Ngành dược đã có nhiều nỗ lực trong sản xuất và kinh doanh thuốc đảm bảo chất lượng, hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế của nhân và bảo vệ được sức khỏe của công nhân lao động.. Tuy
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYÊN HỮU THĂNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG
VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE
CÔNG NHÂN CÔNG TY DƯỢC PHẨM TRAPHACO
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 2LOT CAM ON
Để hoàn thành được luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Ban giám hiệu, phòng đào tạo và quản lý sinh viên, phòng Điều phối các
khoa, phòng, các thày cô giáo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên của trường Dai
học y tế công cộng đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
- TS Nguyễn Thị Hồng Tú - Phó Vụ trưởng Vụ Ÿ học dự phòng - Bộ Y tế
Giảng viên Bộ môn y tế công cộng trường Đại học y Hà Nội đã dành nhiều thời eian
và công sức hướng dẫn và chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
- Lãnh đạo và cắn bộ công nhân Công ty Dược phẩm Traphaco, Trung tâm y
tế quận Ba Đình cùng các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời
Trang 4a 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CÚU - SE SE S308 8 885555881 85531 1115551531 55sE2 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2 ST SEE 1111582111111 1n 4 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHAP NGHIEN CUU 22 Đối tượng nghiên cứu . - -‹- c1 1211111311511 52 51x52 22
THIẾT KẾ TSHIếH;GỮU, Toyi lá 6x p2 008nsbnie D0 ssezyeslissesiyninerrmionabd 23 Một số khái niệm và định nghĩa trong nghiên cứu 24
KET QUA NGHIÊN CỨU 2 22t St E32 SE 238 S58 1232221551151 E55 55c 37
THÔN, Hi: đ0)i HƯỢNNG cauuáa ng op ca exeaw nha gi H1 0c sua ch diS48gg Q251v6 06g le seyedaioi 27 Kết quả đo môi trường lao động
và nhận xét chủ quan của công nhân về MTLĐ -:z: 32 Tình hình sức khoẻ của cán bộ công nhân qua 4 tuần 36
NA" ớơớAốơốn cố ốc ẽnố ốc 47 Thông tin chung của công ty dược phẩm Traphaco . . : 47 Kết quả thực trạng môi trường lao động và đánh giá chủ quan của CBCN Voi NỊ 127) sa sesgsipogEvUlfExsysnuasassaragsEb tee mueremray tuo asctiaencl ST 49
Trang 5Việt Nam đang trên đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá để hoà hợp với các nước trong khu vực và trên thế giới Qua nhiều khó khăn thử thách, đến nay tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao (7%/năm) Sức khoẻ của nhân dân tăng lên rõ rệt cả về thể chất lẫn tinh thần, đây cũng là thắng lợi lớn của ngành y tế trong đó có ngành công nghiệp dược Sức khỏe đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước, chính vì vậy mà công tác dược đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo
Sau xoá bỏ bao cấp ngành dược chuyển sang cơ chế thị trường đối mặt với cơ sở vật chất thiếu thốn, lạc hậu phải cạnh tranh với nhiều hãng thuốc trên thế giới Thực hiện quyết định số 1516/QĐÐ - BYT ngày 09 tháng 09 năm
1999 của Bộ trưởng Bộ y tế, về triển khai áp dụng các nguyên tắc tiêu chuẩn
“Thực hành tốt sản xuất thuốc” Thực hiện thông tư số 13 / TT - BYT ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ y tế, về hướng dẫn thực hiện quản lý vệ sinh lao động, quản lý sức khỏe người lao động, bệnh nghề nghiệp và vệ sinh
an toàn lao động đối với cơ sở sản xuất Ngành dược đã có nhiều nỗ lực trong sản xuất và kinh doanh thuốc đảm bảo chất lượng, hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế của nhân và bảo vệ được sức khỏe của công nhân lao động
Trong những năm qua nhiều công ty dược phẩm đã tìm ra hướng đi đúng trong sản xuất và kinh doanh, như cổ phần hoá công ty, đào tạo chuyên môn trong và ngoài nước, nhập dây truyền sản xuất hiện đại, triển khai áp dụng các nguyên tắc tiêu chuẩn ““Thực hành tốt sản xuất thuốc”(GMP), tiến tới cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên trong hệ thống sản xuất thuốc vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như hạ tầng cơ sở xuống cấp, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, điều kiện lao động của công nhân chưa được đảm bảo nên các công ty dược phẩm thực hiện các qui định của nhà nước còn hạn chế Trong giai đoạn chiếm lĩnh thị trường vốn kinh doanh có hạn mà phải ưu tiên đầu tư các dây truyền sản xuất dẫn tới nhà xưởng không đảm bảo vệ sinh lao động
Trang 6Ở Việt Nam hiện nay có 318 doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh thuốc và nguyên liệu dược Tổng số thuốc được cấp sổ sản xuất lưu hành là 4.500 thuốc(niên giám thống kê y tế năm 1998) với vài trăm loại hoạt chất hoá học dược liệu có nguồn gốc khác nhau, bản chất đa dạng phức tạp có tác dụng sinh học mạnh Chính vì vậy mà ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của người trực tiếp sản xuất Từ thực tế đó, vấn đề sức khỏe của người công nhân ngành dược đang được nhiều tác giả quan tâm
Công ty Dược phẩm Traphaco trước đây là một doanh nghiệp nhà nước, sau năm 1996 chuyển sang công ty cổ phần đã phát huy uy tín và kinh doanh hiệu quả Công ty có 310 cán bộ công nhân đang làm việc, trong đó tuổi trung bình là 32 và số lao động nữ chiếm 2/3 tổng số Hiện nay Công ty có 6 phân xưởng sản xuất trong đó có I phân xưởng đầu tư công nghệ hiện đại đạt tiêu chuẩn GMP Mặc dù tuổi bình quân của CBCN là 32 tuổi, nhưng theo kết quả khám sức khỏe định kỳ hàng năm 2001 và 2002 thì tỷ lệ mắc bệnh chung từ
35 đến 41%, Phân loại sức khỏe loại C chiếm 14,5% Theo kết quả đo MTLĐ của trung tâm y tế lao động Sở Y tế Giao thông vận tảI năm 2002 còn một số mẫu chưa đạt tiêu chuẩn về vi khí hậu , bụi , ôn và hơi khí độc
Tại sao tỷ lệ mắc bệnh cao trong khi tuổi đời bình quân của công nhân còn trẻ? Liệu môi trường lao động có yếu tố nguy cơ nào ảnh hưởng tới sức khoẻ công nhân Công ty Dược phẩm Traphaco? Có khác biệt so với công nhân ngành khác không? Những nguy cơ này có thể phòng ngừa được không?
Hầu như có rất ít nghiên cứu vấn đề này trong các cơ sở sản xuất dược
Để góp phần bảo vệ môi trường lao động cũng như tăng cường chăm sóc sức khỏe cho công nhân lao động ngành dược, chúng tôi tiến hành:
" Nghiên cứu thực trạng môi trường lao động và yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ công nhân Công ty Dược phẩm Traphaco"
Trang 71 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng môi trường lao động và yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ công nhân Công ty Dược phẩm Traphaco
2 Mục tiêu cụ thể
2.1 Mô tả một số yếu tố đặc thù trong môi trường lao động và đặc điểm
cơ cấu bệnh tật của công nhân Công ty Dược phẩm Traphaco
2.2 Xác định mối liên quan của một số yếu tố đặc thù trong môi trường lao động lao động nghề nghiệp gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân Công ty Dược phẩm Traphaco
2.3 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu để xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện môi trường lao động và nâng cao sức khỏe cho CBCN Công ty Dược phẩm Traphaco.
Trang 8TONG QUAN TAI LIEU
Đầu thế kỷ 20 các ngành công nghiệp phát triển với tốc độ cao, di theo
sự phát triển đó là sự gia tăng của các yếu tố độc hại trong môi trường Môi trường lao động ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ công nhân lao động trong tất cả các ngành công nghiệp Ngoài ra hậu quả của môi trường lao động còn ảnh hưởng đến cả những vùng dân cư, có khi trở thành thảm hoạ môi trường
Ví dụ năm 1984, thảm họa lớn nhất trong lịch sử loài người do ô nhiễm môi trường không khí của khí MIC (Methyl- Iso - Cyanate) của liên hiệp sản xuất phân bón Bhopal (Ấn Ðộ) làm 2 triệu người bị nhiễm độc Trong đó 5 ngàn người chết và 50 ngàn người bị nhiễm độc trầm trọng[23]
1 Một số đặc điểm cơ bản về ngành dược Việt Nam
1.1 Thực trạng các công ty dược Việt Nam trước năm 1996
- Khi chuyển sang cơ chế thị trường, ngành dược Việt Nam chậm đổi mới về cơ cấu tổ chức Công tác quản lý chưa theo kịp diễn biến phức tạp và
đa dạng của thị trường thuốc, không kiểm soát được việc cung cấp và sử dụng thuốc Cơ sở hạ tầng cũ kỹ không đồng bộ và trình độ khoa học sản xuất thuốc lạc hậu Công tác nghiên cứu khoa học về dược chưa được quan tâm đúng mức Chính từ lý do đó mà trong giai đoạn này thị trường thuốc thiếu về số lượng, kém về chất lượng Nhập khẩu thuốc chiếm 80% nhu cầu sử dụng Hàng năm ngân sách nhà nước tốn một khoản rất lớn cho nhập khẩu thuốc nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Do cơ chế thị trường, nhiều công ty sản xuất kinh doanh dược phẩm đã đầu tư nhưng chưa có định hướng rõ ràng Đầu tư không đồng bộ trên một cơ sở thô sơ, lạc hậu và phân tán dẫn đến thuốc sản xuất ra không đáp ứng được số lượng, chất
Trang 9đoạn này ngành dược Việt Nam nhập khẩu là chính
1.2 Thực trạng các công ty dược Việt Nam từ năm 1996 đến nay
1.2.1 Ngày 20 tháng 6 năm 1996, Thủ tướng chính phủ đã ký nghị quyết số 37/CP ban hành chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam Trong đó có 2 mục tiêu cơ bản là:
Đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dan
Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả
* Để thực hiện 2 mục tiêu cơ bản trên, chính phủ đã đưa ra 8 nội dung
cơ bản của chính sách quốc gia về thuốc Trong đó có chính sách cụ thể về sản xuất thuốc, nội dung như sau:
- Qui hoạch và tổ chức lại toàn bộ ngành công nghiệp dược trên cơ sở
tập chung, chuyên môn hoá, đầu tư có trọng điểm và phối hợp các thành phần kinh tế phát triển sản xuất thuốc theo kế hoạch phù hợp với từng giai đoạn Sắp xếp lại các đơn vị sản xuất, xây dựng các đơn vị kinh doanh dược phẩm mạnh
- Chỉ đạo và hỗ trợ các các cơ sở sản xuất thuốc phấn đấu đạt tiêu chuẩn
“Thực hành tốt sản xuất thuốc”(GMP) Là viết tất của cụm từ Tiếng Anh
"Good Manufcturing Practices, được dịch ra tiếng Việt Nam là “Thực hành tốt sản xuất thuốc”
+ Mục đích của “Thực hành tốt sản xuất thuốc” là để đảm bảo một cách
chắc chắn rằng sản phẩm được sản xuất một cách ổn định, đạt chất lượng quy
định, phù hợp với mục đích sử dụng đã đề ra
+ GMP đề cập đến mọi khía cạnh của việc sản xuất và kiểm tra chất
lượng thuốc từ khâu kiểm tra chất lượng của sản phẩm đến chất lượng của
nguyên liệu đưa vào sản xuất, bao bì đóng gói, con người, máy móc, trang
Trang 10tốt sản xuất thuốc"
1.2.2 Thực hành tốt sản xuất thuốc tại Việt Nam:
- Ngày 09 tháng 9 năm 1999, Bộ trưởng Bộ y tế đã có quyết định số1516/BYT
về việc triển khai áp dụng dụng các nguyên tắc tiêu chuẩn thực hành tốt sản
xuất thuốc của hiệp hội các nước đông nam á (GMP - ASEAN) Nước ta hiện nay đã có 30 cơ sở đã đạt tiêu chuẩn GMP - ASEAN, trong đó các dây truyền
sản xuất dịch truyền đều đạt tiêu chuẩn và có 8 cơ sở sản xuất thuốc kháng
sinh, 3 cơ sở sản xuất thuốc tiêm cũng đạt tiêu chuẩn GMP Từ tháng 1 năm
2003 các cơ sở sản xuất được phải đạt tiêu chuẩn GMP mới được phép sản xuất các loại thuốc kháng sinh họ Beta - lactam, dịch truyền và thuốc tiêm Tén tại lớn hiện nay là phần lớn ha tang cơ sở và máy móc vẫn chưa được đầu
tư phù hợp với nhu cầu phát triển ngành dư
2 Ảnh hưởng của môi trường sản xuất dược đối với sức khỏe công nhân
Môi trường lao động của công nhân dược phẩm cũng bao gồm những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khoẻ tâm sinh lý của người
lao động[30]
2.1 Ảnh hưởng MTLĐ ngành công nghiệp được tới sức khỏe công nhân
- Hàng năm có khoảng trên 100.000 loại thuốc được sản xuất từ 10.000 loại hóa chất khác nhau[9] Thuốc và hóa chất là một trong những dị nguyên được quan tâm trong ngành dược phẩm Đặc biệt có rất nhiều hóa chất độc hại được sử dụng từ nhiều thập kỷ nay mà không có khuyến cáo cụ thể đối với công nhân dược phẩm.
Trang 11dược có thể gây dị ứng, miễn dịch, rối loan di truyén[41]
+ Đối với dị ứng là khi tiếp xúc với các sản phẩm dược có các hóa chất trong môi trường bụi phát tán Những ảnh hưởng chủ yếu nhận thấy được là nơi mà công nhân tiếp xúc với các sản phẩm kháng sinh và hoócmôn
+ Đối với nội tiết, có thể khi công nhân nam giới tiếp xúc với các Estrogen có thể xuất hiện các dấu hiệu thay đổi giới tính, còn đối với nữ có thể là rối loạn kinh nguyệt, rong kinh, giảm kinh và xuất hiện cả trong giai đoạn mãn kinh Tiếp xúc với các Progesteron đối với nam giới có thể dẫn đến giảm tình dục, xuất tỉnh sớm, đau, sưng tấy dương vật, đái rắt còn ở nữ có thể là rối loạn chức năng buồng trứng, tăng khả năng sảy thai, xuất hiện các dấu hiệu nam tính
Tiếp xúc với các chất Corticoids có thể làm tăng dấu hiệu như tăng cân, mặt tròn tựa mặt trăng, trứng cá, các nốt ban đỏ ở da, huyết áp động mạch
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
- Những nghiên cứu đã cho thấy công nhân ở các xí nghiệp dược thường mắc các bệnh như viêm mũi họng, hen nghề nghiệp, viêm da tiếp xúc, choáng phản vệ, thậm chí có thể mắc các bệnh ung thư [22], [23] Dị ứng thuốc đã được nói đến từ thời thượng cổ gọi là "Bệnh đặc ứng"
Trang 12các hóa chất độc Theo thống kê tại Thụy Điển năm 1991, bệnh
trong ngành dược là 7%, ngành hóa chất là 14,3%, các ngành công nghiệp
khác là 10,5%
- Theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới(1966) cho biết: Sự phát triển
ngày càng nhanh của các sản phẩm thuốc đang dẫn đến sự tăng nhanh tỉ lệ dị
ứng với thuốc Tỷ lệ sốc phản vệ do thuốc ở Châu Mỹ là 10%, ở Châu Âu là 1% Các thông báo dị ứng do thuốc ngày một nhiều, cùng với những trường hợp dị ứng do kháng sinh, các thuốc chống viêm không steroid, huyết thanh, vacxin và vitamin Người ta còn gặp những trường hợp dị ứng với cả thuốc chống đị ứng như kháng Histamin, Corticoids làm cho dị ứng thuốc trở
thành vấn đề thời sự của y học hiện đại
+ Bệnh viêm da tiếp xúc là tình trạng di tng qua trung gian của hệ miễn
dịch ở đa, biểu hiện là các tổn thương lan rộng, kéo dài sau khi ngừng tiếp
xúc, nếu tiếp xúc lâu ngày tổn thương sẽ nặng lên và dẫn đến chàm Phản ứng với các chất kích thích mạnh có thể khởi phát trong vòng vài phút ngay sau lần đầu tiên tiếp xúc Còn đối với các chất kích thích nhẹ có thể xuất hiện sau vài tuần hoặc thậm chí sau vài tháng tiếp xúc liên tục
Tobakova TV và cộng sự(1988), nghiên cứu trên 234 công nhân hoá dược ở Nga, kết quả thấy 7,3% có biểu hiện ban đỏ da, viêm mũi và co that
phé quan Moscato G va cong su (1984), bao cáo có 2 trường hợp hen phế
quản do tiếp xúc với Spiramycin
Ekenvavall L và cộng sự (1978), đã nghiên cứu và nhận thấy có 14 công nhân bi chàm do tiếp xúc với Alprenolol
Soni BP và cộng sự (1996), nghiên cứu thấy viêm da dị ứng tiếp xúc ở
bàn tay của 14 công nhân làm việc tại dây chuyển đóng gói thuốc
Azathioprine
Trang 13lệ xảy thai ở những công nhân trên là 10,9%
Elding và cộng sự(1990), nghiên cứu tỉ lệ mới mắc ung thư của công
nhân có tiếp xúc với hoá chất, được liệu thấy ở nhóm tiếp xúc nhiều có tỷ lệ mới mắc bệnh ung thư đường tiết niệu là 3,5%, còn nhóm ít tiếp xúc không
thấy trường hợp nào mắc Ngoài ra tác giả cũng nhận thấy nguy cơ mắc ung thư phúc mạc, môi, màng phổi khác nhau[39]
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước:
- Phạm Lê Tuấn và cộng sự thấy tỉ lệ dị ứng thuốc ở công nhân dược rất cao 33,9% trong đó kháng sinh nhóm beta-lactam gây dị ứng thì Penicillin có
tỷ lệ cao nhất (56,3%), sau đó Ampicilin (35,4%), Amocillin (7,3%),
Cephalexin (1,0%) Tỷ lệ dị ứng ở công nhân dược tăng theo tuổi nghề Nhóm tuổi từ 35 trở lên tỷ lệ dị ứng với kháng sinh nhóm beta-lactamin cao hơn nhóm tuổi dưới 35 Người có tiên sử dị ứng mắc bệnh cao hơn 2,25 lần nhóm
người không mắc [23]
Phạm Văn Thức(1991), khảo sát tình hình dị ứng thuốc và hoá chất cho
336 công nhân dược phẩm tại Hải Phòng thấy tỷ lệ dị ứng thuốc và hoá chất khá cao (27,67%), trong đó dị ứng thuốc chiếm (12,20%), dị ứng hoá chất chiếm (15,47%) đứng hàng dau 1a bénh mé day, sẩn ngứa và viêm mũi xoang
do OpizZoic, cao sao vàng, nhóm kháng sinh [ 2l ]
3 Ảnh hưởng của MTLĐ tới sức khoẻ công nhân
Vệ sinh lao động là một chuyên khoa của y học lao động Nghiên cứu các yếu tố về vi khí hậu, bụi, hơi khí độc, ồn phát sinh trong MTLĐ ảnh
hưởng của nó tới sức khỏe CN và tìm ra các biện pháp khống chế các yếu tố độc hại của MTLĐ[27]
3.1 Ảnh hưởng vi khí hậu tới sức khoẻ công nhân.
Trang 14Khái niệm vi khí hậu: Là điều kiện khí tượng trong một không gian thu hẹp như một căn phòng, một nhà xưởng sản xuất, một khu làm việc và các yếu
tố của vi khí hậu hậu bao gồm: Nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí, tốc độ chuyển động không khí
Việt Nam thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm Khí hậu nóng không phải là kết quả riêng của điều kiện địa lý mà còn do các phương tiện sản xuất và cường độ lao động của con người tạo nên Theo Vilte, lao động cường độ nặng làm tăng thân nhiệt ngay khi nhiệt độ môi trường mới
22°C, còn ở 32°C thì lao động nhẹ cũng làm tăng thân nhiệt [9]
Lao động trong điều kiện vi khí hậu nóng cơ thể có những biến đổi sinh
lý để thích ứng với môi trường Nếu có một nguyên nhân nào đó gây tích nhiệt
trong cơ thể làm tăng nhiệt độ cơ thể, lượng nhiệt tích lại vượt quá một giới
hạn cho phép sẽ dẫn đến tình trạng bệnh lý Khi thân nhiệt vượt quá 42 °C người ta sẽ chết vì sự biến tính, mất chức năng của các protein trong cơ thể đặc biệt 14 cc protein enzym[38]
Khi lao động ở môi trường nhiệt độ không khí cao hơn nhiệt độ da của
cơ thể thì con đường thải nhiệt chủ yếu là bốc hơi mồ hôi là chính còn qua hơi
thở rất ít Khả năng bốc hơi lại phụ thuộc vào độ ẩm không khí Vì vậy vi khí hậu nóng ẩm gây ra trạng thái căng thẳng nhiệt cho cơ thể Ngay từ 1890
Rubnei đã cho thấy rằng nếu độ ẩm tăng 5% thì cảm giác nóng tương tự như tăng 5°C [42]
Bình thường khi nhiệt độ không khí tăng thì độ ẩm tương đối giảm xuống, nhưng trong một số điều kiện sản xuất do thông khí kém, số người tập chung đông nên độ ẩm tương đối không giảm, làm trở ngại cho quá trình bay hơi mồ hôi Khí hậu nóng ẩm làm hưng phấn thần kinh trung ương như nhức
đầu, hồi hộp khó thở về sau dẫn đến trạng thái ức chế, phản xạ có điều kiện
bị thay đổi, rối loạn mối liên quan giữa kích thích và đáp ứng có điều kiện,
làm thay đổi thính lực, độ nhậy của mất, tăng tần số tim, giãn mạch ngoại vi,
Trang 15hạ huyết áp, tăng lượng máu tâm thu và thể tích máu lưu thông Khí hậu nóng
ẩm còn làm tăng tần số hô hấp, giảm chuyển hoá năng lượng, giảm chức năng
hô hấp, tiêu hoá [37], làm rối loạn chuyển hoá nước, điện giải Khi lao động trong môi trường khí hậu nóng ẩm lượng mồ hôi mất đi rất lớn Lượng mồ hôi bài tiết phụ thuộc vào nhiệt độ không khí, cường độ lao động và sự thích nghỉ của cơ thể với môi trường Brouha.L (1960), thấy rằng người thích nghĩ với
khí hậu nóng lượng mồ hôi bài tiết nhiều hơn và mồ hôi tiết ra sớm hơn, nồng
độ các chất hòa tan trong mồ hôi và ngưỡng ra mồ hôi sẽ thấp hơn người chưa thích nghi Theo nghiên cứu của Belding va Hatch (1955), ở những người chưa thích nghỉ thì ngưỡng ra mồ hôi là 34,5°C còn những người đã thích nghi là 32,7°C, song lượng mồ hôi bài tiết sẽ giảm dan sau vài giờ lao động[39]
Nhưng mức độ bài tiết mồ hôi có xu hướng suy yếu theo thời gian do cơ chế tự bảo vệ [7] Thông thường độ bài tiết mồ hôi khi lao động nặng trong điêu kiện vi khí hậu nóng là 1- 1,5 lí/giờ Theo Aloff (1952), lượng mồ hôi có
thể đạt tới 3,5 lít/giờ khi lao động, trên sa mạc lượng mồ hôi có thể đạt tới 11-
12 lft/ngày Lê Tử Vân nghiên cứu trên công nhân nấu gang lượng mồ hôi bay
hơi có thể đạt tới 1„2 - 1,4 lí/giờ (tiêu chuẩn là 1 Ií/giờ) [12] Tuy nhiên mồ hôi bay hơi kèm theo mất muối và điện giải Nhiều tác giả cũng đã sử dụng
lượng mồ hôi bài tiết để xếp loại mức độ lao động Lao động nhẹ lượng mồ hôi bài tiết 200 ml/giờ, lao động trung bình lượng mồ hôi bài tiết 200-300 ml/giờ, lao động nặng lượng mồ hôi bài tiết 300-400 ml/giờ và rất nặng
400m1/giờ[43]
Những công nhân làm việc ở các phân xưởng nóng, lượng mồ hôi bài tiết tăng gấp 10 lần so với điều kiện khí hậu bình thường Khi lao động đến suy kiệt thì lượng mồ hôi giảm mặc dù nhiệt độ cơ thể tiếp tục tăng Tiến hành cho đối tượng lao động tiếp tục 6 giờ trong điều kiện nhiệt độ rất cao, thấy có hiện tượng rối loạn thân kinh trung ương, trung khu điều nhiệt, chuyển hoá muối nước, lượng mồ hôi giảm từ 10-80%[39]
Trang 16Lao động lâu đài trong điều kiện vi khí hậu nóng rất dễ gây nên rối loạn
chức năng hệ thần kinh thực vật, cơ quan tạo máu, rối loạn quá trình chuyển
hóa trong các cơ quan hoặc bộ phận, tăng nguy cơ thiếu máu cục bộ cơ tim, Kali trong tế bào cơ tim giảm có thể làm thay đổi siêu cấu trúc tế bào cơ tim Ngoài ra bức xạ nhiệt còn có thể làm rối loạn tính thấm màng tế bào làm thay đổi tỉ lệ của các điện tích trong màng hồng cầu và trong huyết tương làm thay đổi hoạt tính của các men, làm xuất hiện những chất có tính kháng nguyên do
đó có thể làm tăng qúa trình tự miễn dịch [15], [9] Quan sát trên những phụ
nữ có tiếp xúc với nhiệt độ cao của ngành kính xây dựng thấy hàng loạt sự
thay đổi bên vững trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương như rối loạn giấc ngủ, đau đầu, mệt mỏi, làm giảm cường độ của các phản xạ có điều
kiện, giảm trí nhớ, giảm phản ứng của cơ thể là nguyên nhân giảm khả năng
và năng suất lao động [10] Khi lao động trong điều kiện vi khí hậu nóng thải
nhiệt bằng bay hơi mồ hôi là con đường duy nhất giúp cho cơ thể thải nhiệt ra
môi trường để đảm bảo cho cơ thể giữ được trạng thái nhiệt Ổn định
- Các tác giả nghiên cứu tác động của nhiệt độ cao kết hợp với các yếu tố khác: Bụi, tiếng ồn, lao động nặng nhọc làm tăng tỷ lệ bệnh hô hấp, tiêu hoá, tim mạch, thần kinh:
Sachicop và Nicovep (1977), thấy trong điêu kiện có tác động phối hợp của nhiệt độ cao (370C và 399C) và tiếng ôn gây biến đổi rõ rệt về huyết áp ở tất cả các lứa tuổi nam, nữ [8]
Cacmaborop và cộng sự (1974), nhận thấy tác động phối hợp của nhiệt
độ cao và tiéng 6n 93,7dBA làm khả năng chú ý giảm 4,8%, khả năng lao động giảm từ 11,4%-13,2%, sai sót trong lao động tăng lên 3,75 lần [8]
Theo Petrop V.A.(1988), trong môi trường lao động có nhiệt độ cao 260C - 340C, nồng độ bụi 2,6 - 7,5mg/mỶ và nồng độ chì trong không khí là
0,004 - 0,02 mg/mỶ.
Trang 17Theo Lê Trung(1990), Tần số mạch có thể xem như là một chỉ tiêu đơn giản để kiểm tra gánh nặng nhiệt đối với cơ thể khi nhiệt độ hậu môn tang 1°C thì tần số mạch tăng khoảng 33 nhịp/phút{ 10]
Để đánh giá về trạng thái căng thẳng nhiệt cũng như tình trạng hệ tim mach người ta thường theo dõi tần số mạch trước, trong, sau lao động và thời gian phục hồi mạch sau lao động Nếu tần số mạch sau giờ nghỉ thứ nhất là 110 nhịp/phút, sau đó 3 phút tần số mạch giảm đi 10 nhịp/phút thì tim không có hiện tượng gắng sức quá mức[37]
Nguyễn Mạnh Liên(1981), Nghiên cứu sức khoẻ của công nhân đúc gang thấy tần số mạch trong lao động lên tới 140 nhịp/phút nhưng sau lao động vẫn phục hồi bình thường và giới hạn an toàn của tần số mạch là 140 nhịp/phút đối với người lao động trong điều kiện nhiệt độ cao[ 18]
3.2 Ảnh hưởng của bụi:
* Bui 1a những hạt rắn, có kích thước rất nhỏ từ 0,001 đến 100 micromet [5] lơ lửng trong không khí Có rất nhiều yếu tố quyết định tác hại của bụi đối với cơ thể như đặc tính lý hoá, điều kiện lao động, bản chất của bụi
- Sự ngưng tụ các hạt rắn trong không khí: Do các hơi kim loại bốc lên gap ô xy của không khí, tạo thành những hạt ôxyt kim loại rất nhỏ, lơ lửng trong không khí, trong tập hợp này bụi được gọi là khí dung ngưng kết
- Sự nghiền nát cơ học các vật rắn: Là cơ chế bụi phổ biến và trong tập hợp này bụi được gọi là khí dung phân toả
Tính chất lý hoá của hạt bụi:
- Kích thước và độ khuyếch tán của hạt bụi là điều kiện cơ bản, để phát sinh ra những tính chất khác nhau của nó Kích thước của hạt bụi quyết định tính chất lan toả của hạt bụi và thời gian của bụi trong không khí [5] Những hạt bụi có đường kính nhỏ hơn 0,1 micron trong thực tế không bao giờ lắng xuống, chúng luôn chuyển động trong không khí theo kiểu chuyển động
Trang 18Brao, chúng chỉ có thể lắng xuống trong trường hợp chúng kết hợp với nhau
thành những hạt to hơn[{S], [18] Người ta cũng đã làm thí nghiệm và xác định
rằng, khi không khí chuyển động thì những hạt bụi có kích thước dưới 2 micron coi như không bị lắng xuống, điều này làm tăng khả năng lan tỏa của bụi rất nhiều
- Điện tích của bụi: Những hạt bụi là kim loại mang điện tích âm, bụi không phải là kim loại mang điện tích dương Điện tích ảnh hưởng đến độ vững bền của hạt bụi và khả năng xâm nhập của bụi vào cơ thể Sự có mặt trong không khí các hạt bụi có điện tích cùng dấu sẽ khiến chúng đẩy nhau, khó kết hợp với nhau để thành những hạt bụi lớn hơn lắng xuống Ngược lại
những hạt bụi trong không khí có điện tích trái dấu có thể trung hoà và dễ kết hợp với nhau thành những hạt bụi lớn hơn và lắng xuống [5],[18]
- Tác hại của bụi rất đa dạng, tuỳ theo đặc tính của bụi và điều kiện tiếp xúc
+ Với cơ quan hô hấp khi hít thở không khí có nhiều bụi, lâu ngày mũi
bị viêm dẫn đến khả năng lọc bụi của mũi bị giảm nhiều và hiện tượng viêm khí phế quản cấp tính hay gặp ở người tiếp xúc với không khí có nhiều bụi
[18] Theo tài liệu của nhiều tác giả, khi thở bằng mũi thì lượng bụi giữ lại lớn
(40 -50%), còn khi thở bằng miệng khả năng giữ bụi kém hơn nhiều Khi bụi hít vào phổi, lượng bụi bị giữ lại ở phế nang tuỳ thuộc kích thước của hạt bụi
và nồng độ bụi trong không khí Nguy hiểm nhất là những hạt bụi có kích
thước từ I- 5 micromet Theo Phùng Văn Hoàn, Nguyễn Thị Thu (1992), yếu
tố bụi kết hợp với vi khí hậu nóng ẩm, làm thay đổi cơ cấu bệnh tật Khám trực tiếp trên 100 công nhân thấy tỷ lệ viêm mũi 71%, viêm họng 100%, viêm phế quản mạn 100%, ở phổi bụi gây các bệnh bụi phổi Ngoài ra bụi còn gây
tổn thương các cơ quan khác.
Trang 19* Theo thống kê của WHO hàng năm có 146.000 người chết vì các
bệnh do bụi môi trường lao động gây ra, trong số 32,7 triệu người lao động:
Bụi than phổi chiếm 8,3- 44,8%; bụi phổi chiếm 5,0 - 30,0% [21]
+ Đối với mất: Bụi gây ra viêm kết mạc, gây sẹo giác mạc, giảm thị lực + Đối với da: Bụi bịt các lỗ tuyến nhờn trên mặt da, làm cho da bị khô, gây viêm da, lở loét bụi còn chứa vi khuẩn, vi rút, sợi nấm gây ra các bệnh khác nhau Bụi chứa các dị nguyên có thể gây ra các dị ứng [35], bệnh ngoài
da chiếm tỷ lệ 28,5%; 5,25%)[24]
Ở nước ta trong danh mục 21 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm đã có tới
3 bệnh nghề nghiệp do bụi gây ra Trong đó bệnh bụi phổi silic chiếm tỉ lệ cao nhất Theo số liệu tính đến năm 1988, trong số 4.652 trường hợp bệnh nghề nghiệp giám định có tới 4.184 trường hợp mắc bệnh bụi phổi silic, chiếm tỉ lệ 89,94% Cũng theo tác giả trong 20 năm gần đây bệnh bụi phổi silic mới được nghiên cứu rộng rãi trong số 8.000 bệnh nhân mắc bệnh nghề nghiệp được giám định thì tỉ lệ bệnh bụi phổi silic bao giờ cũng dao động trong khoảng tỉ
lệ 89 - 91%[38]
3.3 Ảnh hưởng của hơi khí độc:
Công nghiệp ngày càng phát triển, việc sử dụng hoá chất trong trong các ngành công nghiệp ngày càng nhiều do đó số người tiếp xúc với chất độc ngày một tăng
Các hơi khí độc có thể tác động lên da, niêm mạc nhưng quan trọng nhất
là hơi khí độc qua đường hô hấp được hấp thu vào máu, bạch huyết từ đó đi đến các mô và cơ quan trong cơ thể Đối với nhiễm độc mãn tính, điều đáng chú ý không phải lượng tuyệt đối các chất tiếp xúc mà là thời gian và nhịp độ tiếp xúc
Nhiễm độc cấp tính CO được coi là một tai nạn rất nguy hiểm, khi vào
cơ thể, CO sẽ nhanh chóng chiếm Hemoglobin của Oxyhemoglobin và đẩy
Oxy ra khỏi hợp chất này CO có ái lực với Hemoglobin mạnh hơn Ôxy với
Trang 20Hemoglobin 300 lan nên quá trình vận chuyển oxy của máu nhanh chóng bị đình trệ[35]
Khí NO khi vào máu tác động lên Hemoglobin biến nguyên tử sắt có Fe++ thành sắt Fe+++, làm cho Hemoglobin thành Methemoglobin và không
có khả năng vận chuyển Ôxy[35]
Khí CO, ở nồng độ cao có thể gây liệt hô hấp dẫn tới tử vong[35] Chất độc xâm nhập vào cơ thể gây nên các biến đổi sinh lý, sinh hoá, phá vỡ thế cân bằng sinh học, gây rối loạn chức năng sống bình thường, dẫn tới trạng thái bệnh lý của các cơ quan, hệ thống và toàn bộ cơ thể gây ra những nhiễm độc cấp tính và mạn tính nghề nghiệp Chất độc có trong MTLĐ liên quan chặt chẽ với nghề nghiệp đó là chất độc nghề nghiệp và bệnh do chất độc đó gây ra gọi là nhiễm độc nghề nghiệp [31]
Xét quá trình phát sinh một bệnh nghề nghiệp ta thấy tác hại nghề nghiệp tác động trong 3 giai đoạn:
- Tiếp xúc nghề nghiệp nhưng còn trong giới hạn bù trừ Người công nhân hoàn toàn khỏe mạnh
- Tiếp xúc quá mức, bệnh xuất hiện ở thể dưới lâm sàng Người công nhân gần như hoàn toàn khoẻ mạnh, song thực chất đã có tổn thương Bệnh thường lẫn với các bệnh thông thường khác
- Bệnh thể hiện trên lâm sàng: Đây là những người mắc bệnh nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp ở giai đoạn này gần như khả năng hồi phục rất ít hoặc không còn khả năng hồi phục và có thể tử vong
Đánh giá bệnh nghề nghiệp có biểu hiện lâm sàng giống với bệnh không do nghề nghiệp:
- Bệnh xảy ra sau một thời gian dài tiếp xúc, có thể vài chục năm Trừ một số nhiễm độc cấp tính và bệnh dị ứng
- Rất nhiều yếu tố nghề nghiệp và không do nghề nghiệp cùng tác động trong quá trình phát sinh bệnh nghề nghiệp đặc trưng hoặc bệnh có liên quan
Trang 21đến nghề nghiệp Đa số các trường hợp bị bệnh nghề nghiệp và bệnh liên quan đến nghề nghiệp bị các thây thuốc lâm sàng bỏ qua hoặc không biết đó là bệnh nghề nghiệp
3.4 Ảnh hưởng cuả tiếng ôn:
Tiếng ồn là nguyên nhân gây ra nhiều trạng thái bệnh lý, trong đó đặc biệt là bệnh điếc nghề nghiệp (Lê Trung - 1990; Phạm Đắc Thuỷ 1991)[6] Tại các nước công nghiệp, cùng với sự phát triển nhanh của các tổ hợp công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp và đường giao thông thì tỷ lệ người bị suy nhược thần kinh do tiếng ôn ngày một tăng Tại Pháp cứ 5 người bị bệnh thần kinh nói chung thì có 1 người suy nhược thần kinh do tiếng ồn (Raymond
H.K,1977) [43] Theo thống kê của hội chống ồn thế giới (AICB), tại các nước
công nghiệp phát triển có từ 1/4 đến 1/3 số người phải lao động và làm việc trong môi trường có tiếng ồn ở mức gây hại [17]
Theo Rhor D(1969), tiếng ồn còn có tác hại về mặt tâm lý, gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, làm mất suy nghĩ, mất tập trung chú ý, mất ngủ, làm cho dễ nhầm lẫn, thiếu chính xác[35]
Tiếng ồn về mặt vật lý: Âm học là tạp âm, tạo bởi những dao động có biên độ và tần số khác nhau và cường độ của chúng luôn luôn thay đổi Tất cả những dao động của chúng đều không có hệ thống, không có trật tự [8], [18]
Tiếng động muốn nghe được phải có tân số và cường độ nhất định Vẻ tần số, tai người có thể cảm nhận được âm thanh có dải tần từ 16 - 20.000 Hz Dưới khoảng này là vùng hạ âm, trên khoảng này là siêu âm tai người đều không cảm nhận được nhưng chúng vẫn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
Về cường độ âm, tai người cảm nhận được ở các tần số không giống nhau, mỗi một đải tần có một cường độ tối thiểu riêng Nếu tiếng ồn dưới cường độ
tối thiểu thì tai người không nghe thấy Ngược lại, nếu cường độ cao hơn giới hạn tối đa thì cũng không nghe thấy mà chỉ thấy áp lực đè vào tai [23], [31]
Trang 22Về tác động của tiếng ồn trên cơ thể người đã được viết từ năm 1967 Trong những tài liệu về bệnh nghề nghiệp, một triệu chứng được nêu lên hồi
bấy giờ là ù tai[7]
Jansen(1967), nghiên cứu trên 699 công nhân luyện thép tiếp xúc với tiếng ồn thấy hay cãi cọ nhau, xung đột trong gia đình và ở nơi làm việc Về mặt sinh lý, tiếng ồn gây mệt mỏi toàn thân: Nhức đầu, choáng váng, ăn mất ngon, gầy yếu, rối loạn thân kinh thực vật như nhịp tim tăng, hô hấp tăng, huyết áp thay đổi[23]
Đầu thế kỷ 19 người ta đã gặp điếc ở công nhân tán đinh rivê, sau đó
đến năm 1831 gặp bệnh điếc ở thợ rèn, giữa thế kỷ 19 bệnh điếc được phát
hiện ở công nhân đường sắt, thợ dệt
Những năm 80 của thế kỷ này, điếc nghề nghiệp được xếp vào hàng cuối danh sách bệnh nghề nghiệp, được bảo hiểm ở một số nước công nghiệp phát triển Đến nay, điếc nghề nghiệp đã đứng ở nhóm hàng đâu trong các bệnh nghề nghiệp và có khuynh hướng gia tăng Theo thống kê của Trung tâm
y học lao động ở Cộng hoà dân chủ Đức từ năm 1969 đến 1973, điếc nghề nghiệp chiếm 52% tổng số bệnh nghề nghiệp Việt Nam, bệnh điếc nghề nghiệp đã được phát hiện ở các ngành giao thông vận tải, xây dựng, công nghiệp nặng và nhẹ cho đến Năm 1998, trong tổng số bệnh nhân mắc bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, số trường hợp điếc nghề nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng 10% [35]
3.5 Ảnh hưởng của ánh sáng
Ánh sáng tác động nhiều nhất vào cơ quan thị giác, gặp nhiều là bệnh cận thị do thiếu ánh sáng Ngoài ra_còn gặp ở một số cơ quan như cơ xương khớp, da liễu, tâm thân kinh Thiếu ánh sáng làm than kinh căng thẳng hay bị tai nạn trong lao động, hiệu quả sản xuất giảm Ở Việt Nam tỷ lệ bệnh cận thị biến đổi theo cụm dân cư, theo nghề nghiệp Ở công nhân tổng đài chiếm tỷ lệ 28,33%[26]
Trang 23Các trường học nghiên cứu của Nguyễn Văn Liên (1998), tại Nam Định cho thấy
tỷ lệ cận thị trong học sinh ở các trường của Thành phố Nam Định (13,3%) cao hơn nhiều tỷ lệ cận thị ở các trường vùng Nông thôn (3,9% [12]
4 Những nét cơ bản về công ty dược phẩm Traphaco
Trước khi cổ phần hoá doanh nghiệp, công ty dược phẩm Traphaco đã và đang là một doanh nghiệp nhà nước có uy tín trên thị trường Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của công ty ngày càng tăng, vì vậy nguồn nhân lực của Công ty
cũng tăng lên đáng kể cả về chất lượng và số lượng Do vậy khi chuyển đổi sang công ty cổ phần, Traphaco không có lao động dư đôi và đã thu hút thêm được nhiều lao động có trình độ cao Cán bộ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ 35% tổng số cán bộ công nhân viên Lao động trong công ty sau khi cổ phân hoá đã được đào tạo nâng cao trình độ để được phù hợp với công nghệ mới, có tỉnh thân lao động kỷ luật cao đáp ứng lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá
Đặc biệt hiện nay công ty đã xây dựng được một hội đông quản trị, ban giám đốc có trình độ, có trách nhiệm và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh Mặt khác công ty cũng chọn cho mình một đội ngũ cán bộ công nhân viên đều có trình độ và khả năng đáp ứng được yêu cầu của công việc
Nhiệt tình, lại có tuổi đời khá trẻ ( bình quân là 32 tuổi), được bố trí sắp xếp
làm việc hợp lý Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để công ty sản xuất ra sản phẩm có số lượng, chất lượng ngày càng cao đáp ứng được nhu cầu
sử dụng của người dân
4.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần TRAPHACO
4.1.1 Bộ máy quản lý
- Hội đồng quản trị: Gồm 5 thành viên đều có trình độ đại học và trên đại học
- Ban giám đốc : Gồm một giám đốc điều hành, hai phó giám đốc phụ trách kinh doanh và công tác tổ chức.
Trang 244.1.2 Khối văn phòng (gồm 6 phòng ban):
- Phân xưởng Sơ Chế: Là phân xưởng xử lý chế biến các nguồn được liệu
thành sản phẩm đưa trực tiếp vào thành phẩm thuốc Đây là phân xưởng lao động nặng nhọc nhất trong các phân xưởng của công ty
- Phân xưởng Xuân La: Phân xưởng này nằm trên địa bàn xã Xuân La, bao gồm sản xuất các loại thuốc ống, thuốc bột và thuốc mỡ Đây là phân xưởng có cơ sở hạ tầng chưa hiện đại và môi trường lao động còn có yếu tố chưa đảm bảo vệ sinh lao động
-Phân xưởng Tây y: Đây là phân xưởng sản xuất chủ yếu thuốc tân dược như nước súc miệng TB, một số thuốc kháng sinh và thuốc mỡ Đây là phân xưởng có điều kiện lao động chật chội, nóng
- Phân xưởng Thực nghiệm: Là phân xưởng sản xuất đông dược, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế nhưng lại sản xuất ra những sản phẩm có giá trị và đem lại hiệu quả kinh tế cao
- Phân xưởng Viên hoàn: Là phân xưởng SX thuốc đông dược Cơ sở hạ tầng và đây truyền sản xuất khá hiện đại
4.1.4 Biên chế chính thức:
Trang 254.2 Quy trình sản xuất tại từng phân xưởng: ( ó phán xưởng)
4.2.1 Phan xưởng Viên nén : ( GMP)
- Hoạt động : Công đoạn trộn —>Tạo hạt —> Sấy -> Dập viên hoặc đóng nang-> ÉP vỉ ->Đóng gói
4.2.2 Phân xưởng Tây y và Xuân la (nhóm không đạt GMP) gôm phân xưởng: Hoạt động : Trộn —> Đóng ống, đóng tuýp, đóng chai lọ tuỳ theo từng loại sản phẩm
4.2.3 Phân xưởng đông dược:
- Phân xưởng thực nghiệm : Trộn -—»Tao vién —» Sdy—» Đóng gói
- Phân xưởng viên hoàn
Tron —» Hoàn mềm——> Sấy —> Đóng gói
- Phân xưởng sơ chế : Tuỳ theo từng loại dược liệu mà sơ chế khác nhau
Trang 26CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
MTLĐ và công nhân đều Phân thành 4 nhóm nghiên cứu:
+ Nhóm đạt tiêu chuẩn GMP: Là phân xưởng sản xuất viên nén đạt tiêu chuẩn GMP hay còn gọi là phân xưởng GMP (Nhém 1)
+ Nhóm không đạt tiêu chuẩn GMP: Là phân xưởng SX thuốc tây nhưng không đạt tiêu chuẩn GMP: Gồm phân xưởng Thuốc tây và phân xưởng
Xuân La (Nhóm II)
+ Nhóm phân xưởng sản xuất đông dược: Là những phân xưởng sản xuất thuốc có nguồn gốc thảo dược, bao gồm phân xưởng Thực nghiệm, phân xưởng Viên hoàn và phân xưởng Sơ chế (Nhóm 111)
+ Nhóm đối chứng(bộ phận hành chính): Bao gồm 6 phòng ban lao động gián tiếp (Nhóm IV)
- Nhóm đối chứng(Cán bộ gián tiếp sản xuất): Bao gồm tất cả những cán bộ chỉ đạo và nhân viên hành chính
2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm: Tại tất cả các phòng ban và PX của Công ty dược phẩm Traphaco
- Thời gian: Từ 01 tháng 04 năm 2003 đến 30 tháng 9 năm 2003
Trang 273 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích so sánh
3.2 Mẫu nghiên cứu
* Các yếu tố môi trường lao động:
- Mỗi phân xưởng lấy mẫu từ 5 - 6 vị trí cho một yếu tố
- Mỗi vị trí lấy 3 mẫu
* Với sức khỏe bệnh tật CBCN: (Lấy mâu toàn bộ không kể hợp đông thời vụ)
-_ Công nhân: Có 225
- Nhóm so sánh: Có 75
3.3 Phương pháp thu thập số liệu:
* Phương pháp thu thập số liệu môi trường lao động :
- Đơn vị tính các yếu tố(theo thường qui của YHLĐ) bao gồm:
+ Vi khí hậu: Nhiệt độ (°C), độ ẩm(%) và tốc độ gió(m/s)
+ Yếu tố vật lý: Ánh sáng (Lux)
+ On (dBA)
+ Bụi: Nồng độ bụi hé hap (mg/m?)
+ Hơi khí độc: CO2(%,), CO(mg/ lit không khí)
* Các phương pháp đo đạc, lấy mẫu và đọc kết quả theo thường quy kỹ thuật của y học lao động, cụ thể:
+ Các yếu tố vi khí hậu trong khu vực sản xuất: Được đo đầu ca, giữa
ca, cuối ca và đo đồng thời ở trong và ngoài nhà sản xuất ở các vị trí khác nhau của phân xưởng
+ Nhiệt độ không khí được xác định bằng nhiệt kế khí tượng thủ ngân + Tốc độ chuyển động của không khí được đo bằng máy ISA - 67
+ Độ ẩm của không khí được xác định bằng máy HANNA + SIBATA + Đo ánh sáng khu vực lao động trong phân xưởng bang may: LX 3131
ISO - TECH - ILM 350.
Trang 28+ Áp suất âm thanh: Đo bằng máy RION - NL 04, do sai s6 + 1dB + Phương pháp định lượng bụi trong không khí: Xác định bằng phương pháp hút Kanomax - 3511 dựa vào sự lọc lại các hạt bụi có kích thước <
50 micromet trên giấy lọc lấy mẫu, đem cân giấy lọc trước và sau khi lấy mẫu bụi ta tính được trọng lượng bụi
+ Phương pháp xác định nồng độ CO;, CO bằng bơm AP, với các loại ống phát hiện hơi khí độc nhanh
*Phương pháp thu thập số liệu súc khoẻ cán bộ công nhân
- Phỏng vấn tình hình mắc bệnh của CBCN qua 4 tuần bằng bộ câu hỏi
đã thiết kế sẵn
- Lấy số liệu qua KSKĐK năm 2003
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm thống kê EPI - INEO 2002
3.5 Một số khái niệm và định nghĩa trong nghiên cứu
* GMP:
Là viết tắt của cụm từ Tiếng Anh “Good Manufcturing Practices”, được
dịch ra tiếng Việt Nam là "Thực hành tốt sản xuất thuốc”
- Mục đích của “Thực hành tốt sản xuất thuốc” là để đảm bảo một cách chắc
chắn rằng sản phẩm được sản xuất một cách ổn định, đạt chất lượng quy định, phù hợp với mục đích sử dụng đã đề ra
- GMP đề cập đến mọi khía cạnh của việc sản xuất và kiểm tra chất lượng thuốc
- Quản lý mọi khía cạnh của việc sản xuất và kiểm tra chất lượng thuốc: Trong vài thập niên gần đây, trên thế giới đã có nhiều biến chuyển liên quan đến
quan niệm về kiểm tra chất lượng và đảm bảo chất lượng Nếu trong quá khứ
các nhà sản xuất thuốc chỉ chú trọng khâu kiểm tra chất lượng của sản phẩm thì ngày nay họ rất quan tâm đến chất lượng của nguyên liệu đưa vào sản xuất, bao bì đóng gói tiếp xúc trực tiếp đến sản phẩm, con người, máy móc, trang
Trang 29thiết bị, nhà xưởng, môi trường và hồ sơ tài liệu Tất cả những vấn đề đó được
khái quát và tiêu chuẩn thành những nguyên tắc, tiêu chuẩn của “Thực hành
tốt sản xuất thuốc" Việc quản lý mọi khía cạnh của việc sản xuất và kiểm tra chất lượng thuốc bao gồm :
+ Con người(cán bộ và công nhân): Phải được đào tạo huấn luyện để
nắm vững và thao tác thành thục các quy định của GMP, từ việc mặc trang phục bảo hộ lao động đến các quy trình thao tác trong sản xuất, kiểm tra chất lượng và đóng gói
+ Nhà xưởng phải được xây dựng hợp lý theo quy trình sản xuất vệ
sinh và an toàn
+ Máy móc trong sản xuất kiểm nghiệm phải định kỳ kiểm tra, kiểm
định, bảo dưỡng để đảm bảo sản xuất kiểm tra chất lượng chính xác theo đúng yêu cầu
+ Một vấn đề đặc biệt được quan tâm trong GMP, đó là vệ sinh môi trường
Không khí cung cấp vào khu vực sản xuất phải được kiểm soát về nhiệt
độ, độ ẩm, vi sinh vật, bụi, hơi khí độc Môi trường trong sản xuất phải được đảm bảo không bị ô nhiễm không khí từ ngoài vào, ngược lại không bị ô
nhiễm từ trong ra
* Công nhân(CN): Bao gồm tất cả những người trực tiếp sản xuất thuốc không
kể quản đốc phân xưởng và lao động khác tại công ty
* Lao động gián tiếp: Là những người không trực tiếp sản xuất tại các phân xưởng như quản đốc, thợ điện, cán bộ phòng chất lượng, cán bộ phòng nghiên
Trang 30* Mắc bệnh trong 4 tuần qua: Là công nhân trước 4 tuần được tính từ ngày phỏng vấn mà bị mắc bất kỳ bệnh nào đó phải dùng thuốc để điều trị
* Chấn thương trong lao động: Là những sang chấn từ nhẹ đến nặng xảy ra trong khi đang làm việc tại công ty mà có bầm tím hay chảy máu
* Thu nhập: Là tổng cộng lương trung bình trong 1 tháng của CBCN tại công ty Thu nhập cao là = > 1.000.000đ/ tháng, thu nhập khá là từ
500.000đ < 1.000.000đ và thu nhập thấp là < 500.000đ/ tháng
* Phân loại bệnh, dựa theo phân loại bệnh của Bộ y tế ban hành năm 1976, về
hồ sơ quản lý sức khỏe người lao động trong các doanh nghiệp
* Bệnh đị ứng là một bệnh biểu hiện do sự kết hợp giữa kháng nguyên với
kháng thể Dị ứng thuốc là bệnh biểu hiện khi công nhân tiếp xúc với thuốc, bệnh biểu hiện vị trí nào và mức độ năng nhẹ tùy theo phản ứng của cơ thể
* Bệnh chung: Là người công nhân biết mắc bất kể một hoặc nhiều bệnh nào
đó mà đã được cán bộ y tế chẩn đoán.
Trang 31CHUONG II
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 THÔNG TIN CHUNG
1.1.Bảng 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
Trang 32- Nhóm tuổi của CBCN từ 20 đến < 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 49,7% và trong nhóm tuổi này chiếm cao nhất ở nhóm đông dược 17%
- Nhóm tuổi Từ 31 đến < 45 tuổi chiếm tỷ lệ 47%, trong nhóm này chiếm tỷ
lệ cao nhất là nhóm đông dược 21%
- Nhóm > 46 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,3% Đặc biệt ở nhóm GMP và
nhóm không đạt GMP không có đối tượng thuộc nhóm tuổi này
1.2.Bảng 2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới
Trang 33
1.3.Bảng 3: Phân bố số năm tiếp xúc của CBCN với MTLĐ
` al Tr6-<15nam >l5năm Nam tiép xtie
Biểu đồ 3: Số năm tiếp xúc với môi trường lao động tại phân xưởng
Nhận xét:
- Nhóm tiếp xúc < 5 năm với MTLĐ là 62,1%, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhóm
- Nhóm tiếp xúc từ 6 đến < 15 năm với MTLĐ chiếm tỷ lệ 34,5%
- Nhóm tiếp xúc > 15 năm với MTLĐ chiếm 3,4%, thấp nhất trong các nhóm
Trang 351.5.Bảng 5: Đánh giá chủ quan của CN về điều kiện vệ sinh và bảo hộ lao
Điều kiện vệ sinh, CN có đánh giá là đây đủ
SIT bảo hộ lao động (n = 300)
Nước Nhàtm Nhàvệ Cham Quando Mũ Khẩu ĐKSH-Bảo hộ
sinh hoạt sinh sóc y tế trang
Biểu đồ 5: Điều kiện sinh hoạt và bảo hộ tại phân xưởng
Nhận xét :
- Nước sinh hoạt , nhà tắm và nhà vệ sinh CBCN cho công nhân còn thiếu đạt
cao nhất là 68%.
Trang 362 KẾT QUẢ ĐO MTLĐ VÀ MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ CHỦ QUAN CỦA CBCN
GMP 74,75 | 73,13 - 76,37 | 0,196 0,192 - 0,197 30,13 26,2 - 34,0 (n= 18)
Nhóm
KDGMP 68,50 | 66,66 - 69,16 | 1,188 | 0,302 - 1,423 34,2 32,23 - 36,0 (n= 21)
+ Tại nhóm phân xưởng đông dược có phòng rây bột là 0,220m/s
+ Tại nhóm phân xưởng KĐGMP có phòng nấu dịch philatop là 0,302m/s
và phòng trưng cất nước là 0,304m/s
- Nhiệt độ không khí vượt TCCP:
+ Tại nhóm phân xưởng kđGMP có phòng trưng cất nước là 36°C
+ Tại nhóm phân xưởng đông dược có phòng sấy viên hoàn là 34,2°C
Trang 37eee < 0,03mg/lit >100 Lux )
Nhóm đạt
GMP 002 | 001-003 | 0,82 | 0,56-1,04 | 415,4 | 395,3 - 435,5 (n= 18)
Nhóm
KDG MP (n= | 0,001 | 0,0078-1,16 | 1,03 | 0,34-2,56 | 452,4 | 362,0- 484,6 21) 8
Nhóm đông
Duce (n= 21) | 0,021 | 0,012- 0,024 | 0,34 | 0,33-0,35 | 391,0 | 345,4 - 445,0
Nhóm so
sánh 0,01 | 0,009-0,02 | 0,04 | 0,03 - 0,05 355 352 - 358 (n=12)
Nhận xét:
- Nồng độ khí CO vượt TCVSLĐCP: Tại nhóm phân xưởng KĐGMP có
phòng nấu dịch Philatop nồng độ khí CO là 1,16 mgilit và tại phòng trưng cất
nước là 0,28 mg/lit
- Nồng độ khí CO; vượt TCVSLĐCP: Tại nhóm phân xưởng KĐGMP có
phòng nấu dịch philatop khí CO; là 2,56°/qạ và phòng trưng cất nước là
1,07/,-
- Tất cả các mẫu đo ánh sáng đều > 100Lux, đạt TCVSLĐCP
Trang 38Yếu tố bụi hô hấp và tiếng ồn
Nồng độ bụi hô hấp Mức ôn
Nhóm đạt GMP
(n= 18) 1,68 1,56 - 2,0 76,84 61,01 - 85 Nhóm
KDGMP (n= 21) 1,44 0,28 - 1,85 79,71 66,42 - 93,0 Nhóm đông Dược
+ Tại khu trưng cất nước của phân xưởng Xuân La tiếng ồn là 93,0 dBA
+ Tại phòng sấy của phân xưởng Viên hoàn tiếng ồn là 91,6 đBA
Trang 392.2 Một số đánh giá chủ quan của CBCN về MTLĐ
Bảng 9: Một số đánh giá chủ quan của công nhân về môi trường lao động
Hơi khí Hệthống Bụihô Hethong Ổn Ánhsáng Nóng Nhận xét
độc húthơi hấp hútbụi (Nhiệt độ)
khí độc
Biểu đồ 6: Nhận xét chủ quan của công nhân về một số yếu tố trong MTLĐ
Nhận xét:
Qua đánh giá chủ quan của công nhân, các yếu tố trong MTLĐ nổi lên
vấn đẻ nóng, ôn, hơi khí độc và bụi còn nhiều ý kiến cho là chưa đạt tiêu
chuẩn cho phép (18 - 27,67%) Đa số nhận xét về ánh sáng là đạt tiêu chuẩn
cho phép(92,66%)
Trang 402 TÌNH HÌNH SỨC KHỎE BỆNH TẬT CỦA CÁN BỘ CÔNG NHÂN QUA
4 TUẦN VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ QUA KHÁM SỨC KHỎE ĐỊNH KY
3.1 Một số kết quả qua KSKĐK
3.1.1.Bảng 10: Xếp loại thể lực của CBCN
- _ Tổng tỷ lệ sức khỏe loại I và loại II là 76,62%
-_ Sức khỏe loại IV và loại V là o%