Cùng với thị trường vốn và thị trường lao động, thị trường bất động sản là một trong những thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào của quy trình sản xuất hàng hóa.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA BẤT ĐỘNG SẢN VÀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN
Đề tài nghiên cứu khoa học :
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG
SẢN TRONG NƯỚC
Trang 2
MỞ ĐẦU
I – Lý do nghiên cứu
Cùng với thị trường vốn và thị trường lao động, thị trường bất động sản là mộttrong những thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào của quy trình sản xuất hànghóa Đó là những thị trường hết sức quan trọng với nền kinh tế đất nước Trướcđây khi mà nền kinh tế nước ta còn áp dụng mô hình kinh tế tập trung thì các thịtrường này hầu như không phát triển Tuy nhiên trong vòng vài thập niên gần đây,khi mà đổi mới nền kinh tế diễn ra năm 1986, đã có sự bùng nổ kinh tế mạnh mẽ.Các ngành kinh tế phát triển tăng vọt, các thị trường sôi động với số lượng vốn đầu
tư vào ngày càng lớn và chất lượng đầu tư ngày càng tăng Thời kỳ 1993 – 1997Việt Nam đã kiềm chế lạm phát thành công, và tốc độ tăng trưởng cũng tăng nhanhchóng Nhưng ngay sau đó cuộc khủng hoảng tiền tệ từ Thái Lan năm 1997 đã ảnhhưởng tới nền kinh tế Việt Nam khiến cho kinh tế tăng trưởng chậm lại trong năm
1998 – 1999 Dù vậy nền kinh tế của Việt Nam lại trở lại đà tăng trưởng bắt đầu từnăm 2000, tuy nhiên cũng có lúc nền kinh tế rơi vào giảm phát và thiểu phát, cácnăm 2007, 2008 lạm phát luôn duy trì ở 2 con số
Tuy nhiên trong vài năm gần đây, khi mà cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
nổ ra khiên nền kinh tế Việt Nam đã chững lại Tuy là một trong những nước thoát
ra khỏi khủng hoảng nhanh nhất thế giới, nhưng hậu quả của cuộc khủng hoảng đểlại cho nền kinh tế vẫn là hết sức nặng nề khi mà lạm phát tăng cao, giá tiêu dùngtăng vọt Bên cạnh đó, việc trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giớiWTO đã khiến cho việc các doanh nghiệp nước ngoài tham gia các thị trường ViệtNam dễ hơn bao giờ hết khi mà các hàng rào thuế quan đã bị gỡ bỏ, sự bất bìnhđẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài không còn nữa.Các doanh nghiệp Việt Nam vốn quen được nhà nước bảo hộ đã gặp phải rất nhiềukhó khăn khi sự bảo hộ này không còn và họ phải cạnh tranh trực tiếp với cácdoanh nghiệp nước ngoài
Cùng nằm trong vòng xoáy thị trường đó thì các doanh nghiệp bất động sản ViệtNam cũng không phải là ngoại lệ Khi sự bảo hộ của nhà nước không còn, cácdoanh nghiệp bất động sản trong nước đang lúng túng trước việc cạnh tranh bìnhđẳng với các doanh nghiệp nước ngoài có nhiều ưu thế hơn Chính điều đó khiếncho rất ít các doanh nghiệp trong nước có thể khẳng định chính mình ở thị trườngtrong nước Và điều này là một tổn thất rất lớn cho ngành kinh doanh bất động sản
ở Việt Nam khi mà lợi nhuận từ ngành này mang lại là quá lớn
Tuy nhiên một thực tế cho thấy rằng hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam cókhông ít cơ hội để vươn lên tự khẳng định chính mình, và cũng đã có những doanhnghiệp thành công như : Tập đoàn phát triển nhà và đô thị - HUD hay tổng công ty
Trang 3xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam – Vinaconex, Đây là những doanh nghiệp
đã và đang xây dựng cho mình hướng phát triển dài hạn, tận dụng mọi tiềm lực đểcạnh tranh với các công ty nước ngoài và họ hoàn toàn có thể tự tin khi cạnh tranhvới những đối thủ đó Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều những công ty nhỏ lẻ đanghoạt động dè chừng trên thị trường Đây là lực lượng tiềm năng của ngành kinhdoanh bất động sản Việt Nam Họ tuy yếu, thiếu rất nhiều nhưng họ lại chiếm sốlượng lớn trên thị trường Nếu có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của họ, giúp họđứng vững trên thị trường thì ngành kinh doanh bất động sản Việt Nam có thể hoàntoàn tự tin khi mà các hàng rào thuế quan, sự bất bình đẳng giữa trong nước vànước ngoài đang được tháo gỡ dần, và tự tin khi phải cạnh tranh bình đẳng với cácdoanh nghiệp đến từ các quốc gia giàu có trên thế giới
II – Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu chung của đề tài là “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp bất động sản trong nước” đề tài tập trung vào nghiên cứu
hoạt động của các doanh nghiệp bất động sản trong nước và nước ngoài hiện đanghoạt động trên thị trường Việt Nam nhằm tìm ra thế mạnh, cơ hội mà các doanhnghiệp bất động sản trong nước đang có và những thách thức, nguy cơ mà cácdoanh nghiệp này đang gặp phải, thực trạng sức cạnh tranh trên thị trường và nănglực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước Qua đó tìm ra những biện pháp,giải pháp khắc phục phần nào điểm yếu và tìm kiếm nhiều cơ hội nhằm giúp cáchdoanh nghiệp bất động sản trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để
có thể cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp bất động sản nước ngoài
III – Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Hoạt động của các doanh nghiệp bất động sản trên thị trường là rất nhiều,nhưng trong phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng tớinăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam đang có và đanggặp phải Bên cạnh đó đề tài cũng tập trung nghiên cứu tạo ra mô hình liên kết cácdoanh nghiệp bất động sản để tăng sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp nàyvới các doanh nghiệp đến từ nước ngoài
Mặt khác do thị trường bất động sản Việt Nam là quá rộng và do trình độ còn
có hạn nên đề tài chỉ tập trung phân tích các doanh nghiệp đang hoạt động trênthị trường Hà Nội, nơi mà thị trường phát triển khá sớm và hiện đang là một trongnhững thị trường bất động sản sôi động đang thu hút được sự chú ý của các nhà đầu
tư và có sảnh hưởng to lớn tới nền kinh tế
Trang 4Đối tượng nghiên cứu cụ thể của đề tài là những điểm mạnh, cơ hội mà cácdoanh nghiệp bất động sản trong nước đang có, và điểm yếu, thách thức mà các
doanh nghiệp này đang gặp phải Bên cạnh đó là việc áp dụng mô hình outsoursing
vào các doanh nghiệp bất động sản trong nước để nâng cao khả năng cạnh tranhcủa họ
Các phương pháp mà đề tài dùng để nghiên cứu là phương pháp thu thập sốliệu, thống kê, tổng hợp số liệu, phương pháp tổng kết từ thực tiễn để làm phongphú và sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận
Bên cạnh đó để có thể nắm hết nội dung của đề tài cần nghiên cứu các mô hìnhliên quan được sử dụng trong đề tài như SWOT, OUTSOURCING
IV – Hạn chế của đề tài
Do trình độ còn có hạn nên trong đề tài còn rất nhiều hạn chế :
- Trong đề tài chúng tôi chỉ đề cập đến một số các doanh nghiệp của thịtrường BĐS Việt Nam là các doanh nghiệp bất động sản đang hoạt động trên thịtrường Hà Nội và điều này khiến cho nghiên cứu không mang tính khái quát trên cảnước
- Có thể tồn tại những sai sót trong khi thu thập số liệu từ những trang webkhông phải của Việt Nam và chưa được đánh giá sự tin cậy
- Trong việc tạo ra mô hình liên kết chúng tôi vẫn còn có tồn tại nhữngkhó khăn chưa giải quyết được
Và còn những hạn chế khác mà chúng tôi chưa nhận ra rất mong nhận được
ý kiến phản hội từ độc giả
Và cũng từ lúc này trong đề tài nói đến doanh nghiệp trong nước tức là nói đếncác doanh nghiệp bất động sản trong nước, doanh nghiệp nước ngoài là nói tới cácdoanh nghiệp bất động sản nước ngoài đang hoạt động trên thị trường bất động sản
Hà Nội, TTBĐS là nói tới thị trường bất động sản và BĐS là nói tới bất động sản
và nói tới thị trường là nói tới thị trường bất động sản
V – Nội dung của đề tài
Chương 1 : Lý luận chung
1.1, Lý luận chung về BĐS
1.1.1 Khái niệm BĐS
Trang 51.2.4, Các yếu tố ảnh hưởng tới TT BĐS
1.3, Các mô hình sử dụng trong đề tài
1.3.1, Mô hình SWOT
1.3.2, Mô hình OUTSOURCING
Chương 2 : Thực trạng chung các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường
BĐS Hà Nội 2.1 Đánh giá chung TT BĐS Việt Nam
2.2 Thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam
2.2.1 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp
2.2.2 Tác động của WTO và lạm phát lên doanh nghiệp
2.2.3 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua SWOT
2.3 Thực trạng các doanh nghiệp nước ngoài
2.3.1 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp
2.3.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua SWOT
Chương 3 : Mô hình liên kết các doanh nghiệp theo hướng đầu tư năng lực cốt lõi
Chương 4 : Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệptrong nước 4.1 Một số kinh nghiệm từ các công ty lớn trên thế giới
Trang 64.2 Các biện pháp về liên kết, chuyên môn hóa, xây dựng thương hiệu
Chương 1 – Một số vấn đề về TT BĐS
1.1.Lý luận chung về BĐS
1.1.1Khái niệm về BĐS
BĐS là những tài sản gắn liền với cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội,
là một phần quan trọng cảu mỗi quốc gia Đó là một phần không thể thiếu trong mọi hoạt động của con người
Từ thời La Mã cổ đại người ta đã phân loại tài sản thành “bất động sản” và
“động sản”, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất Bấtđộng sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những
gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi bất động sản (BĐS)gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của mỗi nước cũng có những nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm phân loại và tiêu chí phân loại, tạo ra cái gọi là “khu vực giáp ranh giữa hai khái niệm bất động sản và động sản”
Hầu hết các nước đều coi BĐS là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều 517,
518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp, Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga, Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức…) Tuy nhiên, Nga quy định cụ thể bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung Việc ghi nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung là bộ phận của lãnh thổ, không thể là đối tượng của giao dịch dân sự
Tuy nhiên, mỗi nước lại có quan niệm khác nhau về những tài sản “gắn liền” với đất đai được coi là BĐS Điều 520 Luật Dân sự Pháp quy định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là BĐS, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản” Tương tự, quy định này cũng được thể hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ Trong khi đó, Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “BĐS là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai” Luật Dân sự Đức đưa ra khái niệm BĐS bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất
Trang 7Như vậy, có hai cách diễn đạt chính: thứ nhất, miêu tả cụ thể những gì được coi là “gắn liền với đất đai”, và do vậy là BĐS; thứ hai, không giải thích rõ về khái
niệm này và dẫn tới các cách hiểu rất khác nhau về những tài sản “gắn liền với đất đai”
Luật Dân sự Nga năm 1994 quy định về BĐS đã có những điểm khác biệt đáng
chú ý so với các Luật Dân sự truyền thống Điều 130 của Luật này một mặt, liệt kê
tương tự theo cách của các Luật Dân sự truyền thống; mặt khác, đưa ra khái niệm chung về BĐS là “những đối tượng mà dịch chuyển sẽ làm tổn hại đến giá trị của chúng” Bên cạnh đó, Luật này còn liệt kê những vật không liên quan gì đến đất đainhư “tàu biển, máy bay, phương tiện vũ trụ…” cũng là các BĐS
Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, tại Điều
174 có quy định: “BĐS là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định”.
Như vậy, khái niệm BĐS rất rộng, đa dạng nhưng nói chung có một quan điểm thống nhất là “BĐS là những tài sản gắn liền với đất đai và không di dời được” và theo đó BĐS bao gồm : đất đai nhưng phải là đất đai không di dời được, đất đai đó phải được đo lường bằng giá trị thể hiện qua số lượng và chất lượng của đất; nhà ở
và các công trình gắn liền với đất đai: là nhà cửa, các trung tâm thương mại, các văn phòng khách sạn Và đặc biệt là các tài sản khác gắn liền không thể tách với công trình xây dựng đó: máy điều hoà, các máy móc thiết bị điều khiển hoạt động của công trình; các tài sản khác gắn liền với đất đai như: vườn cây, ao cá, chuồng trại chăn nuôi, cánh đồng làm muối, các hầm mỏ khoáng sản
1.1.2 Đặc điểm của BĐS
1.1.2.1 Tính cá biệt và khan hiếm:
Đặc điểm này của BĐS xuất phát từ tính cá biệt và tính khan hiếm của đất đai Tính khan hiếm của đất đai là do diện tích bề mặt trái đất là có hạn Tính khan hiếm
cụ thể của đất đai là giới hạn về diện tích đất đai của từng miếng đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thổ v.v Chính vì tính khan hiếm, tính cố định và không di dời được của đất đai nên hàng hoá BĐS có tính cá biệt Trong cùng một khu vực nhỏ kể cả hai BĐS cạnh nhau đều có những yếu tố không giống nhau Trên thị trường BĐS khó tồn tại hai BĐS hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí không gian khác nhau kể cả hai công trình cạnh nhau và cùng xây theo một thiết kế Ngay trong một toà cao ốc thì các căn phòng cũng có hướng và cấu tạo nhà khác nhau Ngoài ra, chính các nhà đầu tư, kiến trúc sư đều quan tâm đến tính dị biệt hoặc để tạo sự hấp dẫn đối với khách hàng hoặc thoả mãn sở thích cá nhân v.v
1.1.2.2 Tính bền lâu:
Trang 8Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên được xem như
không thể bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp Đồng thời, các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tạo nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa Vì vậy, tính bền lâu của BĐS là chỉ tuổi thọ của vật kiến trúc và công trình xây dựng Cần phân biệt “tuổi thọ vật lý” và “tuổi thọ kinh tế” của BĐS Tuổi thọ kinh tế chấm dứt trong điều kiện thị trường và trạng thái hoạt động bình thường mà chi phí
sử dụng BĐS lại ngang bằng với lợi ích thu được từ BĐS đó Tuổi thọ vật lý dài hơn tuổi thọ kinh tế khá nhiều vì nó chấm dứt khi các kết cấu chịu lực chủ yếu của vật kiến trúc và công trình xây dựng bị lão hoá và hư hỏng, không thể tiếp tục an toàn cho việc sử dụng Trong trường hợp đó, nếu xét thấy tiến hành cải tạo, nâng cấp BĐS thu được lợi ích lớn hơn là phá đi và xây dựng mới thì có thể kéo dài tuổi thọ vật lý để “chứa” được mấy lần tuổi thọ kinh tế Thực tế, các nước trên thế giới
đã chứng minh tuổi thọ kinh tế của BĐS có liên quan đến tính chất sử dụng của BĐS đó Nói chung, tuổi thọ kinh tế của nhà ở, khách sạn, nhà hát là trên 40 năm; của tuổi thọ kinh tế nhà xưởng công nghiệp, nhà ở phổ thông là trên 45 năm v.v Chính vì tính chất lâu bền của hàng hoá BĐS là do đất đai không bị mất đi, không
bị thanh lý sau một quá trình sử dụng, lại có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, nên hàng hoá BĐS rất phong phú và đa dạng, không bao giờ cạn
1.1.2.3 Tính chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau:
BĐS chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn, giá trị của một BĐS này có thể bị tác
động của BĐS khác Đặc biệt, trong trường hợp Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng sẽ làm tăng vẻ đẹp và nâng cáo giá trị sử dụng của BĐS trong khu vực đó Trong thực tế, việc xây dựng BĐS này làm tôn thêm vẻ đẹp và
sự hấp dẫn của BĐS khác là hiện tượng khá phổ biến
1.1.2.4 Các tính chất khác:
a Tính thích ứng:
Lợi ích của BĐS được sinh ra trong quá trình sử dụng BĐS trong quá trình sử
dụng có thể điều chỉnh công năng mà vẫn giữ được những nét đặc trưng của nó, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng trong việc thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, sản xuất-kinh doanh và các hoạt động khác
b Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý:
Hàng hoá BĐS đòi hỏi khả năng và chi phí quản lý cao hơn so với các hàng hoá
thông thường khác Việc đầu tư xây dựng BĐS rất phức tạp, chi phí lớn, thời gian dài Do đó, BĐS đòi hỏi cần có khả năng quản lý thích hợp và tương xứng
c Mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội:
Hàng hoá BĐS chịu sự chi phối của các yếu tố này mạnh hơn các hàng hoá thông
thường khác Nhu cầu về BĐS của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia là rất khác nhau, phụ thuộc vào thị hiếu, tập quán của người dân sinh sống tại đó Yếu tố tâm lý xã hội, thậm chí cả các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh v.v chi phối nhu cầu và hình thức BĐS
1.1.3 Vai trò của BĐS:
Trang 9BĐS có một vai trò vô cùng to lớn, nó là thành phần sống, là điều kiện cơ bản tối thiểu cho đời sống con người Cụ thể:
BĐS cung cấp nơi cư trú cho con người Nó là nguồn tư liệu sản xuất đặc biệt, bảo đảm cho quá trình sản xuất và tái sản xuất phát triển Đặc biệt, khi mà ngày nay chất lượng đời sống của con người được nâng cao thì BĐS là cơ sở cho cho cáchoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người
BĐS là một giá trị tài sản rất lớn Theo ước tính, tổng giá trị các BĐS nhà ở hiệnnay của Việt Nam tương đương khoảng 350 tỷ USD, gấp 5 lần GDP và đó là một con số rất lớn Bên cạnh các BĐS nhà ở, các công trình thương mại, công nghiệp, BĐS công cộng cũng có giá trị không nhỏ Do vậy, tổng giá trị BĐS là một con số khổng lồ
1.2 Khái quát về TT BĐS
1.2.1 Khái niệm TT BĐS
Khi sản xuất hàng hóa ra đời đã kéo theo nền sản xuất hàng hóa BĐS hình thành
và phát triển Loại hàng hóa này được mang ra mua bán trao đổi và từ đó hình thành TT BĐS Do đó nói tới TT BĐS là nói tới một nền sản xuất hàng hóa bào gồm : nhà cửa, công trình xây dựng, công trình kiến trúc và các tài sản khác gắn liền với đất Nền sản xuất hàng hoá này phát triển tới một mức độ nhất định Các hàng hoá BĐS được đem ra mua bán, trao đổi thể hiện thông qua hình thức tiền – hàng, tới một mức độ phát triển nhất định thì TT BĐS cũng đã hoàn thiện và phát triển
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về đối tượng và nội dung hoạt động của thị trường BĐS Cụ thể là: ý kiến thứ nhất cho rằng, TT BĐS với TT đất đai là một, vì tài sảnphải gắn liền trên đất mới là BĐS; ý kiến thứ hai cho rằng TT BĐS là thị trường nhà đất cả về giá trị và số lượng; ý kiến thứ ba cho rằng thị trường BĐS là các hoạt động mua bán trao đổi, cho thuê, thế chấp theo quy luật của nền kinh tế thị trường.Các ý kiến trên đều có cơ sở và luận điểm hợp lí và đúng đắn, tuy nhiên chưa đầy
đủ và khái quát Thị trường BĐS nên được hiểu khái quát như sau: "TT BĐS
là tổng thể các quan hệ giao dịch về BĐS dựa trên các quan hệ hàng hoá, tiền tệ diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định Trong cách diễn đạt thông thường, khái niệm thị trường BĐS thường được nhắc đến là nơi diễn ra các quan hệ
về giao dịch BĐS Đó là những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau
để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ BĐS được giao dịch Trong cách diễn dịch này, khái niệm "nơi” không phải đơn thuần chỉ là địa điểm mà nó bao hàm các yếu tố khi các quan hệ về giao dịch BĐS diễn ra
1.2.2 Đặc điểm của TT BĐS
Trang 101.2.2.1 Hầu hết ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường, thị trường BĐS đều hình thành và phát triển qua 4 cấp độ: sơ khởi, tập trung hoá, tiền tệ hoá và tài
chính hoá
Thứ nhất, cấp độ sơ khởi: Đó là giai đoạn của tất cả mọi người đều có thể tạo lập
được nhà của mình Giai đoạn này chỉ cần có một mảnh đất là có thể hình thành nên một cái nhà và được coi là BĐS Trong cấp độ này, các chính sách về đất đai, các chủ đất và các cơ quan quản lý đất đai đóng vai trò quyết định
Thứ hai, cấp độ tập trung hoá: Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng
Trong giai đoạn này, do hạn chế về đất đai, do hạn chế về năng lực xây dựng, không phải ai cũng có thể hình thành và phát triển một toà nhà, một BĐS lớn, một
dự án BĐS Trong cấp độ này, các chính sách về xây dựng và các doanh nghiệp, cơquan quản lý xây dựng đóng vai trò quyết định
Thứ ba, cấp độ tiền tệ hoá: Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng Lúc
này, sự bùng nổ của các doanh nghiệp phát triển BĐS, do hạn chế về các điều kiện bán BĐS, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ tiền để phát triển BĐS cho tới khi bán ra được trên thị trường Trong cấp độ này, các ngân hàng đóng vai trò quyết định trong việc tham gia vào dự án này hoặc dự án khác Các chính sách ngân hàng, các ngân hàng và các cơ quan quản lý về ngân hàng đóng vai trò quyết định
Thứ tư, cấp độ tài chính hoá: Khi quy mô của thị trường BĐS tăng cao và thị
trường phát triển mạnh, do những hạn chế về nguồn vốn dài hạn tài trợ cho thị trường BĐS, các ngân hàng hoặc không thể tiếp tục cho vay đối với BĐS hoặc sẽ đối mặt với các rủi ro Lúc này, các ngân hàng phải tài chính hoá các khoản cho vay, các khoản thế chấp cũng như các khoản tài trợ cho thị trường nhằm huy động
đa dạng hoá các nguồn vốn Trong cấp độ, các thể chế tài chính, các chính sách tài chính, các tổ chức tài chính và các cơ quan quản lý tài chính là những chủ thể có vai trò quyết định
Có thể thấy rằng, không nhất thiết mỗi một nền kinh tế, mỗi một thị trường BĐS đều tuần tự trải qua từng nấc, từng cung bậc như trên Cũng không nhất thiết các cấp độ phát triển thị trường phải có giai đoạn như nhau về thời gian Cũng không nhất thiết, các cấp độ phát triển của thị trường phải là kết thúc giai đoạn này rồi mới chuyển sang giai đoạn khác Các nền kinh tế, nhất là các nền kinh tế đã phát triển qua cả 4 cấp độ từ rất lâu Chẳng hạn như Úc và New Zealand, các tài sản BĐS đã được chứng khoán hoá với tỷ lệ rất cao Các nước có nền kinh tế chuyển đổi đều áp dụng chủ yếu là liệu pháp “sốc”, tức là áp dụng đồng loạt tất cả các cơ chế, chính sách theo chuẩn của các nền kinh tế thị trường nên hiện nay, thị trường BĐS cũng đã ở cấp độ tài chính hoá Trung Quốc cũng đang chuẩn bị chuyển qua giai đoạn tài chính hoá thị trường BĐS
1.2.2.2 Trong mỗi cấp độ phát triển của thị trường BĐS, quá trình vận động của thị trường đều có chu kỳ dao động tương tự như nhiều thị trường khác.
Trang 11Chu kỳ dao động của thị trường BĐS gồm có 4 giai đoạn: phồn vinh (sôi động), suy thoái (có dấu hiệu chững lại), tiêu điều (đóng băng) và phục hồi (nóng dần lên
có thể gây “sốt”) Chẳng hạn như thị trường BĐS nước Mỹ trong khoảng 1 thế kỷ (1870-1973) trải qua 6 chu kỳ dao động, bình quân mỗi chu kỳ khoảng 18 năm; thị trường BĐS nước Nhật từ năm 1956 đến nay trải qua 4 chu kỳ, mỗi chu kỳ khoảng
10 năm; thị trường BĐS Hồng Kông từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay đã có
8 chu kỳ dao động, chu kỳ ngắn hạn là từ 6-7 năm, dài là 9-10 năm, trung bình là
8-9 năm Thị trường BĐS Trung Quốc tuy hình thành chưa lâu nhưng từ năm 18-978 đến nay cũng đã có 4 chu kỳ dao động, trong đó đáng chú ý có chu kỳ cực ngắn (1992-1994), tăng trưởng “phi mã” trong 2 năm 1992- 1993 rồi suy sụp rất nhanh trong năm 1994
1.2.2.3 Thị trường BĐS mang tính vùng, tính khu vực sâu sắc và không tập trung, trải rộng trên khắp các vùng miền của đất nước.
BĐS là một loại hàng hoá cố định và không thể di dời về mặt vị trí và nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố tập quán, tâm lý, thị hiếu Trong khi đó, tâm lý, tập quán, thị hiếu của mỗi vùng, mỗi địa phương lại khác nhau Chính vì vậy, hoạt động của thị trường BĐS mang tính địa phương sâu sắc
Mặt khác, thị trường BĐS mang tính không tập trung và trải rộng ở mọi vùng miền của đất nước Sản phẩm hàng hoá BĐS có “dư thừa” ở vùng này cũng không thể đem bán ở vùng khác được Bên cạnh đó, mỗi thị trường mang tính chất địa phương với quy mô và trình độ khác nhau do có sự phát triển không đều giữa các vùng, các miền, do điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội khác nhau dẫn đến quy mô và trình độ phát triển của thị trường BĐS khác nhau Thị trường BĐS ở các đô thị có quy mô và trình độ phát triển kinh tế cao thì hoạt động sôi động hơn thị trường BĐS ở nông thôn, miền núi v.v
1.2.2.4 Thị trường BĐS chịu sự chi phối của yếu tố pháp luật.
BĐS là tài sản lớn của mỗi quốc gia, là hàng hoá đặc biệt, các giao dịch về BĐS tác động mạnh mẽ đến hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội Do đó, các vấn đề về BĐS đều sự chi phối và điều chỉnh chặt chẽ của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật riêng về BĐS, đặc biệt là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đấtđai và nhà ở Đặc điểm này đặc biệt đúng ở nước ta do thị trường đất đai cấp I (thị trường sơ cấp- giao đất và cho thuê đất) là chịu tác động nhất bởi các quyết định của Nhà nước Chính phủ các nước trên thế giới đều quan tâm đến BĐS và thị trường BĐS, luôn điều chỉnh chính sách về BĐS và thị trường BĐS nhằm huy độngcác nguồn lực về BĐS phục vụ các mục tiêu phát triêể kinh tế-xã hội
1.2.2.5 Thị trường BĐS là một dạng thị trường không hoàn hảo (thông tin không đầy đủ, thiếu 1 số tổ chức của thị trường).
Trang 12Đặc điểm này xuất phát từ những đặc trưng riêng của mỗi vùng, chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên cũng như truyền thống và tập quán, thị hiếu, tâm lý xã hội trong quá trình sử dụng BĐS
Thậm chí, ngay trong bản thân các thị trường địa phương, sự hiểu biết về các giao dịch cũng không hoàn hảo, người mua và người bán thường thiếu thông tin liên quan đến những giao dịch trước
Sự tác động của Nhà nước là một trong các yếu tố tạo nên tính không hoàn hảo của thị trường BĐS Bất kỳ Nhà nước nào cũng đều có sự can thiệp vào thị trường BĐS ở các mức độ khác nhau, trong đó chủ yếu là đất đai để thực hiện các mục tiêuphát triển chung BĐS có tính dị biệt, tin tức thị trường hạn chế, đất đai trên thị trường sơ cấp phụ thuộc vào quyết định của Nhà nước nên thị trường BĐS là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Mặt khác, thị trường BĐS không hoàn hảo còn do tính chất không tái tạo được của đất, nên thị trường BĐS mang tính độc quyền, đầu cơ nhiều hơn các thị trường hàng hoá khác
1.2.2.6 Thị trường BĐS có mối liên hệ mật thiết với thị trường vốn và tài chính Động thái phát triển của thị trường này tác động tới nhiều loại thị trường trong nền kinh tế.
BĐS là tài sản đầu tư trên đất bao gồm cả giá trị đất đai sau khi đã được đầu tư
Mà đầu tư tạo lập BĐS thường sử dụng một lượng vốn lớn với thời gian hình thành BĐS cũng như thu hồi nguồn vốn dài Khi BĐS tham gia lưu thông trên thị trường BĐS, các giá trị cũng như các quyền về BĐS được đem ra trao đổi, mua bán, kinh doanh v.v giải quyết vấn đề lưu thông tiền tệ, thu hồi vốn đầu tư và mang lại lợi nhuận cho các bên giao dịch Điều này chứng tỏ thị trường BĐS là đầu ra quan trọng của thị trường vốn
Ngược lại, thị trường BĐS hoạt động tốt là cơ sở để huy động được nguồn tài chính lớn cho phát triển kinh tế thông qua thế chấp và giải ngân (Theo thống kê, ở các nước phát triển lượng tiền ngân hàng cho vay qua thế chấp bằng BĐS chiếm 80% trong tổng lượng vốn cho vay)
1.2.2.7 Thị trường BĐS có bản chất là thị trường giao dịch các quyền và lợi ích hợp pháp chứa đựng trong hàng hóa BĐS.
Bởi, đất đai có đặc điểm là không hao mòn hay mất đi, vì vậy các chủ thể tham gia giao dịch hướng tới là các quyền và lợi ích do BĐS đem lại Đây chính
là cơ sở để xác định giá cả của BĐS
1.2.2.8 Cung về BĐS chậm hơn so với biến động về cầu và giá cả BĐS Vì thời gian để tạo lập ra hàng hóa BĐS là tương đối dài.
Trang 13Bởi, để xây dựng các công trình cần phải có thời gian để tìm hiểu thông tin
về đất đai, làm thủ tục chuyển nhượng, xin phép xây dựng, thiết kế, thi công Vấn
đề cung BĐS chỉ có giới hạn nhưng nhu cầu BĐS lại không ngừng tăng Do vậy, cung cầu được coi là không co giãn so với giá cả Cung không kịp cầu sẽ tạo nên những cơn sốt giá cả
Ngoài ra, thị trường BĐS còn có quan hệ trực tiếp với thị trường xây dựng và qua
đó mà bắc cầu tới các thị trường vật liệu xây dựng và đồ nội thất, thị trường lao động v.v dao động của thị trường này có ảnh hưởng lan toả tới sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc dân
Sở dĩ TT BĐS có được khả năng như trên là bởi vì TT BĐS phát triển: sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển; góp phần huy động vốn cho đầu tư và phát triển; tăng thu cho ngân sách nhà nước; mở rộng thị trường trong và ngoài nước; mở rộngquan hệ quốc tế; ổn định xã hội; nâng cao đời sống nhân dân; góp phần đổi mới chính sách đất đai, chính sách về BĐS
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới TT BĐS
TT BĐS Việt Nam còn đang tồn tại rất nhiều khuyết tật như nạn đầu cơ, độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh,… điều này khiến TT BĐS bị ảnh hưởng rất nhiều Bên cạnh đó còn có những yếu tố thuộc về chính sách và pháp luật nhà nước, những yếu tố thuộc về nền kinh tế, …
Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới TT BĐS Việt Nam trong giai đoạn gần đây là :
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Mức độ lạm phát
- Chính sách của chính phủ
- Tác động từ thị trường tài chính
- Một vấn đề rất được quan tâm, đó là theo Luật Kinh doanh BĐS và Nghị định
153/2007/NĐ-CP, từ 1/1/2009 bắt buộc các Cty kinh doanh BĐS phải giao dịch qua sàn
Trang 141.3 Các mô hình sử dụng trong đề tài
1.3.1 Mô hình SWOT:
SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh:
Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và
Threats (Nguy cơ) Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh Nói một cách hình ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thể xét duyệt lại các chiến lược, xác định vị thế cũng như hướng đi của một tổ chức, một công ty,phân tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tưởng nào liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp Và trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường,phát triển sản phẩm và cà trong các báo cáo nghiên cứu đang ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn
Mô hình phân tích SWOT là kết quả của một cuộc khảo sát trên 500 công ty
có doanh thu cao nhất do tạp chí Fortune bình chọn và được tiến hành tại Viện Nghiên cứu Standford trong thập niên 60-70, nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân vìsao nhiều công ty thất bại trong việc thực hiện kế hoạch Nhóm nghiên cứu gồm có Marion Dosher, Ts Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert Stewart và Birger Lie Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và xuất bản năm 1966 dựa trên hoạt động của công ty Erie Technological Corp ở Erie Pa Năm 1970, phiên bản này được chuyển tới Anh dưới sự tài trợ của công ty W.H.Smith & Sons PLC và được hoàn thiện năm 1973 Phương pháp phân tích này cũng đã được sử dụng khi sáp nhập các cơ sở xay xát và nướng bánh của CWS vào J.W.Frenhch Ltd
Kể từ đó, quá trình này đã được sử dụng thành công rất nhiều lần ở nhiều doanh nghiệp và tổ chức thuộc các lĩnh vực khác nhau Và tới năm 2004, hệ thống
này đã được phát triển đầy đủ, đã chứng minh được khả năng giải quyết hàng loạt các vấn đề hiện nay trong việc xác lập và nhất trí các mục tiêu mang tính thực tiễn hàng năm của doanh nghiệp mà không cần dựa vào các cố vấn bên ngoài
Vậy outsourcing là gì? Outsourcing là hình thức chuyển một phần chức năng
nhiệm vụ của công ty ra gia công bên ngoài (từ tiếng Anh: out - ngoài, source –nguồn) – những chức năng mà trước đây doanh nghiệp vẫn đảm nhận
Trang 15Ở Việt Nam , khi nhắc đến từ này, rất nhiều người trong trong chúng ta thường nghĩ đến lĩnh vực gia công phần mềm hoặc lập trình Tuy nhiên, trên thực tế, thuật ngữ này hiện diện trong nhiều lĩnh vực kinh doanh: kế toán, luật, nhân sự,…
Và nguyên tắc của outsourcing là: “tôi dành cho mình những công việc mà biết chắc sẽ thực hiện tốt hơn những người khác và chuyển giao cho bên thứ ba phần việc mà họ làm tốt hơn tôi và những người khác”
Ở đây, chúng ta cần lưu ý đến hình thức thuê ngoài ngoại biên của các tập đoàn Tây Âu (trong trường hợp chuyển một phần công việc ra nước ngoài) và hình thức gia công bên ngoài doanh nghiệp nhưng ở trong lãnh thổ một quốc gia
- Thuê ngoài ngoại biên (offshore outsourcing)
Quan niệm đánh đồng outsourcing với lĩnh vực gia công phần mềm hay lập trình có lẽ xuất phát từ xu hướng di chuyển một phần việc làm của các doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển sang các nước đang phát triển vào đầu thập niên
90
Đây là khoảng thời gian mà các công ty phần mềm lớn ở Mỹ ồ ạt đổ bộ vào các quốc gia mới phát triển ở châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc hay để tận dụng lợi thế chi phí nhân công rẻ nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh
Nhiều tập đoàn lớn tại Mỹ đã xây dựng nhà máy, các trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại các quốc gia châu Á và đang ngày càng ăn nên làm ra do áp dụng thành công mô hình kinh doanh outsourcing Quá trình này được gọi là thuê ngoài ngoại biên (offshore outsourcing), hay khái niệm outsource mà ta thường nghe nói đến
Ví dụ điển hình cho cuộc đổ bộ đó là sự ra đời của khu công nghệ cao
Bangalore thủ phủ bang Karnataka thuộc miền nam Ấn Độ, được mệnh danh là
“thung lũng Silicon của Ấn Độ” địa điểm lý tưởng được các công ty phần mềm Tây Âu chọn lựa: IBM, Microsoft, Intel, Sun Microsystems, Dell, Cisco, Oracle Thậm chí, Reuters – một hãng truyền thông tên tuổi của Mỹ cũng đã chọn
Bangalore làm đại bản doanh cho các họat động outsourcing nhằm thu thập thông tin tài chính của các công ty lớn trên thế giới
Việc chuyển một phần công việc sang Ấn Độ đã giúp Reuters giảm được nhiều chi phí Với mức lương chỉ bằng một phần năm so với mức trả cho các phóng viên
ở New York , Reuters đã tiết kiệm được khoản tiền lương mà không phải cắt giảm nhân sự tại văn phòng chính
Tuy nhiên, do giá nhân công trong lĩnh vực phần mềm tại Bangalore đang ngày càng tăng nhanh trong khi hạ tầng cơ sở tại khu vực này vẫn trong tình trạng yếu kém nên Bangalore không còn được ưa chuộng như trước nữa Trung Quốc, Nga, Brazin, Việt Nam đang trở thành những địa điểm hấp dẫn hơn nhờ giá nhân công rẻ hơn và chất lượng dịch vụ tốt hơn
Theo Global Services và hãng tư vấn đầu tư Tholons, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh của Việt Nam đã được bình chọn là những điểm outsourcing mới nổi hấp dẫnnhất thế giới Về mức hấp dẫn trong lĩnh vực outsourcing, TP Hồ Chí Minh chỉ đứng sau 4 thành phố của Ấn Độ và Cebu của Philippines Tại Việt Nam, phần lớn các công ty CNTT chủ yếu nhận gia công phần mềm cho nước ngoài và không
ít trong số họ đã gặt hái được thành công như Digital Glass Egg, FPT, TMA
Trang 16tư Hơn nữa, với vị trí chiến lược tại khu vực Đông Nam Á, Việt chính là địa điểm quan trọng để các nhà đầu tư tiến vào thị trường các nước lân cận.”
Ngoài các quốc gia châu Á, một số quốc gia Đông Âu khác cũng đang trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà sản xuất/dịch vụ Mỹ: Nga, CH Séc, hay các quốc gia Mỹ La tinh: ,
Outsourcing trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Ngoài công nghệ thông tin, outsourcing còn hiện diện trong nhiều lĩnh vực phổ biến khác
Tại Mỹ, hơn hai triệu hợp đồng lao động của công dân Mỹ (bao gồm tuyển dụng,
sa thải, trả lương, đào tạo nâng cao chuyên môn nghề nghiệp) được các công ty chuyên ngành quản trị nguồn nhân lực quản lý Hình thức outsourcing ở Mỹ luôn tăng trưởng ở mức 30%/năm và cho phép khách hàng tiết kiệm tới 30% chi phí Các công ty chuyên cung cấp dịch vụ outsourcing như Exult được thành lập vào năm 1998 và hiện nay đang quản lý nhân sự cho BP và Unisys
Thị trường outsourcing đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu Nhiều công ty đã
ăn nên làm ra trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ hấp dẫn này: công ty cung cấp dịch
vụ vệ sinh, bảo vệ tòa nhà, văn phòng, dịch vụ quản trị hệ thống mạng…
Outsourcing đã làm nảy sinh ra nhiều nghề mới mà có thể các doanh nghiệp không muốn đưa vào danh sách các công việc toàn thời gian cố định
Ở Việt Nam, hình thức outsourcing hiện đang được nhiều doanh nghiệp sử dụng.Đối với các doanh nghiệp lớn, dịch vụ outsourcing phổ biến là dịch vụ dọn dẹp vănphòng, bảo vệ 24/24, vận chuyển văn phòng trọn gói…Các công ty nhỏ mới thành lập lại có xu hướng sử dụng dịch vụ outsourcing kế toán, báo cáo thuế, lắp đặt/quảntrị mạng hoặc bảo trì máy tính/thiết bị văn phòng…
Trong lĩnh vực xuất bản, hình thức outsourcing khâu dịch thuật, biên tập cũng khá phổ biến Mạng lước cộng tác viên dịch thuật đã giúp các nhà xuất bản tiết kiệm được không ít chi phí về quản lý nhân sự
Xu hướng Payroll Outsourcing – xu hướng đang gia tăng tại Việt Nam
Vào giữa thập niên 90, hình thức payroll outsourcing (thuê các công ty bên ngoài thực hiện chế độ trả lương cho nhân viên) xuất hiện tại các công ty, tập đoàn đa quốc gia và sau đó lan rộng ra tới các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ
Nếu như trước đây, các doanh nghiệp nước ngoài thích sử dụng dịch vụ này của các ngân hàng thì bây giờ, các doanh nghiệp đã chuyển sang sử dụng dịch vụ của các công ty săn đầu người hoặc tư vấn nhân sự
Tại TP.HCM, có thể nói hầu hết các công ty cung cấp dịch vụ tư vấn nhân sự hoặc săn đầu người đều có kiêm thêm công đoạn này, mặc dù trên các web site của
họ không thấy công bố thông tin về dịch vụ trả lương
Trang 17Theo ông Huỳnh Minh Quân, giám đốc công ty tư vấn nhân sự Nhân Việt (đơn
vị sở hữu trang web săn đầu người cao cấp www.VIPdatabase.com), cho biết “Đây
là một công việc không quá khó nhưng đòi hỏi uy tín cũng như sự chuyên nghiệp, chính xác, cẩn thận từ nhà cung cấp dịch vụ, vì thế, trong lĩnh vực này, các công ty
tư vấn nhân sự có ưu thế rất lớn Họ chính là những đơn vị hơn ai hết hiểu rõ tầm quan trọng của việc tư vấn về nhân sự, bao gồm từ khâu tuyển chọn nhân sự, trả lương, luân chuyển vị trí làm việc cho đến khâu đánh giá chất lượng công việc
Vì thế, khi sử dụng dịch vụ này từ các công ty tư vấn nhân sự, các doanh nghiệp khách hàng thường cảm thấy yên tâm hơn Ngoài ra, trong quá trình cung cấp dịch
vụ này, chúng tôi còn tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng bằng cách tư vấn, hỗ trợ họ trong nhiều vấn đề khác như tư vấn bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, đánh giá nhân sự….”
* Lợi ích từ outsourcing
Nhưng điều thú vị nhất không phải là số lượng hay quy mô thương vụ mà là tính
chất của hình thức này Mặc dù một số nhà lãnh đạo cho đến nay sử dụng
outsourcing nhằm cắt giảm chi phí nhân sự nhưng phần lớn họ lại có xu hướng nhắm đến cách tiếp cận phức tạp khác Nhiều công ty sử dụng outsourcing nhằm tiếp nhận các kỹ năng cạnh tranh, nâng cao khả năng phục vụ và phản ứng đối với nhu cầu hay thay đổi của kinh doanh
Lợi ích mà outsourcing mang lại cho các doanh nghiệp là không nhỏ Tuy nhiên, trước khi sử dụng dịch vụ này, các doanh nghiệp cũng nên cân nhắc chọn lựa đối tác hợp tác Một đơn vị chuyên nghiệp, uy tín sẽ giúp bạn tiết kiệm được chi phí trong khi vẫn đảm bảo chất lượng công việc trong dài hạn