Loại bỏ mang thai ngoài ý muốn và hậu quả NHT sẽ đòi hỏi tăng mức độ sử dụng BPTT đến một mức tại đó phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ nhưng không muốn có thai sẽ áp dụng các BPTT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 2
LOL CAM ON
Để hoàn thành được luận văn này tôi xin bay tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Ban giám hiệu, phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên, phòng Điều phối, các khoa, phòng, các thày cô giáo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên của trường Đại học yfế công cộng đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá Irình học tập
- PGS.TS Lê Vũ Anh-Hiệu trưởng trường Đại học y tế công cộng, TS Khương Văn Duy-Giảng viên trường Đại học y Hà Nội những người thày đã dành nhiều thời gian và công sức hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
- C6 GS Dương Thị Cương-Nguyên GĐ và TS Nguyễn Thị Ngọc Khanh-
Trưởng phòng chỉ đạo chuyên khoa Bệnh viện phụ sản trung ương; TS Lê Cự Linh- Giảng viên trường Đại học y tế công cộng đã có nhiêu ý kiến đóng góp quý báu cho
luận văn của tôi
- Cán bộ phụ trách các thư viện trường Đại học y tế công cộng, thư viện Uỷ ban quốc gia DSGĐ&TE, thư viện Bệnh viện phụ sản trung ương, Viện thông tin- Thư viện Y học trung ương đã tạo điều kiện cho tôi có được những tài liệu tham khảo quý báo cho luận văn
- Ban giám đốc sở Y tế, Văn phòng thường trực phòng chống AIDS tỉnh Bắc
Giang cùng các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học lập
- Ban giám đốc cùng các phòng, ban và toàn thể CBCNV Trung tâm y tế, Ban DSGĐK&TE huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện cho tôi trong thời gian nghiên cứu tại địa phương
- Toàn thể các anh chị em khoá cao học V trường Đại học y tế công cộng đặc biệt là nhóm học viên cùng tôi nghiên cứu tại huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
- Cùng toàn thể bạn bè, người thân trong gia đình đã tạo điều kiện và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Huy Toan
Trang 3DANH MUC CAC KY HIEU, CAC CHU VIET TAT
Dân số — Kế hoạch hoá gia đình
Kế hoạch hoá gia đình
Nao, hut thai
Phòng khám đa khoa khu vực
Quan hệ tình dục
Sức khoẻ sinh sản Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trung tâm bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em Thuốc tránh thai
Quỹ Dân số Liên hiệp quốc
Tổ chức Y tế thế giới
Trang 413,27 TuÔiối VÀ NUT .csssaasassemraned ante enashreniare aan z4 09
133 S0 con và NHT seesiasnieieisszasGiG09À/AS96018840v000M6086ã654 5816 ctayng209851xs2 10
†.331 Học vấn và NHTs16acsseceebesssesseialfissstit1a54E3531518003331551G4800005930303/31102 11 1.3⁄57:INEhÊ nghiệp và NT cesesnebesaoeoeLlielEspssssrasesiansssiedesesssrlgbj 8S) 11 1.4 Thuc trang tai bién NHT trén thé giGi eee eeeeeeseeeeeeeeeeeeeneees 11 1.5 Thực trạng tai biến NHT ở Việt Nam -+55+5<+<+e+xerrrrrerrxes 12 1.6 Các yếu tố liên quan đến việc áp dụng hay không áp dụng BPTT 13
1.6.2 Tuổi và áp dụng BPTT -cccccS 2H00 fuses 14 1G: NGhe nehiép Vad pune BRIT ssc scssssseseevevvseeesavsasecvvsconsevetovcssevewes| ueen 14 1.6.4 Áp dụng BPTT theo số con và theo giới của số con hiện sống 15 1.6.5 Tính sẵn có của dịch vụ và áp dụng BPTT - -+-++-+eeexeeee+e 16 1.6.6 Kha nang lựa chọn các BPTT va áp dụng BPTTT - 16
1.6.7 Thông tin cho khách hang va 4p dung BPTT eT re Ly
1.7 13/ lệ thất bại sử dụng ĐT các xxx tsnieeeeiinEisissesrkissrrsespserdesrecdLei 18 J7 LHấE Đội tỌL 1s cccc 211 0 vỀa, 1c 12 20B enesaeeroskkrsdersesesekvekasse-kaueres si TUỆX- 19 1.7.2 That Bal dO TTT G68 g « ecccsccsscsbscseseissssrnnssssoverstonssaresatensssuseesesnovessenntscadease 21
1.7.4 Thất bại do các biện pháp truyền thống - -5+5+s++v+xsxsrererszves 21
Trang 51¿§: Tuổi thai trước Khi NNH Teceaa ng SG 6Ã ke ácereeerereeeseseesreeesrnsesi.e-.kebESi 22 1/0 Lý do NHT sunsssseessbeessil G604 001200150090/5650543682350380933180000d5p5882n,ygioibaaee 32 1.10 Thông tin chung về huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 22 Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - eens 24 2.1 ĐỔI tượng nghiên GỮU s2 S62 211 0135185881830 g18E01133808181652856803130 XE 24 3/2 Phương phấp nghiền GỮU ‹:o-scsicscceibassissessrsStdL63113185350386633500623835888403,a12035 24 5::1 THIẾU KẾ nghiÊni GỮN ses scseseconccesssesnsncssectoeancterearnereneencnonenechenentasebavenentartallers-e 24 2,2/2,0C0011DAU:ểãiBHiển CỨU ae d65 215 essssdzosueeslnrsrlNGbesscrSi- TS TT 24 2.2.3 Tiêu chuẩn chọn đối tượng - 2 5s +xeSt+x2EEx2111E1111 211111722 24
2.2.5 Các biến số, định nghĩa và phương pháp thu thập -. - 25 2.2.6 Thiết.kế công Cu nghiên CỨU L0 ng H201 Ho 0á 1 1á 0181201811256 30 3-2-7: XU lý SỐ TIỆU ccnnnnes 526601 0261666546585165538 0581144,2Q1GB458180388823010041909E134k84618g0Lx3e+ 30 212,18.Đăni IghiÊn CU 5 scsseasscccaesidl susesseecsnancantaa verde suierenceserencdonsnnvaanentianen thane Heat 30 2.4 Thời gian nghiên CUM sseccesssssssereessssnetenensscsensessonescesentssnsnssstecesessedezans 30 2.5 Dao de TONE NEED CWU viscscsseececessencremmenencessnscireneense nantes 30 2:6 Hạn chế của để tài nghiên CỬ ssscssssscecesecsessececsesncnenececseecesseeseneaseceeesenensespanss 31 2.7 Một số khái niệm va quy ước trong nghiên cứu . -s+++s5s=s=s++ 31 Belo VAL TIS OALY TATION «cic cccsccscocsserssonsensestasisvivanesensussteeceesvensssuessnrsnstgasusedtancs 31 2000p TMẠO HE HÔI cục co csusEt 5101101418 v6 6 thy Ho xit80anixilisiitrösslieorssnssees Bi 31 2./,3, Biện Pháp tránh thal s.scsscsecasssescnssn-traneiennd wonumenarmeaenasitens 5 2.7.4 Cac BPTT hién dang cung cấp ở địa phương - -++c+cesesc++ 31
2.7.5 Các biện pháp truyền thống đang được phụ nữ địa phương áp dụng 31
Churong 3: KGt qua cccuccccssessesssesessssensnesssnenssssscesesesssseassotnsceecensevessvoesehanee 32 3.1 Những thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .- - - 32 3.2 Những yếu tố dẫn tới việc không áp dụng BPTT -. . .-. .- 3Õ 3.3 Lý do dẫn đến áp dụng BPTT thất bại và các mối liên quan 38 3.4 Dự kiến áp dụng BPTTT sau NHT lần này . ¿-2-2-55s+s+s+<z<+<++ 45
Trang 6Chương 4: Bàn luận
REO lUẬNzxineinzizsreitiiinstidnttttgrttigiĂDHESRiCn0ta1438SãSErASiGi34t0s3g2semsssal 9013.8180 n 000/060): Phụ lục 1 Bảng phần tích mối tương QU1 scccccsceceaeidoaradrsoteaa
Phụ lục 2 Phiếu phỏng vấn đối tượng nghiên cứu
Trang 7
DANH MUC CAC BANG, BIEU
Biéu dé 3.1: Phan b6 doi tugng nghién cttu theo dO tuGi cece eee eeeee Bang 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn
Biểu đồ 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp .
Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số con hiện có 33
Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số lần đã NHT 34
Biểu đồ 3.3: Phân bố đối tượng được tư vấn về tác hại NHT và dùng BPTT 34
Biểu đồ 3.4: Phân bố tuổi thai của các đối tượng nghiên cứu đến NHT 35
;:1-£6 h0 Ðsi.00 50016.) 107 35
Bang 3.5: Lý do không áp dụng BPTT - - 2-25 +t+x+e+xsrztererrsrxerervre 36 Bảng 3.6: Lý đo không muốn:ấp dung BPTD sssessssssssscsscsseecssseasnsscnsistsrevsnsevedeenee 36 Bảng 3.7: Lý do nghĩ rằng không thể có thai -.¿- ¿55+ 225+22z22+2x2szzzscs2 37 Bảng 3.8: Lý do không áp dụng do không biết về BPTT -:-:-¿ 37
Biểu đồ 3.5: Áp dụng BPTT cho lần có thai này -2¿+22zz+cEzc2rxevrrrrer 38 Bảng 3.9: Biện pháp tránh thai hiện đang áp dụng .-.¿-:-:-5 255525x5sc52 38 Bang 3.10: Ly do áp dụng DCTC thất bại - ¿2-22 5+222S22v2zzxzxvzczzxzsc+e 39 Bảng 3.11: Ly do thất bại do áp dụng TTTT uống ¿ ¿©2555 5+5+s++szs+s2 40 Bảng 3.12: Lý do áp dụng BCS thất bại Bang 3.13: Lý do áp dụng biện pháp tránh thai (Ogino-Knaus) thất bại 42
Bảng 3.14: Áp dụng biện pháp xuất tỉnh ngoài thất bại -2-c5zcsz¿ 42 Bảng 3.15: Mối liên quan giữa số con hiện có với việc không áp dụng BPTT 43
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa số con trai hiện có với không áp dụng BPTT 43
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa nhóm nghề nghiệp với không áp dụng BPTT 44 Bảng 3.18: Dự kiến áp dụng BPTT sau NHĨT ¿2+2 +2 +SSzcz£czczcrrzerrez 45
Trang 8DAT VAN DE
Đình chỉ thai nghén là việc sử dụng một phương pháp nào đó có thể là thủ thuật, phẫu thuật hay thuốc để kết thúc sự mang thai, đưa các sản phẩm của thai nghén ra khỏi đường sinh dục của người mẹ Nạo, hút thai (NHT) là một thủ thuật để đình chỉ thai nghén, việc NHT trong vòng 12 tuần chủ yếu là do có thai ngoài ý muốn, có một số ít trường hợp do bệnh lý của người mẹ và bệnh lý của
bào thai [2]
Cách đây hàng nghìn năm, Y học đã biết sử dụng các biện pháp chấm dứt thai nghén Y học cổ đại Trung Quốc 5.000 năm về trước cũng có chép những
công thức phá thai Y văn cổ đại Hy Lạp, La Mã và các tác giả y học Islamic thời
trung cổ cũng đã nói đến các thủ thuật phá thai [37]
Cho đến nay tình trạng NHT vẫn đang là vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Theo quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) cảnh báo, tình trạng
NHT đang gia tăng một cách nhanh chóng, toàn thế giới: năm 1990 có 26 triệu
ca, năm 1995 có hơn 40 triệu ca và đến năm 2000 đã có 50 triệu ca
Theo UNFPA công bố năm 1995 Việt Nam đứng thứ 7 trong tổng số 10 nước có tỷ lệ NHT cao nhất thế giới Hiện nay ở Việt Nam số ca NHT vẫn đang ở mức cao, theo niên giám thống kê y tế của Bộ y tế trong những năm từ 1990-
1997 mỗi năm có từ 1023 nghìn đến 1399 nghìn ca, từ sau năm 1997 con số này giảm xuống dưới I1 triệu ca, đến năm 2000 còn 670 nghìn ca (số liệu này chưa phản ánh đúng thực trạng, còn một phần không nhỏ số ca NHT ở khu vực y tế tr nhân không thể thống kê được) [4] Tỷ lệ phụ nữ độ tuổi 15-49 hiện đang có
chồng đã NHT năm 1995 là 2,19% và năm 2000 là 2,18% [25]
Nao, hut thai có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ người phụ nữ trước mát cũng như lâu dài Tai biến NHT là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tăng tỷ lệ tử vong mẹ, theo Tổ chức Y tế thế giới tỷ lệ chết mẹ do NHT không an toàn trên 1.000 ca sinh sống của châu Phi là 83, châu Mỹ La Tỉnh là
48, châu á là 47, châu Đại Dương là 29 và châu âu là 4 [21] Ngoài ra, NHT còn
Trang 9là nguyên nhân gây ra nhiễm khuẩn đường sinh dục, vô sinh thứ phát, tăng nguy
cơ chửa ngoài tử cung, đẻ non và sẩy thai Theo số liệu thống kê của Bệnh viện phụ sản trung ương tỷ lệ tai biến do NHT năm 1995 và năm 1998 là 0,42% và
0,53% [271]
Đứng trước thực trạng đó, Tổ chức Y tế thế giới yêu cầu chính phủ các nước xem xét việc tác động của việc NHT đến sức khoẻ phụ nữ, giảm nhu cầu NHT qua các chương trình kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) mở rộng và tạo khuôn khổ pháp lý cho NHT trên cơ sở sức khoẻ và phúc lợi của phụ nữ
Nhận thức được điểu này nên nhiều năm qua các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, ngành Y tế và của cộng đồng người dân huyện Yên Phong lo lắng đến tình trạng NHT ở phụ nữ có chồng ở địa phương Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chấp nhận BPTT hiện đại trong 03 năm gần đây
(2000-2002) là 76% (toàn quốc là 75,3% vào năm 2000 [25]) Trong khi đó tỷ lệ
phụ nữ đang có chồng NHT ở Yên Phong luôn cao hơn một số huyện trong tỉnh,
tỷ lệ NHT trên 100 trẻ đẻ sống trung bình hàng năm là 0,3% (ỷ lệ chung của
Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu hết sức quý đối với các nhà quản lý và
đưa ra những khuyến nghị thiết thực nhất nhằm hạn chế tình trạng NHT ở địa phương trong thời gian tới
Trang 10Với dé tài nghiên cứu trên chúng tôi đưa ra các mục tiêu nghiên cứu sau đây:
2003 và mối liên quan đến việc không áp dụng hoặc áp dụng BPTT that bai
Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm làm tăng tỷ lệ áp dụng BPTT và giảm
tỷ lệ áp dụng BPTT thất bại của phụ nữ có chồng ở huyện Yên Phong
Trang 11Chuong 1
TONG QUAN
Vấn đề NHT đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu nhưng căn cứ vào các mục tiêu chúng tôi đề cập đến một số tài liệu có liên quan sau đây: 1.1 Tình trạng NHT trên thế giới
Từ những năm 1960, tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng BPTT tăng nhanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển và việc sử dụng các BPTT giờ đây đã bị chi phối bởi các BPTT hiện đại Tuy nhiên không phụ thuộc những xu hướng này, mang thai ngoài ý muốn vẫn còn cao, chủ yếu bởi số con mong muốn đang giảm xuống Hàng năm trên thế giới số ca mang thai ngoài ý muốn-kể cả không đúng lúc cũng như không hề muốn gần bằng số ca trong ý muốn và hơn 1/2 mang thai ngoài ý muốn đều kết thúc bằng việc NHT [14]
Loại bỏ mang thai ngoài ý muốn và hậu quả NHT sẽ đòi hỏi tăng mức độ
sử dụng BPTT đến một mức tại đó phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ nhưng không muốn có thai sẽ áp dụng các BPTT có hiệu quả hoàn hảo (100%), điều đó khó có thể thực hiện được, bởi vậy chưa thể loại bỏ vấn dé NHT do that bại khi sử dụng các BPTT [32]
Viện Alan Guttmacher công bố năm 1999, các cặp vợ chồng trên khắp thế giới đang ngày càng sử dụng các BPTT trong cuộc sống sinh sản của họ Tuy nhiên, bất chấp khuynh hướng này sự cố mang thai ngoài ý muốn vẫn còn cao Hàng năm trên thế giới có chừng khoảng 133 triệu ca sinh xảy ra, trong số đó có khoảng 1/4 được ước lượng là do không đúng ý muốn-kể cả không đúng lúc cũng như không hề mong muốn Hơn thế nữa ước chừng có 46 triệu ca NHT, trong tổng số khoảng 79 triệu ca mang thai ngoài ý muốn hàng năm Nói cách khác, hàng năm số ca mang thai ngoài ý muốn cũng gần bằng số ca theo ý muốn, hơn 1/2 mang thai ngoài ý muốn được kết thúc bằng NHT Rõ ràng là sự điều khiển sinh sản là chưa hoàn hảo và NHT ngày càng lan rộng
Những ước lượng mang tính toàn cầu trên chưa thể hiện sự khác biệt lớn
giữa dân số các nước Nói chung, các khu vực đang phát triển với tỷ lệ sinh tương đối cao (châu Phi, châu Mỹ La Tỉnh và Nam á) có tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn
Trang 12và NHT cao hơn các khu vực phát triển với tỷ lệ sinh thấp (Bắc Mỹ, Dong 4, Tay
Âu, Nhật Bản, và châu Đại Dương)
Tuy nhiên tình thế trái ngược lại xảy ra đối với tỷ lệ mang thai được ghi nhận là không theo ý muốn Có hơn 1/2 (56%) tổng số ca mang thai ngoài ý muốn ở các nước phát triển, so với 42% ở các nước đang phát triển Tỷ lệ mang thai kết thúc bởi NHT cũng cao hơn ở các nước phát triển so với các nước kém phát triển (41% so với 23%)
Rất khó có được số liệu chính xác về con số NHT ở các nước trên thế giới Số liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau thường không trùng khớp
và thiếu chính xác, khi thì cao, lúc quá thấp so với thực tế [35]
Tổng tỷ suất NHT đối với một số nước như: Rumani (1990) là 1,8; Liên
Xô (1987) là 2,5; Tiệp Khác (1990) là 1,9; Hungøgari (1987) là 1,8; Trung Quốc
(1987) là 2,4; Singapo (1987) là 2,2; Hoa Kỳ (1987) là 1,9 và Hà Lan (1987) là 1,6 [30]
1.2 Tình trạng NHT ở Việt Nam
Theo tài liệu của Liên hiệp quốc công bố năm 1994, nước ta đứng vào hàng thứ 7 trong 10 nước có tỷ lệ NHT cao nhất thế giới [26]
Kết quả điều tra Nhân khẩu học và sức khoẻ năm 1997, tỷ số NHT cho cả
nước là 320 cho 1.000 trường hợp mang thai, có nghĩa là cứ 03 trường hợp có thai thì có 01 trường hợp NHT Tổng tỷ suất NHT cho toàn quốc là 1,3%, thuộc mức
cao nhất thế giới [19]
Số liệu thống kê Y tế từ năm 1990-1999 cho thấy, tình trạng NHT ở nước
ta là đáng lo ngại, trung bình mỗi năm có khoảng trên I triệu ca NHT Chỉ tính
riêng từ năm 1996 đến 1998 tỷ lệ NHT ở Việt Nam luôn ở mức cao, năm 1996 ty
lệ này là 64,4, năm 1997 là 59,8 và năm 1998 là 51,9 [4]
Theo điều tra biến động DS-KHHỚĐ hàng năm, tỷ lệ phụ nữ hiện đang có chồng NHT trong 12 tháng trước thời điểm điều tra vẫn chưa giảm, năm 1995 là
2,19%; năm 1997 xuống 1,44% vào năm 2000 là 2,18% Sự khác biệt trong NHT giữa thành thị và nông thôn là đáng kể Trong tổng số các ca NHT trước 1/7/2000
Trang 13thì vùng đồng bằng Sông Hồng chiếm tới 28,15% tổng số, vùng Đông Bắc 26,91% tổng số, vùng đồng bằng Sông Cửu Long 14,19% tổng số, vùng Bắc Trung bộ 11,3% tổng số và 03 vùng còn lại, mỗi vùng chiếm dưới 10% [26]
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là một trong các cơ sở cung cấp dịch vụ NHT
Từ năm 1995 đến năm 2000 số lượng phụ nữ tìm đến dịch vụ NHT cứ tăng dân
lên (năm 1995 là 5.110 ca, năm 2000 là 8.076 ca) Giai đoạn 1995-1999 tỷ số
NHT/ số ca sinh sống gần bằng 1/1, năm 2000 tỷ số này có giảm xuống đôi chút
0,8/1 [26]
Thực trạng NHT trên thế giới và ở Việt Nam có liên quan đến các yếu tố như BPTT hiện đang áp dụng cũng như các yếu tố về trạng thái sinh sản của người phụ nữ Để tìm hiểu mối liên quan này, chúng tôi xin nêu lên các yếu tố đó
như sau:
1.3 Những yếu tố dẫn đến thực trạng NHT trên thế giới và ở Việt Nam
Mối quan hệ giữa NHT và trạng thái sinh sản là tài liệu tham khảo tốt nhất nghiên cứu về SKSS của phụ nữ Những đặc tính sinh sản của người phụ nữ bao gồm tuổi, số con sinh ra sống và tình trạng hôn nhân [15]
Tỷ lệ NHT cao thường đi đôi với tỷ lệ áp dụng các BPTT thấp và tỷ lệ thất
bại của BPTT cao Mặc khác, hiệu quả của áp dụng các BPT còn phụ thuộc vào
kiến thức, thái độ và thực hành của những cặp vợ chồng và từng cá nhân trong độ
tuổi sinh đẻ Mức độ hiểu biết cao thì áp dụng các BPTT tốt hơn, và tỷ lệ NHT
giảm [35] Theo Bongaarats công bố năm 1990, tại các nước đang phát triển, sức
ép của việc giảm mức sinh trong khi dịch vụ KHHƠPĐ thiếu hoặc kém hiệu quả, dẫn đến hậu quả là tỷ lệ thất bại trong việc sử dụng các BPTT và nhu cầu tránh thai không được đáp ứng cũng cao
Dựa trên việc phân tích số liệu điều tra của 48 nước đang phát triển ước
tính rằng 26% trường hợp sinh là ngoài ý muốn Điều này chứng tỏ còn một khoảng cách lớn giữa kiến thức, thái độ và thực hành về sử dụng các biện pháp
KHHGPĐ ở các nước này [28]
Trang 14Việt Nam chưa có những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về tình trạng
NHT Những nghiên cứu đã tiến hành cho thấy tình trạng NHT chịu tác động tương tự như các nước trên thế giới Nhiều lý do dẫn đến tỷ lệ NHT cao, trong đó
có mối liên quan giữa quy mô gia đình và sử dụng các BPTT Trong mô hình gia đình có ít con hiện được khuyến khích ở Việt Nam thì các BPTT lai chua da dang
và sẵn có ở mọi vùng Sự quá phụ thuộc vào một BPTT (như DCTC) và những tồn tại trong cung cấp dịch vụ còn đang là van dé bat cap [14]
1.3.1 Biện pháp tránh thai đang áp dụng
Từ thập kỷ 1980 trở lại đây, các BPTT trở nên rất phổ biến ở nước ta Theo một số tài liệu thống kê, tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các BPTT lên đến 70% trong những năm cuối thế kỷ XX Chúng ta đang đứng trước một thực trạng cần quan tâm: các BPTT chưa được đa dạng hoá tại các cơ sở dịch vụ; biện pháp tránh thai hiện đại được sử dụng chủ yếu là DCTC; thất bại về các BPTT còn cao Mặc dù tỷ lệ chấp nhận các BPTT tương đối cao song số lượng các trường hợp NHT cũng tương đối nhiều và tỷ lệ phá thai đứng vào hàng cao trên thế giới Theo một số thống kê cứ I trẻ sinh ra thì bên cạnh đó có I trường
hợp phá thai [18]
Dựa vào kết quả cuộc điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994, tỷ lệ
đang dùng BPTT chung ở phụ nữ đã từng có chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 61%, đối với phụ nữ đang có chồng thì tỷ lệ này là 65% Biện pháp đang được dùng nhiều nhất là DCTC, khoảng 1/3 phụ nữ đang có chồng trong độ tuổi sinh dé đang áp dụng, nó chiếm trên 1/2 trong tổng số các biện pháp và gần 3/4 tổng số các biện pháp hiện đại Hai biện pháp phổ biến tiếp theo là tính vòng kinh và
xuất tinh ngoài âm đạo, tương ứng là 10% và 11% Như vậy 21% phụ nữ có
chồng đang dựa vào các biện pháp ít hiệu quả này Tỷ lệ đang dùng các biện pháp khác không phải là DCTC còn thấp: BCS 4%, TTT viên 2,1%, đình sản nữ
3,9%, đình sản nam chỉ là 0,2% [18]
Tỷ lệ phụ nữ hiện đang có chồng đang sử dụng BPTT tăng lên từ 53% năm
1988 lên 65% năm 1994 và 75% năm 1997 Điều thú vị là, tỷ lệ sử dụng BPTT
Trang 15nói chung tăng 10% trong thời kỳ 1994-1997 nhưng tỷ lệ sử dụng BPTT hién dai trong thời kỳ này lại tăng lên chút ít 12% Điều đó có ý nghĩa là tỷ lệ sử dụng các BPTT truyền thống đã giảm đi trong thời gian từ 1994-1997 gần 2% [25]
Có hai đặc điểm về cơ cấu sử dụng BPTT ở Việt Nam:ưu thế của DCTC trong các BPTT hiện đại và tỷ lệ sử dụng các biện pháp tính vòng kinh và xuất tỉnh ngoài âm đạo trong toàn bộ các biện pháp khá cao Phương pháp được sử dụng phổ biến nhất tại thời điểm của cả ba cuộc điều tra 1988, 1994 và 1997 vẫn
là DCTC [25]
Vào năm 1997, có tới > 50% phụ nữ đã từng có chồng trong độ tuổi sinh
đẻ trả lời rằng họ đã từng sử dụng DCTC một lúc nào đó trong cuộc đời Mặc dù
tỷ trọng những người đã từng sử dụng DCTC tăng lên đáng kể giữa điều tra 1994
và 1997 tới 8% nhưng tỷ lệ đang sử dụng tăng chậm hơn, chỉ có 5% Phần lớn số 12% tăng về sử dụng BPTT hiện đại là kết quả của việc gia tăng các biện pháp khác không phải là DCTC, đặc biệt là TTT uống, BCS và đình sản nữ Mặc dù vậy, đến năm 1997, tuy DCTC vẫn chiếm tới 68% tổng số đang sử dụng BPTT hiện đại nhưng đã thấp hơn so với con số 76% trong năm 1994 và 88% trong năm
1988 Các BPTT hiện đại khác mức độ sử dụng còn thấp như TTT uống chỉ chiếm 4%, tương tự BCS và đình sản cũng tăng lên nhưng vẫn ở mức độ thấp 6% Vào năm 1997, khoảng 1/6 phụ nữ đã từng có chồng trả lời rằng họ đã sử dụng biện pháp tính vòng kinh một lúc nào đó và 1/4 sử dụng biện pháp xuất tỉnh ngoài Mức độ đang sử dụng cũng khá cao, với 7% phụ nữ hiện đang có chồng trả lời rằng họ đang sử dụng biện pháp tính vòng kinh và 12% sử dụng biện pháp xuất tỉnh ngoài [6] Như vậy, tính chung có khoảng 25% phụ nữ hiện đang có chồng sử dụng biện pháp này Đây là một tỷ lệ sử dụng biện pháp tính vòng kinh
và xuất tỉnh ngoài cao ở những nước đang phát triển Ví dụ, trong số 19 nước có điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ, với mức độ sử dụng BPTT thấp nhất là 30%, chỉ có Peru và Bolivia là có tỷ lệ sử dụng biện pháp tính vòng kinh và xuất tỉnh ngoài cao hơn ở Việt Nam Mức độ sử dụng các biện pháp truyền thống rất cao
Trang 16cho thấy, mặc dù nhu cầu về các dịch vụ KHHGPĐ trong dân số Việt Nam rất lớn, nhu cầu này chưa được các chương trình KHHƠĐ đáp ứng một cách đầy đủ [25]
Theo báo cáo của UNFPA năm 2001 ở Việt Nam tỷ lệ áp dụng BPTT bất
kỳ là 75% và BPTT hiện đại là 56% [23] Trong một nghiên cứu tại Hà Nội và tỉnh Thái Bình cho thấy NHT là do các nguyên nhân: 38% không áp dụng BPTT, 36,8% áp dụng các BPTT có hiệu quả tránh thai thấp và 23% áp dụng BPTT thất bại; phần lớn số phụ nữ cho rằng không biết cách sử dụng TTT hoặc không sử dụng BCS vì do chính họ và do người chồng không thích [9] Nghiên cứu khác về chất lượng dịch vụ cho thấy, hơn 1/2 không áp dụng BPTT tại thời điểm thụ thai [20] Số đối tượng NHT do không áp dụng BPTT nào chiếm 50%, còn lại 50% bị
vỡ kế hoạch trong lúc đang sử dụng DCTC, TTT và BCS [I6]
1.3.2 Tuổi và NHT
Bankole và CS, năm 1999 cho thấy tuổi của khách hàng, đặc biệt là những khách hàng ở độ tuổi trẻ thường liên quan đến bệnh tật hoặc tàn tật do nguyên nhân mang thai, sinh đẻ và NHT Về lý thuyết, với tài liệu sẵn có ở nhiều nước trên thế giới thì mối quan hệ giữa tỷ lệ NHT và tuổi của người phụ nữ có dạng chữ U ngược, nghĩa là tỷ lệ NHT cao nhất thường xuất hiện ở nhóm tuổi từ 20-24
và 25-29, từ nhóm tuổi 35-39, tỷ lệ NHT giảm mạnh Đối với những nhóm tuổi bắt đầu và sắp kết thúc chu kỳ sinh sản của người phụ nữ (< 20 tuổi và > 40 tuổi)
có tỷ lệ NHT thấp nhất Đó là mô hình chung cho phần lớn các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, tỷ lệ NHT theo tuổi ở những quốc gia khác nhau, phần lớn phụ thuộc vào tỷ lệ phụ nữ mang thai ngoài ý muốn; sự dễ dàng tiếp cận với các dịch
vụ NHT và nền văn hoá truyền thống đang tồn tại ở những quốc gia đó Những yếu tố này có tác động khác nhau đến những nhóm phụ nữ khác nhau [9]
Một số nghiên cứu về NHT chứng minh rằng tại ấn Độ và một số nước châu Mỹ La Tỉnh, phần lớn phụ nữ NHT là những người > 20 tuổi và ít nhất là 01 con Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu cũng cho rằng cần tiến hành nghiên cứu
để xác định những nhóm phụ nữ có tỷ lệ NHT cao nhất [2§]
Trang 1710
Chen va CS nam 1985 nghiên cứu về NHT tại Singapo cho thấy, đồng thời
với sự tăng lên của tỷ lệ NHT ở những người phụ nữ trẻ, tỷ lệ những người phụ
nữ chưa có con sử dụng NHT cũng tăng từ 1% năm 1970 lên 38% năm 1983 trong khi tỷ lệ phụ nữ có > 04 con giảm từ 73% năm 1970 xuống còn 5% năm
1983
Ở Việt Nam, NHT có xu hướng tăng theo tuổi, cho tới nhóm tuổi 30-34, sau đó tỷ lệ dao động quanh 20%, tuy nhiên tỷ suất NHT hiện tại ở nhóm tuổi 30-39 có tỷ lệ NHT cao nhất [10] Tỷ lệ phụ nữ NHT tăng dần theo nhóm tuổi, từ 20-24 tuổi và cao nhất là nhóm tuổi 35-39, nhóm tuổi 40-49 chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ [14] Theo nghiên cứu của Vũ Thị Nhung tại Hồ Chí Minh, lứa tuổi NHT tập trung ở độ tuổi < 25 chiếm 21,4%; 26-30 tuổi là 33,8%; 31-35 tuổi là 23,3%; 36-
40 tuổi là 18,3% và lứa tuổi NHT tập trung trong khoảng từ 21-35 là 77,2% [26]
Phân bố NHT theo tuổi trong nghiên cứu của Lê Văn Len năm 2002 tại huyện
Lang Chánh tỉnh Thanh Hoá độ tuổi NHT từ 25-34 tuổi là 53% [13]
1.3.3 Số con và NHT
Theo Chen và CS năm 1985 nghiên cứu tại Singapo, tỷ lệ những người có
01 con NHT cũng tăng từ 3% năm 1970 lên đến 19% năm 1983 Theo tác giả Trương Việt Dũng và CS năm 1994 cho thấy, trong tổng số phụ nữ có từ > 2 con,
tỷ suất NHT ở mức cao Gần 20% số phụ nữ có từ 2-4 con đã từng NHT, khoảng
2% đã thực hiện NHT trên 02 lần trong vòng 03 năm [10]
Nhìn chung phụ nữ có gia đình đã NHT từ năm 1994 đến năm 1997 trung
bình là 2,7 con, trong đó có số con trai còn sống là 1,5 con và số con gái còn sống là 1,2 Trong các trường hợp NHT thì số phụ nữ chưa có con chiếm tới 22,5%, số phụ nữ không có con trai chỉ chiếm 17,3% Số liệu này nói lên sự thiên lệch về quyết định NHT khi đã đủ số con trai hơn là đủ sé con gai [1]
Số con là yếu tố quyết định chấp nhận NHT, phần lớn phụ nữ quyết định NHT đã có 02 con trở lên Chỉ có khoảng dưới 1/4 mới chỉ có 01 con hoặc có 03 con [7] Các tác giả khác cũng đưa ra tỷ lệ I-2 con là 74,3% [9], ở những phụ nữ
đã có > 2 con là 77,6% [13]
Trang 181.3.4 Học vấn và NHT
Theo kết quả điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994 nhóm đối tượng
mù chữ và < cấp II là 84,7% còn đối với nhóm đối tượng có trình độ học vấn >
cấp III chỉ có 15,3% [18] Theo tác giả Trần Thị Phương Mai và CS năm 2001, nhóm đối tượng mù chữ và < cấp II là 59,8% còn đối với nhóm đối tượng có trình
Một số nghiên cứu khác đưa ra tỷ lệ đa số làm nội trợ có tỷ lệ NHT là
53,2% [26], nông dân có tỷ lệ NHT là 84,6% trong khi đó CBCNV tỷ lệ NHT chỉ
là 14,34% [13]
Nao, hut thai để lại nhiều tai biến ảnh hưởng đến sức khoẻ của người phụ
nữ trước mắt cũng như lâu dài, thực trạng này đang diễn ra ở trên thế giới và ở
Việt Nam như sau:
1.4 Thực trạng tai biến NHT trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế thế giới công bố năm 1991, ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 500 nghìn phụ nữ chết do các nguyên nhân liên quan đến thai nghén Một tỷ lệ lớn của số chết đó là do tai biến NHT Hơn nữa, 98% chết mẹ xảy ra ở các nước đang phát triển, nơi những nguy cơ chết do thai nghén được cộng hưởng với sự đẻ nhiều, đẻ dầy, mang thai nhiều lần, sự hạn chế của điều kiện kinh tế-xã hội và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ
Trang 19Theo báo cáo cua UNFPA tinh trang dan s6 thé giới 2000, hàng năm có ít
nhất có 1/4 ca NHT không an toàn là các em gái độ tuổi 15-19 Tại Chi Lê và
Acgentina, hơn 1/3 số chết mẹ trong độ tuổi vị thành niên do nguyên nhân trực tiếp từ NHT không an toàn ở Uganđa, 60% chết mẹ do NHT ở độ tuổi vị thành niên; ở Peru, 1/3 số nhập viện vì tai biến NHT ở độ tuổi 15-24, Tổ chức Y tế thế giới ước tính vùng cận sa mạc Sahara có tới 70% số nhập viện vì tai biến NHT ở
tuổi dưới 20 Vị thành niên có xu thế NHT muộn và họ thường tìm đến các cơ sở
y tế tư nhân Hiện tượng tự phá thai còn thường thấy ở một số nước, các nguyên
nhân đó dẫn đến tỷ lệ tai biến NHT cao ở châu Mỹ La Tĩnh, NHT không an toàn chiếm khoảng 1/2 số ca chết mẹ
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác định được các yếu tố liên quan đến tai biến NHT, tỷ lệ tai biến tăng lên theo tuổi thai NHT sau 8 tuần, tăng mỗi tuần 15-30% [29] Tai biến trong 03 tháng đầu là 1,54%, phổ biến nhất là sót rau, chảy máu nhiều sau NHT và thủng tử cung [38] Tỷ lệ tai biến do NHT trong 03 tháng giữa cao gấp 13 lần so với NHT trong 03 tháng đầu [36] Tai biến tức thì là
1,7%, tai biến chung sau 02 tuần là 3,4% và tai biến muộn là 1,2% [34], tai biến
về sau gồm ra máu, sốt do thuốc kháng sinh và các tai biến khác [31]
1.5 Thực trạng tai biến NHT ở Việt Nam
Cùng với vấn đề phá thai là vấn đề vô sinh tương đối hay gặp Tuy chưa có những số liệu thống kê cho cả nước nhưng về mặt lâm sàng, ngoài các nguyên nhân vô sinh nguyên phát, các trường hợp vô sinh thứ phát trở nên tương đối nhiều do hậu quả của các bệnh lây truyền qua đường tình dục và phá thai [26]
Điều đáng nói ở đây là các khách hàng trẻ thường ít hiểu biết về vấn để NHT và thời gian mang thai ngoài ý muốn kéo dài, dẫn đến hậu quả là phải dùng thủ thuật phức tạp hơn và nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ người mẹ tăng lên Tai biến NHT mặc dù không lớn, toàn quốc là 0,53% nhưng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tăng tỷ lệ tử vong mẹ Không những thế, nó còn gây nhiều tai biến nghiêm trọng cho phụ nữ và đặc biệt gây nên tỷ lệ vô sinh thứ phát rất cao ở phụ nữ trẻ tuổi và vị thành niên [26].
Trang 20t5
Theo điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994 ở 07 vùng sinh thái, tỷ lệ
tai biến khi NHT không phải nhỏ: 3% bị chảy máu kéo dài; 1,1% nhiễm khuẩn
và 4,8% là không xác định được Tính chung, tỷ lệ tai biến sau thủ thuật là 8,9%
[10]
Theo tác giả Nguyễn Minh Thắng và CS năm 1998, tỷ lệ phụ nữ tai biến
sau NHT ở Hà Nội là 27%, Sóc Trăng là 22% và Tây Ninh là 15% [20]
Theo tác giả Trần Thị Trung Chiến năm 2001, tai biến tức thì chung cho
cả NHT chiếm 1,53% trong đó do nạo thai cao hơn do hút thai [8]
1.6 Các yếu tố liên quan đến việc áp dụng hay không áp dụng BPTT
Việc áp dụng hay không áp dụng BPTT phụ thuộc bởi nhiều yếu tố, trong
đó có những yếu tố thuộc về chủ quan của khách hàng cũng có những yếu tố thuộc về khách quan tác động vấn đề này, chúng tôi xin nêu lên các yếu tố đó
như sau:
1.6.1 Hiểu biết và áp dụng BPTT
Có mối quan hệ chặt chẽ giữa trình độ văn hoá của người phụ nữ hoặc trình độ văn hoá của cặp vợ chồng với mức độ áp dụng BPTT hiện nay Tỷ lệ tránh thai cao liên quan đến trình độ văn hoá Phụ nữ học xong cấp II áp dụng nhiều gấp đôi những người không biết chữ Tỷ lệ phụ nữ hiện đang có chồng dùng một biện pháp nào đó tăng từ 35% ở những người không biết chữ lên 76,4%
ở phụ nữ có trình độ văn hoá cấp III hoặc cao hơn Phụ nữ có trình độ học vấn
cao hơn dùng DCTC ít hơn và dùng BCS, tính vòng kinh và xuất tỉnh ngoài âm đạo nhiều hơn [18]
Theo kết quả điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ 1994 cho thấy, sự hiểu biết ít nhất 01 biện pháp tránh thai của phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi sinh đẻ rất cao Khoảng 96% phụ nữ đã từng có chồng biết ít nhất một biện pháp trong đó > 80%
có thể nêu tên ít nhất 01 biện pháp Trong số phụ nữ đang có chồng, 94,7% biết
về DCTC; 78,1% biết về đình sản nữ; 76,6% biết BCS và 74,3% biết về đình sản
nam và đó là những biện pháp được biết nhiều nhất Tiếp theo là kiến thức về TTT uống 61,9%, hơn 40% biết TTT tiêm [18].
Trang 2114
1.6.2 Tuổi và áp dụng BPTT
Ở nhóm tuổi 15-24, chỉ có 39% phụ nữ hiện có chồng áp dụng tránh thai tạm thời Gần 60% trong số đó dùng DCTC, 1/3 khác đang dùng BCS, tính vòng kinh hoặc xuất tính ngoài âm đạo, trong đó biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo đang được áp dụng nhiều hơn cả Trong độ tuổi này, các BPTT có khả năng được
áp dụng chủ yếu để đạt được mục đích trì hoãn tuổi có con đầu lòng hoặc đẻ thưa [18]
Số người hiện áp dụng tránh thai đạt mức cao nhất ở nhóm tuổi 25-39 với
73% tổng phụ nữ hiện có chồng đang sử dụng BPTT và 50% đang dùng các
BPTT hiện đại Trong số đó khoảng 52% dùng DCTC, 17% thực hiện xuất tinh ngoài âm đạo và 14% tính vòng kinh, 5% triệt sản, TTT uống được nhóm tuổi này dùng nhiều nhất [I§]
Trong số phụ nữ tuổi 40-49, tỷ lệ dùng DCTC so với 02 nhóm tuổi trên là thấp nhất, chỉ có 44%; 12% số phụ nữ đình sản; 37% áp dụng tính vòng kinh hoặc xuất tinh ngoài âm đạo, trong đó số người dùng một trong hai biện pháp truyền thống này xấp xỉ ngang nhau [18]
1.6.3 Nghề nghiệp và áp dụng BPTT
Có sự khác nhau trong tỷ lệ hiện đang sử dụng BPTT theo nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu Phụ nữ công nhân viên chức áp dụng tránh thai nhiều hơn những người khác bao gồm cả BPTT hiện đại và biện pháp truyền thống Phụ nữ không đi làm áp dụng tránh thai chung và BPTT hiện đại ít nhất, mặc dù phần lớn trong nhóm này có thể không cần dùng vì đang có thai hoặc đang nuôi con Phụ
nữ nông thôn áp dụng BPTT hiện đại nhiều hơn cả trong khi phụ nữ CBCNV và
nhóm không đi làm áp dụng chúng ít nhất Phụ nữ nông thôn dựa vào chủ yếu
vào DCTC, tính vòng kinh và BCS được phụ nữ CNVC dùng nhiều trong khi một
số đáng kể phụ nữ làm các nghề phi nông nghiệp thì dựa vào xuất tỉnh ngoài âm
đạo [18].
Trang 221.6.4 áp dụng BPTT theo số con và theo giới của số con hiện sống
Quan hệ giữa số con hiện còn sống và tỷ lệ hiện đang áp dụng các BPTT được biểu hiện theo đường cong Tỷ lệ rất thấp ở phụ nữ chưa có con tăng dần lên đến mức cao nhất ở những người có 02 con nhưng giảm dần khi phụ nữ có từ 03 con trở lên Tuy vậy, bắt đầu từ các đối tượng tuổi từ 25 trở lên thì mức hiện đang
áp dụng tránh thai hiện đại cao nhất lại có xu hướng đạt được ở phụ nữ có 03 con mặc dù tỷ lệ hiện đang áp dụng tránh thai chung cao nhất vẫn quan sát được ở phụ nữ có 02 con Ngoài ra, trong số phụ nữ chưa có con đang áp dụng tránh thai, khoảng 2/3 dùng BPTT truyền thống Trong cuộc điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ năm 1988, người ta thấy các cặp vợ chồng có 03 con có tỷ lệ thực hiện tránh thai chung và tránh thai hiện đại cao nhất, có nghĩa là tại thời điểm đó các cặp vợ chồng Việt Nam vẫn muốn một gia đình có 03 con [18]
Các cặp vợ chồng có cả con trai và con gái thực hiện tránh thai chung và tránh thai hiện đại nhiều hơn những phụ nữ khác Tuy nhiên, một phần ảnh hưởng này có thể do phụ nữ có cả con trai và con gái thì số con trung bình lớn hơn Các đối tượng chỉ có con trai có tỷ lệ áp dụng cao hơn kể cả các biện pháp hiện đại, so với những người chỉ có con gái Sự khác nhau này rõ rệt 9,2% cho tất
cả các biện pháp và 6,7% cho các biện pháp tránh thai hiện đại Phụ nữ có 01 con trai và 01 con gái áp dụng tránh thai nhiều nhất và số con này cũng tương tự như
ở những người chỉ có 02 trai mà không có con gái Trong số phụ nữ có 03 con thì
tỷ lệ tránh thai ở những người chỉ con trai thấp hơn một chút so với các cặp vợ chồng có cả trai và gái, nhưng ngược lại, trong các cặp có từ 04 con trở lên thì
các cặp chỉ có con trai lại thực hiện nhiều hơn mặc dù không có sự khác biệt nào
trong số này có ý nghĩa thống kê Trong mọi sự kết hợp, các cặp vợ chồng chỉ có con gái thực hiện tránh thai thấp nhất Phụ nữ chỉ có con trai hoặc cả trai và gái
có xu hướng áp dụng các biện pháp lâm sàng hiện đại nhiều hơn trong khi các biện pháp cung cấp lại phổ biến rộng rãi trong các cặp chỉ có con gái [1§]
Trong các cặp vợ chồng chỉ có 01 con, khoảng 42%-43% đang sử dụng BPTT bất kể dù đứa trẻ là con trai hay con gái Rõ ràng là, nhiều người trong số
Trang 23các cặp vợ chồng đó dang dan khoảng cách sinh, và hầu hết là họ mong muốn có thêm một đứa con nữa, với sở thích ít nhất là 02 con [33]
Ở mức 02 con, một sự khác biệt rõ nét xuất hiện, với 67% các cặp vợ
chồng sử dụng phương pháp bất kể dù họ chỉ có 01 hay 02 con trai Nếu 02 con đều là gái, thì sở thích về con trai trội hơn và nhiều người mong muốn có thêm con, chỉ có 52% những người toàn con gái sử dụng BPTT [33]
Ở mức 03 con một sự khác biệt tương tự xuất hiện, và cũng ở những mức tương tự như nhau: khoảng 71% các cặp có toàn con trai sử dụng BPTT, nhưng chỉ có 52% những người có toàn con gái sử dụng BPTT [33]
khách hàng có thể nhận TTT uống Phụ nữ thành thị 100% có cơ hội được lựa
chọn TTT uống từ Trạm y tế, trong khi đó phụ nữ nông thôn chỉ có 95,6% có cơ
hội này Nhưng phụ nữ nông thôn lại có nhiều khả năng lựa chọn DCTC hơn phụ
nữ thành thị Cơ cấu này tuy không đa dạng nhưng cũng khá hợp lý Phụ nữ nông thôn thường không muốn sử dụng TTT uống vì cho rằng cách sử dụng phức tạp, không phù hợp với điều kiện sống của họ [25]
1.6.6 Khả năng lựa chọn các BPTT và áp dụng BPTT
Khả năng lựa chọn các BPLT phản ánh số lượng các phương pháp KHHGĐ đã được cung cấp một cách ổn định và khả năng biến động nội tại của chúng Khả năng lựa chọn các BPTT cần được xác định cho từng nhóm đối tượng
cụ thể chẳng hạn theo độ tuổi, giới tính, ý định thực hiện KHHGPĐ Việc cung cấp một lựa chọn không có ý nghĩa nhất thiết mỗi một chương trình phải cung cấp đầy đủ tất cả các phương pháp mà là nỗ lực của chương trình, trên cơ sở địa
lý, phải đủ để những người sử dụng có khả năng tiếp cận một cách hợp lý nếu
Trang 24không phải là tuyệt đối bình đẳng đối với các phương pháp khác nhau Khả năng lựa chọn các BPTT nếu không phải là yếu tố đầu tiên thì cũng là yếu tố cơ bản của chất lượng dịch vụ được cung cấp Nhìn chung, một dàn các phương pháp
được cung cấp dựa trên chuyên môn càng lớn bao nhiêu và sự chuyển đổi giữa
các phương pháp là nền tảng của việc sử dụng KHHGPĐ với sự hài lòng bền vững
Hệ thống cung cấp, phân phối phương tiện rất quan trọng giúp cho người sử dụng
dễ dàng nhận được BPTT mong muốn Điều này đặc biệt chú ý trong hoàn cảnh nước ta khi sự phân phối TTT và BCS do cả ngành Y tế và ngành Dân số thực hiện [25]
1.6.7 Thông tin cung cấp cho khách hàng và áp dụng BPTT
Thông tin cung cấp cho khách hàng là thông tin đi cùng với dịch vụ cho phép khách hàng lựa chọn và sử dụng BPTT với sự hài lòng và am hiểu, bao gồm: thông tin về những biện pháp hiện có; các chống chỉ định phản ảnh một cách khoa học; các ưu điểm và nhược điểm; sự lưu ý của đối với khách hàng về những lựa chọn không an toàn và cung cấp chỉ tiết về cách sử dụng một biện pháp mà
họ lựa chọn; tác động đối với hoạt động tình dục nếu có và tác dụng phụ của nó Ngoài ra, một khía cạnh thường bị bỏ quên là khách hàng có thể trông chờ gì từ những người cung cấp dịch vụ về những lời khuyên, sự giúp đỡ, sự cung cấp các biện pháp cũng như về dịch vụ liên quan khác nếu cần tới [25]
Nói chung, cần phải có hiểu biết rõ và cụ thể về BPTT Số lượng người biết tên các BPTT hiện đại và đã từng sử dụng tăng lên, tuy rất quan trọng, nhưng thiếu hụt thông tin hay hiểu biết không đầy đủ về các BPTT là nguyên nhân chính của việc mang thai ngoài ý muốn và ngừng sử dụng các biện pháp Sự tiếp cận giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ trong lần đầu tiên thường không
ổn định Điều này có liên quan với việc thiết lập cơ chế cung cấp tiếp tục các dịch vụ, hoặc có thể khiến khách hàng thay đổi địa điểm cung cấp dịch vụ, chuyển biện pháp không dựa trên nhu cầu thực, hoặc thậm chí bỏ cuộc [25]
Để thông tin tốt thì người cung cấp dịch vụ phải được đào tạo chu đáo Gần đây khi chương trình dân số Việt Nam chuyển sang yêu cầu về chất lượng,
Trang 2518
ta thường nghe nói nhiều về “tư vấn” Nhưng nội dung tư vấn như thế nào, ai làm
và làm như thế nào thì còn nhiều vấn đề cần phải thảo luận kỹ Cần nhấn mạnh rằng làm tốt công tác cung cấp thông tin và tư vấn theo những nội dung đã trình bày là công việc kiên trì, mất thời gian hàng nhiều năm [25]
1.6.8 Tư vấn và áp dụng BPTT
Cách đối xử của cán bộ y tế với khách hàng có thể tác động đáng kể tới mức độ hài lòng tin cậy của khách hàng và việc tiếp tục sử dụng các biện pháp KHHGĐ Nghiên cứu phân tích tình hình dịch vụ SKSS trong khu vực y tế nhà nước tại 7 tỉnh của Việt Nam do Hội đồng Dân số Việt Nam cho thấy, tại tất cả bốn tuyến cung cấp dịch vụ y tế nhà nước được hầu hết khách hàng đánh giá là
được cán bộ y tế chào hỏi thân mật [26]
Thực tế chỉ có 1/5 số khách hàng đến Trung tâm y tế huyện, PKĐKKV, Trạm y tế xã và 1/3 khách hàng đến tuyến tỉnh là muốn trình bày băn khoăn, thắc
mắc của mình với cán bộ y tế trong khi nhận dịch vụ Tuy nhiên, khi có băn
khoăn, thắc mắc thì có từ 71%-95% khách hàng đã hỏi cán bộ y tế về những băn khoăn thắc mắc đó, có 94%-100% cán bộ y tế đã lắng nghe và trả lời câu hỏi của
khách hàng [26]
Mặc dù đa số khách hàng đã được khám hoặc làm thủ thuật, nhưng chỉ có hơn 50% số khách hàng nói rằng, cán bộ y tế giải thích trước khám hoặc làm thủ thuật Hơn 90% khách hàng được khám hoặc làm thủ thuật ở các tuyến cho biết, cán bộ y tế đã giải thích kết quả khám, làm thủ thuật và đa số khách hàng cho
rằng (88%-100%) giải thích của cán bộ y tế là dé hiểu [26]
1.7.Tỷ lệ thất bại sử dụng BPTT
Việc mang thai ngoài ý muốn chủ yếu phụ thuộc vào việc không áp dụng BPTT của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ Những yếu tố dẫn đến việc không áp dụng BPTT của các cặp vợ chồng đó là:
Lý do nói đến nhiều nhất là lo lắng về sức khoẻ, tiếp đến là do muốn có thêm con, hiện đang cho con bú nên không sử dụng Các lý do khác nói đến ít là do chồng phản đối, lý do tôn giáo, sử dụng không thuận tiện, không còn kinh nguyệt [ I4]
Trang 26Tỷ lệ đình chỉ vì lý do cá nhân (chồng phản đối, muốn sinh thêm con, muốn chuyển sang dùng BPTT khác ) là 3,04%; tỷ lệ bỏ cuộc do tác dụng phụ (rong kinh và vô kinh) là 21% Nguyên nhân gây nên bỏ cuộc khác nữa khiến cho những người đang sử dụng TTT là giảm cảm giác thoải mái trong QHTD [6]
Ngoài ra, mang thai ngoài ý muốn còn phụ thuộc bởi loại BPTT mà khách hàng đang áp dụng Cho đến nay không có biện pháp tránh thai nào có hiệu quả
là hoàn hảo (100%) cho nên việc mang thai ngoài ý muốn vẫn có thể xảy ra ở những người đang áp dụng vì thế chúng tôi có tham khảo các tài liệu đề cập đến vấn đề này như:
1.7.1 Thất bại do DCTC
Kết quả nghiên cứu của GS Dương Thị Cương ở các năm 1988, 1991 va
1998 cho thấy: tỷ lệ tụt và rơi DCTC ở nhóm đối tượng sử dụng vòng TCu 380 A
là 14,4% và độ tuổi trung bình của họ là 31,9 ở nhóm vòng Multiload Cu 375 SL thì tỷ lệ tụt và rơi là 20,8% và độ tuổi trung bình của họ là 26,5 (nghiên cứu năm
1988); Tỷ lệ thất bại (có thai trong khi mang DCTC) là 0,9% (nghiên cứu năm
1991, một số nghiên cứu khác đưa ra tỷ lệ thất bại trong thời gian này là 17%) Kết quả sử dụng DCTC trong 2 năm thì tỷ lệ thất bại đối với vòng TCu 380A là 5% và của vòng Multiload Cu 375 SL là 8,1% (1998) [26]
Theo kết quả nghiên cứu của GS Dương Thị Cương năm 1991, tỷ lệ phải đình chỉ sử dụng DCTC sau 12 tháng đặt DCTC do tất cả các lý do là 21,3% ở nhóm TCu 380A và ở nhóm Multiload Cu 375 SL là 26,3%, trong đó tỷ lệ thất
bại là 0,9%; chảy máu là 7,9%; tụt, rơi là 2% và nguyên nhân khác là 1,8% Sau
02 năm đặt DCTC thì tỷ lệ tiếp tục sử dụng vòng TCu 380A là 52,2% Theo John
A Ross tỷ suất thất bại trong năm đầu tiên thông thường là 6% cho vòng tránh
Trang 27_—
20
lệ thất bại cũng tăng dần theo số con của phụ nữ khi sử dụng DCTC: đối với phụ
nữ có 01 con thì tỷ lệ thất bại là 2,5%, tăng lên 3,4% đối với phụ nữ có 02 con và lên 6,3% nếu phụ nữ có từ 6 con trở lên [26]
Tỷ lệ thất bại trong sử dụng DCTC cũng phụ thuộc vào từng cơ sở y tế đặt DCTC: các cơ sở y tế tư nhân có tỷ lệ thất bại cao nhất 4,32%, tiếp đó là Trạm y
tế xã 3,48% Phòng khám đa khoa khu vực và Bệnh viện huyện tương đương nhau là 2,8% và 2,77% Bệnh viện tỉnh đặt DCTC có tỷ lệ thất bại thấp nhất là
1,1% [26]
Tỷ lệ rơi, tụt DCTC chiếm 4,2% và đều ở tình trạng rơi và tụt 0I lần
Không có xu hướng rõ ràng về tỷ lệ rơi, tụt DCTC theo nhóm tuổi và số con của
đối tượng đặt DCTC Nhưng lại có xu hướng chênh lệch về tỷ lệ rơi, tụt DCTC theo từng cơ sở y tế đặt DCTC Phòng khám đa khoa khu vực đặt DCTC có tỷ lệ rơi, tụt cao nhất là 6,18%, tiếp đó là cơ sở y tế tư nhân là 5,53%, Trạm y tế xã
4,12%, Bệnh viện huyện 3,17% và Bệnh viện tỉnh là 2,58% Giải thích lý do các
PKĐKKYV đặt DCTC có tỷ lệ rơi, tụt DCTC cao nhất là do cơ sở này thường tổ chức đi lưu động xuống xã để đặt DCTC theo định kỳ ở một số tỉnh như hiện nay hoặc theo chiến dịch truyền thông lồng ghép va dich vu KHHGD [26]
Theo đề tài xác định tỷ lệ thất bại, bỏ cuộc và nhu cầu sử dụng các loại DCTC của Học Viện Quân Y năm 2000, thì tỷ lệ số người có ít nhất 01 tac dung phụ và các biểu hiện bất thường về sức khoẻ ở các đối tượng sử dụng DCTC là 30,6%, trong đó đau bụng là 7,78%, rong kinh 7,71%, đau thất lưng 6,64%, nhức đầu chóng mặt 3,88%, khí hư 1,55%, rối loạn kinh nguyệt 1,5%, thấy sức khoẻ
giảm sút 0,9%, sốt 0,4% và dấu hiệu khác là 0,21% [26]
Có sự khác biệt về tỷ lệ tác dụng phụ, số người đặt DCTC có ít nhất 01 tác dụng phụ giữa các cơ sở y tế đặt DCTC Nếu đặt DCTC tại Trạm y tế xã thì tỷ lệ
có ít nhất 01 tác dụng phụ là 31,7%, PKĐKKV 30,1%, Bệnh viện huyện và Bệnh viện tỉnh tương đương nhau là 26,5% và 25,4%, y tế tư nhân là 25,4% và các nơi
khác là 34,2% Một nghiên cứu khác đưa ra tỷ lệ rong kinh là 20,3% và 12/7% là các tác dụng phụ và tai biến khác có hại cho sức khoẻ Báo cáo tại Huế tháng 5
Trang 2821
năm 1999 cũng đưa ra tỷ lệ 31,9% là bị dau bung, dau lung va 2,8% là bị ra khí
hư Nghiên cứu của GS Dương Thị Cương năm 1998 lại xác định tỷ lệ phải đình
Số viên quên trong khi dùng thuốc: trong 01 chu kỳ kinh tỷ lệ khách hàng
bị quên 01 là 7,3% Các tháng sau tỷ lệ này thay đổi từ 0,9% đến 6,8% Tỷ lệ khách hàng quên 02 viên là rất ít [7]
Tác dụng phụ và vấn đề sức khoẻ là những lý do chủ yếu làm cho trên 50% phụ nữ dùng TTT uống bỏ cuộc [6] Tỷ lệ khách hàng ngừng thuốc sau 10 tháng dùng thuốc từ 3,9%-10,3% tuỳ theo tỉnh, trong đó tỉnh Hải Dương có tỷ lệ ngừng thuốc cao nhất 10,3% Nguyên nhân ngừng thuốc chủ yếu là do tác dụng
phụ của thuốc như (rong kinh và vô kinh ) [7]
1.7.3 Thất bại do dàng BCS tránh thai
Cũng như TT uống, không thuận tiện trong khi sử dụng là lý do chính khiến cho khách hàng ngừng áp dụng [25]
1.7.4 Thất bại do các biện pháp truyền thống
Các biện pháp tính vòng kinh và xuất tinh ngoài được sử dụng rất đáng kể ở Việt Nam Vào năm 1997, 1/6 phụ nữ đã từng có chồng trong độ tuổi sinh đẻ nói ràng họ đã từng dùng biện pháp tính vòng kinh một lúc nào đó trong đời và 1/4 trả lời đã từng dùng sử dụng biện pháp xuất tỉnh ngoài âm đạo Hiện tại, 7% phụ nữ hiện đang có chồng trả lời rằng hiện đang sử dụng biện pháp tính vòng kinh và 12%
sử dụng biện pháp xuất tỉnh ngoài Việc có nhiều người sử dụng những biện pháp hiệu quả thấp cho thấy nhu cầu đáng kể về dịch vụ KHHGĐ cần được đáp ứng [25]
Trang 2922
Lý do ngừng áp dụng biện pháp là do không thuận tiện trong sử dụng
khiến cho khách hàng không tiếp tục áp dụng Một phần không nhỏ khách hàng ngừng áp dụng biện pháp này là do có thai ngoài ý muốn [3]
1.8 Tuổi thai trước khi NHT
Người đến thực hiện NHT dưới 4 tuần là 51,7%, từ 4 đến 7 tuần là 28,9%
và > 8 tuần là 19,4% [10] Một nửa phụ nữ đến NHT khi chậm kinh 1-2 tuần (50,2%) bỏ hút điều hoà kinh nguyệt và gần 1/2 số đó tiến hành NHT sau 3 tuần
chậm kinh [14] Tuổi thai trước khi đi NHT với 4 đến < 6 tuần là 72,8%; 6 đến <
8 tuần là 20,2%; 8 đến <10 tuần là 4,8% và từ 10 đến < 12 tuần là 2,2% [17] 1.9 Lý do NHT
Có nhiều lý do khiến phụ nữ quyết định đi NHT Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Phương Mai lý do chủ yếu vẫn là hạn chế số con, tiếp đến là
do kinh tế, sức khoẻ và muốn dãn khoảng cách sinh con Tỷ lệ người cho rằng không muốn sinh con là 77,5%, do kinh tế là 33,3%, do sức khoẻ là 23%, muốn
có con muộn hơn là 16,8% [14] Một nghiên cứu khác đưa ra tỷ lệ như sau: lý do
muốn sinh con muộn hơn là 59,5%, số còn lại có lý do không muốn sinh con là
40,5% [16]
1.10 Thông tin chung về huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
Huyện Yên Phong nằm về phía tây nam của tỉnh Bắc Ninh, có diện tích tự nhiên khoảng 110 kmỶ, chia thành 18 đơn vị hành chính Dân số đến năm 2002 là 142.000 người, phụ nữ độ tuổi từ 15- 49 là 38.380 người, trong đó phụ nữ có chồng là 2§.035 người Toàn bộ dân số trong huyện chỉ có một tộc người đó là
người Kinh và lấy đạo Phật làm đạo chính thống cho mình [12]
Yên Phong là một huyện nghèo của tỉnh Bắc Ninh, trong những năm gần
đây kinh tế của huyện có nhiều chuyển biến, số hộ nghèo giảm nhiều nhờ các làng nghề truyền thống như: nghề mộc, nghề giấy, nghề đúc đồng.v.v.v [L2]
Ngành giáo dục huyện luôn là lá cờ đầu trong nhiều năm của tỉnh Bắc Ninh, hiện nay không còn trẻ em bị thất học Yên Phong hiện còn giữ gìn nhiều
di tích văn hóa nổi tiếng như các đình chùa, các làng quan họ vẫn được duy trì và phát triển [12]
Trang 3023
Ngành Dân số-Gia đình và Trẻ em huyện phối hợp với ngành Y té trong công tác KHHGĐ Ngành Dân số-Gia đình và Trẻ em có đội ngũ cán bộ làm công tác dân số đến tận thôn, xóm Mô hình cung cấp các phương tiện tránh thai phi lâm sàng như thuốc tránh thai, bao cao su đã triển khai đến tận hộ gia đình Các biện pháp tránh thai lâm sàng như DCTC, TTT tiêm, đình sản nam, nữ được ngành Y tế triển khai đến tận xã Dụng cụ tử cung (vòng TCu 380A và vòng Multiload Cu 375 SL) và TTT tiêm loại DMPA do cán bộ kỹ thuật của Trạm y tế
xã thực hiện hàng ngày tại Trạm Ngoài ra, mỗi năm toàn huyện tổ chức 04 đợt chiến dịch đặt vòng, tỷ lệ vòng đặt được trong các đợt chiến dịch chiếm > 90% tổng số vòng đặt trong cả năm, số còn lại do các cơ sở y tế tuyến trên thực hiện Thuốc tránh thai tiêm mới được các cặp vợ chồng chấp nhận 1-2 tháng gần đây ở một số xã trong huyện Đình sản nữ chỉ thực hiện phối hợp ở những phụ nữ có phẫu thuật sản khoa tại bệnh viện, đình sản nam thực hiện được 1-2 trường hợp/năm, cho đến nay chưa thấy trường hợp nào có thai ngoài ý muốn do thực hiện các biện pháp tránh thai vĩnh viễn này
Hiện nay ở Yên Phong có duy nhất 3 cơ sở y tế nhà nước (Bệnh viện
huyện, PKĐKKV Đông Phong và Trạm y tế xã Yên Trung) thực hiện dịch vụ
NHT Tại 03 cơ sở trên duy nhất chỉ có cơ sở Bệnh viện huyện triển khai 5 ngày/tuần còn 02 cơ sở còn lại chỉ triển khai 2 ngày/tuần, trong đó tỷ lệ NHT tại Bệnh viện huyện chiếm > 90% tổng số còn lại rất ít NHT được làm ở phòng
khám đa khoa khu vực và Trạm y tế xã Hàng tháng cả 03 cơ sở trên thực hiện trên dưới 100 ca NHT Trong 03 năm gần đây (2000-2002) tỷ lệ NHT trên 100
trẻ đẻ sống ở Yên Phong là 0,31% đối với năm 2000 giảm xuống còn 0,3% vào
năm 2002.
Trang 3124
Chuong 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là phụ nữ có chồng đến NHT tại 03 cơ sở y tế nhà nước của huyện Yên Phong (Bệnh viện huyện Yên Phong, PKĐKKV Đông Phong và Trạm y tế xã Yên
Trung), từ tháng 6 đến hết tháng 7 năm 2003
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cất ngang [21]
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Theo báo cáo hàng năm của Trung tâm y tế huyện Yên Phong, trung bình mỗi ngày cả 03 cơ sở (Bệnh viện huyện Yên Phong, PKĐKKV Đông Phong và Trạm y tế xã Yên Trung) có khoảng 5 người đến NHT, trong một năm số ca NHT
ở PKĐKKYV và Trạm y tế xã Yên Trung khoảng < 20 ca còn lại chủ yếu được
NHT ở tại Bệnh viện huyện Yên Phong Như vậy chúng tôi chọn toàn bộ những
phụ nữ có chồng đến NHT ở 03 cơ sở trên từ tháng 1/6 đến hết tháng 31/7 năm
2003 ước lượng trong 02 tháng có cỡ mẫu khoảng 200 người [2l ]
2.2.3 Tiêu chuẩn chọn đối tượng
Tiêu chuẩn của đối tượng nghiên cứu chúng tôi đưa ra là những phụ nữ có chồng đến 03 cơ sở y tế nhà nước của huyện Yên Phong; phải được chẩn đoán chắc chắn có thai và được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu nhằm giúp cho các
thông tin thu được phản ánh trung thực và khách quan
3 cơ sở y tế nhà nước là: Bệnh viện huyện Yên Phong, PKĐKKV Đông Phong và Trạm y tế xã Yên Trung, từ 1/6 dén 31/7 nam 2003
Chẩn đoán chắc chắn có thai bằng xét nghiệm thử HCG (dùng que thử) hoặc siêu âm có túi ối trong buồng tử cung Tuổi thai < 12 tuần (ính rừ ngày đầu của
kỳ kinh cuối cùng)
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu, loại trừ những người có dấu hiệu thần kinh không bình thường
Trang 3225
2.2.4 Chọn đối tượng mẫu
Chọn mẫu có chủ định những đối tượng đến NHT ở 3 cơ sở y tế nhà nước (Bệnh viện huyện Yên Phong, PKĐKKV Đông Phong và Trạm y tế xã Yên
Trung), từ 1/6 đến hết 31/7 năm 2003 [22]
2.2.5 Các biến số, định nghĩa và phương pháp thu thập
Trong phần này chúng tôi đưa ra 03 nhóm biến số gồm nhóm biến số về thông tin chung; nhóm biến số về việc không áp dụng BPTT; nhóm biến số về việc áp dụng BPTT thất bại và các mối liên quan đến việc không áp dụng và áp dụng BPTT thất bại
2.2.5.1 Nhóm biến số về thông tin chung: bao gồm các biến số về tuổi; trình độ học vấn; nghề nghiệp; số con hiện có; tiền sử NHT và những thông tin về lần có
thai này
Tuổi của đối tượng nghiên cứu được tính thống nhất theo dương lịch và độ
tuổi chia thành Ø7 nhóm (18-19; 20-24; 25-29; 30-34; 35-39; 40-44 và 45-40)
Số con hiện có được tính là số con hiện đang sống của cặp vợ chồng đó
Trình độ học vấn tính theo cấp học cao nhất mà đối tượng đó đã học hoặc đang theo học ( không biết chữ; tiểu học; THCS; THPT và > THPT)
Nghề nghiệp được tính theo nghề chính đối tượng đang làm (Uàm ruộng;
CBCNV bao gồm cả lực lượng vũ trang và các nghề khác)
Tiền sử nạo, hút thai và hoạt động tư vấn ở các cơ sở làm dịch vụ NHT: số lần đã hút thai được tính là số lần đã hút thai, trừ lần này Số lần đã nạo thai được tính là
số lần đã nạo thai, trừ lần này Tư vấn về tác hại của NHT và dùng BPTTT cho các
đối tượng mỗi khi đến NHT
Thông tin về lần có thai này: tuổi thai tính theo tuần (/ính từ ngày đầu của
kỳ kinh cuối cùng) Không áp dụng BPTT là không áp dụng BPTT nào kể từ ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng áp dụng BPTT thất bại là có áp dụng một hoặc nhiều BPTT cụ thể mà vẫn có thai.
Trang 3326
2.2.5.2 Nhóm biến số dẫn đến việc không áp dụng BPTT: Bao gồm các biến số
về không muốn áp dụng BPTT; BPTT không sẵn có; không nghĩ rằng lại có thể
có thai; chồng không có nhà và do không hiểu biết về BPTT nên không áp dụng
BPTT
Không muốn áp dụng BPTT cho lần có thai này: bao gồm các lý do như lo ảnh hưởng đến sức khoẻ; sợ tác dụng phụ của BPTT; cách sử dụng của BPTT không thuận tiện; đang có bệnh không muốn áp dụng BPTT và các lý do
Biện pháp tránh thai không sẵn có: là khi muốn áp dung BPTT nao đó
song hiện tại không có nơi nào có
Cho rằng không thể có thai: đang cho con bú chưa thấy kinh trở lại, tuổi sắp mãn kinh và các lý do khác
Chồng không đồng ý cho vợ áp dụng BPTT: lo ảnh hưởng đến sức khoẻ của người vợ, muốn có con và giảm thoải mái tình dục khi dùng BPTT
Không hiểu biết về BPTT: có biết được tính là kể đúng tên bất kỳ một
BPTT nào đó Không biết là không kể được tên của bất kỳ một BPTT nào
Trang 34Ly do 4p dung DCTC that bai:
Do khách hàng không được tư vấn về DCTC trước khi áp dụng
Do nội dung tư vấn không đầy đủ: là thiếu một hoặc nhiều nội dung sau [3]: giới thiệu tất cả các BPTT; thuận lợi và không thuận lợi của từng biện pháp; thời hạn tác dụng của DCTC; thời hạn đến khám lại định kỳ hoặc khám ngay khi có dấu hiệu bất thường
Do khách hàng dùng quá thời hạn: DCTC đặt >10 năm đối với vòng
TCu380A và >5 năm đối với vòng Multload Cu 375SL
Do khách hách hàng không đi khám định kỳ (7 tháng sau khi đặt và hàng
năm) hoặc khám ngay khi có dấu hiệu bất thường
Lý do áp dụng TTT uống thất bại (loại Ideal):
Do khách hàng không được tư vấn về TTT uống trước khi áp dụng
Do nội dung tư vấn không đầy đủ: là thiếu một hoặc nhiều nội dung sau [3]: giới thiệu tất cả các BPTT; thuận lợi và không thuận lợi của từng biện pháp; cách dùng TTT; cách xử trí khi bị quên hoặc nôn khi dùng thuốc; nơi có thể nhận hoặc mua TTT; thời hạn đến khám lại định kỳ hoặc khám ngay khi có dấu hiệu bất thường
Do khách hàng quên uống O1 hoặc 02 viên thuốc nhưng xử trí sai (guên 7
viên không uống ngay 1 viên khi nhớ ra, rồi đến giờ uống thuốc hàng ngày uống
01 viên như thường lệ Quên 02 viên không uống ngay 02 viên khi nhớ ra, ngày
hôm sau đến giờ uống thuốc uống 02 viên, rồi tiếp tục uống như thường lệ)
Do khách hàng không áp dụng các BPTT khác hỗ trợ như BCS, xuất tỉnh ngoài, viên tránh thai khẩn cấp trong 07 ngày nếu có QHTD khi quên 02 viên hoặc bị nôn trong vòng 04 giờ đầu khi uống
Do khách hàng không đi khám lại định kỳ (3 tháng và hàng năm) hoặc khám ngay khi có dấu hiệu bất thường
Trang 3528
Ly do 4p dung TTT tiém that bai (loai DMPA):
Do khách hàng không được tư vấn về TTT tiêm trước khi áp dụng
Do nội dung tư vấn không đầy đủ: là thiếu một hoặc nhiều nội dung sau [3]: giới thiệu tất cả các BPTT; thuận lợi và không thuận lợi của từng biện pháp; thời gian tác dụng của 01 lần tiêm; nơi có thể đến tiêm; thời hạn đến khám lại định kỳ hoặc khám ngay khi có dấu hiệu bất thường
Do khách hàng đi tiêm không đúng thời hạn: guy định đúng 03 tháng tiêm một lần
Do khách hàng không khám lại định kỳ (hàng năm) hoặc khám ngay khi có dấu hiệu bất thường
Lý do áp dụng BCS tránh thai thất bại:
Do khách hàng không được tư vấn về BCS trước khi áp dụng
Do nội dung tư vấn không đầy đủ: là thiếu một hoặc nhiều nội dung sau [3]: giới thiệu tất cả các BPTT; thuận lợi và không thuận lợi của từng biện pháp;
cách dùng BCS; nơi có thể nhận hoặc mua BCS; hướng dẫn dùng các BPTT khác
hỗ trợ khi thực hiện không đúng cách
Do khách hàng dùng BCS không đảm bảo chất lượng: gud han, vo bao ho
Do khách hàng quên không dùng BCS khi QHTD
Do khách hàng thực hiện không đúng cách: không dùng BCS ngay từ lúc bắt đầu QHTD; đi BCS khi dương vật chưa cương cứng; vành BCS không lên tận gốc
dương vật; rút dương vật ra khi đã nhữn và không giữ vành BCS trong khi rút dương vật
Do khách hàng không dùng các BPTT khác hỗ trợ (viên tránh thai khẩn cấp, kem tránh thai ) khi thực hiện không đúng cách
Lý do áp dụng biện pháp tránh thai (Ogino-Knaus) that bai:
Do khách hàng không được tư vấn về biện pháp trước khi áp dụng
Do nội dung tư vấn không đầy đủ: là thiếu một hoặc nhiều nội dung sau [3]: giới thiệu tất cả các BPTT; thuận lợi và không thuận lợi của từng biện pháp; cách tính ngày an toàn; hướng dân dùng các BPTT khác hỗ trợ khi thực hiện sai
Trang 3629
Do khách hàng không tránh QHTD vào những ngày không an toàn: trước khi thấy kinh 5-7 ngày hoặc sau sạch kinh 4-5 ngày đối với những phụ nữ có vòng kinh đều
Do khách hàng không dùng BPTT khác hỗ trợ (viên tránh thai khẩn cấp hoặc kem tránh thai hoặc thuốc diệt tỉnh tràng) khi thực hiện sai
Lý do áp dụng biện pháp xuất tỉnh ngoài thất bại:
Do khách hàng không được tư vấn về biện pháp trước khi áp dụng
Do nội dung tư vấn không đầy đủ: là thiếu một hoặc nhiều nội dung sau [3]: giới thiệu tất cả các BPTT; thuận lợi và không thuận lợi của từng BPTT để cho
khách hàng tự lựa chọn; cách áp dụng biện pháp; hướng dẫn áp dụng các BPTT
khác hỗ trợ khi thực hiện sai
Do khách hàng thực hiện không đúng: rzú dương vật ra sau khi xuất tỉnh hoặc có lần xuất tỉnh vào trong
Do khách hàng không dùng BPTT khác hỗ trợ (viên tránh thai khẩn cấp
hoặc kem tránh thai hoặc thuốc diệt tỉnh trùng) khi thực hiện sai
Mối liên quan đến việc không áp dụng hoặc áp dụng BPTT thất bại:
- Mối liên quan giữa số con hiện có với việc không áp dụng BPTT
- Mối liên quan giữa số con trai hiện có với việc không áp dụng BPTT
- Mối liên quan giữa nhóm nghề nghiệp với việc không áp dụng BPTT 2.2.5.4 Lý do xin nạo, hút thai lần này
Bao gồm các biến như không muốn có thêm con; bị bệnh không thể để đẻ;
muốn có con muộn hơn; có bệnh sợ ảnh hưởng đến thai; bận công việc, công tác; chồng không muốn có con; kinh tế và các lý do khác
2.2.5.5 Dự định áp dụng BPTT sau lần nạo, hút thai này
BPTT dự định áp dụng: dụng cụ tử cung; thuốc tránh thai uống; thuốc
tránh thai tiêm; bao cao su; đình sản nữ; và các BPTT khác
Trang 3730
2.2.5.6 Phương pháp thu thập thong tin
Điều tra viên hàng ngày có mặt tại 03 cơ sở có NHT' do ngành Y tế thực hiện
Phân loại đối tượng theo các tiêu chuẩn nói trên, nếu có đủ tiêu chuẩn thì chọn vào nghiên cứu
Giải thích rõ cho đối tượng mục đích của nghiên cứu, thời gian của cuộc phỏng vấn, nếu đối tượng đồng ý tham gia mới tiến hành phỏng vấn
Thời điểm phỏng vấn: trước khi làm thủ thuật NHT và ngay sau lúc làm xong
được thông tin chính xác
2.2.7 Xử lý số liệu: Số liệu được nhập và phân tích bằng chương trình phần mềm Epi-info 6.04 để tính tỷ lệ % và test thống kê x” được sử dụng trong tìm mối liên quan
2.3 Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 03 cơ sở có làm NHT
do ngành y tế thực hiện (Bệnh viện huyện, PKĐKKV Đông Phong và Trạm y tế
xã Yên Trung)
2.4 Thời gian nghiên cứu: Từ 1/6 đến hết 31/7 năm 2003
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu Mọi thông tin mà đối tượng cung cấp hoàn toàn được giữ kín Sau khi phỏng vấn, đối tượng vẫn có thể từ chối kết quả phỏng vấn Nghiên cứu được thông qua lãnh đạo ngành y tế và các ban ngành có liên quan của huyện trước khi tiến hành và kết quả nghiên cứu được thông báo lại cho địa phương, giúp địa phương đưa ra những giải pháp nhằm giảm tỷ lệ NHT.
Trang 3831
2.6 Han ché cua dé tai
Nghiên cứu về NHT là một vấn đề nhậy cảm nên có thể gặp sai số trả lời Cách khắc phục:
- Điều tra viên: là nữ giới; có kiến thức về SKSS; có khả năng thuyết phục được người khác; được tập huấn thuần thục về kỹ năng và nội dung phỏng vấn
- Phải giải thích rõ mục đích của nghiên cứu cho đối tượng nghiên cứu
- Mọi thông tin được giữ kín
- Có phòng riêng để phỏng vấn
- Công tác giám sát trong khâu thu thập số liệu phải chặt chẽ
- Bộ công cụ nghiên cứu phải được thử nghiệm và chỉnh sửa cho phù hợp với thực
tế ở địa phương
Thời gian nghiên cứu ngắn (02 tháng) lại rơi vào mùa vụ cho nên bộ số liệu thu thập được không cho phép tiến hành so sánh sự khác nhau giữa 03 cơ sở làm dịch vụ NHT ở địa phương
2.7 Một số khái niệm áp dụng trong nghiên cứu
2.7.1 Có thai ngoài ý muốn: là có thai trong khi không hề mong muốn kể cả không đúng lúc
2.7.2 Nạo, hút thai: là thủ thuật để đình chỉ thai nghén, trong nghiên cứu này chỉ nghiên cứu ở những phụ nữ tuổi thai dưới 12 tuần (/ính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng)
2.7.3 Biện pháp tránh thai: là các can thiệp tác động lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ Các BPTT thường áp dụng là thuốc, hoá chất, thiết
bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa cát đứt đường đi ngăn can tinh tring gặp trứng, hoặc các nỗ lực của các cá nhân nhằm tránh thụ thai Biện pháp tránh
thai giúp cho cá nhân và các cặp vợ chồng thực hiện KHHGPĐ [2]
2.7.4 Các BPTT hién dai dang được cung cấp, bán ở địa phương và phụ nữ ở địa
phương áp dụng: dụng cụ tử cung (vòng TCu 380A và vòng Multiload 375SL);
thuốc tránh thai uống loại Ideal, TTT tiêm loại DMPA; bao cao su nam; đình sản nam, nữ
2.7.5 Các BPTT truyền thống đang được phụ nữ ở địa phương áp dụng: tính vòng
kinh (Ogino-Knaus); xuất tính ngoài âm đạo
Trang 39Độ tuổi của các phụ nữ đến NHT phân bố theo hình chữ U ngược, tăng dần từ
độ tuổi 20-24, tập trung nhiều ở độ tuổi từ 30-34 và giảm xuống ở tuổi > 40
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn:
học vấn > THPT (13,1%) và phụ nữ không biết chữ có tỷ lệ không đáng kể (0,4%)
Khi chia trình độ học vấn theo nhóm, ở nhóm phụ nữ có trình độ học vấn < THCS chiếm tỷ lệ 86,9% còn lại 13,1% có trình độ học vấn > THPT
Trang 40> 2 con trai 113 41,1
Chưa có con gái 9] 33,1