1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế.

29 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước (NhNN) và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 286 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với tất cả các quốc gia, NHTW được sử dụng như một công cụ quan trọng trong điều chỉnh kinh tế của nhà nước vì NHTW nắm trong tay các mối liên hệ kinh tế quan trọng nhất.

Trang 1

ĐỀ TÀI:

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế.

MỞ ĐẦU

Đối với tất cả các quốc gia, NHTW được sử dụng như một công cụ quantrọng trong điều chỉnh kinh tế của nhà nước vì NHTW nắm trong tay các mốiliên hệ kinh tế quan trọng nhất ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển dịch từnền kinh tế hàng hóa tập trung sang phát triển nền kinh tế thị trường, trongnhững năm qua ngân hàng Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoànthiện theo xu hướng năng động, tích cực với xu hướng phát triên của nền kinh

tế thế giới mặc dù đến nay qui mô của thị trường còn rất khiêm tốn nhưng nó

đã đóng vai trò nhất định trong việc kết nối cung cầu về vốn ngắn hạn cho cácNHTM, doanh nghiệp… Đặc biệt, thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phầntháo gỡ khó khăn cho các ngân hàng trong việc bảo đảm khả năng thanh toán,

an toàn hệ thống cũng như mở hệ thống cho vay

Trang 2

I CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG

1 Quá trình hình thành Ngân hàng trung ương

1.1 Quá trình hình thành

Ngân hàng trung ương ra đời chính thức đầu tiên ở Châu Âu, vào thế kỷ

17 Khi ấy, tiền mặt lưu hành vẫn chủ yếu dưới dạng vvàng và bạc, tuy rằng,các tờ cam kết thanh toán (promises to pay) đã được sử dụng rộng rãi như lànhững biểu hiện của giá trị ở cả Châu Âu và Châu Á Ngược lại 500 năm trướcđấy, Tổ chức Hiệp sĩ dòng Đền (Knight Templar) thời Trung Cổ sử dụng một

cơ chế có thể nói là hình mẫu đầu tiên của Ngân hàng trung ương Các giấy tờcam kết thanh toán của họ được chấp nhận rộng rãi, và nhiều người cho rằngcác hoạt động này đặt nền tảng cơ bản cho hệ thống ngân hàng hiện đại Cùngthời gian đó, Thành Cát Tư Hãn phát hành tiền giấy ở Trung Hoa, và áp đặt sửdụng loại tiền này bằng bạo lực nhằm thu giữ vàng bạc

Ngân hàng trung ương đầu tiên là Ngân hàng Thụy Điển (Bank of Sweden)năm 1668 với sự giúp đỡ của các doanh nhân Hà Lan Ngân hàng Anh (Bank

of England) ra đời tiếp sau đó năm 1694 bởi doanh nhân người Scotland làWilliam Paterson tại London theo yêu cầu của chính phủ Anh với mục đích tàitrợ cuộc nội chiến lúc đó Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ được thành lập theoyêu cầu của Quốc hội tại đạo luật mang tên hai nghị sĩ đệ trình là Glass vàOwen (Glass-Owen Bill) Tổng thống Woodrow Wilson ký đạo luật ngày 23tháng 12 năm 1913

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (Tiếng Anh là People’s Bank of China– Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa) bắt đầu các chức năng ngân hàng trungương năm 1979 cùng với chính sách cải cách kinh tế Vai trò ngân hàng trungương của nó được đẩy mạnh năm 1989 khi đất nước này chuyển đổi sâu sắchơn sang nền kinh tế hướng xuất khẩu Tới năm 2000, Ngân hàng Trung ươngTrung Quốc đã là một ngân hàng trung ương về mọi mặt, với cơ cấu và hoạtđộng có tham khảo Ngân hàng Trương ương Châu Âu vốn là mô hình ngânhàng trung ương mới nhất, chi phối ngân hàng trung ương của các quốc giathành viên mà vẫn để quyền quản lý kinh tế quốc gia cho các ngân hàng đó

Từ thế kỉ 18, nhà nước của các nước đã bắt đầu can thiệp vào các hoạtđộng của các ngân hàng bằng cách hạn chế số lượng các ngân hàng được phépphát hành kì phiếu ngân hàng

Đến thế kỉ 19, ở các nước phát triển có xu hướng ra đời các đạo luật chỉcho phép một Nhà nước duy nhất phát hành tiền còn các ngân hàng khác đơnthuần kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng Ở Anh năm 1844, Nhànước cấm các ngân hàng tư nhân phát hành tiền và toàn bộ nghiệp vụ phát hànhtiền tệ được tập trung vào Anh quốc ngân hàng Ngân hàng cổ phần tư nhân

Trang 3

Pháp thành lập 1800, đến năm 1803 được độc quyền phát hành giấy bạc ở Pari,đến năm 1848 độc quyền phát hành giấy bạc trên toàn nước Pháp.

Đầu thế kỉ 20, ở các nước ngân hàng được phép phát hành tiền đều thuộc

sở hữu tư nhân, nhà nước không có điều kiện can thiệp các hoạt động kinh tếthông qua tác động của tiền tệ Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933, đãbuộc chính phủ các nước tăng cường hơn nữa can thiệp của mình vào lĩnh vựckinh tế Ngoài việc điều tiết nến kinh tế thông qua hệ thống luật pháp, chínhsách thuế,…Nhà nước cần phải nắm lấy phương tiện cơ bản của nền kinh tế thịtrường- tiền tệ góp phần giải quyết những bất ổn trong nền kinh tế Vì thế, sautổng khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, phần lớn các nước đã tiến hànhquốc hữu hóa hoặc thành lập mới nhà nước phát hành thuộc sở hữu nhà nước,nhằm nắm trọn quyền phát hành tiền tệ nhằm qua đó điều tiết các hoạt độngkinh tế vĩ mô Canada quốc hữu hóa ngân hàng nhà nước vào năm 1938, Đứcquốc hữu hóa nhà nước phát hành vào năm 1939, Pháp quốc hữu hóa nhà nướcphát hành vào năm 1945, Anh quốc hữu hóa nhà nước vào năm 1946… Từ đókhái niệm ngân hàng trung ương được sử dụng để thay thế cho ngân hàng pháthành

Ngân hàng trung ương không chỉ thực hiện chức năng phát hành tiền tệvào lưu thông mà còn thực hiện chức năng quản lí về mặt nhà nước trên lĩnhvực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng Tuy nhiên, ở một số ngân hàng phát hànhkhông hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhưng hoạt động vẫn mangtính chất của một ngân hàng nhà nước và cơ quan quản lí cao nhất của nó là donhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm Ngân hàng trung ương Nhật Bản là ngânhàng cổ phần theo luật năm 1942, trong đó cổ phần nhà nước chiếm 55%, cổphần thuộc sở hữu tư nhân chiếm 45% nhưng có quan quản trị ngân hàng là hộiđồng chính sách có 7 thành viên do chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm Ở Mĩ,

hệ thống dự trữ liên bang là ngân hàng cổ phần tư nhân, nhưng cơ quan lãnhđạo cao nhất của ngân hàng này là hội đồng thống đốc có bảy thành viên doTổng thống đề cử và quốc hội bổ nhiệm…

1.2. Đặc thù của ngân hàng trung ương

Tuy có nhiều tên gọi khác nhau như Ngân hàng trung ương, Ngân hàngnhà nước, Ngân hàng dự trữ liên bang…, nhưng chúng đều có tính chất chung ,

đó là một cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, được độc quyền phát hành giấy bạcngân hàng và thực hiện chức năng quản lí nhà nước về hoạt động giá trị đồngtiền duy trì sự ổn định và an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng

Do tính chất đó, Ngân hàng trung ương nắm giữ một trong những công

cụ quan trọng nhất trong quản lí nền kinh tế vĩ mô , đó là chính sách tiền tệ.Bởi vậy ngân hàng trung ương có vị trí đặc thù trong bộ máy quản lí và điềuhành vĩ mô của nhà nước Cho đến nay, trên thế giới có hai mô hình tổ chức vàquản lí của ngân hàng trung ương:

Trang 4

Ngân hàng trung ương trực thuộc quốc hội, tự chịu trách nhiệm của

mình về mọi hoạt động trước quốc hội Với mô hình này ngân hàng trungương được độc lập với chính phủ Bởi lẽ, chính phủ là người thực thi ngânsách tài chính quốc gia , quản lí và điều hành ngân hàng nhà nước Nếu ngânhàng trung ương trực thuộc chính phủ sẽ dễ bị chính phủ lạm dụng công cụphát hành tiền để bù đắp thiếu hụt của ngân sách nhà nước , gây ra lạm phát.Lúc đó ngân hàng trung ương không thể chủ đông trong việc thực thi chínhsách tiền tệ, với mục đích ổn định giá trị của đồng tiền Mô hình này có ở ngânhàng dự trữ liên bang Hoa Kì, ngân hàng dự trữ liên bang của cộng hòa liênbang Đức…

Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ, tự chịu trách nhiệm

về mọi hoạt động của mình trước chính phủ Bởi vì, Chính phủ là người thựchiện chức năng điều hành và sử dụng các công cụ điều tiết chính sách vĩ mô

Vì vậy, để thực hiện chức năng của mình, Chính phủ cần nắm lấy ngân hàngtrung ương và thông qua ngân hàng trung ương để tác động đến ngân hàng đểtác động đến chính sách tiền tệ Theo mô hình này có ngân hàng Pháp, ngânhàng Anh quốc, ngân hàng Việt Nam…

Như vây, mỗi nước đều có một ngân hàng trung ương thuộc sở hữu,hoặc một hệ thống ngân hàng làm nhiệm vụ của ngân hàng trung ương, nhưngđặt dưới sự điều hành của một hội đồng duy nhất được một nhà nước bổnhiệm Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ ,tín dụng ngân hàng Nhưng nó khác với tính chất quản lí của các cơ quan kháctrong bộ máy nhà nước Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách quản líkhông chỉ đơn thuần bằng các luật lệ, các biện pháp hành chính, mà còn thôngqua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh sinh lời Ngân hàng trung ương có cáckhoản thu nhập từ các tài sản có của mình: chứng khoán chính phủ, cho vaychiết khấu, kinh doanh trên thị trường ngoại hối…Hai mặt quản lí và kinhdoanh gắn chặt với nhau trong tất cả các hoạt động với ngân hàng trung ương.Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh chỉ là phương tiện để quản lí, tự nó khôngphải là mục đích của ngân hàng trung ương Hầu hết các khoản thu nhập củangân hàng trung ương, sau khi trừ đi các chi phí hoạt động, đều phải nộp vàongân sách nhà nước

2 Chức năng của ngân hàng trung ương

2.1 Phát hành giấy bạc ngân sách và điều tiết ngân sách và điều tiết lượng tiền cung ứng

Đi liền với sự ra đời của ngân hàng Trung ương thì toàn bộ việc phát hànhtiền được tập trung vào ngân hàng trung ương theo chế độ nàh nước độc quyềnphát hành tiền và nó trở thành trung tâm phát hành tiền của cả nước

Giấy bạc ngân hàng do Ngân hàng trung ương phát hành là phương tiện thanhtoán hợp pháp, làm chức năng phương tiện thanh toán lưu thông tiền tệ của đấtnước Để cho giá trị của đồng tiền được ổn định , nó đòi hỏi việc phát hành tiền

Trang 5

phải tuân theo nguyên tắc nghiêm ngặt Các nguyên tắc cơ bản cho việc pháthành tiền tệ đặt ra là :

Nguyên tắc phát hành tiền phải có vàng bảo đảm Nguyên tắc này quy

định việc phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông được đảm bảo bằng trữkim hiện hữu nằm trong kho của ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ươngphải đảm bảo việc tự do trao đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng theo luật định khingười có giấy bạc yêu cầu Tuy nhiên, vận dụng theo nguyên tắc này, mỗi nướclại có sự co giãn về mức độ bảo đảm vàng khác nhau, điều đó còn tùy thuộcvào điều kiện kinh tế của mỗi nước

Nguyên tắc phát hành giấy bạc ngân hàng thông qua cơ chế tín dụng được bảo đảm bằng giá trị hàng hóa và dịch vụ Theo cơ chế này việc phát

hành giấy bạc không nhất thiết phải có vàng bảo đảm, mà phát hành thông qua

cơ chế tín dụng ngắn hạn, trên cơ sở có bảo đảm bằng hàng hóa, công tác dịch

vụ, thể hiện trên kì phiếu thương mại, các chứng từ nợ khác có khả năng hoánchuyển thành tiền theo luật định Đó là tín dụng ngân hàng trung ương, đượcthực hiện bằng phương thức tái cấp vốn đối với ngân hàng thương mại Việcphát hành giấy bạc ngân hàng theo nguyên tắc này, một mặt nó xuất phát từnhu cầu tiền tệ phát sinh do tăng trưởng kinh tế, mặt khác tạo ra khả năng đểngân hàng trung ương thực hiện nhiệm vụ kiểm soát khối lượng tiền cung ứngtheo yêu cầu của chính sách tiền tệ

Ngày này, trong điều kiện lưu thông giấy bạc ngân hàng không được tự dochuyển đổi ra vàng theo luật định, các nước trên thế giới đều chuyển sang chế

độ phát hành giấy bạc thông qua cơ chế tái cấp vốn cho các ngân hàng và hoạtđộng trên thị trường mở của ngân hàng trung ương Đồng thời trên cở sở độcquyền phát hành tiền , Ngân hàng trung ương thưc hiện việc kiểm soát khốilượng tiền cung ứng được tạo ra từ các ngân hàng thương mại, bằng quy chế

dự trữ bắt buộc , lãi suất chiết khấu

Như vậy, ngân hàng trung ương không chỉ độc quyền phát hành tiền tệ màcòn quản lí,, điều tiết lượng tiền cung ứng, thực hiện chính sách tiền tệ , bảođảm ổn định giá trị đối nội, đối ngoại của đồng bản tệ

VD: Khi cần rút bớt số lượng tiền mặt trong lưu thông, ngân hàng Trung Ương( ở Việt Nam là kho bạc Nhà Nước) có thể phát hành trái phiếu chính phủ(Bond)

Trái phiếu chính phủ thường được coi là không có rủi ro bởi chính phủ có

thể tăng thuế hoặc in thêm tiền mặt để chi trả trái phiếu đáo hạn Một số ví dụ rất hiếm thấy khi chính phủ không thể thanh toán được nợ đó là cuộc khủng hoảng đồng rúp năm 1998 của chính phủ Nga.

Ở Hoa Kỳ, trái phiếu chính phủ mệnh giá bằng đô la là hình thức đầu tư

tiền an toàn nhất An toàn hay không có rủi ro là theo nghĩa rủi ro có thể không được thanh toán Các rủi ro khác vẫn tồn tại như tỷ giá– là khi đồng nội

tệ mất giá so với các ngoại tệ; rủi ro thứ hai là lạm phát – tiền gốc nhận lại khi đáo hạn giảm giá trị vì lạm phát vượt quá dự kiến Nhiều chính phủ phát

Trang 6

hành công trái điều chỉnh theo lạm phát để bảo vệ các nhà đầu tư trước rủi ro lạm phát.

Trung Quốc nắm giữ nhiều trái phiếu của Mỹ nhất.Theo số liệu của Bộ Tài chính Mỹ công bố, tính đến cuối tháng 9/2008, Trung Quốc đã sở hữu lượng trái phiếu của Mỹ với tổng trị giá lên đến 585 tỷ USD.Nhật Bản hiện sở hữu lượng trái phiếu trị giá 573,2 tỷ USD của Mỹ - đứng thứ hai Xếp thứ ba

là Anh.

Ngân hàng Trung ương cũng có thể tăng lãi suất cơ bản, qua đó làm tănglãi suất tiền gửi của các Ngân hàng thương mại, kích thích người dân gửi tiềnvào các ngân hàng, làm giảm lượng tiền trong lưu thông.Một cách nữa, Ngânhàng Trung Ương có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Reserve Requirements) củacác NHTM, từ đó hạn chế và rút bớt một lượng tiền trong lưu thông

Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Reserve Requirements )là một quy định của ngân hàng trung ương về về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản.Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ NHTW để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Ở Việt Nam, tính đến tháng 1/2009, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các NHTM với tiền gửi VND không kỳ hạn và dưới 12 tháng là 5% và từ 12 tháng trở lên là 1%.

2.2 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng

Là ngân hàng của các ngân hàng Ngân hàng trung ương thực hiện cácnghiệp vụ sau:

Mở tài khoản tiền gửi và bảo quản dự trữ tiền tệ cho các ngân hàng

và tổ chức tín dụng

Trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng và tổ chức tín dụngđều phải mở tài khoản tiền gửi và gửi tiền vào ngân hàng trung ương, gồm hailoại sau:

Tiền gửi thanh toán: đây là khoản tiền gửi các ngân hàng tại ngân hàngtrung ương nhằm bảo đảm nhu cầu chi trả trong thanh toán giữa các ngân hàng

Trang 7

Cho vay đối với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng

Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho ngân hàng và các tổ chức tín dụngnhằm đảm cho nền kinh tế đủ phương tiện thanh toán cần thiết trong từng thời

kì nhất định Mặt khác, thông qua việc cấp vồn và lãi suất tín dụng để điều tiếtlượng tiền cung ứng trong nền kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ Trong quá trình hoạt động của mình, các ngân hàng thương mại và tổchức tín dụng sử dụng vốn tập trung, huy động để vay đối với nền kinh tế Khixuất hiện nhu cầu tiền Ngân hàng trung ương làm phương tiện thanh toán, cácngân hàng này được ngân hàng trung ương cấp tín dụng theo những điều kiệnnhất định, phù hợp với yêu cầu chính sách tiền tệ Như vậy, thực chất là ngânhàng trung ương thực hiện cung ứng tiền theo nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế,thông qua việc tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tíndụng khác bằng nghiệp vụ chiết khấu hoặc tái chiết khấu

Ngân hàng trung ương còn là trung tâm thanh toán của hệ thống

ngân hàng và các tổ chức tín dụng Với trung tâm này, Ngân hàng trung

ương thực hiện các nghiệp vụ thanh toán như:

Thanh toán từng lần: mỗi lần có nhu cầu thanh toán, các ngân hàng gửi

các chứng từ thanh toán đến ngân hàng trung ương, yêu cầu trích tiền từ lãi củamình để trả cho ngân hàng thụ hưởng

Thanh toán bù trừ: Ngân hàng trung ương là ngân hàng trung tâm tổ

chức thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng, kể cả kho bạc nhà nước Việc thanhtoán bù trừ được tiến hành giữa các ngân hàng theo định kì hoặc cuối mỗi ngàylàm việc Việc thanh toán dựa trên cơ sở trao đổi các chứng từ thanh toán nợkèm theo các bảng kê khai thanh toán bù trừ của các ngân hàng hoặc bù trừthông qua hệ thống vi tính , số dư cuối cùng được thực hiện bằng cách trích tàikhoản của người phải trả nợ tại ngân hàng trung ương

2.3 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của Nhà nước

Nói chung, Ngân hàng trung ương là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước ,được thành lập và hoạt động theo pháp luật Ngân hàng trung ương vừa thựchiện chức năng quản lí về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngânhàng, vừa thực hiện là chức năng của ngân hàng nhà nước Ở đây, ngân hàngtrung ương thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu sau:

Ngân hàng trung ương là cơ quan quản lí về mặt nhà nước các hoạt

động của hệ thống ngân hàng bằng pháp luật:

- Xem xét, cấp và thu hồi giấy phép hoạt động của các ngân hàng và các

Trang 8

- Thanh tra và kiểm soát toàn bộ các hoạt động của toàn bộ hệ thốngngân hàng Áp dụng các chế tài trong trường hợp vi phạm pháp luật,nhằm bảo đảm cho cả hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, có hiệuquả, an toàn.

- Quyết định đình chỉ các hoạt động hoặc để giải thể đối với các ngânhàng và các tổ chức tín dụng trong trường hợp vi phạm nghiêm trọngluật hoặc mất khả năng thanh toán

Ngân hàng trung ương có trách nhiệm đối với ngân hàng nhà nước:

- Mở tài khoản, nhận và trả tiền gửi của kho bạc nhà nước

- Tổ chức thanh toán cho kho bạc nhà nước trong thanh toán với cácngân hàng

- Làm đại lí cho kho bạc nhà nước trong một số nghiệp vụ

- Bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại hối, các chứng từ có bảng giá

- Cho ngân hàng nhà nước vay khi cần thiết

Ngân hàng trung ương thay mặt cho nhà nước trong quan hệ với nước ngoài trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng:

- Kí kết các hiệp định về tiền tệ, tín dụng ngân hàng với nước ngoài

- Đại diện cho nhà nước với các tổ chức tài chính quốc tế mà nước đó làthành viên như IMF, WB, ADB…

3 NHTW và các chính sách tiền tệ

3.1 Vị trí của chính sách tiền tệ

Kinh tế thị trường thực chất là một nền kinh tế tiền tệ Ở đó, bao giờchính sách tiền tệ cũng là một trong những công cụ quản lí kinh tê vĩ mô quantrọng nhất của nhà nước, bên cạnh chính sách tài khóa, phân phối thu nhập,chính sách kinh tế đối ngoại…

Ngân hàng trung ương sử dụng chính sách tiền tệ nhằm gây ra sự mởrộng hay thắt chặt lại trong việc cung ứng tiền tệ, để ổn định giá trị đồng bản

tệ, đưa sản lượng và việc làm của quốc gia đến mức mong muốn

Trong một quãng thời gian nhất định nào đó, chinh sách tiên tệ của một quốcgia có thể được hoạch định một trong hai hướng sau:

- Chính sách tiền tệ mở rộng, nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyếnkhích mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo việc làm Trường hợpnày, chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế, chống thấtnghiệp

- Chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cung ứng, hạn chếđầu tư, kìm hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế Trường hợp nàychính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát

Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của ngân hang

trung ương Có thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạtđộng của ngân hàng trung ương Các hoạt động khác của ngân hàng trung ươngđều nhằm thực thi chính sách tiền tệ đề đạt mục tiêu của nó

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ

Chính sách tiền tê, một mặt là cung cấp đầy đủ phương tiện thanhtoán cho nền kinh tế (lượng tiền cung ứng), mặt khác phải giữ ổn định giá trịđồng bản tệ Để thực hiện điều đó Thông thường trên thế giới, việc xây dựng

và thực hiện chính sách tiền tệ được giao cho ngân hàng trung ương Có một sốnước, việc xây dựng chính sách tiền tệ có thể do một cơ quan khác , nhưngthực hiện chính sách tiền tệ này vẫn là ngân hàng trung ương Tuy nhiên, tronglĩnh vực này, Ngân hàng trung ương cần được độc lập ở một mức độ nhất địnhvới chính phủ

3.3 Các công cụ của CSTT :

3.3.1 Nghiệp vụ thị trường mở:

Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực

hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượngtiền cung ứng

Cơ chế tác động:Khi NHTW mua (bán)chứng khoán thì sẽ làm cho cơ

số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi)

Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ

làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ),nếu bao gồm cả công

chúng thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông(C)

Đặc điểm:Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là

một công cụ rất năng động ,hiệu quả,chính xác của CSTT vì khối lượng

chứng khoán mua( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần đIều

chỉnh,ít tốn kém về chi phí ,dễ đảo ngược tình thế.Tuy vậy, vì được thực hiệnthông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham giatrên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phải có sự pháttriển đồng bộ của thị trường tiền tệ ,thị trường vốn

3.3.2 Dự trữ bắt buộc:

Khái niệm :Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phảI giữ lại,do

NHTW qui định ,gửi tại NHTW,không hưởng lãI,không được dùng để đầutư,cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng sótiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán,sự ổn định của hệthống ngân hàng

Cơ chế tác động:Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp

đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các

NHTM.Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vaycủa các NHTM giảm (tăng), làm cho lãI suất cho vay tăng (giảm),từ đó làmcho lượng cung ứng tiền giảm (tăng)

Đặc đIểm:Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp

NHTW chủ động trong việc đIều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của

Trang 10

nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnhhưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền) Song tính linh hoạt của nó khôngcao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm ,phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnhhưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM.

3.3.3 Chính sách tái chiết khấu:

Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối với

các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc đIều chỉnh lãI suất táIchiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay táI chiết khấu(cửa sổchiết khấu)

Cơ chế tác động:Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế

(khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng chovay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh

tế giảm (tăng).Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu củamình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại Ngoài ra, ở các nước có thịtrường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến để có thể làm công cụ táIchiết khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp vụ này thông qua việc cho vay táIcấp vốn ngắn hạn đối với các NHTM

Đặc điểm:Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người

cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn

trong thanh toán ,và có thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTMđồng thời có thể tác động tới việc đIều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tếthông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.Tuy vậy ,hiệu qủa củacộng cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của các NHTM, mặt khácmức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó ,sai lệch thông tin về cung cầuvốn trên thị trường

Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung

ứng,trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả cấc công cụ nàythì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác Tuy vậy trong những điềukiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển ;các giai đoạn kinh tế quá nóng ) thì

để đạt được mục tiêu của mình ,NHTW có thể sử dụng các công cụ điều tiếttrực tiếp sau:

3.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM

Khái niệm :là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM

không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(mộtnăm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạnmức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩmô(tốc độ tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ )sau đó NHTW sẽ phân bổ cho cácNHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định

Cơ chế tác động:Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối

với lượng tiền cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụngcho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theomục tiêu của NHTM

Trang 11

Đặc điểm:Giúp NHTW điều chỉnh ,kiểm soát được lượng tiền cung ứng

khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rấtcao trong những giai đoạn phát triển quá nóng,tỷ lệ lạm phát quá cao của nềnkinh tế Song nhược điểm của nó rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữacác NHTM,làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế ,dễ phát sinhnhiều hình thức tín dụng ngoàI sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quákìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên

3.3.5 Quản lý lãi suất của các NHTM:

Khái niệm :NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi

suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đóảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được

quản lý mức cung tiền của mình

Cơ chế tác động:Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm

sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làmcho lượng tiền cung ứng thay đổi theo

:Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo

mục tiêu của từng thời kỳ,đIều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điềukiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.Song, nó dễ làm mất đitính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãI suất là “giá cả”của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốntrong nến kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy định đIều chỉnh lãI suất dễ làmcho các NHTM bị động,tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình

Phụ lục: Đặc điểm của một số ngân hàng ở các quốc gia khác

Ngân hàng trung ương (Central Bank) ở bất cứ quốc gia nào đều là mộttrong những cơ quan có vị thế cực kỳ quan trọng, là ngân hàng đứng đầu trong

hệ thống ngân hàng Đặc điểm nổi bật của ngân hàng trung ương là nó khônggiao dịch, làm nghiệp vụ trực tiếp với các nhà kinh doanh và công chúng,khách hàng của nó là tất cả các ngân hàng khác Ngân hàng trung ương giữ vaitrò là ngân hàng của các ngân hàng; bảo quản quỹ dự trữ tiền tệ của các ngânhàng; cho các ngân hàng vay vốn khi cần thiết, thực hiện chính sách tiền tệ tíndụng của nhà nước; cơ quan phát hành tiền tệ trong nước; thanh toán và tíndụng quốc tế với ngân hàng trung ương các nước khác; là cơ quan cung cấptiền cho ngân sách khi cần và làm một số nghiệp vụ của kho bạc nhà nước

Mỹ

Hệ thống Dự trữ Liên bang (Federal Reserve System) có chức năng như mộtngân hàng trung ương, mặc dù chính thức nó không phải là một ngân hàng màchỉ chịu những ảnh hưởng hạn chế của nhánh hành pháp và lập pháp Hệ thống

Trang 12

này được thành lập ngày 23 tháng 12 năm 1913, nhằm đưa ra trong nước mộtđồng tiền linh hoạt, tạo điều kiện dễ dàng cho việc chiết khấu các thương phiếu

và cải thiện việc giám sát hoạt động ngân hàng, từ đó trách nhiệm của Hệthống đã được mở rộng Qua nhiều năm, người ta đã nhận thấy rằng, sự ổnđịnh và tăng trưởng nền kinh tế, mức độ bảo đảm tình trạng có việc làm cao, sự

ổn định về mãi lực đồng đô la Mỹ và sự cân bằng hợp lý trong giao dịch vớinhững nước khác, là những mục tiêu đầu tiên trong đường lối kinh tế của Nhànước

Hệ thống Dự trữ Liên bang bao gồm Hội đồng các Thống đốc (Board ofGovernors), 12 ngân hàng dự trữ khu vực (District Reserve Bank) và các vănphòng chi nhánh, Uỷ ban thị trường Công khai Liên bang (Federal OpenMarket Committee, FOMC) Nòng cốt của hệ thống là Hội đồng 7 Thành viênThống đốc ở Washington Các thành viên này được Tổng thống chỉ định vàđược Thượng viện tán thành với nhiệm kỳ 14 năm Tổng thống cũng chỉ địnhChủ tịch và Phó Chủ tịch của Hội đồng này trong số các thành viên của Hộiđồng với nhiệm kỳ 4 năm, sau đó có thể thay mới Từ tháng 6 năm 2001, cácthành viên của Hội đồng gồm: Alan Greespan, Chủ tịch; Roger W.Ferguson Jr,Phó Chủ tịch; Edward W Kelly Jr, Laurence H Meyer và Edward M.Gramlich; còn hai chỗ trống Hội đồng này làm việc dựa trên nguyên tắc tậpthể đưa ra chủ trương chính sách

Ngoài những trách nhiệm này, Hội đồng còn giám sát ngân sách và hoạtđộng của các ngân hàng dự trữ, thông qua chỉ định những Thống đốc các ngânhàng đó và chỉ định 3 người trong Ban Giám đốc của mỗi ngân hàng khu vực,

cả Chủ tịch và Phó Chủ tịch của mỗi ngân hàng dự trữ 12 ngân hàng dự trữnày và các văn phòng chi nhánh hoạt động như những bộ phận phân quyền của

Hệ thống, thực hiện những công việc hàng ngày như lưu thông tiền tệ và cungcấp các chức năng của cơ quan tài chính và những dịch vụ thuộc cơ chế chi trả.Các ngân hàng khu vực đóng tại Boston, New York, Philadelphia, Cleveland,Richmond, Atlanta, Chicago, ST Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas vàSan Francisco

Chức năng chính của Hệ thống là chủ trương chính sách tiền tệ đượckiểm soát bằng 3 công cụ: nhu cầu dự trữ, tỷ lệ chiết khấu và hoạt động của thịtrường công khai Những nhu cầu dự trữ thống nhất do hội đồng đưa ra được

áp dụng cho các tài khoản giao dịch và tiền gửi có kỳ hạn của pháp nhân tại các

tổ chức nhận tiền gửi Trách nhiệm đưa ra tỷ lệ chiết khấu (lãi suất mà các tổchức tiền gửi có thể vay tiền tại các ngân hàng dự trữ) được Hội đồng Thốngđốc và các ngân hàng dự trữ cùng chia sẻ Những thay đổi về tỷ lệ chiết khấu

do từng ban giám đốc của các ngân hàng dự trữ đưa ra và phải được Hội đồngThống đốc thông qua Công cụ quan trọng nhất của chính sách tiện tệ là nhữnghoạt động thị trường công khai (mua và bán các trái khoán nhà nước) Trách nhiệm ảnh hưởng tới phí tổn tiền tệ và tính khả cung tiền tệ và tín

Trang 13

dụng thông qua việc mua và bán các trái khoán nhà nước là của Uỷ ban Thịtrường Công khai Liên bang (FOMC) - gồm 7 thành viên của Hội đồng Thốngđốc, Chủ tịch ngân hàng dự trữ liên bang New York và 4 Chủ tịch của các ngânhàng dự trữ liên bang khác, mỗi người phục vụ nhiệm kỳ một năm Uỷ ban nàycăn cứ vào những quyết định về sự phát triển, triển vọng kinh tế và tài chính

mà xác định những mục tiêu tăng trưởng hàng năm với các biện pháp chủ yếu

là cung cấp tiền tệ và tín dụng Những quyết định của Uỷ ban này do PhòngNội thương (Domestic Trace Deck) của ngân hàng dự trữ liên bang New Yorktiến hành Đạo luật Dự trữ Liên bang (Federal Reserve Act) quy định một Hộiđồng Cố vấn Liên bang (Federal Adviory Council), gồm mỗi khu vực dự trữliên bang một thành viên do ban giám đốc của một trong 12 ngân hàng dữ trữkhu vực bầu ra hàng năm, và họp với Ban lãnh đạo Dự trữ Khu vực bầu rahàng năm Hội đồng này họp với Ban lãnh đạo Dự trữ Liên bang (FederalReserve Board) mỗi năm 4 lần để bàn về những bối cảnh công việc, tài chínhđồng thời đưa ra những đề xuất cố vấn Hội đồng Cố vấn Tiêu dùng (TheConsumer Adviory Council) là một tập thể pháp định gồm những đại biểu củakhách hàng tiêu dùng và của bên cho vay, sẽ tư vấn cho Hội đồng Thống đốc

về việc thực hiện những quy định đối với người tiêu dùng và những vấn đềkhác có liên quan đến người tiêu dùng Sau khi Quốc hội thông qua Đạo luậtKiểm soát tiền tệ (Monetary Control Atc) năm 1980 thì Hội đồng Thống đốccủa Hệ thống Dự trữ Liên bang thành lập Hội đồng Cố vấn các Quỹ Tiết kiệm(Thrift Institution Advisory Council) để cung cấp thông tin và những triểnvọng về nhu cầu đặc biệt và các vấn đề của các Quỹ Tiết kiệm Nhóm này gồmnhững đại biểu của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, các hiệp hội tiết kiệm vàcho vay, các quỹ tín dụng

Đức

Ngân hàng trung ương là Bundesbank, đây là ngân hàng độc lập nhất với chínhphủ Quyền hạn và nghĩa vụ của Bundesbank được quy định trong hiến phápliên bang, ưu tiên việc đảm bảo tiền tệ bằng cách chống lạm phát và trợ giúpchính sách của Chính phủ Bundesbank có một Chủ tịch do Hội đồng ngânhàng bổ nhiệm theo ý kiến của Chính phủ Hội đồng ngân hàng gồm 21 thànhviên là đại diện từ các ngân hàng vùng, Chính phủ và các quản trị viên ngânhàng Hội đồng họp thường xuyên 2 tuần một lần

Trung Quốc

Ngân hàng trung ương có nhiều nhiệm vụ to lớn, trong đó đặc biệt quan trọng

là việc quản lý dự trữ ngoại hối Tính đến cuối quý 1 năm 2007, dự trữ ngoạihối của Trung Quốc đã lên tới hơn 1.200 tỉ USD, đưa Trung Quốc trở thànhquốc gia có lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới Số ngoại hối dự trữ củaTrung Quốc chủ yếu được đầu tư vào trái phiếu chính phủ nước ngoài, tậptrung vào các trái phiếu có mức độ tín nhiệm cao

Trang 14

II Vai trò của NHNN với sự phát triển kinh tế Việt Nam

1 Những hiểu biết chung về NHNH Việt Nam

và mở rộng vùng giải phóng Sự chuyển biến của cục diện cách mạng cũng đòihỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố và phát triển theo yêu cầumới Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính - kinh tế mà Đại hộiĐảng lần thứ II (tháng 2/1951) đã đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch HồChí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam -Ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á để thựchiện 5 nhiệm vụ cấp bách: Phát hành giấy bạc, quản lý Kho bạc, thực hiệnchính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lýtiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranhxây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát triểnmới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta Tại Thông tư số20/VP - TH ngày 21/1/1960 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia ký thừa

uỷ quyền Thủ Tướng chính phủ, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tênthành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để phù hợp với hiến pháp 1946 của nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà Những năm sau khi Miền Nam giải phóng 1975,việc tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cộng hoà và các Ngân hàng tư

Ngày đăng: 15/04/2013, 16:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy tổ chức NHNN Việt Nam - Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)  và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế.
Sơ đồ b ộ máy tổ chức NHNN Việt Nam (Trang 19)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w