Nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại được định nghĩa là toàn bộ tài sản bên nợ trong Bảng cân đối Kế toán của Ngân hàng.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU:
Bất cứ một kế hoạch sản xuất kinh doanh nào để có thể thực hiện đượcthì yếu tố đầu tiên, quan trọng là vốn Điều đó có nghĩa là với người có vốn thìviệc sản xuất kinh doanh có thể thực hiện được, nhưng có thể xảy ra trườnghợp người có ý tưởng kinh doanh nhưng không có vốn hoặc số vốn có không
đủ thì cũng không thể tiến hành kế hoạch kinh doanh được, ngược lại một sốngười có tiền nhưng không có ý định kinh doanh Ngân hàng ra đời chính làcầu nối giữa người cần vốn và người có vốn nhưng chưa sử dụng đến, đó làmột điều thật tuyệt vời làm cho nguồn vốn trong nền kinh tế được toàn dụng,làm cho sự phát triển không bị gián đoạn vì không có vốn Chức năng huyđộng vốn và cho vay của ngân hàng đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong nềnkinh tế Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển Ngân hàng là tổ chức kinh doanhtrến lĩnh vực tiền tệ, vì vậy mà yếu tố nguồn vốn là yếu tố cạnh tranh giữa cácngân hàng thương mại Cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt khi mà trênthị trường có rất nhiều tổ chức cùng huy động vốn, khi mà trong giai đoạn gầnđây hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần ra đời làm thị phần của cácngân hàng hiện tại bị chia nhỏ Chính vì vậy đòi hỏi mỗi ngân hàng phải xâydựng và tiến hành thực hiện công tác quản lý nguồn vốn sao cho hoạt động huyđộng và cho vay luôn nhịp nhàng ăn khớp với nhau, tạo được lòng tin, uy tínđối với khách hàng, đồng thời thu được lợi nhuận cao nhất
Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để các ngân hàng thương mại có thểquản lý nguồn vốn có được từ nền kinh tế ?
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý nguồn vốn cũng
như khó khăn công tác quản lý vốn tại các ngân hàng, em chọn đề tài: “Một
số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn tại chi nhánh Nam
Hà Nội - ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn”
Trang 2Bài viết của em gồm 3 phần chính:
Chương I: Lý luận chung về quản lý nguồn vốn tại ngân hàng thương
mại
Chương II: Thực trạng quản lý nguồn vốn tại chi nhánh Nam Hà Nội
-ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn
Chương III: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn
tại chi nhánh Nam Hà Nội - ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn
Kết luận
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chuyên đề của em chắc chắn vẫn cònnhiều thiếu sót Em rất mong các thầy cô giáo nhiệt tình chỉ bảo, sửa chữagiúp chuyên đề của em hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn giảng viênPGS.TS Đoàn Thị Thu Hà đã hướng dẫn cùng sự giúp đỡ, quan tâm của Banlãnh đạo và cán bộ phòng Nguồn vốn kế hoạch tổng hợp của chi nhánh Nam
Hà Nội - ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn đã giúp em hoànthành chuyên đề tốt nghiệp này
Trang 3CHƯƠNGI: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI:
1 QUẢN LÝ NGUỒN VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.1 Khái niệm nguồn vốn
Nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại được định nghĩa là toàn bộ tàisản bên nợ trong Bảng cân đối Kế toán của Ngân hàng
Bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi vay, trong đó nguồnvốn đi vay là chính và quan trọng vì đây là nguồn tạo ra lợi nhuận
Quy mô và kết cấu của nguồn tuỳ thuộc vào cách thức, mục tiêu huyđộng vốn của mỗi Ngân hàng Thông qua kết cấu nguồn vốn của mỗi Ngânhàng người ta có thể đánh giá được sự hoạt động cũng như khả năng quản trịNgân hàng của ban lãnh đạo
1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động của ngân hàng thương mại:
Trước hết, Nguồn vốn là tiền đề cần thiết cho sự tồn tại và hoạt độngcủa Ngân hàng Bất kì một ngân hàng nào muốn tiến hành các hoạt động chovay hay cung cấp các dịch vụ đều phải có một số vốn đủ lớn đảm bảo Số vốn
đó giúp ngân hàng ban đầu tiến hành nghiên cứu thị trường, tìm kiếm kháchhàng, thực hiện hoạt động tín dụng và mở rộng việc cung cấp các dịch vụkhác như : bảo lãnh, mua bán ngoại tệ, chuyển tiền, thanh toán hộ… Trongquá trình hoạt động, nguồn vốn của ngân hàng không ngừng tăng lên, lớn hơnrất nhiều lần so với số vốn tự có của ngân hàng nhờ hoạt động huy động vốnđược thực hiện song song với các hoạt động trên Nguồn vốn của ngân hàngđược huy động: từ dân cư, từ các doanh nghiệp, các tổ chức hay trên thịtrường vốn Quy mô vốn của một ngân hàng càng lớn thì sức mạnh và uy tíncủa nó trên thị trường tài chính càng được khẳng định, đó là điều kiện thuận
Trang 4lợi cho ngân hàng phát triển Tóm lại, nguồn vốn đóng vai trò quan trọng,nòng cốt trong hoạt động kinh doanh của tất cả các ngân hàng.
1.3 Các nguồn hình thành nên nguồn vốn trong NHTM
1.3.1 Vốn chủ sở hữu.
Đây là loại vốn ngân hàng tự có của ngân hàng, do đó nó được sử dụnglâu dài, hình thành nên trang thiết bị, cơ sỏ vật chất, trụ sở hoạt động của ngânhàng Nguồn vốn này được coi là nệm chống rủi ro, bảo đảm an toàn cho sựhoạt động của tất cả các ngân hàng, là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác.Vốn chủ sở hữu bao gồm các thành phần sau:
Nguồn vốn hình thành ban đầu.
Nguồn vốn ban đầu hay Vốn pháp định của mỗi ngân hàng được hìnhthành do tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định Ví dụ ngân hàng thươngmại nhà nước thì 100% vốn do nhà nước cấp, ngân hàng thương mại cổ phầnthì vốn ban đầu do cả cổng đông đóng góp (vốn điều lệ)…
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.
Để bổ xung vốn sở hữu, các ngân hàng thường lấy từ các nguồn sau:
- Nguồn từ lợi nhuận: Khi ngân hàng hoạt động có lợi nhuận thì mộtphần thu nhập sẽ được chuyển thành vốn đầu tư, làm gia tăng vốn chủ sở hữu
- Nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấpthêm… để mở rộng quy mô hoạt động của Ngân hàng hoặc đáp ứng yêu cầugia tăng vốn chủ sở hữu do NHNN quy định Tuy nhiên, không phải lúc nàongân hàng cũng có thể có được nguồn này Đối với các NHTM nhà nước, việcđược cấp thêm vốn tuỳ thuộc vào chính sách mỗi năm của nhà nước Còn đốivới các NHTM cổ phần, việc tăng thêm vốn điều lệ phụ thuộc vào sự cânnhắc của hội đồng quản trị ngân hàng
Các quỹ.
Trang 5Các quỹ này đều được hình thành từ thu nhập của ngân hàng nhằm hỗtrợ các hoạt động khác nhau của ngân hàng Như: Quỹ dự phòng tổn thất:được trích lập hàng năm và được tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất đã
và sẽ xảy ra; Quỹ bảo toàn vốn : nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác độngcủa lạm phát Ngoài ra, các ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khenthưởng,…
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Ngân hàng thường có các khoản vay trung và dài hạn, các khoản này cóthể được chuyển đổi thành vốn cổ phần là nguồn vốn bổ sung vốn chủ sở hữucủa ngân hàng
1.3.2 Tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi.
Tiền gửi là nguồn vốn huy động từ bên ngoài đầu tiên và quan trọngnhất đối với mỗi NHTM Trong cơ cấu vốn của tất cả các ngân hàng, tiền gửi
luôn chiếm tỷ trọng lớn và có ảnh hưởng nhiều nhất tới các hoạt động của
ngân hàng Vì thế để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để cóđược nguồn tiền gửi chất lượng ngày càng cao thì các ngân hàng đã đa dạnghoá hình thức huy động tiền gửi
Tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi thanh toán là tiền gửi không kì hạn với mục đích là thanh toánkhi cần Thông thường, chủ các tài khoản tiền gửi không kì hạn thường yêucầu ngân hàng thanh toán hộ mình cho các đối tác qua tài khoản mà khôngcần phải đến ngân hàng rút tiền nữa Ngày nay tài khoản tiền gửi thanh toáncòn đảm nhiệm rất nhiều chức năng hữu ích đối với người dùng Mạng lướingân hàng càng mở rộng và phát triển thì càng tạo nhiều thuận lợi cho nhữngngười sở hữu các tài khoản tiền gửi thanh toán Các ngân hàng thường trả lãisuất cho các khoản tiền gửi thanh toán, dù lãi suất rất thấp Điều đó càng làm hấpdẫn khách hàng vì sự tiện lợi muốn rút tiền lúc nào cũng được, mặt khác nếu họ
Trang 6chưa có nhu cầu sử dụng khoản tiền trong tài khoản trong một khoảng thời gianthì tiền của họ vẫn đảm bảo khả năng sinh lời.
Tiền gửi thanh toán cũng là khoản vốn có chi phí (lãi suất) thấp nhấttrong các loại tiền gửi Các ngân hàng ngày càng tạo ra rất nhiều sản phẩmcũng như tiện ích sử dụng, hấp dẫn khách hàng gửi tiền thanh toán
Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội.
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp hay tổ chức luôn có mộtlượng tiền tạm thời chưa cần sử dụng, họ gửi nó vào ngân hàng với các kì hạnkhác nhau để hưởng lãi nhằm tạo thêm thu nhập cho mình Tuy nhiên, lượngtiền gửi có kì hạn của các tổ chức chiếm một lượng rất nhỏ so với lượng tiềngửi không kì hạn, và lượng tiền này phụ thuộc vào chu kỳ hoạt động kinhdoanh sản xuất của các doanh nghiệp
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa dùngđến, họ tích luỹ lại để tiêu dùng trong tương lai Một trong những cách đểngười dân có thể giữ tiền của mình là gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng Ngânhàng đảm bảo an toàn cho tài sản của họ đồng thời trả lãi để khuyến khích họgửi nhiều tiền với thời hạn dài Huy động tiền gửi trong dân cư là nghiệp vụtruyền thống đem lại cho ngân hàng một lượng vốn rất lớn để có thể tiến hànhcác hoạt động cho vay và đầu tư tìm kiếm lợi nhuận Có 2 loại: tiền gửi tiếtkiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, người gửi có thể rút bất cứ khi nào
họ muốn Còn với tiền gửi tiết kiệm có kì hạn, người gửi chỉ có thể rút tiềnkhi đến hạn nhưng lại được hưởng mức lãi suất cao hơn nhiều so với tiền gửitiết kiệm không kì hạn Hiện nay, để cạnh tranh hầu như các ngân hàng đềucho người gửi tiền tiết kiệm có kì hạn rút tiền trước hạn khi cần, tuy nhiênmức lãi suất sẽ thấp hơn so với rút tiền khi đáo hạn, hơn nữa các ngân hàngthường mua bảo hiểm bảo hiểm tiền gửi Điều này làm tăng sức hấp dẫn củatiền gửi tiết kiệm có kì hạn
Trang 7Tiền gửi của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác.
Các ngân hàng đều gửi một lượng tiền ở các ngân hàng khác nhằm mụcđích tạo sự thuận tiện cho việc thanh toán hộ, chuyển khoản hay mua bán,giao dịch khác…Lượng tiền gửi này thường không lớn
1.3.3 Tiền vay và nghiệp vụ đi vay.
Bên cạnh việc huy động vốn từ nhận tiền gửi, các ngân hàng còn đi vaykhi cần, có nhiều nguồn khác nhau như: vay từ NHNN, vay từ các TCTDkhác hoặc vay trên thị trường vốn…
Tiền vay NHNN.
Ngân hàng trung ương là ngân hàng của tất cả các ngân hàng, sẽ hỗ trợcác ngân hàng trong các trường hợp khó khăn nhất, là người cho vay saucùng Thông thường NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái chiết khấu,hoặc tái cấp vốn Các thương phiếu đã được các NHTM chiết khấu sẽ trởthành tài sản của NHTM Khi cần tiền NHTM mang chúng lên NHNN để táichiết khấu Nghiệp vụ này làm thương phiếu của NHTM giảm đi và dự trữtăng lên NHNN kiểm soát việc vay mượn này một cách chặt chẽ Thôngthường NHNN chỉ chiết khấu cho các thương phiếu có chất lượng (có khảnăng trả nợ cao và thời hạn đáo hạn ngắn), và phải phù hợp với mục tiêu củaNHNN trong từng thời kì NHNN sẽ cho NHTM vay dưới dạng tái cấp vốnkhi NHTM chưa có thương phiếu, tuy nhiên số vốn cho vay theo hạn mức tíndụng nhất định
Tiền vay các tổ chức tín dụng khác.
Trong trường hợp cấp bách các ngân hàng có thể vay mượn lẫn nhau vàvay của các tổ chức tài chính khác trên thị trường liên ngân hàng, đây là hoạtđộng thường xuyên và là cũng một kênh huy động vốn tốt cho các ngân hàng.Quá trình vay mượn này đơn giản hơn rất nhiều so với việc vay vốn tạiNHNN, Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc
Trang 8thông qua ngân hàng đại lí (hoặc NHNN ) Khoản vay có thể không cần bảođảm hoặc được bảo đảm bằng các chứng khoán của kho bạc Thông thường,các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ vềcác khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ sẵn lòng cho các ngân hàngkhác (đang thiếu hụt dự trữ ) vay Đối với ngân hàng cho vay đây là cơ hội đểkiếm lời, còn với ngân hàng đi vay họ có được một lượng vốn để giải quyết nhucầu thanh khoản đang cần gấp, nói chung 2 bên đều có lợi.
Vay trên thị trường vốn.
Để huy động được lượng vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu cho vay thườngxuyên (đặc biệt là cho vay trung và dài hạn), bên cạnh việc thu hút tiền gửi,các Ngân hàng thường chủ động đi vay trên thị trường vốn bằng cách pháthành các giấy nợ (kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu) trên thị trường Đây là cáckhoản vay thường không cần có đảm bảo, nên những ngân hàng lớn có uy tínhoặc trả lãi suất cao hơn thì sẽ vay được nhiều vốn hơn Các ngân hàng nhỏkhó vay mượn trực tiếp bằng cách này, họ phải thông qua ngân hàng đại líhoặc được sự bảo lãnh của ngân hàng Đầu tư Thị trường tài chính càng pháttriển thì khả năng chuyển đổi các công cụ nợ dài hạn của các ngân hàng càngtăng
Vay nợ khác.
Ngoài những nguồn vốn đi vay cơ bản trên, Ngân hàng còn có cácnguồn vốn vay khác như:
- Nguồn uỷ thác: NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác
cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ….Trong
đó Uỷ thác Đầu tư là dịch vụ khá hấp dẫn của ngân hàng, khách hàng có thể
uỷ thác tiền bạc, tài sản của họ cho ngân hàng để ngân hàng tiến hành đầu tưvào những dự án khả thi để sinh lãi
Trang 9- Nguồn trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền
mặt có thể hình thành nguồn trong thanh toán ( séc trong quá trình chi trả, tiền
ký quỹ L/C…) Vì phần lớn chúng nguồn này ở trong trạng thái chờ luânchuyển, do đó các ngân hàng ít khi chỉ sử dụng chúng để cho vay lâu dài màchỉ sử dụng để bổ sung thêm nguồn ở thời điểm hiện tại
- Nguồn khác: thuế chưa nộp, lương chưa trả…Đây là nguồn mà ngân
hàng có thể tạm thời sử dụng khi cần
Dưới đây chỉ tập trung vào nghiên cứu nguồn vốn kinh doanh của ngânhàng thông qua hoạt động huy động, về đặc điểm và phương pháp quản lýchúng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà ngân hàng để ra
1.4 Đặc điểm của các nguồn và các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn tiền:
1.4.1 Đặc điểm nguồn tiền gửi và các nhân tố ảnh hưởng:
Đặc điểm chung của nguồn tiền này là thời gian thanh toán phụ thuộcvào yêu cầu của khách hàng gửi tiền (bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp chưađến hạn) Sự thay đổi của các loại tiền gửi ảnh hưởng đến khả năng thanhkhoản của ngân hàng đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn
Tiền gửi thường chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn của ngânhàng, chiếm khoảng 50% tổng số vốn Tiền gửi chính là mục tiêu tăng trưởnghàng năm của ngân hàng
Do đặc điểm phải thanh toán ngay khi khách hàng có yêu cầu nên tiềngửi có tính dự trữ bắt buộc, dẫn tới chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi suấttrả cho tiền gửi và nhiều ngân hàng đã mua bảo hiểm cho tiền gửi
Sự biến động thay đổi lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiềunhân tố khác sẽ ảnh hưởng đến tiền gửi đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn Lãi suấtcao là nhân tố thu hút lượng tiền nhàn dỗi tạm thời từ dân cư, các tổ chức,doanh nghiệp Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lạm phát nên lãi suất thực tếdương thì mới thực sự là nhân tố thu hút gửi tiền tiết kiệm Thời vụ chi tiêu
Trang 10ảnh hưởng tới quy mô và tính ổn định của nguồn tiền Các nhân tố khác nhưđịa điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh, các loại hình huy động đa dạng,chương trình khuyến mại, các dịch vụ đa dạng,… đều ảnh hưởng đến quy mô
và kết cấu của nguồn tiền
Ngân hàng cần phải nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiền gửithông qua nghiên cứu đặc điểm thị trường nguồn tiền của ngân hàng nhằmđưa ra biện pháp quản lý nguồn vốn một cách thích hợp Tuy nhiên việc xácđịnh chính xác sự thay đổi quy mô và kết cấu của tiền gửi thường rất khó
1.4.2 Đặc điểm nguồn đi vay và các nhân tố ảnh hưởng:
Trong tổng nguồn, nguồn này thường chiếm tỷ lệ thấp hơn so vớinguồn tiền gửi Các khoản đi vay thường có thời hạn và quy mô xác địnhtrước, do vậy tạo thành nguồn vốn ổn định Ngân hàng hoàn toàn xác địnhđược thời điểm vay và khối lượng cần vay, ngân hàng chỉ vay lúc cần thiết,theo nhu cầu sử dụng Nguồn đi vay có thể không phải chịu dự trữ bắt buộcgiống như nguồn tiền gửi và không cần có bảo hiểm Tuy nhiên, lãi suất trảcho nguồn tiền vay thường lớn hơn lãi suất nguồn tiền gửi do rủi ro lớn hơn.Các khoản vay từ NHNN hoặc từ các ngân hàng khác có lãi suất thấp songthường có thời hạn ngắn, do đó chỉ đáp ứng nhu cầu ngắn hạn của ngân hàng.Việc cho vay vốn của NHNN phụ thuộc vào chính sách tiền tệ mà nó theođuổi theo từng thời kỳ Việc vay vốn từ các ngân hàng trên cùng một địa bàncùng không thuận lợi khi các ngân hàng cùng trở nên khan hiếm phương tiệnthanh toán Vì vậy, muốn mở rộng quy mô vay mượn trên thị trường tiền tệcác ngân hàng cần thiết lập mối quan hệ liên ngân hàng với các ngân hàngnước ngoài, phải có khả năng phân tích rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái
Việc phát hành các giấy tờ nhằm vay vốn thời hạn là trung và dài hạnđóng vai trò quan trọng trong việc tạo và gia tăng nguồn vốn trung và dài hạn
có tính ổn định cao cho ngân hàng Thông qua nguồn vốn này ngân hàng có
Trang 11thể cho vay các dự án, tài trợ trang thiết bị và bất động sản của doanh nghiệp
và người tiêu dùng Điều kiện để nguồn này được đảm bảo là thu nhập củadân cư, sự ổn định vĩ mô, và các kỹ thuật nghiệp vụ của ngân hàng nhằm tạotính thanh khoản của các giấy tờ ghi nợ và thuận tiện cho người cho vay Tuymức lãi suất của nguồn này thường cao hơn so với các nguồn khác song đổilại nguồn này đáp ứng được những yêu cầu: ổn định, qui mô đủ lớn trongkhoảng thời gian xác định
1.4.3 Đặc điểm của các nguồn khác:
Hầu hết các nguồn khác của ngân hàng đều có lãi suất bằng không(lãisuất danh nghĩa) do ngân hàng không phải trả lãi Trên thực tế để có và duy trìchúng cần bỏ ra một khoản chi phí đáng kể Ví dụ, để có các nguồn uỷ thácđầu tư ngân hàng cần phải tìm kiểm chủ đầu tư, tìm hiểu yêu cầu của họ,nghiên cứu các dự án mà họ tài trợ… Nói chung các nguồn khác trong ngânhàng thường không lớn, việc gia tăng nguồn này nằm trong chính sách tăngnguồn thu cho ngân hàng và phụ thuộc rất lớn vào khả năng thực hiện và mởrộng các loại hình dịch vụ của ngân hàng
1.5 Nội dung của quản lý vốn tại ngân hàng thương mại:
1.5.1 Mục tiêu của quản lý nguồn vốn:
Quản lý nguồn vốn tức là quản lý tài sản nợ, nó cần thiết đối với bất cứngân hàng nào, nhằm mục đích:
- Khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
- Đảm bảo sự tăng trưởng bền vững, tạo tiền đề nâng cao thị phần củangân hàng, thoả mãn tốt nhất nhu cầu vốn cho khách hàng về cả số lượng,thời hạn và lãi suất
- Đảm bảo khả năng thanh toán và năng cao hiệu quả kinh doanh củangân hàng
1.5.2 Nội dung quản lý nguồn vốn tại ngân hàng theo quy trình quản lý:
1.5.2.1 Nội dung quản lý nguồn vốn:
Trang 12Theo quy trình quản lý, quản lý nguồn vốn tại NHTM bao gồm nhữngnội dung chủ yếu sau:
- Trước hết, để quản lý nguồn vốn ngân hàng cần xây dựng kế hoạchnguồn vốn bao gồm các nội dung: quy mô, cơ cấu, tốc độ gia tăng nguồn vốnnăm kế hoạch so với năm trước, đề xuất các phương án huy động, chính sáchlãi suất tiền gửi, chương trình marketing,…
Kế hoạch nguồn vốn phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng vốn thực tế và cầnđảm bảo khả năng thanh toán Vì vậy, khi lập kế hoạch nguồn vốn phải căn cứvào cơ cấu và quy mô tài sản Có để quyết định cơ cấu và quy mô tài sản Nợ, phùhợp với trình độ quản lý và đảm bảo hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Kếhoạch nguồn vốn của toàn hệ thống được xây dựng trên cơ sở tổng hợp kế hoạchnguồn vốn của các chi nhánh và hội sở chính Sau khi đã được các nhà quản lýxem xét ký duyệt sẽ được giao xuống từng chỉ nhánh theo chỉ tiêu
- Thực hiện công tác điều hành vốn trong toàn hệ thống: giao kế hoạchnguồn vốn đối với từng chi nhánh, xác định hạn mức điều chuyển vốn, lãisuất điều chuyển vốn,…
- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch nguồn vốn trongtừng thời kỳ của riêng từng chi nhánh và chung cho toàn hệ thống
- Theo dõi việc thực hiện lãi suất, chênh lệch lãi suất bình quân cho vay
và huy động của từng chi nhánh cũng như toàn bộ hệ thống
2.5.2.2 Quy trình quản lý vốn tại ngân hàng thương mại:
Nhìn chung, các NHTM Việt Nam đều quản lý vốn theo quy trình cơbản sau:
Tại các chi nhánh:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch nguồn vốn:
- Căn cứ xây dựng:
Trang 13+ Chính sách phát triển kinh tế của địa phương kết hợp với mục tiêutăng trưởng nguồn vốn của hệ thống.
+ Mục tiêu tăng trưởng riêng của hoạt động kinh doanh của chi nhánh.+ Kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước, kết quả huy động vốn, thịphần huy động vốn trên địa bàn, chu kỳ tăng trưởng vốn của những năm trước
đó và dự đoán xu hướng tăng trưởng vốn trong năm kế hoạch
Trong đó phòng kế hoạch nguồn vốn là đơn vị chuyên trách trong việcxây dựng kế hoạch nguồn vốn của chi nhánh Phòng nguồn vốn kế hoạch sẽtổng hợp kế hoạch huy động vốn, có kèm các giải pháp thực hiện của các đơn
vị trực thuộc, đồng thời phân tích tình hình môi trường kinh doanh, thuận lợi,khó khăn của chi nhánh, để xây dựng kế hoạch nguồn vốn Trong đó đặc biệtchú trọng tới kế hoạch nguồn vốn huy động, cơ cấu kỳ hạn, cơ cấu loại tiền
dự kiến của tài sản Có Mặt khác xây dựng chính sách lãi suất phù hợp vớichính sách tín dụng, chính sách khách hàng đồng thời dự kiến các biện pháp
và công cụ huy động vốn
Bước 2: Thực hiện công tác huy động và điều hành vốn:
- Chỉnh sửa kế hoạch nguồn vốn cho phù hợp với chỉ tiêu Hội sởchính(HSC) giao
Trang 14- Giao chỉ tiêu huy động vốn ( theo tháng và theo quý) cho các phòng,các chi nhánh khu vực căn cứ vào kế hoạch mà đơn vị đã lập và khả năng huyđộng của đơn vị.
- Quy định mức lãi suất huy động căn cứ vào chính sách lãi suất của hệthống, phù hợp với mặt bằng lãi suất trên thị trường huy động vốn của cácngân hàng, và yêu cầu của hoạt động kinh doanh
- Triển khai thực hiện huy động theo kế hoạch Các đơn vị lập nhu cầuchi trả hàng tuần hàng tháng, hàng quý trên cơ sở đó phòng vốn xây dựng dựbáo lưu chuyển dòng tiền mặt làm căn cứ điều hành nguồn vốn toàn chinhánh Chi nhánh điều chuyển vốn về HSC hoặc nhận vốn điều chuyển từHSC theo hạn mức điều chuyển và lãi suất điều chuyển được giao Hàng ngàyphòng nguồn vốn làm báo cáo về sự tăng giảm nguồn và sử dụng nguồn đểban giám đốc điều hành và có sự chỉ đạo kịp thời, riêng cân đối tháng gửiphòng nguồn vốn HSC để tổng hợp cân đối chung toàn hệ thống
- Trong quá trình triển khai, chi nhánh có thể đề nghị HSC điều chỉnhcác chỉ tiêu nguồn vốn tuỳ thuộc vào tình hình thực hiện cụ thể
- Chi nhánh đánh giá công tác nguồn vốn, so sánh với cùng kỳ nămtrước một cách định kỳ (hàng tháng, quý, năm), từ đó biết được các mặt được,mặt còn hạn chế, rút ra những kinh nghiệm, đề xuất các biện pháp, kiến nghịcác điều kiện để chuẩn bị xây dựng kế hoạch nguồn vốn và thực hiện tốt kếhoạch nguồn vốn trong năm sau
Lập kế hoạch nguồn vốn tai Hội sở chính:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch nguồn vốn:
- Căn cứ xây dựng:
Chiến lược phát triển dài hạn của toàn ngành trong từng thời kỳ nhấtđinh
Trang 15 Mục tiêu tăng trưởng hàng năm về tổng tài sản, tổng dư nợ, và cácchỉ tiêu liên quan tới nguồn vốn khác.
Kế hoạch nguồn vốn của các chi nhánh
Số liệu thực hiện năm trước, thị phần đã đạt được của toàn hệ thống
án nguồn vốn dự phòng với số lượng và mức độ chi phí cần thiết Ngoài kếhoạch huy động vốn, phải xây dựng các kế hoạch phát hành kỳ phiếu, tráiphiếu một cách cụ thể
Phòng kế hoạch và nguồn vốn tổng hợp phân tích kế hoạch nguồn vốncủa các chi nhánh sau đó xây dựng chỉ tiêu chung cho toàn bộ ngân hàng vàchỉ tiêu huy động vốn riêng cho từng chi nhánh và các phòng tại HSC.
Trang 16- Tiền gửi các TCTD khác
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà NHTM phải duy trì trên tài khoản tiền gửitại ngân hàng trung ương Tỷ lệ dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương quyđịnh trong từng thời kỳ, quy mô của dự trữ bắt buộc nhiều hay ít phụ thuộcvào số dư tiền gửi huy động của từng loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc được thực thi theo luật vì vậy các NHTM phải duy trìđầy đủ khoản tiền này, nếu thiếu sẽ bị phạt theo quy định
Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hàng ngày ngân hàng cần phải có cáckhoản dự trữ khác bên ngoài khoản dự trữ bắt buộc Phần dự trữ này phụthuộc vào thời hạn của các khoản nợ, các cam kết giải ngân của ngân hàng,nhu cầu rút tiền hàng ngày của khách hàng,…
Bước 2: Thực hiện công tác nguồn vốn gắn với việc điều hành vốn tạihội sở chính:
- Trực tiếp thực hiện công tác nguồn vốn:
+ Nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành kỳ phiếu, tráiphiếu chủ yếu đối với các khách hàng lớn có tiềm năng (các TCTD khác, cáctổng công ty,…)
+ Vay ngân hàng Trung ương (tái chiết khấu, tái cấp vốn), vay cácTCTC trong và ngoài nước, các TCTD khác…
+ Huy động vốn qua thị trường mở, thị trường chứng khoán
- Thực hiện đảm bảo khả năng thanh toán, điều hành vốn trong toàn hệthống:
Phòng nguồn vốn kế hoạch chịu trách nhiệm chính
Triển khai thực hiện công tác điều hành vốn đối với các chi nhánh quaviệc giao kế hoạch tăng trưởng vốn huy động, xác định hạn mức điều chuyểnvốn, lãi suất điều chuyển vốn,…đối với từng chi nhánh cụ thế
Trang 17Hạn mức điều chuyển vốn là giới hạn tối thiểu của số vốn chi nhánhđiều chuyển về Hội sở chính và giới hạn tối đa của số vốn chi nhánh nhận từhội sở chính, được xác định như sau:
A = B – CTrong đó:
A: Hạn mức điều chuyển vốn kỳ kế hoạch
Bước 3: Quản lý công tác nguồn vốn của các chi nhánh
- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và tiến độ thực hiệncông tác nguồn vốn từng thời kỳ qua cân đối vốn, so sánh với tiềm năng vàtốc độ trung bình toàn hệ thống
- Theo dõi thực hiện chính sách lãi suất, chênh lệch lãi suất bình quân
- Đánh giá tiềm năng nguồn vốn, chỉ đạo công tác nguồn vốn tại cácchi nhánh
- Xử lý các vấn đề kiến nghị của chi nhánh
- Điều chỉnh chỉ tiêu nguồn vốn cho chi nhánh khi cần thiết
Những chi nhánh hoạt động độc lập có thể tự xây dựng công tác kếhoạch nguồn vốn cũng như thực hiện kế hoạch đó một cách độc lập Khi thiếuvốn có thể điều chuyển từ ngân hàng trung tâm hoặc vay trực tiếp trên thịtrường liên ngân hàng
Trang 181.5.3 Nội dung quản lý nguồn vốn tại ngân hàng theo các nhân tố:
1.5.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn tại ngân hàng thương mại:
Để huy động được nguồn vốn, ngân hàng phải mất một khoản chi phítrả lãi, chi phí trả lãi bị tác động trực tiếp bởi quy mô, cơ cấu các nguồn vốnphải trả lãi và lãi suất cá biệt
Vì vậy nội dung đầu tiên trong quản nguồn vốn ngân hàng là quản lí quy
mô, cơ cấu và lãi suất của các khoản nợ, các chi phí lãi suất gắn với các khoản
nợ Tiếp đó, là tính ổn định của các khoản nợ quyết định một phần an toàntrong kinh doanh ngân hàng và thời hạn tín dụng Do đó tính ổn định của cáckhoản nợ là nội dung thứ hai của quản lý nguồn vốn trong ngân hàng Cuốicùng tính thanh khoản của các khoản nợ được nhiều nhà quản lý ngân hàngquan tâm tới Nó phản ánh khả năng tìm kiếm các nguồn mới nhanh chóng vớilãi suất thấp nhằm tăng cường khả năng thanh khoản cho ngân hàng
1.5.3.2 Quản lý quy mô và cơ cấu:
Quản lý quy mô và cơ cấu là đưa ra các biện pháp để gia tăng quy mô
và thay đổi cơ cấu nguồn sao cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả nhất
Gia tăng của tiền gửi và các khoản vay là một chỉ tiêu phản ánh chấtlượng hoạt động của ngân hàng, là điều kiện để ngân hàng mở rộng quy môcác hoạt động khác, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồnvốn Cơ cấu nguồn ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và quyết định chi phí củangân hàng Quản lý quy mô và cơ cấu nguồn bao gồm những nội dung sau:
- Luôn luôn thống kê đầy đủ và kịp thời bất cứ sự thay đổi nào về cácloại nguồn, tốc độ quay vòng vốn của các nguồn Thông qua công tác thống
kê nguồn các nhà quản lý ngân hàng sẽ nghiên cứu mối liên hệ giữa số lượng,cấu trúc nguồn với các nhân tố ảnh hưởng cũng như thấy được đặc tính củathị trường nguồn của ngân hàng
Trang 19- Phân tích kỹ lưỡng các nhân tố gắn liền với thay đổi đó( các nhân tốảnh hưởng và bị ảnh hưởng)
- Lập kế hoạch cho nguồn vốn từng giai đoạn (kế hoạch năm, quý,tháng) phù hợp với yêu cầu sủ dụng Kế hoạch nguồn được đặt trong kế hoạch
sử dụng và lợi nhuận kỳ vọng, bao gồm kế hoạch về lãi suất, mở chi nhánhhoặc điểm huy động, loại nguồn, tiếp thị,…
- Trong điều kiện cụ thể, các nguồn của một ngân hàng có thể có tốc
độ và quy mô thay đổi khác nhau Các ngân hàng nhỏ qui mô nguồn nhỏnhưng tốc độ tăng nguồn có thể cao hơn so với các ngân hàng lớn
- Những nhân tố ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi quy mô và kết cấucủa nguồn tiền thường xuyên thay đổi và cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng
Đó là cơ sở để ngân hàng đưa ra các quyết định phù hợp để thay đổi quy mô
và kết cấu của nguồn tiền Nhà quản lý ngân hàng cần phân chia các loạikhách hàng gắn với quy mô và tốc độ gia tăng của mỗi nguồn Cần chú ýquan tâm tới khách hàng có tiền gửi lớn, khách hàng truyền thống, ngân hàngcũng nghiên cứu cụ thể đối với nhóm khách hàng nhạy cảm với sự thay đổi
về công nghệ, lãi suất, chất lượng dịch vụ đi kèm Nhà quản lý cũng cần xemxét thị phần nguồn tiền của các ngân hàng đối thủ trên địa bàn và khả năngcạnh tranh của họ
1.5.3.3 Quản lý lãi suất chi trả:
Quản lý lãi suất của các khoản nợ là xác định các loại và cơ cấu lãisuất cho các nguồn tiền khác nhau nhằm đảm bảo duy trì quy mô và kết cấunguồn phù hợp với yêu cầu sinh lợi của ngân hàng Quản lý lãi suất củanguồn vốn có liên quan chặt chẽ với quản lý lãi suất cho vay và đầu tư củangân hàng
Nội dung của quản lý lãi suất chi trả bao gổm: nghiên cứu các nhân tốảnh hưởng tới lãi suất huy động đa dạng hoá lãi suất
Trang 20Lãi suất huy động gắn liền với mỗi loại sản phẩm của ngân hàng và vớimỗi ngân hàng Lãi suất huy động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như:
- Khả năng tiết kiệm và gia tăng tiết kiệm của nền kinh tế
- Tỷ lệ lạm phát
- Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp, Nhà nước và dân cư
- Tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu tư khác
- Trình độ phát triển của thị trường tài chính
- Khả năng sinh lời của ngân hàng
- Độ an toàn của các ngân hàng,
Trên cơ sở tác động của hàng loạt các yếu tố, hình thành nên lãi suấthuy động của NHTM Lãi suất huy động được phân biệt theo nhiều hướng:
- Lãi suất phân biệt theo thời gian: Thời gian huy động càng dài thì lãisuất huy động càng cao
- Lãi suất phân biệt theo loại tiền (nội tệ, ngoại tệ)
- Lãi suất phân biệt theo mục đích gửi, theo mục đích huy động
- Lãi suất phân biệt theo rủi ro của ngân hàng: Các ngân hàng nhỏ,hoặc ngân hàng tư nhân lãi suất cao hơn so với ngân hàng lớn, hoặc NHNN
- Lãi suất phân biệt theo các dịch vụ đi kèm ví dụ như tiết kiệm cóthưởng, tiết kiệm có bảo hiểm lãi suất thấp hơn tiết kiệm khác
- Lãi suất phân biệt theo quy mô,…
Nhìn chung, lãi suất tỷ lệ nghịch với những tiện ích mà ngân hàng cungcấp cho người gửi tiền, tiện ích mà ngân hàng cung cấp càng nhiều thì lãi suấtcàng thấp Một số nguồn tiền lãi suất ngân hàng bằng không và người gửiphải trả phí để được hưởng tiện ích của ngân hàng( tiền gửi để thanh toán)
Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất Ngân hàng cónhiều mức lãi suất danh nghĩa khác nhau tuỳ theo tính chất của từng khoản
nợ, đó là mức lãi suất cá biệt
Trang 21Ví dụ: Lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND loại thời hạn 6 tháng là0.88%/tháng, loại 12 tháng là 0.92%/tháng, loại tiết kiệm 12 tháng USD là5.8%/năm… Trong quá trình cạnh tranh để mở rộng nguồn tiền, các ngânhàng đều cố gắng tạo ra ưu thế của mình trong đó có ưu thế về lãi suất cạnhtranh Ngân hàng có thể đưa ra mức lãi suất danh nghĩa cao hơn so với cácngân hàng khác, trong điều kiện lãi suất tối đa bị khống chế, ngân hàng có thểtrả lãi làm nhiều lần trong kỳ hoặc trả lãi trước Phương pháp trả lãi làm nhiềulần và trả lãi trước điều làm cho lãi suất thực tế cao hơn lãi suất danh nghĩa.
Ngân hàng quản lý chi phí trả lãi và hoạch định các mức lãi suất cạnhtranh (gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay) bằng lãi suất bình quân:
Có hai loại lãi suất bình quân:
(1) Lãi suất bình quân của một nguồn hay của một nhóm nguồn trong kỳ.(2) Lãi suất bình quân của các nguồn phải trả lãi tại một thời điểmtrong kỳ
Lãi suất bình quân cho ta thấy xu hướng thay đổi lãi suất của nguồn vàmức độ thay đổi lãi suất của mỗi nguồn, sự kết hợp giữa lái suất cá biệt và tỷtrọng mỗi nguồn trong tổng nguồn, nó cũng cho thấy những nguồn có chi phíđắt tương đối ( lãi suất cá biệt > lãi suất bình quân) và các nguồn có chi phí rẻtương đối ( lãi suất cá biệt < lãi suất bình quân) Điều đó có ý nghĩa quantrọng trong việc hoạch định chiến lược nguồn vốn
Ví dụ: Một ngân hàng có các số liệu về nguồn vốn như sau:
Đơn vị: tỷ đồng, %.
1/1
Lãi suất1/1
Số dư1/2
Lãi suất1/2
Số dư1/3
Lãi suất1/3
Trang 22(Giả sử số dư và lãi suất không thay đổi trong tháng, lãi suất tính theotháng)
Theo bảng trên ta có thể tính được lãi suất bình quân đối vói các nguồntại một thời điểm trong 3 tháng, và lãi suất bình quân của từng nguồn trong 3tháng
Lãi suất bình quân của các nguồn vào ngày 1/1:
LSBQ = (100x10% + 55x12% + 45x13%)/ 200 = 0.11225 tức là 11,2 %Lãi suất bình quân của nguồn trung hạn trong 3 tháng là
LSBQ = (55x12% + 65x13% + 75x12.5%)/195 = 0.1253 tức là 12,53%Lãi suất bình quân đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chênhlệch lãi suất, phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng
1.5.3.4 Quản lý kì hạn:
Quản lý kỳ hạn tức là xác định kì hạn của nguồn phù hợp với yêu cầu
về kỳ hạn của sử dụng, đồng thời tạo ra sự ổn định của nguồn, bao gồm cácnội dung sau:
Kỳ hạn danh nghĩa:
Kỳ hạn danh nghĩa là kỳ hạn đối với các khoản nợ được ngân hàngtuyên bố, ví dụ tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, và tiềngửi tiết kiệm không kỳ hạn Mỗi kỳ hạn thường gắn với một mức lãi suất nhấtđịnh và kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao Kỳ hạn danh nghĩa là một chỉtiêu phản ánh tính ổn định của nguồn vốn và liên quan tới kỳ hạn sử dụngvốn Vì vậy việc xác định kỳ hạn danh nghĩa có ý nghĩa quan trọng đối vớihoạt động của ngân hàng Mặt khác, kỳ hạn còn liên quan tới chi phí nguồnvốn: để có nguồn vốn ổn định cao ngân hàng cân phải bỏ ra một khoản chi phílớn Vì vậy quản lý kỳ hạn là một nội dung đảm bảo an toàn và sinh lời chongân hàng
Trang 23Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ hạn danh nghĩa: Thu nhập dân cư, ổnđịnh vĩ mô, khả năng chuyển đổi của giấy nợ, kỳ hạn của các khoản cho vay
và đầu tư,…
Trong đó nhân tố quan trọng nhất là thu nhập của dân cư, bởi các khoảntiền gửi có kỳ hạn dài thường là từ nguồn tiết kiệm của dân cư Nếu thu nhậpcủa dân cư thấp thì mức tiết kiệm thấp và ngược lại Trong điều kiện lạm phátcao, tỷ giá biến động theo hướng không có lợi cho đồng nội tệ,…đều ảnhhưởng đến việc kéo dài kỳ hạn danh nghĩa Nếu thị trường tài chính kém pháttriển, khả năng chuyển đổi của các giấy nợ thấp (tính thanh khoản của cácgiấy nợ thấp) thì việc phát hành các giấy nợ kỳ hạn dài sẽ rất khó khăn
Kỳ hạn thực tế của nguồn tiền:
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới kì hạn danh nghĩa là cơ sở đểngân hàng đưa ra kỳ hạn huy động phù hợp với thị trường Tuy nhiên, kỳ hạnthực tế mới là nhân tố ảnh hưởng chặt chẽ tới kỳ hạn cho vay và đầu tư, chính
vì vậy mà các ngân hàng đã quan tâm hơn tới kỳ hạn thực tế của các nguồn
Ví dụ: nhiều người có nhu cầu gửi tiền với thời hạn danh nghĩa là 6tháng, nếu người gửi tiền không rút tiền và khoản tiền gửi được duy trì nhiềulần 6 tháng( các kỳ hạn 6 tháng liên tiếp nhau) và như vậy thực tế khoản tiềntrên đã trở thành khoản tiền gửi trung và dài hạn
Như vậy kỳ hạn thực tế của khoản tiền gửi tại một ngân hàng chính làkhoản thời gian mà khoản tiền đó tồn tại tại ngân hàng Kỳ hạn thực tế củakhoản tiền gửi cũng bị ảnh hưởng bởi: thu nhập, tính ổn định vĩ mô của nềnkinh tế Bên cạnh đó, nhu cầu chi tiêu đột xuất và lãi suất cạnh tranh giữa cácngân hàng, lãi suất cạnh tranh giữa các nguồn tiền gửi cũng góp phần ảnhhưởng đến kỳ hạn thực tế Sự thay đổi lãi suất sẽ gây ra sự chuyển tiền gửi từngân hàng này sang ngân hàng khác, từ kỳ hạn này sang kỳ hạn khác làmgiảm kỳ hạn thực tế của khoản tiền gửi
Trang 24Ví dụ: Một ngân hàng tại Hà Nội (ngân hàng M) tăng lãi suất tiền gửitiết kiệm thời hạn 12 tháng từ 0.88%/tháng lên 0.92%/tháng có thế gây ra 2hiệu ứng:
(1) Do sức hấp dẫn của lãi suất huy động ngân hàng M có thể nhậnđược lượng tiền gửi trong dân cư, hoặc từ lượng tiền gửi trong các ngân hàngkhác Tuy nhiên, các khoản tiền nhỏ thường ít bị hấp dẫn khi lãi suất tăng ít,
và một khoản tiền gửi tại ngân hàng nảo đó trong Cà Mau sẽ không dễ gìchuyển ra Hà Nội trong điều kiện công nghệ ngân hàng và chi phí chuyển tiềnnhư hiện nay Các khoản tiền đã gần đến hạn có thể ít bị dịch chuyển, dongười gửi tiền cố chờ tới hạn để rút tiền nhằm được hưởng lãi suất đầy đủ
(2) Sự dịch chuyển giữa các loại tiền gửi trong nội bộ ngân hàng Loạihiệu ứng này chỉ tác động tới tính ổn định của các nguồn khác kém hấp dẫnhơn về lãi suất do sự thay đổi kết cấu của nguồn chứ không làm gia tăng quy
mô của nguồn
Để phân tích kỳ hạn thực tế phải dựa trên số liệu thống kê thấy được sựbiến động số dư của mỗi nguồn, của nhóm nguồn, số dư thấp nhất trong quý,trong năm, trong nhiều năm và các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi , từ đó,người quản lý đo được kỳ hạn thực gắn liền với các loại số dư
Quản lý kỳ hạn phải luôn gắn liền với quản lý lãi suất Vì vậy các nhàquản lý ngân hàng cần phả lựa chọn xây dựng một cơ cấu lãi suất sao cho vừađảm bảo gia tăng tổng nguồn, tiết kiệm chi phí, lại vừa mang tính ổn định củanguồn tiền Một số phương pháp để cải tiến sự ổn định của các khoản nợ:
- Dựa vào những loại tiền gửi chủ yếu: tiền gửi giao dịch hoặc tiềngửi tiết kiệm Mặc dù tiền gửi phải hoàn trả theo yêu cầu, song nó tương đối
ổn định Các ngân hàng cố gắng tăng tiền gửi để giảm các khoản vay
- Ngân hàng cần xây dựng mối quan hệ tạo được uy tín với người gửitiền lớn làm sao cho họ không rút tiền trong thời kỳ khủng khoảng
Trang 25- Đa dạng hoá các nguồn tiền, huy động từ nhiều nguồn khác nhau,giảm sự phụ thuộc của ngân hàng vào một nhóm khách hàng.
- Phát triển công tác quản lý tài sản bên cạnh quản lý các khoản nợ
1.3.4.3 Phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn:
Tính thanh khoản của nguồn vốn là sự sẵn sàng chi trả khi khách hàngyêu cầu, là khả năng tìm kiếm nguồn vốn mới với chi phí và thời gian nhỏnhất
Tính thanh khoản của nguồn trước hết thể hiện ở sự dự trữ ngân quỹvới quy mô và kết cấu nhất định, các loại tài sản mà ngân hàng nắm giữ cókhả năng chuyển thành tiền mặt khi cần
Vì vậy tính thanh khoản của nguồn tuỳ thuộc rất lớn vào thị trường củangân hàng và chính sách tiền tệ đang được vận dụng Đối với các ngân hànglớn có nhiều chi nhánh ở nhiều nơi và gần các trung tâm chuyển tiền có nhiềukhả năng tìm kiếm các nguồn nhanh chóng hơn là các ngân hàng nhỏ, ít chinhánh và ở xa Ngân hàng có thể tiếp cận với một số nguồn khác thông quacác công cụ nợ, tại các nước mà thị trường nợ kém phát triển thì tính thanhkhoản của nguồn vốn các ngân hàng cũng bị giảm thấp
Ngân hàng phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn bắt đầu từ việc phântích thị trường nguồn vốn của mỗi ngân hàng để thấy được đặc điểm của nguồn(như qui mô, tốc độ tăng trưởng, vòng quay, lãi suất và sự biến đổi của lãi suất,
tỷ trọng thị trường của ngân hàng so với các tổ chức tín dụng khác,… Ngoài rangân hàng cũng tập trung phân tích nguồn vay từ ngân hàng nhà nước và các tổchức tín dụng khác, tuy nguồn này có thời hạn ngắn nhưng có thể có được trongthời gian ngắn, nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn Mặt khác ngânhàng cũng cần xem xét tới các nguồn mà ngân hàng có ưu thế
Tính thanh khoản cao được đảm bảo bằng tài sản thanh khoản thoả mãn 3đặc điểm sau: (1) tài sản thanh khoản phải có một thị trường sẵn sàng để có thể
Trang 26chuyển thành tiền nhanh chóng; (2) Giá của tài sản phải ổn định, dù tài sản cólớn như thế nào hay cần được bán nhanh ra sao thì thị trường vẫn có thể chấpnhận với một mức giá thay đổi không đáng kể; (3) Thị trường của tài sản phải cókhả năng đảo chiều để cho người bán có thể mua lại với mức tổn thất khôngđáng kể.
1.5.3.5 Quản lý các danh mục đầu tư
Một phần vốn huy động được ngân hàng sẽ sử dụng bằng cách đầu tưvào chứng khoán, đem lại thu nhập bổ sung nguồn vốn, hạn chế rủi ro, năngcao khả năng thanh khoản của ngân hàng,… Cụ thể như sau:
Ổn định thu nhập của ngân hàng
Cân bằng rủi ro tín dụng trong danh mục
Tạo sự đa dạng hoá về mặt địa lý
Tạo nguồn thanh khoản
Giảm thuế đối với hoạt động của ngân hàng
Chứng khoán có thể là vật đảm bảo cho những khoản tiền gửi củacác tổ chức
Tạo sự mềm dẻo trong việc quản lý danh mục tài sản của ngân hàng
Củng cố bản cân đối tài sản của ngân hàng
Khi dự trữ tiền mặt tại ngân hàng thấp không đảm bảo khả năng thanhtoán, ngân hàng sẽ bán bớt chứng khoán và ngược lại khi dự trữ tiền mặt thừa,nhu cầu vay vốn thấp ngân hàng sẽ tăng cường đầu tư chứng khoán Chứngkhoán được sử dụng làm vật cầm cố để ngân hàng tiến hành vay vốn bổ sungnguồn vốn Quản lý danh mục đầu tư là quản lý các loại chứng khoán màngân hàng đầu tư và kỳ hạn của chúng
Lựa chọn loại chứng khoán:
Các yếu tố ngân hàng cần chú ý khi lựa chọn loại chứng khoán để đầu tư:
- Kỳ vọng về tỷ lệ thu nhập
Trang 27Nhà quản lý đầu tư phải xác định tỷ lệ thu nhập của mỗi loại chứngkhoán có thể mang lại, bao gổm tỷ lệ thu nhập đáo hạn-YTM( nếu ngân hàngđịnh nắm giữ chứng khoán đến ngày đáo hạn), và tỷ lệ thu nhập nắm giữ HPY( nếu ngân hàng không giữ cổ phiếu đến ngày đáo hạn, có thể họ phải bán để
Thu nhập sau thuế = Thu nhập trước thuế( 1 – thuế suất thu nhập)
Mỗi loại chứng khoản có một thuế suất khác nhau, vì vậy ngân hàng sẽtính toán lựa chọn những chứng khoán có tỷ lệ thu nhập sau thuế là lớn nhất
- Lãi suất
Sự thay đổi của lãi suất trên thị trường ảnh hưởng đến hoạt động đầu tưcủa ngân hàng, lãi suất trên thị trường tăng làm giảm giá trị của những chứngkhoán đang lưu hành Hơn nữa khi giai đoạn lãi suất tăng cũng thường là giaiđoạn mà nhu cầu vay vốn của thị trường lớn, do vậy ngân hàng sẽ bán chứngkhoán để bổ sung nguồn vốn cho vay
- Thanh khoản
Ngân hàng đầu tư vào chứng khoán bởi tính thanh khoản của nó là caohơn so với các khoản cho vay, khi không đủ dự trữ để thanh toán ngân hàngthường bán chứng khoán kể cả chứng khoán đó chưa đáo hạn Chính vì vậyquản lý danh mục đầu tư là cần xem xét lựa chọn đầu tư vào loại chứng khoánnào có khả năng được mua, bán nhanh trên thị trường, giá cả ổn định và cókhả năng phục hồi vốn ban đầu (có độ rủi ro đầu tư thấp), là những chứng
Trang 28khoán có tính thanh khoản cao Tuy nhiên, các nhà quản lý thường phải đốimặt với sự đánh đổi giữa khả năng sinh lời và tính thanh khoản.
- Kỳ hạn của các loại chứng khoán
Sau khi ngân hàng đã lựa chọn danh mục đầu tư thì ngân hàng phảiquyết định xem nên giữ các chứng khoán với cấu trúc kỳ hạn như thế nào.Ngân hàng có thể sử dụng một số chiến lược phân bổ kỳ hạn sau:
+ Phân bổ kỳ hạn đều: Cách phân bổ này thường được áp dụng vớinhững ngân hàng nhỏ, tức là xác định kỳ hạn tối đa có thể đầu tư, sau đó đầu
tư vào mỗi kỳ hạn( nằm trong phạm vi kỳ hạn tối đa) một lượng chứng khoánbằng nhau
Ví dụ: khoảng thời gian mà ngân hàng xác định là kỳ hạn tối đa có thểđầu tư là 5năm thì các kỳ hạn nằm trong phạm vi là 1năm, 2 năm, 3 năm, 4năm, 5 năm Lượng chứng khoán đầu tư vào mỗi kỳ hạn bằng nhau bằng 20%tổng lượng đầu tư của ngân hàng Chiến lược này không nhằm mục đích tối
đa hoá thu nhập, nó hạn chế những giao động thu nhập của ngân hàng vàkhông đòi hỏi khả năng quản lý cao Hơn nữa chiến lược này tạo sự linh hoạtcho danh mục đầu tư Do đầu tư như vậy nên hàng năm đều có lượng chứngkhoán đáo hạn giúp ngân hàng bổ sung nguồn vốn khi cần, mặt khác có thếtận dụng tối đa cơ hội đầu tư mới có hiệu quả hơn
+ Chiến lược kỳ hạn ngắn: Chiến lược này đặc biệt phù hợp khi ápdụng cho ngân hàng thương mại, đó là chỉ mua chứng khoán ngắn hạn, đầu tưtrong ngắn hạn Mục đích của chiến lược này là tạo tính thanh khoản
+ Chiến lược kỳ hạn dài: Theo chiến lược này ngân hàng có thể đầu tưtrong khoảng thời gian dài 5-10 năm Mục đích mà chiến lược này hướng tới
là thu nhập, việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngân hàng sẽ dựa vào việc đivay trên thị trường tiền tệ
Trang 29+ Chiến lược phân bổ kỳ hạn kết hợp ngắn và dài Mục đích là phát huynhững ưu điểm của chiến lược phân bổ ngắn hạn và chiến lược phân bổ dàihạn, đồng thời hạn chế nhược điểm của 2 chiến lược Phân bổ ngắn hạn nhằmtạo tính thanh khoản cho ngân hàng, phân bổ dài hạn hướng đến nguồn thunhập Ngân hàng đầu tư ít hoặc hầu như không đầu tư trung hạn.
+ Chiến lược phân bổ kỳ hạn theo lãi suất và tình hình phát triển kinh
tế Ngân hàng sẽ đầu tư chứng khoán ngắn hạn khi lãi suất tăng và đâu tư vàochứng khoán dài hạn khí lãi suất giảm Chiến lược này tỏ ra là hiệu quả nhấttrong các chiến lược phân tích kỳ hạn, tạo ra thu nhập cao,tuy nhiên nó chứađựng nhiều rủi ro và yêu cầu trình độ quản lý cao
Trang 30CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN TẠI CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
& PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI –
mô của ngân hàng: là ngân hàng lớn nhất Việt Nam về cả vốn, tài sản, đội ngũcán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Ngân hànghiện có hơn 2200 chi nhánh và điểm giao dich được bố chí rộng khắp trêntoàn quốc, với số lượng cán bộ công nhân viên lên tới 30.000 người.NHNo&PTNN Việt Nam được tổ chức theo mô hình tổng công ty Nhà nước,bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế,tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động tronglĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng, đầu tư phát triển nông thôn.NHNo&PTNN Việt Nam là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có quyền tựchủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, bảo toàn và phát
Trang 31triển vốn NHNo&PTNN Việt Nam là NHTM nhà nước đóng vai trò chủ đạo
và chủ lực trong hệ thống các ngân hàng Việt Nam, hoạt động kinh doanh tiền
tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng nhằm phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt làtrong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn
Với nhiệm vụ đó NHNo&PTNN Việt Nam đã không ngừng mở rộngmạng lưới và quy mô hoạt động nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng và cácnguồn lực xã hội, đặc biệt là trong các khu vực thành thị Kể từ ngày thànhlập đến năm 2000, số lượng các chi nhánh của NHNo&PTNN Việt Nam đạtđến 1282 chi nhánh, tuy nhiên số chi nhánh ở thành thị chỉ là 81 chi nhánh,chính vì vậy mà ngân hàng tiếp tục triển khai kế hoạch mở các chi nhánh tạinhững địa bàn kinh doanh thuận lợi này Sau khi nghiên cứu về tình hình kinh
tế xã hội và tiềm năng phát triển của các quận phía Nam Hà Nội, thực trạnghoạt động của các NHTM trên địa bàn Thanh Xuân nói riêng và toàn thànhphố Hà Nội nói chung, và nhận thấy rằng đây là quận vừa có tiềm năng kinh
tế vừa có nhu cầu vốn rất mạnh để phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội trênđịa bàn quận Vì vậy, NHNo&PTNN Việt Nam nhận định mở thêm chi nhánhtrực thuộc NHNo&PTNN Việt Nam ( chi nhánh cấp 1) trên địa bàn quậnThanh Xuân là cần thiết Đó là tiền để thành lập NHNo&PTNN Nam Hà Nộivào ngày 12/03/2001 và chính thức được đưa vào hoạt động ngày 08/05/2001với đội ngũ cán bộ công nhân viên ban đầu là 36 người Chi nhánh có trụ sởtại toà nhà C3 Phương liệt – Thanh Xuân – Hà Nội, phạm vi hoạt động chủyếu của chi nhánh là trên địa bàn quận Thanh Xuân và các quận nội thành HàNội Nhiệm vụ trong thời kỳ đầu của chi nhánh là nhanh chóng ổn định vềcon người, cơ sở vật chất, triển khai các hoạt động kinh doanh với phươngchâm: “ Vì sự phát thành đạt của khách hàng và của ngân hàng” Sự ra đờicủa chi nhánh đã góp phần phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội, khai thácnguồn vốn nội lực tại các đô thị lớn phục vụ nhu cầu vốn cho sự nghiệp công
Trang 32nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và góp phần cải tạo bộ mặtvăn hoá xã hội của địa bàn.
Chi nhánh Nam Hà Nội ra đời đã có đầy đủ các mặt hoạt động mànhiều NHTM khác chưa có được và nơi đóng trụ sở lại là một vị trí đẹp, tiệnđường đi lại, không quá gần các NHTM khác, trụ sở giao dịch khang trangtương đối thuận lợi cho việc kinh doanh của chi nhánh
Tuy vậy vẫn tồn tại khó khăn trong những ngày đầu thành lập, cụ thểlà: Cơ sở vật chất lúc ban đầu còn thiếu thốn Mặt khác trên địa bàn thành phố
có rất nhiều các NHTM đã hoạt động lâu năm cạnh tranh gay gắt nên chinhánh gặp khó khăn trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Vềđội ngũ cán bộ, công nhân viên, thì hầu hết cán bộ ngân hàng đã tốt nghiệpcác trường cao đẳng, đại học, tuy nhiên chưa qua thực tế về nghiệp vụ kinhdoanh cụ thể Số cán bộ được điểu động từ ngân hàng tỉnh, huyện lên thì bỡngỡ với môi trường kinh doanh ở đô thị, một số nhân viên phải làm công việcmới không phù hợp với sở trường, năng lực của mình
Nhưng nhờ có sự quan tâm của Ban lãnh đạo của NHNo&PTNN ViệtNam và sự điều hành đúng hướng của ban lãnh đạo NHNo&PTNN Nam HaNội và sự có gắng của tập thể cán bộ công nhân viên của chi nhánh,NHNo&PTNN Nam Hà Nội đã nhanh chóng ổn định trụ sở, tổ chức và hoạtđộng kinh doanh ngày càng có triển vọng tốt Tốc độ tăng trưởng ổn định,triển khai thành công chương trình hệ thống ngân hàng bán lẻ và mô hình giaodịch một cửa, mở rộng mạng lưới giao dịch, luôn đổi mới dịch vụ ngân hànghiện đại, áp dụng các phương thức quản lý điều hành tiên tiến… Việc điềuchỉnh thích hợp, kịp thời các chính sách kinh doanh, tích cực tìm kiếm nhucầu thị trường và khách hàng đem lại kết quả kinh doanh khả quan, đượcNHNo&PTNN Việt Nam và các ngân hàng bạn đánh giá là một Chi nhánhhoạt động tốt và có hiệu quả cao
Trang 331.2 Cơ cấu tổ chức:
.Tổ chức biên chế bộ máy và cơ cấu cán bộ
Tổng số cán bộ công nhân viên của chi nhánh đến 31 tháng 12 năm 2007
là 150 cán bộ trong đó cán bộ làm công tác Tín dụng là 53 cán bộ, thanh toánquốc tế là 08 cán bộ, Kiểm tra kiểm toán nội bộ 05 cán bộ, kế toán 43 cán bộ,Kiểm ngân 21 cán bộ, còn lại 25 cán bộ làm việc tại các phòng ban khác
Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
Phòng kế toán – ngân quỹ
Phòng thanh toán quốc tế
Phòng tổ chức cán bộ và đào tạo
Trang 341.3 Tình hình hoạt động của ngân hàng trong những năm vừa qua 1.3.1 Về công tác huy động vốn:
Ngay từ khi thành lập chi nhánh đã xác định công tác huy động vốn làcông tác cơ bản quan trọng nhất, với lợi thế là đóng trên địa bàn thành phố HàNội công tác huy động vốn của chi nhánh phát triển không ngừng
Chi nhánh đã tăng cường tuyên truyền quảng bá trên các phương tiệnthông tin đại chúng quanh địa bàn, áp dụng chương trình khuyến mại, tặngquà… để huy động tiền gửi Tận dụng mối quan hệ thu hút khách hàng: các đơn
vị, tổ chức kinh tế, dân cư có nguồn vốn rẻ Ngoài ra chi nhánh còn tăng cườngtìm kiếm, tiếp cận để phục vụ các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài
Chính vì vậy mà nguồn vốn huy động được liên tục tăng, và tăng rất cao.Tình hình tăng trưởng vốn 5 năm qua:
Đơn vị: Tỷ đồng Các chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Nguồn vốn dân cư
tỷ trọng
886 35%
689 21%
1389 31%
4227 53%
4185 50% Nguồn vốn các TCKT,TCXH
Tỷ trọng
1112 43%
1440 35%
2497 56%
3592 45%
3566 43% Nguồn vốn các TCTD
Tỷ trọng
550 12%
1224 54%
552 13%
134 2%
572 7% Cộng tổng nguồn
Trong đó ngoại tệ quy đổi
2550 445
3353 686
4469 838
7953 573
8323 576
(nguồn: phòng NV-KHTH chi nhánh Nam Hà Nội)
Ta có biểu đồ về sự tăng trưởng vốn trong 5 năm vừa qua:
Trang 352550 3353
4469
7953 8323
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000
có vẻ chững lại chỉ tăng 4,6% so với năm 2006, nguyên nhân có thể kể đến là,
do ngân hàng đã hoạt động được một khoảng thời gian, tình hình kinh doanhdần đi vào ổn định, không còn ở giai đoạn đầu của sự phát triển khi mà nhucầu gia tăng nguồn vốn rất lớn nữa, mặt khác do sự gia đời của hàng loạt cácngân hàng thương mại cổ phẩn đang khát vốn kinh doanh nên thị phần củangân hàng bị ảnh hưởng
Xem xét về tỷ trọng các nguồn ta dễ thấy rằng, tỷ trọng nguồn vốn từdân cư ngày càng tăng, tỷ trọng nguồn từ các tổ chức kinh tế xã hội khá lớn,
tỷ trọng nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác ngày càng giảm Điều đócho thấy ngân hàng đã gây được lòng tin đối với dân chúng và các tổ chức tíndụng, từ đó xây dựng được nguồn vốn mạnh đảm bảo các hoạt động kinhdoanh và cho vay vốn, giảm bớt nguồn vốn vay từ ngân hàng nhà nước và các
tổ chức tín dụng, cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng ổn định vàđược đảm bảo
Trang 36Ta hãy cùng xem xét nguồn theo thời gian huy động:
Đơn vi: triệu đồng
1,188,47014.94%
1,238,00014.88%Tiền gửi có KH<12 tháng
tỷ trọng
938,31721.14%
1,488,99818.72%
1,591,00019.12%Tiền gửi có KH>12 tháng
Tỷ trọng
2,594,07958.44%
5,275,38266.33%
5,491,00066%
(nguồn: phòng NV-KHTH chi nhánh Nam Hà Nội)
Nhận xét tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn tăng qua các năm và ở một
tỷ trọng khá cao, nguồn vốn ổn định để ngân hàng cho vay và đầu tư dài hạn
Tỷ trọng
876,27678,3%
840,30552,48%
1,207,00062,06%Doanh nghiệp ngoài QD
Tỷ trọng
182,01516,26%
572,64435,76%
475,00024,42%Hợp tác xã
Tỷ trọng
530,05%
187,92411,74%
263,00013,52%
(nguồn: phòng NV-KHTH chi nhánh Nam Hà Nội)
Trang 37Theo số liệu trên dư nợ của doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỷ trongcao trong tổng dư nợ ( trên 50%), một phần nguyên nhân là do Ngân hàng làngân hàng thương mại cổ phần nhà nước.
Phân tích dư nợ theo thời gian:
(nguồn: phòng NV-KHTH chi nhánh Nam Hà Nội)
Nhận xét nhìn chung tổng vốn trung và dài hạn tăng lên chiếm tỷ trọnglớn trong tổng dư nợ, cho thấy ngân hàng đã là địa chỉ tin cậy của các tổ chức,các doanh nghiệp trở thành địa chỉ đầu tư dài hạn của các dự án
1.3.3 Công tác phát triển các dịch vụ khác:
+ Tình hình thanh toán Quốc tế và Kinh doanh ngoại hối:
Năm 2005 do tình hình tín dụng đầu năm không mở rộng được nênphần nào ảnh hưởng đến công tác TTQT, tuy nhiên doanh số hoạt động của
bộ phận TTQT vẫn tiếp tục tăng trưởng, phục vụ kịp thời các nhu cầu ngoại tệcủa Chi nhánh, thu phí dịch vụ vẫn tiếp tục tăng lên
Năm 2006 Chi nhánh phát huy kết quả đạt được năm 2005 đã chú trọngphát triển công tác kinh doanh ngoại hối, thu hút khách hàng nhỏ và vừa làmcông tác xuất nhập khẩu, luôn đáp ứng mọi nhu cầu ngoại tệ hợp lý cho kháchhàng hoạt động, giải quyết kịp thời các vướng mắc trong quan hệ TTQT.Doanh số hoạt động tiếp tục tăng trưởng, thu phí dịch vụ tăng 12% so vớinăm 2005
Trang 38Năm 2007 doanh số hoạt động tiếp tục tăng trưởng, thu phí dịch vụtăng 44 % so với năm 2006 Kết quả thể hiện ở bảng dưới đây:
(nguồn: phòng NV-KHTH chi nhánh Nam Hà Nội)
- Công tác phát triển sản phẩm dịch vụ mới:
Năm 2005 là năm đầu tiên Chi nhánh triển khai máy ATM, cho đếncuối năm 2005 chi nhánh đã có 8 máy ATM và phát hành được 8.043 thẻ vớihơn 7 tỷ đồng Năm 2006 chi nhánh phát triển dịch vụ trả lương qua máyATM, đây là dịch vụ mang tính chất quảng bá thương hiệu
Trong năm 2005 chi nhánh tổ chức ký kết hợp đồng làm ngân hàng đâumối cho trung tâm chuyển tiền Bưu điện - Tổng công ty Bưu chính Viễnthông góp phần tăng nguồn vốn, tăng thu dịch vụ cho Chi nhánh Chi nhánhtiếp tục triển khai các dịch vụ thu chi tiền mặt tại chỗ cho Trung tâm chuyểntiền Bưu điện, Kho bạc Thanh Xuân, dịch vụ giao nhận chứng từ tại chỗ choQuỹ hỗ trợ TW, Kho bạc,
Nhận rõ vai trò quan trọng của sản phẩm dịch vụ trong Ngân hàng hiệnđại và tăng cường tính cạnh tranh lành mạnh, Nam Hà Nội đã có nhiều cốgắng trong việc thực hiện tốt các sản phẩm dịch vụ đã có như: Bảo lãnh,thanh toán Quốc tế, đại lý Western union, thanh toán điện tử, thẻ ATM, Ngânhàng đầu mối, Ngân hàng phục vụ dự án Bên cạnh đó còn phát triển 1 sốsản phẩm dịch vụ mới như:
Trang 39+ Duy trì, hoàn thiện dịch vụ cho Trung tâm chuyển tiền Bưu điện.+ là ngân hàng đầu mối phục vụ các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.+ Duy trì thu tiền mặt tại chỗ của sinh viên, dịch vụ nhận tiền và trảlương qua thể ATM.
Nhờ có sự nhận thức đúng và tập trung chỉ đạo phát triển mạnh sảnphẩm dịch vụ nên năm 2006, lần đầu tiên Nam Hà Nội có tỷ lệ thu ngoài tíndụng đạt 2 con số: 16,11%với số thu 18 tỷ 258 triệu đồng tăng hơn 2 lần sonăm trước Các dịch vụ này đã hỗ trợ đắc lực cho công tác kinh doanh của chinhánh, đặc biệt là công tác khơi tăng thêm nguồn vốn và góp phần khổng nhỏvào việc năng cao uy tín thương hiệu của hệ thống ngân hàng nông nghiệpphát triển nông thôn Việt Nam
2. THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN TẠI CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI.
2.1 Theo quy trình quản lý
Là một chi nhánh cấp 1 của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn Việt Nam nên chi nhánh nhánh quản lý nguồn vốn ở cấp chi nhánh
Về công tác xây dựng kế hoạch nguồn vốn, chi nhánh xây dựng căn cứvào kế hoạch nguồn vốn của ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn ViệtNam, chính sách phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội nói chung và quậnThanh Xuân nói riêng, kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước, mục tiêu tăngtrưởng vốn của chi nhánh
Lập kế hoạch, phòng nguồn vốn kế hoạch tổng hợp của chi nhánh chuyêntrách về lập kế hoạch, kế hoạch được lập theo năm có chi tiết đến từng quý, tháng,căn cứ vào kế hoạch huy động vốn của các phòng giao dịch và đơn vị trực thuộc
Theo số liệu năm 2006: Căn cứ vào kế hoạch nguồn vốn của ngân hàngnông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Nam Hà Nội đã lập kếhoạch nguồn vốn như sau: