TOM TAT DE TAI NGHIEN CUU Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện đa khoa huyện Đông Anh Hà Nội trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2011 nhằm: ï Đánh giá thực trạng quản lý chất
Trang 1LV24- QLBV2
BO GIAO DUC VA DAO TAO - BO Y TE
TRUONG DAI HOC Y TE CONG CONG
HOANG THI THUY
THUC TRANG QUAN LY CHAT THAI RAN Y TE
VA KIEN THUC, THUC HANH CUA NHAN VIEN Y TE
BENH VIEN DA KHOA DONG ANH, NAM 2011
LUAN VAN THAC SY QUAN LY BENH VIEN
MA SO CHUYEN NGANH: 607277
Hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI, 2011
Trang 2bệnh viện đang được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thây, cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Với tắt cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới hai thay hướng dẫn: TS Trần Quang Huy và PGS.TS Phan Văn Tường - người đã giúp
đỡ tôi từ khi xác định vấn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và hoàn thành luận văn này Kiến thức về học thuật, sự tận tình trong giảng dạy của các thây đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm qúy bđu trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc bệnh viện đa khoa Đông Anh, Phòng Điều Dưỡng - nơi tôi đang công tác và tiễn hành nghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, góp ý, hướng dẫn và tham gia vào nghiên cứu này
Xin cảm ơn các bậc sinh thành, người chông, con gái và những người thân trong gia đình tôi đã chịu nhiều hy sinh, vất vả, luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và phấn đấu
Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn trong lớp cao học Quản lý bệnh viện khóa 2 đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong 2 năm học qua
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chỉa sẻ với tất cả các bạn đông nghiệp nhất là những ai quan tâm đến lĩnh vực này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hoàng Thị Thúy
Trang 3II
MUC LUC LỎI CẮM ƠN cc11166 1,00 06 HH 01 ng 1n nu 0000155110100 401cc ke I 6/0922 .,ÔỎ I
DANH MỤC CÁC SƠ ĐÔ, BIẾU ĐỒ 2 755¿22+eccrxerrererrrkrerree V DANH MỤC CÁC CHỮ VIỆT TẤTT:, sossszs0811888181550.030-sssnvil VI TÓM TẮT ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU -¿-+©-++c++terrxeerrseeee VI
W1) 7 ỐốỐốẻỐốẼố.ố.ố.ố.ốẽố 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ¿-+2©+++E++++tr++tExxettrrkeerrkerrrrkee 3 Chương 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU -cccvccceessssseeree 4
1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tẾ -. 52525ccccsrterrrrrrrrrke 4
1.1.1 Các khái niệm . -. 222++2222+2c222EEcEEEEtrtErrrtrtrrrrrrrrrrrrerri 4 1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tẾ ¿-25¿222+++2+Et2EExirtrrirrrrrrrrkrrrrrkee 5
1.1.3 Những nguy cơ của chat thai rắn y tế đối với sức khỏe 7 1.1.4 Nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với môi trường 9
1.Í.5.:Công nghệ:xử lý chất thải TẤN Y! TỄ scsasgi ng 221622612560 c6esgtnda 10
1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới ccccccccccce 11
1.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tẾ ccccccxccsrrrrrecrrrrree 12
1.2.2 Quản lý chất thải y tẾ - ¿22c 22vt 2E titErkrtrrtrrrrrirrrrrrrrerrrerrrkee 13
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU «se 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu -+©+++2+++£++++2+xtttrxtrrrkerrrrrrrrrrrrrrrke 25 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu . :-cc+c+ccvxxererrrseeree 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu -2¿-©2++++22xtttEErtrtrrrtrrrtrrtrrrrrkrrrrrrrrrrrrie 25
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu -+-©+©++++ccxxrsrrxererrke 25
Trang 42.5 Phương pháp thu thấp s6 iG usc sssssccacrsscsaressessrsaesrassosssssnrnevescsoneseansvssecsed 26 2.6 Xử lý và phân tích số liệu -c2ccceecrreertrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrr 27
2.7 Các biến số nghiên cứu -¿-22+5++++rxxttrkttrktrrrkkerrrkrrrrkrrrrrrrrrie 28 2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu -:-©-+++2rxrrtrketrrkerrrrrrrrrrrrree 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU -ccvve«vsssscee 37
3.1 Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý CTRYT 37
3.2 Kiến thức về phân loại, thu gom, vận chuyên, lưu giữ CTRYT 42
3.3 Thực hành về phân loại, thu gom, vận chuyền, lưu giữ CTRYT 48
3.4 Các yếu tố liên quan đến PL,TG, VC, LG CTRYT -. -: 50 Chương #4EBẢN KUẨN -ssennn0018000 n2 ng8g80004080800806044 34 56
Chương 5Š: KẾT LUẬN seceonsnnassondiniisiioSEilaidistiieikiroikohsnilfdiaietogeral 68 Chương 6: KHUYẾÊẾN NGHỊ -ceesseetertrrrrrrresrrrrrrtrr 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BELUD LUG spsscsusssescvescarssvoncssocsonnsescnacoszasevnotee ses bcisiis tis HRTEM GOES
Trang 5IV
DANH MUC CAC BANG
Bang 1: Dung cu, bao bi thu gom, van chuyền chất thải rắn y tế 37
Bảng 2: Phân loại chất thải rắn - 555cc 22trvtrrrrrrrrrrrrrtrikrrrrirree 38 Bảng 3: Thu gom chất thải rắn 22-5252+222++tvEExtrrtrkrrrrttrkkrrrrkkrerrrke 39 Bảng 4: Vận chuyển chất thải rắn cs 5cccccvtrrrrrkrrrtrrrriierrrie 40 Bảng 5:Lưu g]ữ chất thải TĂN, cscoasseasnadididlitilS8e08831005800832428046ki8ã0:1eb 41 Bảng 6: Thông tin chung về đối tượng phỏng vắn - :cccc-cc5++ 42 Bảng 7: Kiến thức về phân loại CTRYT của đối tượng phỏng vắn 44
Bảng §: Kiến thức về thu gom CTRYT của đối tượng phỏng vấn 45
Bảng 9: Kiến thức về vận chuyển CTRYT của đối tượng phỏng vấn 45
Bảng 10: Kiến thức về lưu giữ CTRYT của đối tượng phỏng vắn 46
Bảng I1 : Phân loại CTRYT của đối tượng phỏng vắn - 48
Bang 12 : Thu gom CTRYT của đối tượng nghiên cứu - - 49
Bảng 13 : Vận chuyển CTRYT của đối tượng nghiên cứu - 49
Bảng 14 : Lưu giữ CTRYT của đối tượng nghiên cứu - 50
Bang 15 : Liên quan giữa kiến thức QLCT đặc điểm cá nhân của ĐTNC 5l Bảng 16: Liên quan giữa kiến thức CTLN với đặc điểm cá nhân của ĐTNC 52
Bảng 17: Liên quan giữa KTPLCT với THPLCT -zcsc2 53
Trang 6Biểu đồ 1: Kiến thức đạt về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CT 47
Biểu đồ 2: Kiến thức quản lý chất thải rắn y tế ¿-2vz+cvrreerrree 48
Một số hình ảnh minh họa - 2-2 2£ Sẻ ££EEEE£EE££EE£EEE£EEEEEEEEZEEE2ZEeExrrzrrk 98
Trang 7Chat thai Chat thai ran Chất thải rắn y tế
Chất thải lây nhiễm
Chat thai y té
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng phát vấn Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B) Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C) Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giảm miễn
Trang 8TOM TAT DE TAI NGHIEN CUU
Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện đa khoa huyện Đông Anh Hà Nội trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2011 nhằm: (ï) Đánh giá thực trạng quản
lý chất thải rắn y tế, (1i) Mô tả kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về phân loại,
thu gom, vận chuyên, lưu giữ chất thải răn y tế, (ii) Xác định các yếu tố liên quan đến hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyền và lưu giữ chất thải Bằng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính với các đối tượng nghiên cứu là hệ thống cơ sở vật chất trang thiết bị để quản lý chat thai ran y tế, các cán bộ y tế bao gồm lãnh đạo các khoa, phòng, điều dưỡng trưởng, điều dưỡng viên,
hộ sinh viên và hộ lý của 8 khoa lâm sàng Kết quả nghiên cứu cho thấy: hầu hết
các dụng cụ thu gom chất thải của bệnh viện còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt đủ theo các tiêu chuẩn của Bộ Y tế quy định Các chất thải được phân loại ngay tại
nguồn phát sinh, chủ yếu thành hai nhóm là chất thải lây nhiễm và chất thải thông
thường Công tác thu gom, vận chuyền chất thải được đảm bảo về tần suất và thời gian quy định, tuy nhiên cách thức tiến hành còn chưa đúng, tỷ lệ thu gom lẫn các chất thải còn cao (33,9%), vận chuyền chất thai bằng tay là chủ yếu Thời gian lưu
giữ chất thải ở nơi tập trung đài (trên 48 giờ) trong khi điều kiện bảo quản không
bảo đảm đúng quy định
Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý chất thải là 86,8%, tuy nhiên kiến thức của nhân viên y tế về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm
còn rất thấp (27,2% và 54,4%) Tỷ lệ nhân viên y tế đạt thực hành phân loại chất
thải là 82,4%, thu gom là 52,6%, vận chuyển là 52,6% và lưu giữ chất thải là 100% Kết quả nghiên cứu cho thấy: những người có thâm niên công tác lâu (từ 10 năm trở lên) có kiến thức về các chất thải lây nhiễm kém hơn những người ở nhóm thâm niên công tác dưới 10 năm; Kiến thức và thực hành phân loại chất thải có mối quan
hệ với nhau (những người có kiến thức tốt hơn thì thực hành tốt hơn); Thiếu kinh phí được coi là một yếu tố chính ảnh hưởng đến các hoạt động phân loại, thu gom
và vận chuyển chat thai.
Trang 9VIII
Kết quả nghiên cứu cho thấy để quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Đông Anh được tốt hơn cần phải: (ï) bổ sung các trang thiết bị đạt chuẩn phục vụ công tác phân loại, thu gom, vận chuyền, lưu giữ chat thai; (ii) tăng
cường đào tạo tập huấn cho tat cả các nhân viên y tế về kiến thức, thực hành quản lý
chat thai; (iii) tăng cường kiểm tra, giám sát, đồng thời cần tăng nguồn kinh phí sử dụng cho công tác quản lý chất thải y tế nói chung, chất thải rắn y tế nói riêng
Trang 10lượng không nhỏ các chất thải lây nhiễm và độc hại, chất thải rắn y tế đang có những tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người Các nghiên cứu dich té học trên thế giới đã chứng minh, quản lý chất thải rắn y tế không đúng cách
sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, cộng đồng dân cư và gây ô nhiễm môi trường [23], [24]
Thành phần của chất thải rắn y tế có chứa một lượng lớn các vi sinh vật gây
bệnh truyền nhiễm, các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các con đường lây nhiễm như qua da (do trầy xước, tốn thương),
qua niêm mạc, qua đường hô hắp hoặc qua đường tiêu hoá [13] Các chất thải là
vật sắc nhọn còn có khả năng gây tổn thương kép (vừa gây tổn thương, vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm) cho các đối tượng phơi nhiễm Các nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm HBV khi bị tổn thương do kim tiêm là 30%, HCV là 1,8% và HIV là 0,3% [26] Hiện nay, xử lý chất thải chưa được quan tâm đúng mức Ở nhiều quốc gia trên thế giới, chất thải y tế kể cả chất thải y tế nguy hại vẫn được xử lý chung với các chất thải thông thường gây nên các nguy cơ sức khoẻ đối với con người và môi trường xung quanh Kết quả đánh giá của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2002 được tiến hành tại 22 nước đang phát triển cho thấy: 18 — 64% các cơ sở y tế không sử dụng các phương pháp xử lý chất thải y tế
thích hợp [26]
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế năm
2010, hiện nay bình quân mỗi ngày các cơ sở y tế trên cả nước thải ra khoảng 380 tấn chất thải rắn, trong đó có khoảng 45 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại Ước tính
đến năm 2015, lượng chắt thải này sẽ tăng lên gần gấp đôi, khoảng 600 tắn/ngày và
năm 2020 là khoảng 800 tắn/ngày [16], [22] Tuy vậy hiện mới có khoảng 44% các
bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế trong số đó nhiều hệ thống xử lý đã xuống
cấp nghiêm trọng Tỷ lệ các bệnh viện tuyến Trung ương chưa có hệ thống xử lý
Trang 11chất thải y tế là 25%, tuyến tỉnh là gần 50% và ở bệnh viện tuyến huyện là trên 60%
[221
Để khắc phục thực trạng trên và để đảm bảo thực hiện đúng luật bảo vệ môi
trường, ngày 30 tháng 11 năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 43/2007/QĐ-
BYT về Quy chế quản lý chất thải y tế Quy chế này được áp dụng đối với tất cả các
cơ sở khám, chữa bệnh, nhà hộ sinh, trạm y tế, các bệnh viện và các cá nhân tham gia vận chuyền, xử lý, tiêu huỷ chất thải y tế [5]
Bệnh viện đa khoa Đông Anh là bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y tế Hà Nội Bệnh viện có quy mô 240 giường kế hoạch, công suất sử dụng giường bệnh trung bình hàng năm là 110 - 120% [2] Trong quá trình hoạt động số lượng chất
thải trung bình hàng tháng của bệnh viện là 15265 kg chất thải, trong đó số lượng
chất thải lây nhiễm và độc hại là 2550kg [3] Cũng như nhiều bệnh viện tuyến
huyện khác, cơ sở vật chất của bệnh viện đa khoa Đông Anh còn nhiều hạn chế đó
là: cơ sở hạ tầng không được quy hoạch, thiết kế theo mô hình bệnh viện hạng II
ngay từ đầu; hệ thống xử lý chất thải đặc biệt là chất thải rắn chưa được trang bị; kinh phí hoạt động nói chung và kinh phí cho quản lý chất thải nói riêng còn thiếu Chính vì vậy công tác quản lý chất thải còn gặp nhiều khó khăn Để đánh giá đúng thực trạng quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện như thế nào? Có đáp ứng được
các yêu cầu được quy định tại quyết định 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế được ban
hành ngày 30 tháng 11 năm 2007 không? Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế như thế nào? Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải của bệnh viện ra sao? Chúng tôi thực hiện đề tài đánh giá “Thực trạng quản lý chất thải rắn
y té va kiến thức, thực hành của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa Đông Anh, năm 2011”
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở của khung lý thuyết (Phụ lục 1), trong đó tập trung vào các yếu tố cơ sở vật chất và những cán bộ y tế trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý chất thải rắn y tế
Trang 12tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa Đông Anh, năm 2011
2 Mô tả kiến thức, thực hành của nhân viên y tế của các khoa lâm sang bénh
viện đa khoa Đông Anh về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế
3 Xác định các yếu tố liên quan đến hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyén,
lưu giữ chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa Đông Anh
Trang 13Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế
1.1.1 Các khái niệm
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường [5]
Chất thải rắn là tất cả những chất thải không phải nước thải và khí thải
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ
ăn mòn hoặc có tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toan [5]
Chat thai y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá
học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nỗ
Chat thải y tế nằm trong danh mục A của danh mục chất thải nguy hại và có
mã số A4020-Y1
Việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản
lý chất thải nguy hại nói chung và quản lý chất thải y tế nói riêng [4]
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu
gom, vận chuyền, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ chất thải
y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói
và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chat thai trong co sở y tế
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới
nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu huỷ
Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy
cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu huỷ
Xử lý và tiêu huỷ chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mắt
khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khoẻ của con người và môi trường
Trang 14- Chất thải nhiễm trùng
Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuân, vi rút, ký sinh trùng với số lượng đủ
để gây bệnh cho những người đễ bị cảm nhiễm, bao gồm các loại:
+ Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm
+ Chất thải từ phòng mổ, nhất là phòng mỗ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng
+ Chất thải từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng
+ Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm
+ Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm
- Chất thải sắc nhọn
Là chất thải có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm: bơm kim tiêm, dao mổ,
bộ tiêm truyền
- Thuốc thải loại
Là thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các loại vaccin, huyết thanh, kế cả chai,
lọ đựng chúng
- Chất thai có tính độc với tế bào
Là chất thải có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như các chất chống ung thư
- Các bình chứa khí nén: được dùng trong y tế dưới dạng khí như oxy, khí gây mê
- Chất phóng xạ: không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường gây ảnh hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia a, tia B [25]
Trang 151.1.2.2 Phân loại theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế
Theo Quy chế quản lý chất thải y tế được Bộ Y tế quy định tại quyết định 43/2007/QĐ-BYT ban hành ngày 30/11/2007, chất thải trong các cơ sở y tế được chia thành 5 loại bao gồm: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải
phóng xạ, bình chứa áp suất, chất thải thông thường Tuy không phân thành 8 loại
như WHO nhưng chất thải y tế cũng đã bao gồm tất cả 8 loại trên Cụ thể như sau:
"_ Chất thái lây nhiễm
+ Chất thải sắc nhọn (loại A): là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng,
có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao
mổ, đỉnh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tỉnh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử
dụng trong các loại hoạt động y tế
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): là chất thải có thắm máu, thấm dich
sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
+ Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau
thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
"_ Chất thải hóa học nguy hại
+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây
độc tế bào và các chất tiết của ngưới bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
+ Chất thải kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), Cadimi (từ pin ắc quy), Chì ( từ tắm gỗ bọc chì hoặc
vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chắn đoán hình ảnh, xa tri)
" Chat thải phóng xạ
Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng, khí phát sinh từ các hoạt động chân đoán,
điều trị, nghiên cứu và sản xuất
=_ Bình chứa áp suất
Trang 16Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy
nỗ bao gồm:
+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai, lọ thủy tinh,
chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gay xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.1.3 Nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe
1.1.3.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn
Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một
lượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm [12], [13] Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các cách thức sau: qua
đa, qua các niêm mạc, qua đường hô hấp, qua đường tiêu hóa
Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa gây ra do các vi khuẩn như: Samonella, Shigella, Vibrio cholera, trứng giun Các vi khuẩn này lây truyền qua phân và chất nôn của người bệnh Nhiễm khuẩn đường hô hấp do vi khuẩn lao, virus sởi, phế cầu khuẩn gây nên, chúng lây truyền qua nước bọt, chất tiết, đường hô hắp Ngoài ra trong các chất thải nhiễm khuẩn còn có các vi sinh vật khác như Herpes gây ra
nhiễm khuẩn mắt, tụ cầu khuẩn gây nhiễm khuẩn da, virus viêm gan A, B, C va
HIV gây lên các bệnh lý tương ứng
1.1.3.2 Nguy cơ của các vật sắc nhọn
Các vật sắc nhọn không những có nguy cơ gây thương tích cho những người phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền bệnh nguy hiểm Theo số liệu thống kê tại
Trang 17Nhat Ban, nguy co mac bénh sau khi bi bom kim tiém ban dam xuyén qua da nhu
sau: nhiễm HIV là 0.3%, nhiễm viêm gan B là 3%, viêm gan C là 3 — 5%
Ở Hoa Kỳ, tháng 6/1994, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) đã phát hiện được 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong đó có 32 trường hợp do bị kim tiêm nhiễm khuẩn đâm qua da; 1 trường hợp do dao mổ cắt qua da, 1 trường
hợp bị tổn thương do vỏ của ống thủy tỉnh Cũng theo nguồn số liệu của CDC tình
trạng nhiễm virut viêm gan có liên quan đến tổn thương đo vật sắc nhọn gây ra chủ
yếu tập trung ở nhóm đối tượng là Điều dưỡng và nhân viên vệ sinh bệnh viện, cụ
thể như sau: số lượng Điều dưỡng bị tồn thương do vật sắc nhọn gây ra là 17.7000 — 22.000 người/năm, trong đó có 56 — 96 người/năm bị nhiễm viêm gan, số lượng nhân viên vệ sinh bệnh viện bị tổn thương do vật sắc nhọn gây ra khá cao với 11.700 — 45.300 người/năm, trong đó có 23 - 91 người/năm bị nhiễm viêm gan [15] Các đối tượng khác như bác sĩ, nha sĩ, nhân viên xét nghiệm có số lượng người bị nhiễm viêm gan do tốn thương do các vật sắc nhọn gây ra thấp hơn (dưới
15 người/năm) [15]
1.1.3.3 Nguy cơ của các chất thải hóa học và dược phẩm
Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức khỏe con người do các tính chất: ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nỗ, gây sốc hoặc ảnh hưởng đến di truyền Các chất thải này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn
có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Các chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây ra các tốn thương như bỏng ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc được phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, đễ ăn mòn, các chất gây phản ứng có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tốn thương hay gặp và phổ biến nhát là các vết bỏng
Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn
Trang 18Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe con người do có khả năng gây ảnh hướng đến chất liệu di truyền Ngoài ra, chất thải phóng xạ còn gây ra một loạt các triệu chứng: đau đầu, ngủ gà, nôn Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ
có hoạt tính cao: các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán (máy Xquang, máy chụp cắt lớp ) có thể gây ra tốn thương như phá hủy mô
1.1.4 Ñguy cơ của chất thải rắn y tế đối với môi trường
Các chất thải rắn y tế nếu không được quản lý tốt có thể gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất và nước [12] Ô nhiễm không khí gây ra do mùi và các chất bay hơi từ khu vực lưu giữ chất thải, đặc biệt là khói phát sinh từ các lò thiêu đốt chất thải Ngoài các chất gây ô nhiễm không khí thông thường như ô xít các bon, 6 xit ni
tơ, khí thải trong các lò đốt còn có thể chứa các chất dioxin đặc biệt nguy hại cho
môi trường và sức khỏe
Ô nhiễm nguồn nước do các hóa chất và vi sinh vật rò rỉ từ khu vực lưu giữ chất thải và nước rửa từ các lò thiêu đốt chất thải Các hóa chất độc hại như kim loại nặng, chất phóng xạ, chất gây tổn thương tế bào, chất gây ung thư, chất gây dị ứng
có thể rơi vào nguồn nước Hậu quả của nó là các nguồn nước bề mặt hoặc nước ngầm bị ô nhiễm, các loài sinh vật trong nước có thể bị tiêu diệt hoặc thay đổi di truyền Các hóa chất này và sản phẩm kết hợp của nó lại tiếp tục tham gia vào dây chuyền thực phẩm và tác động đến toàn bộ hệ sinh thái
Ô nhiễm đất có thể xảy ra bởi các hóa chất độc, kim loại nặng, hóa chất bảo
vệ thực vật, chất phóng xạ và mầm bệnh chứa trong chất thải y tế
Chất thải rắn có thể làm biến đổi hệ sinh thái của khu vực do nó gây ra các
ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lên các thành phần của hệ sinh thái như đất, nước, không khí, thảm thực vật, hệ động vật, đến chăn nuôi, thủy sản và trồng trọt [12].
Trang 1910
1.1.5 Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế
> Nguyên tắc tiêu hủy chất thải y tế
- Yêu cầu xử lý chất thải rắn y tế: chất thải rắn y tế phải được xử lý theo quy định, mỗi loại chất thải có những yêu cầu xử lý riêng nhưng toàn bộ chất thải rắn y tế nguy hại đều phải được quản lý và xử lý triệt để Chất thải y tế thông thường xử lý như chất thải sinh hoạt
- Yêu cầu chung xử lý chất thải rắn y tế nguy hại: là làm cho chúng trở thành vô hại với sức khỏe con người và môi trường; giảm thiểu về số lượng; đáp ứng yêu cầu kinh tế và hiệu quả trong chu trình kinh tế - xã hội
- Nguyên tắc thực hiện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại: không gây ô nhiễm thứ cấp, nằm trong quy định chung về quản lý và xử lý chất thải, đảm bảo đúng quy định luật bảo vệ môi trường
> Công nghệ xử lý và tiêu hủy
- Công nghệ thiêu đốt: sử dụng năng lượng từ các nhiên liệu để đốt các chất thải, có
thể xử lý được nhiều loại chất thải đặc biệt là chất thải lâm sàng Phương pháp này
làm giảm thiểu tối đa số lượng chất thải, đồng thời tiêu diệt hoàn toàn các mam
bệnh trong chất thải nhưng đòi hỏi chỉ phí đầu tư ban đầu khá cao và chỉ phí vận hành, bảo đưỡng tương đối tốn kém
- Công nghệ khử khuẩn hóa học: sử dụng một số hóa chất khử trùng (HCIO, NaCIO ) để tiêu điệt các mầm bệnh làm cho chất thải được an toàn về mặt vi sinh vật Phương pháp này có chỉ phí đầu tư ban đầu thấp hơn, chi phi vận hành đắt tùy
thuộc vào loại hóa chất và có thể gây ô nhiễm thứ cấp do một số hóa chất dư
- Công nghệ xử ly nhiệt khô và hơi nước: sử dung nhiệt ẩm hoặc hấp khô để diệt khuẩn ở nhiệt độ 121 — 160 Chỉ áp dụng lượng chất thải rất nhỏ
- Công nghệ vỉ sóng: là một công nghệ mới, hiệu quả Chi phí đầu tư ban đầu tương
đối đắt nhưng xử lý bằng phương pháp này nhiều vật liệu có thể tái sử dụng
- Công nghệ chôn lấp: chỉ phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí vận hành rẻ nhưng chỉ khi được phép và đảm bảo điều kiện tự nhiên như: diện tích rộng, đặc điểm thổ
nhưỡng, đặc điểm nguôn nước ngâm, xa khu dân cư
Trang 20- Cố định chất thải: cỗ định chất thải cùng với chất cố định như xi măng, vôi Thông thường hỗn hợp gồm chất thải y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng 15%, nước 5% được trộn nén thành khối
1.2 Thực trạng quản lý chất thải ran y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải y tế (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh
giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chất thải y tế và phòng chống tác hại
của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng [11], [15], [18], [20] Gần đây, nghiên cứu về chất thải y tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh:
- Su de doa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng
- _ Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịch trong
và ngoài bệnh viện
- _ Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với chất thải y tế
- _ Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe
- _ Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom
chất thải, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối
với người thu gom chất thải, vệ sinh viên và cộng đồng
Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chức đăng
ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng), IPCS (chương trình toàn cầu về an toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đã xây dựng và quản lý các dữ liệu thông tin
Trang 2112
nguy hại, tỷ lệ xử lý chat thai ran bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý, sinh học, chôn lắp rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chat thải rắn với hiệu quả cao nhát (38%), sau đó đến Thụy Sỹ (33%), trong khi đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%) Các nước sử dụng phương pháp chôn
lắp hợp vệ sinh nhiều nhất trong xử lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%) và Tây Ban Nha (80%) [2]]
= Hoat déng quan ly
Theo WHO [27], để đạt được những mục tiêu trong quản lý chất thải y tẾ các cơ sở
y tế cần có những hoạt động cơ bản sau:
- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khối lượng, thành phần)
- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải
- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm
- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu sắc dụng
cụ, đặc điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định )
- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và có các phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc
- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải
- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp
1.2.1.Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụ
thuộc các yếu tố khách quan khác như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh
viện, lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực,
phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị, chăm sóc, số
lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân
Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng chat thai hang năm thay đổi theo mức thu
nhập như sau:
e_ Nước có thu nhập cao:
Trang 22+ Chất thải bệnh viện nói chung: 1,2 — 12 kg/đầu người
+ Chất thải nguy hại: 0,4 — 5,5 kg/đầu người
e_ Nước có thu nhập trung bình:
+ Chất thải bệnh viện nói chung: 0,8 - 6 kg/đầu người
+ Chất thải nguy hại: 0,3 — 0,4 kg/đầu người
e Nước có thu nhập thấp:
+ Chất thải bệnh viện nói chung: 0,5 — 3 kg/đầu người
Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện [12] Với sự dao động từ 0,5 -8,7 kg/ngày đối với tổng lượng chất thải y tế và 0,1 — 1,6 kg/ngày đối với chất thải nguy hại
1.2.2 Quản lý chất thải rắn y tế
Theo tổ chức y tế thế giới [25], phân loại chất thải ban đầu là biện pháp đơn
giản để giảm thiểu các loại chất thải y tế và quản lý chúng một cách có hiệu quả Phân loại chất thải phải đảm bảo phân tách các chất thải một cách chính xác để sử dụng các biện pháp xử lý thích hợp nhằm làm giảm chỉ phí và hạn chế tối đa các tác
động tiêu cực của chúng đối với sức khỏe và cộng đồng Các chất thải sau khi được phân loại phải được thu gom ngay trong ngày và lưu giữ tại nơi có điều kiện thích hop để xử lý Tuy nhiên trên thế giới hiện có 18 — 64% các cơ sở y tế chưa có biện
pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế, tỷ lệ công nhân xử lý chất thải bị
tốn thương đo kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý chất thải còn cao (12,5%) Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp
kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều
tra vận chuyền chất thải đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có
nắp đậy
Theo H.Ô-ga-oa, có vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khỏe, môi trường khu vue Chau A — Thai Bình Dương, phần lớn các nước đang phát triển không quản lý tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo, Australia, Newziland đã đi đầu trong công tác xử lý CTYT
Trang 2314
1.3 Thực trạng chung về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
1.3.1 Nhận định chung
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam quá trình thiết kế và xây dựng trong giai
đoạn đất nước còn nghèo, trải qua chiến tranh lại chưa có nhận thức đúng nên đều không có phần xử lý chất thải đảm bảo quy định và ngày nay vấn đề này đã trở lên bức xúc, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường bệnh viện và xung quanh bệnh viện gây ra sự không đồng tình của nhân dân mà các cơ quan báo chí, truyền hình
đã phản ánh trong các phóng sự điều tra [12]
Hệ thống xử lý triệt để các loại chất thải y tế tại các bệnh viện còn thiếu nhiều Việc thu gom và vận chuyển chất thải bệnh viện chủ yếu bằng phương pháp thủ công và lưu giữ tại các khu vực chưa đạt đủ tiêu chuẩn, với thời gian lưu giữ chờ chuyển đi từ 1 đến 7 ngày Thời gian này đủ để quá trình phân hủy chất thải diễn ra và gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam Thêm nữa, với sự tham gia của chuột, bọ côn trùng và người bới chất
thải đã làm tăng khả năng lây nhiễm, gây mất vệ sinh ngay tại bệnh viện và môi trường sống xung quanh
Nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn rất hạn chế do công tác giáo dục,
tuyên truyền chưa được trú trọng đúng mức Hiện tượng dân vào bới các loại chất
thải tại các khu vực lưu giữ chất thải của bệnh viện dé thu nhặt ống nhựa, kim tiêm,
găng tay phẫu thuật để tái chế sử dụng lại điễn ra ở một số nơi là do thiếu quản lý chặt chẽ và chưa có quy trình xử lý chất thải triệt để [12]
Chất thải thuộc các bệnh viện ở các thành phố thường được ký hợp đồng thu gom với các công ty môi trường đô thị hoặc được xử lý bằng các lò đốt đã được trang bị tại các bệnh viện Tình trạng chất thải lây nhiễm độc hại được xả trực tiếp
ra bãi chất thải sinh hoạt của thành phố vẫn còn tồn tại
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chất thải y
tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của nghành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập Ban
Trang 24chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo xây dựng, quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh trong phạm vi toàn quốc
Ngày 27 tháng § năm 1999, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành “Quy chế quản
lý chất thải y tế” và Bộ Y tế trong thời gian qua đã tiến hành nhiều đợt tập huấn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Quy chế này Ngoài ra nhiều chương trình nghiên cứu thí điểm các lò đốt, chương trình xây dựng, quy hoạch tổng thể hệ thống các lò đốt
trên toàn quốc đang được triển khai
1.3.2 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của các nhân viên y tế tại các bệnh viện
* Các nghiên cứu về chất thải tại Việt Nam
Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết quả nghiên cứu cho thấy: chỉ có 9,4% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Nam và 22,0%
cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi có kiến thức đúng về phân loại chất
thải rắn y tế Qua quan sát và tìm hiểu, nghiên cứu cho thấy hầu hết dụng cụ đựng chất thải tại 2 bệnh viện đều không có đủ các mã màu sắc theo quy định, công tác
phân loại, thu gom chất thải của cả 2 bệnh viện còn nhiều vấn đề tồn tại, chưa thực
hiện đúng với các quy định của Bộ Y tế [11]
Nam 2004, Duong Thi Huong va cộng sự nghiên cứu tình hình vệ sinh môi
trường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng, kết quả nghiên cứu cho
thấy: việc tổ chức phân loại, thu gom tập trung tại các bệnh viện đều chưa thực hiện tốt Hệ thống trang thiết bị thu gom vận chuyền chất thải không được cung cấp đầy
đủ, khu vực lưu giữ chất thải chưa đáp ứng được các quy định của BYT ban hành
[8]
Năm 2006, Trần Thị Minh Tâm và cộng sự nghiên cứu sự hiểu biết về quản
lý, xử lý chất thải y tế của cán bộ, nhân viên y tế tại 11 bệnh viện huyện tỉnh Hải
Dương, kết quá cho thấy: tỷ lệ cán bộ nhân viên y tế biết về quy định màu sắc các vật dụng đựng chat thải, phân loại đúng 5 nhóm chat thai y tế và biết cách xử lý chất
Trang 25nghiên cứu đã đưa ra nhiều kết luận về thực trạng quản lý chất thải y tế, tình hình ô
nhiễm môi trường của các bệnh viện gây ra và các kết quả áp dụng mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện [14]
Năm 2008 — 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu thực
trạng môi trường và hoạt động quản lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: công tác quản lý, xử lý chất thải rắn y tế đã được các bệnh viện quan tâm và thực hiện nghiêm túc theo Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT, tuy nhiên còn phổ biến tình trạng thực hiện không đúng về mặt kỹ thuật theo quy định của BYT, nguyên nhân chủ yếu được cho là thiếu kinh phí thực hiện
Kết quả từ một nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải ở 80 bệnh
viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tăng dần từ bệnh
viện tuyến huyện, đến tuyến tỉnh và cao nhất ở tuyến trung ương [12]: tổng số lượng chất thải rắn y tế ở các bệnh viện tuyến huyện là 0,73kg/giường bệnh (trong
đó số lượng chất thải y tế nguy hại là 0,11kg/giường bệnh), số lượng chất thải rắn ở
bệnh viện tuyến tỉnh là 0,88kg/giường bệnh, trong đó có 0,14kg/giường bệnh là chất
thải y tế nguy bại Số lượng chất thải ở bệnh viện tuyến trung ương chiếm tỷ lệ cao
nhất là 0,97kg/giường bệnh trong đó số lượng chất thải y tế nguy hại là 0,16kg/giường bệnh
Báo cáo thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện năm 2009 của Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho thấy: tổng lượng chất thải thông thường phát
sinh trong một ngày của các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế là 104.227kg, trung bình
là 0,76kg/giường bệnh/ngày, tổng lượng chất thải lây nhiễm cần được xử ly trong 1 ngày là 24.776kg, trung bình là 0,18kg/giường bệnh/ngày Ngoài ra còn có các loại
chất thải y tế nguy hại khác: chất thải hóa học, chất thải phóng xạ, bình áp suất [9].
Trang 261.3.2.1 Phân loại chất thải bệnh viện
Đa số (81,25%) bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh nhưng việc phân loại còn phiến điện và kém hiệu quả Hoạt động phân
loại chất thải còn tồn tại một số vấn đề như: chưa tách vật sắc nhọn ra khỏi chất thải
y tế, còn để lẫn nhiều chất thải thông thường với chất thải y tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đầy đủ và thống nhất Tình trạng nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế đang làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số bệnh viện đã tách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn một số bệnh viện (11,4%) thu gom vật sắc nhọn vào các hộp chưa an toàn (vẫn có khả năng đâm, xuyên), còn lại đa số các bệnh viện (88,6%) thường đựng chất thải sắc nhọn vào các vật tự tạo như chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng [12]
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy: tỷ lệ cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về cách thức phân loại chất thải thành 5 nhóm chưa cao, hiểu biết về mã màu sắc, dụng cụ đựng chất thải y tế chưa đầy đủ, bên cạnh đó công tác đào tạo, tập huấn của các bệnh viện chưa nhiều, do vậy hoạt động phân loại chất thải chưa đạt được kết quả như mong đợi [14] [19]
1.3.2.2.Thu gom chất thải bệnh viện
Hầu hết các chất thải y tế đều được các bệnh viện thu gom, vận chuyển ngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên tỷ lệ thu gom chất thải đúng theo quy định chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [16] Phương tiện thu gom chất thải như túi, thùng,
xe vận chuyển chất thải của các bệnh viện hầu hết còn thiếu và chưa đạt chuẩn
Trong khi đó hiểu biết của nhân viên trong bệnh viện đặc biệt là của các nhân viên
thu gom về hoạt động này chưa-cao Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ các cán bộ
y tế hiểu biết đầy đủ về tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bị ảnh hưởng của chất thải y tế không cao (24.6%), chính vì vậy hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa đảm bảo an toàn và
chưa đúng quy trình của BYT vẫn còn ở mức phổ biến [18] Ngoài công tác đào tạo
trang bị kiến thức, hiểu biết cho cán bộ nhân viên còn ít, vấn đề trang bị các phương
Trang 2718
tiện bảo hộ cho các nhân viên trực tiếp tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyền chất thải chưa được quan tâm
1.3.2.3 Lưu giữ chất thải bệnh viện
Hầu hết các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khu đất của bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn
trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung chất
thải không có mái che, không có hàng rào bảo vệ, không có khóa vị trí ở khuất xa tầm kiểm soát của nhân viên nên các loại côn trùng, chuột, súc vật, người không có
nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có ít bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải đạt tiêu chuẩn quy định [12]
1.3.2.4 Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tễ
Theo các báo cáo gửi về Cục Quản lý Khám chữa bệnh [9], hiện có 34/36 bệnh viện trực thuộc BYT thực hiện ký hợp đồng thuê công ty môi trường đô thị
vận chuyển chất thải y tế thông thường ra ngoài các cơ sở y tế để xử lý Đối với chất thải y tế nguy hại, hiện có 8 bệnh viện có lò đốt còn lại 28/36 bệnh viện hợp đồng
thuê Công ty môi trường đô thị xử lý bằng lò đốt tập trung của cơ sở thiêu hủy trên địa bàn Các bệnh viện ký hợp đồng với các công ty thu gom, vận chuyền chất thải
y tế là tương đối phổ biến (do số lượng các bệnh viện không có lò xử lý chất thải còn nhiễu, kinh phí vận hành cho các lò hoạt động cao), tuy nhiên sự phối hợp liên
ngành giữa hai bên chưa thực sự tốt Hầu hết các nhân viên y té trong bénh vién déu không biết các yêu cầu cần thiết của quy trình vận chuyển chất thải y tế ra ngoài bệnh viện đồng thời cũng không quan tâm đến việc xử lý chất thải bên ngoai ra sao 1.3.3 Những yếu tố liên quan tới thực trạng quản lý chất thải y tế
* Trên thế giới
Theo TCYTTG, để công tác quản lý chất thải hoạt động tốt và có tính bền
vững cần đảm bảo các yếu tố sau: thứ nhất, kinh phí là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hoạt động QLCT Việc tính toán một cách chính xác các chỉ phí
trực tiếp và gián tiếp cho công tác quản lý chất thải là một vấn đề khó, tuy nhiên để
có nguồn ngân sách ổn định và phát triển (đây chính là chìa khóa thành công cho
Trang 28một kế hoạch quản lý chất thải lâu đài) cần tính toán và đảm bảo đủ nguồn ngân sách bằng cách huy động từ các tổ chức đa phương hoặc cơ quan song phương Bên cạnh đó cần có sự cam kết thực hiện nghiêm túc của chính phủ và các bên liên quan
Hệ thống các văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn công tác QLCT về cả quy trình lẫn cách thức thực hiện là một yếu tố quan trọng Các tiêu chuẩn thực hành quản lý chất thải phải được quy định rõ ràng trong các nghị định hướng dẫn, cũng như trong các quy định về chăm sóc sức khỏe, đây chính là biện pháp quản lý
để đảm bảo an toàn trong tất cả các khâu của chu trình Các quy trình thực hiện phải đảm bảo tuân thủ đúng theo các quy định chung mà chính phủ ban hành cũng như các quy định cụ thể của các bệnh viện đề ra
Trang thiết bị, dụng cụ đầy đủ, thống nhất là một yếu tố đảm bảo việc thực hiện quản lý một cách chuẩn hóa Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực thể chế của các bên liên quan chính tham gia vào quy trình quản lý chất thải thông qua sự phát triển của chương trình đào tạo và giảng dạy Cuối cùng, xây dựng một kế hoạch giám sát bền vững, bao gồm kiểm tra và các thể chế sẽ giúp các cơ quan y tế tăng cường thực hiện quản lý chất thải an toàn [27]
** Tại Việt Nam
Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề về môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta Tuy nhiên, giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều vì thực trạng quản lý chất thải đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức
Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất thải y tế là rất lớn Theo ước tính sơ bộ, tổng kinh phí cho toàn bộ chương trình đầu tư xây dựng hệ thống xử
lý chất thải (gồm chất thải rắn, lỏng, khí) vào khoảng 1.160 tỷ đồng chưa kẻ chỉ phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinh phí vận hành và bảo trì [12] Vốn đầu tư cần được huy động từ các nguồn ngân sách Nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nguồn giúp đỡ của các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ Hiện nay các bệnh viện có lò đốt nhưng kinh phí để mua năng lượng vận hành, để
xử lý tro, để trả lương cho nhân công còn chưa được quy định rõ ràng lấy từ nguồn
Trang 2920
ngân sách nào Kinh phí đầu tư để thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải là rất
lớn, trong khi đó, các bệnh viện không thẻ tự nâng giá khám chữa bệnh để bù vào chỉ phí quản lý chất thải của mình Vì vậy có bệnh viện đã được trang bị lò xử lý chất thải nhưng vẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí
Bên cạnh đó, kiến thức về quản lý chất thải trong cán bộ y tế, nhân viên trực
tiếp làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng phân loại, thu gom, vận chuyền và tiêu hủy chất thải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến các hoạt động này Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng chưa sâu rộng, đôi khi dư luận qua báo chí còn làm nhân dân
hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó gây sức ép
không đáng có lên các cơ quan quản lý chuyên ngành [12]
Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi Mặc dù đã có luật Bảo vệ Môi trường, Quy chế quản lý chất thải nguy hại do Thủ tướng Chính phủ ban hành
và Quy chế chất thải y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành nhưng các văn bản pháp quy này chưa thấm sâu vào đời sống Việc thực hiện tốt Quy chế quản lý chất thải y
tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện, còn phần lớn các bệnh viện chưa được quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế
1.3.4 Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa Đông Anh
1.3.4.1 Thông tin chung về bệnh viện
Bệnh viện đa khoa Đông Anh nằm tại đường Cao Lỗ thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Bệnh viện được thành lập vào ngày 15 tháng
10 năm 1964, đến năm 1987 bệnh viện sáp nhập với phòng y tế huyện thành Trung tâm y tế huyện Đông Anh Ngày 01 tháng 4 năm 2007 thực hiện quyết định số 3694/QĐ-UBND ngày 21/12/2006 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, bệnh viện được tách ra từ trung tâm y tế huyện và đổi tên là bệnh viện đa khoa Đông Anh
trực thuộc Sở Y tế Hà Nội
Bệnh viện đa khoa Đông Anh là bệnh viện hạng II, bệnh viện được giao 240 giường kế hoạch, tuy nhiên do số lượng dân cư đông, mô hình bệnh tật ngày càng phức tạp cùng với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày cảng cao, số
Trang 30lượng người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện không ngừng gia tăng, công suất hoạt động của bệnh viện luôn đạt ở mức 110 - 120% [2] Bệnh viện hiện có 296 cán bộ công nhân viên chức với tổng số 17 khoa phòng bao gồm: 4 phòng chức năng (phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Tổ chức hành chính, phòng Tai chinh — Ké toán và phòng Điều dưỡng), 9 khoa lâm sàng (Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Phẫu thuật gây
mê hồi sức, Hồi sức cấp cứu, Đông y, Truyền nhiễm, Khám bệnh) và 4 khoa cận lâm sàng (Chẩn đoán hình ảnh, Xét nghiệm, Dược và Kiểm soát nhiễm khuẩn) Năm 2011, bệnh viện đa khoa Đông Anh đang trong giai đoạn thi công xây dựng, các khu vực hoạt động của bệnh viện đều có sự thay đổi (do phải di dời Sang các nhà tạm) nên công tác quản lý nói chung và quản lý chất thải nói riêng gặp nhiều
khó khăn
1.3.4.2 Quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện da khoa Đông Anh
Theo kết quả điều tra của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện [3], số
lượng chất thải rắn y tế phát sinh trung bình một tháng của bệnh viện như sau: chất
thải lây nhiễm 2.550kg/tháng, chất thải tái chế 2.115 kg/tháng, chất thải thông thường là 10.600 kg/tháng Thành phần và khối lượng các loại chất thải có sự khác
nhau giữa các khoa phòng
Quy trình quản lý chất thải của bệnh viện được thực hiện qua 5 giai đoạn chính: phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải
Trang 31chất Chất thải Chat thai Chat thai Bình chứa Chất thải
GD: Thu gom,
vận chuyển CT
Trang 32Phân loại chất thải: tất cả các nhân viên trong bệnh viện đều thực hiện phân loại các chất thải ngay sau khi chất thải phát sinh, các chất thải này được đựng trong các dụng cụ bao bì thu gom thích hợp Vật sắc nhọn được cô lập đựng trong các thùng inox
Y Thu gom chat thải: các chất thải của các khoa lâm sàng trong bệnh viện được thu gom bởi các nhân viên hộ lý và nhân viên thu gom của khoa Để đảm bảo thu gom hết lượng chất thải, các khoa lâm sàng trong bệnh viện đều trang bị
hệ thống các thùng thu gom có dung tích đủ lớn đảm bảo thu gom hết các
loại chất thải trong ngày
¥ Vén chuyén chất thải: sau khi thu gom, hộ lý các khoa thực hiện vận chuyển chất thải về khu vực lưu giữ chất thải tập trung của bệnh viện Thời gian vận chuyền chất thải được tiến hành tùy theo khối lượng chất thải của mỗi khoa, tuy nhiên hầu hết các chất thải đều được vận chuyển trong thời gian trước và sau khi điều trị, chăm sóc người bệnh, ngoài ra, các chất thải còn được vận chuyền khi cần thiết vào các thời điểm khác nhau trong ngày
Lưu giữ chất thải: tại kho lưu giữ, các chất thải được thu gom, phân loại vào các phòng lưu giữ khác nhau Nhân viên quản lý kho chất thải và hộ lý các khoa thực hiện ghi chép, bàn giao, theo dõi khối lượng từng loại chất thải hàng ngày dưới sự giám sát của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
Xử lý chất thải: hiện nay bệnh viện chưa có hệ thống xử lý chất thải do vậy
việc xử lý chất thải được thực hiện bằng biện pháp ký hợp đồng với các công
ty thu gom chất thải như: công ty Môi trường đô thị, công ty Vận chuyển chất thải công nghiệp và y tế, công ty thu mua chất thải tái chế và công ty TNHH Bảo Ngọc (Bắc Ninh), các công ty này thực hiện vận chuyển và xử lý chất thải theo các quy định hiện hành
Để thực hiện tốt công tác quản lý chất thải rắn y tế, bệnh viện đã xây dựng hệ
thống các quy trình, quy định quản lý, giao khoán việc mua bán các dụng cụ thu gom cho từng khoa, phòng Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng Điều dưỡng, Ban
Trang 33kinh phí vận hành bệnh viện Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát còn chỉ ra
rằng vấn đề nhận thức và thực hành của cán bộ nhân viên y tế trong bệnh viện về
công tác quản lý chất thải chưa cao, sự phối hợp trong các khâu của quy trình làm việc vẫn chưa tốt điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải y tế Hiện nay công tác quản lý
chất thải của bệnh viện chưa thực sự được quan tâm đúng mức, cơ chế đãi ngộ cho các nhân viên đặc biệt là các nhân viên trực tiếp tham gia vào công tác quản lý chất
thải chưa tương xứng với đặc thù công việc
Trang 34Chuong 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
© Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải gồm: dụng cụ phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyền, khu vực lưu giữ chất thải y tế
e_ Cán bộ y tế: nhân viên trực tiếp, tham gia chủ yếu vào hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyền, lưu giữ chất thải bao gồm:
- Điều dưỡng viên, hộ sinh viên, hộ lý của 8 khoa lâm sàng: Nội, Ngoại, Sản,
Nhi, Đông y, Phẫu thuật gây mê hồi sức, Hồi sức cấp cứu, Truyền nhiễm
- _ Lãnh đạo của các khoa, phòng: trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, trưởng phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng của 8 khoa lâm sàng trong bệnh viện 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
e Thi gian: nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 9 năm
2011
e Dia diém: 8 khoa lam sàng, khu vực lưu giữ chất thải bệnh viện đa khoa Đông Anh
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
s* Cỡ mẫu định lượng
- Toàn bộ điều dưỡng viên, hộ sinh viên và hộ lý viên của 8 khoa lâm sàng trong bệnh viện có mặt tại thời điểm nghiên cứu, tổng cỡ mẫu là 136 người gồm 117 điều
dưỡng viên, hộ sinh viên và 19 hộ lý
- Cỡ mẫu cho quan sát thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyền, lưu giữ chất thải: Thực hiện quan sát tại 8 khoa lâm sàng, mỗi khoa quan sát trong 7 ngày (quan sát tất cả 4 khâu trong quy trình quản lý chất thải), tổng số là 56 lượt quan sát
* Cỡ mẫu định tính
- Phỏng vấn sâu được thực hiện với các đối tượng được chọn mẫu có chủ đích bao
gôm:
Trang 3526
+ Trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Trưởng phòng Điều dưỡng, ba điều dưỡng trưởng khoa đại điện cho 3 khối lâm sàng
+ Hai điều dưỡng viên một hộ sinh viên và ba hộ lý
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng
3 Quan sát thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải:
Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển lưu giữ chất thải được thực hiện bằng phương pháp quan sát (không tham gia) điền vào bảng kiểm (Phụ lục 2) Nội dung bảng kiểm được xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá của quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế Bảng kiểm được nhóm nghiên cứu thiết kế và
thử nghiệm trước khi tiến hành thu thập số liệu Các điều tra viên chọn vị trí quan
sát không gây sự chú ý đối với NVYT và quan sát các đối tượng thực hiện những thao tác phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải Thực hiện quan sát đánh giá thực trạng phân loại, thu gom chất thải tại 8 khoa lâm sàng vào l trong 2 thời
điểm: buổi sáng từ 9h30 — 11h, buổi chiều từ 14h30 — 16h, thời gian quan sát cho
mỗi khoa là 20 + 10 phút; Quan sát vận chuyển chất thải được thực hiện tại nơi giao
nhau giữa lối đi sân bệnh viện và lối đi phía sau các khoa trước khu vực lưu giữ chất thải Quan sát vào 3 thời điểm các khoa thường vận chuyền cht thai: 7h — 8h: 13h30 — 14h30; 16h - 16h30; Quan sát lưu giữ chất thải tại khu vực lưu giữ chất
thải tập trung của bệnh viện
> Đánh giá kiến thức, thực hành của nhân viên y tế:
Đánh giá kiến thức, thực hành của các nhân viên y tế bằng phương pháp phát vấn, sử dụng bộ câu hỏi tự điền Nội dung bộ câu hỏi được thiết kế xây dựng dựa trên Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành (Phụ lục 3) Thu thập số liệu được thực hiện vào sau buổi giao ban trong tuân tại từng khoa lâm sàng có nhân
viên thuộc đối tượng nghiên cứu Quy trình thu thập số liệu cụ thể như sau: đầu tiên,
điều tra viên tập trung các đối tượng nghiên cứu vào 1 phòng riêng (phòng hành chính), sau đó điều tra viên giải thích rõ mục đích của nghiên cứu, xin ý kiến đồng
Trang 36chấp thuận tham gia nghiên cứu của đối tượng nghiên cứu, trình bày cách thức lựa chọn các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi, giải đáp các thắc mắc của đối tượng nghiên cứu Hai điều tra viên thực hiện giám sát khi các các đối tượng nghiên cứu trả lời bộ câu hỏi (để tránh các đối tượng nghiên cứu bàn bạc, thảo luận hoặc chia sẻ câu trả lời) làm sai lệch kết quả nghiên cứu Phiếu trả lời được thu và kiểm tra chất lượng điền phiếu ngay sau khi các đối tượng nghiên cứu hoàn thành
2.5.3 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính
- Thực hiện phỏng vấn sâu các đối tượng nghiên cứu dựa theo hướng dẫn phỏng vấn
đã được nhóm nghiên cứu soạn thảo và thử nghiệm từ trước (Phụ lục 4, 5, 6, 7)
- Công cụ hỗ trợ: máy ghi âm, giấy, bút
2.6 Xử lý và phân tích số liệu
% Xứ lý số liệu định lượng
- Các thông tin sẽ được làm sạch, mã hóa trước khi nhập bằng chương trình Epidata
3.1, số liệu phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
- Áp dụng các phân tích mô tả, tính tỷ lệ phần trăm, trung bình
- Tính OR và kiểm định x2 được sử dụng để phân tích sự khác biệt giữa hai tỷ lệ và
mối tương quan giữa hai biến phân loại với p<0.05 là có ý nghĩa thống kê
Số liệu định tính
Các cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm và gỡ băng, nội dung của từng bản ghi được phân tích theo chủ đề Ý kiến phát biểu cá nhân có thông tin liên quan được trích dẫn trong trình bày kết quả để bề trợ cho kết quả nghiên cứu định lượng
Trang 3728
2.7 Các biến số nghiên cứu và các khái niệm, thước đo
2.7.1 Các biến số nghiên cứu
% Nhóm biến số về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử |ý chất thải ran y té
biến
Phương pháp thu
Túi nilon có thê tích
tối đa 0.Im” tương
đương với túi nilon đựng 10kg ngoài thị trường
Nhị phân Quan sát
Có phương tiện vận Có xe chuyên dụng Nhị phân Quan sát,
Trang 38
chuyén chat thai theo quy
dinh
vận chuyển chất thải từ các khoa đến
nơi lưu giữ CT
Phân loại chất thải rắn
ngay tại nơi phát sinh
Thực hiện tách riêng các loại chất thải rắn khác nhau vào các dụng cụ khác nhau ngay trong quá trình thực hiện các thủ thuật, phẫu thuật
Nhị phân
Quan sát, phỏng vân
Nhị phân Quan sát
Thụ gom chất thải rắn
Có thùng thu gom riêng Có thùng khác nhau
để thu gom các loại chất thải khác nhau theo QD BYT
Nhị phân Quan sát
Thu gom chất thải riêng Mỗi loại chất thải
được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã màu quy định
Nhị phân
Quan sát, phỏng vân
10 Thu gom đúng số lượng Luong chất thải
không vượt quá 3⁄4
túi tính từ đáy tới Nhị phân Quan sát
a np ta
Trang 39
12 Buộc kín miệng túi Túi đựng chất thải
phải được buộc kín miệng, không hở
Nhị phân
Quan sát, phỏng
van
Lưu giữ chất thải rắn
13 Các chât thải được lưu giữ
trong các buồng riêng biệt
Chat thải lây nhiễm,
thông thường, tái chế được lưu giữ trong các buồng khác nhau tại khu lưu giữ tập trung của BV
Nhị phân Quan sát
14 Thời gian lưu giữ chất thải
tại khoa đúng quy định
Chât thải được lưu giữ không quá 24
giờ, tính từ khi chất thải phát sinh đến khi
chuyển về kho lưu
được vận
giữ
Nhị phân Quan sát
15 Thời gian lưu giữ chất thải
tại kho tập trung đúng quy
định
Chất thải được lưu
giữ không quá 48
giờ, tính từ khi chất thải phát sinh đến
khi được tiêu hủy
phỏng
Trang 40
+ Nhóm biến số thông tin chung, kiến thức, thực hành của đối tượng phỏng
biên pháp thu
thập
PHAN 1 THONG TIN CHUNG DOI TUQNG PHONG VAN
đôi tượng trả lời phỏng vân tự điện
3 |Nghê nghiệ Là lĩnh vực chuyên môn được Bộ câu hỏi
Trình độ chuyên | Là bằng cấp chuyên môn cao
tu dién ngach luong
Sô năm công tác |làm việc trong lĩnh vực Rời rạc :
chuyên môn đên nay
6 |Đối tượng lao | Là hình thức tuyển dụng của ; Bộ câu hỏi
7 | Được hướng dẫn | Đối tượng đã được phổ biến,
quy chê | tập huân vê quy chê quản lý Nhị phân :
QLCTYT chat thai răn y tê
8 |Kiến thức phân | Là sự hiểu biết của ĐTPNC về | Nhị phân