm chủ
yếu là qua đường máu chiếm 47,84%, lây nhiễm HIV qua đường tình dục chiếm 13,37%, đối tượng nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở độ tuổi 20-39 (72,24%) [22]
Được sự tài trợ của Dự án Quỹ toàn cầu công tác quản lý, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị ARV tại tỉnh ĐắkLắk đã được triển khai thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh từ năm
2005 [23] Hiện tại tỉnh có 02 PKNT và điều trị ARV được đặt tại Bệnh viện Đa khoa
tỉnh và Bệnh viện Đa khoa Thành phố Buôn Ma Thuột Tính đến tháng 4/2012 đã có tổng
số 437 bệnh nhân được điều trị ARV, trong đó số bệnh nhân hiện đang điều trị ARV là
271 bệnh nhân[20]
Trang 40Tình hình điều trị ARV tại các PKNT của tỉnh ĐắkLắk được tóm tắt trong bảng
Tại ĐắkLắk các PKNT đều tập trung tại Thành phố Buôn Ma Thuột, chưa triển
khai được đến các huyện, điều này đã ảnh hưởng đến việc chăm sóc và điều trị cho bệnh
nhân, nhiều bệnh nhân ở xa không đủ khả năng đến dịch vụ chăm sóc điều trị đã bỏ trị,
nhiều người thì ngại không đến[23]
Tỷ lệ chết và bỏ trị hàng năm tại ĐắkLắk cao hơn tỷ lệ chung theo báo cáo của
Cục Phòng, chống HIV/AIDS [8], tại ĐắkLắk tỷ lệ tử vong trong lúc đang điều trị ARV
là 6,5%, tỷ lệ bỏ trị là 18% [27] trong khi đó theo báo cáo kết quả điều trị thuốc kháng Retrovirus và thí điểm thu thập chỉ số cảnh báo sớm HIV kháng thuốc năm 2007 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS cho thấy tỷ lệ chết, bỏ trị là chết 13,75%, bỏ trị 2,3% [8] Tỷ lệ sống và tiếp tục uống thuốc tại ĐăkLắk sau 6 tháng điều trị ARV là 72%, tại thời điểm 12
tháng là 67,9% Nói chung tỷ lệ này qua các năm đều không có sự thay đổi nhiều, bình
quân 73% cho 6 tháng và 68% cho 12 tháng [27] So với nghiên cứu của Cục Phòng
chống HIV/AIDS thì tỷ lệ còn sống và tiếp tục uống thuốc của ĐắkLắk thấp hơn nhiều, tỷ
lệ của báo cáo của Cục Phòng chống HIV/AIDS tương ứng là 85% cho 6 tháng và 80%
cho 12 tháng [8]
Đến thời điểm hiện tại tỉnh ĐắkLắk vẫn chưa có nghiên cứu hay báo cáo đánh giá nào về kiến thức, thực hành cũng như các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân tại 2 PKNT