1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG Ở NƯỚC TA

25 960 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Phát Triển Kết Cấu Hạ Tầng Ở Nước Ta
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài Luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 193,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành cơ cấu vùng kinh tế. Sự phát triển có hiệu quả và đồng bộ kết cấu hạ tầng ảnh hưởng mạnh mẽ không những đến sự tăng trưởng của từng vùng mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Trang 1

Mục lục

Lời mở đầu. 2

I Khái niệm, đặc điểm, vai trò 3

1 Khái niệm 3

2 Đặc điểm 4

3 Vai trò 4

II Thực trạng 6

1 Kết cấu hạ tầng kỹ thuật 6

2 Kết cấu hạ tầng xã hội 9

3 Kết cấu hạ tầng môi trường: 12

III Chính sách của Nhà nước 14

1 Chính sách của Nhà nước về vấn đề kết cấu hạ tầng kỹ thuật 14

2 Chính sách của Nhà nước về vấn đề kết cấu hạ tầng xã hội 17

3 Chính sách của Nhà nước về vấn đề kết cấu hạ tầng môi trường 19

IV Kiến nghị của nhóm 2

5

Trang 2

Lời mở đầu

Kết cấu hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành cơ cấu vùng kinh

tế Sự phát triển có hiệu quả và đồng bộ kết cấu hạ tầng ảnh hưởng mạnh mẽ khôngnhững đến sự tăng trưởng của từng vùng mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Phát triển kết cấu hạ tầng từng vùng dựa trên thế mạnh riêng và tiềm năng đặctrưng là một vấn đề trọng tâm mà Đảng và Nhà nước tập trung hướng tới để từ đó sự liênkết mạnh mẽ giữa các vùng được đẩy mạnh, sức mạnh tổng thể được phát huy tối đa.Phát triển toàn diện kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội, môi trường, thiết chế diện rộng cácvùng trọng điểm cũng như không trọng điểm giúp tận dụng triệt để nguồn lực tiềm năngtạo nên sự phát triển kinh tế xã hội các vùng cũng như cả nước

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển vùng nóichung và kết cấu hạ tầng vùng nói riêng là việc làm rất có ý nghĩa thiết thực

Trang 3

I Khái niệm, đặc điểm, vai trò

1 Khái niệm

Kết cấu hạ tầng (KCHT) là tổ hợp các công trình vật chất – kỹ thuật mà kết quảhọat động của nó là những dịch vụ có chức năng phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuát

và đời sống dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định

Kết cấu hạ tầng là một yếu tố quan trọng cấu thành cơ cấu vùng kinh tế Nó cungcấp các dịch vụ trực tiếp cho họat động sản xuất đời sống và tạo điều kiện thuận lợi khaithác các nguồn tài nguyên quy tụ trên vùng Sự phát triển có hiệu quả và đồng bộ kết cấu

hạ tầng ảnh hưởng mạnh mẽ không những đến sự tăng trưởng của từng vùng mà còn đốivới toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Kết cấu hạ tầng được chia làm 4 loại như sau:

2 Xã hội

Công trình vật chất – kỹ thuật phục

vụ trực tiếp cho quá trình sống,sinh họat của cộng đồng dân cưtrong vùng

Công trình các ngành vănhóa, giáo dục, y tế…

3 Môi trường Công trình vật chất – kỹ thuật phục

vụ cho công tác bảo vệ môi trường

Công trình xử lý chất thải,nước thải, xử lý ô nhiễmmôi trường…

4 Thiết chế Công trình vật chất – kỹ thuật phụcvụ trực tiếp và gián tiếp cộng đồng

dân cư

Viện, trung tâm, trườngđào tạo và nghiên cứukhoa học, nghệ thuật, các

tổ chức chính trị xã hội…

Trang 4

2 Đặc điểm

KCHT có một số đặc điểm sau đây:

- Tạo tiền đề thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân

và giảm đói nghèo;

- Công trình thường rải theo tuyến , hình thành hệ thống có nhiều cấp và có quan hệliên ngành với KCHT khác;

- Có tuổi thọ lâu dài nhưng mục tiêu và giá trị sử dụng lại biến động theo thời gian(KCHT có tuổi thọ thiết kế, tuổi thọ thực tế, tuổi thọ kỹ thuật, tuổi thọ kinh tế);

- Đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng lại khó trực tiếp thu hồi vốn;

- Có tác động lớn đến môi trường

3 Vai trò

Kết cấu hạ tầng là yếu tố cấu thành cơ cấu vùng kinh tế Thiếu kết cấu hạ tầnghoặc phát triển kết cấu hạ tầng không đồng bộ đều ảnh hưởng không tốt tới sự phát triểncủa vùng kinh tế

3.1 Cung cấp dịch vụ trực tiếp cho đời sống: bao gồm

Kết cấu hạ tầng xã hội: phục vụ trực tiếp cho quá trình sống, sinh hoạt của cộng đồng dân

cư trong vùng Đó là các công trình của các ngành văn hoá, giáo dục- đào tạo, y tế

Kết cấu hạ tầng môi trường: phục vụ trực tiếp cho công tác bảo vệ môi trường Đó là cáccông trình xử lý chất thải rắn, nước thải, xử lý ô nhiễm không khí, hệ thống quan trắc môitrường

Kết cấu hạ tầng thiết chế: bao gồm các viện, trung tâm, trường đào tạo và nghiên cứukhoa học, nghê thuật, các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội…

Trang 5

3.2 Cung cấp dịch vụ trực tiếp cho sản xuất:

Đó là kết cấu hạ tầng kỹ thuật- phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất diễn ratrong vùng Đó là các cơ sở của các ngành như giao thông, điện nước sạch, thoát nước,thông tin liên lạc, hệ thống đê điều, hệ thống thuỷ lợi…

3.3 Ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế vùng:

Cơ sở hạ tầng là yếu tố tiền đề và quan trọng tạo động lực cho phát triển kinh tế vàthúc đẩy tăng trưởng của vùng cũng như việc giao thương buôn bán và liên kết giữa cácvùng kinh tế với nhau

Sự phát triển các ngành của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự pháttriển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và việc nâng cao hiệu quả của nó.Cùng với

sự phát triển của lực lượng sản xuất, vai trò của kết cấu hạ tầng không ngừng tănglên.Các hình thức mới về giao thông vận tải và thông tin liên lạc xuất hiện và phát triểnkhông những trong khuôn khổ từng nước, mà còn trên phạm vi quốc tế theo xu hướng

toàn cầu hoá.Do đó đã hình thành kết cấu hạ tầng vật chất của sự hợp tác quốc tế mới, đó

là toàn bộ các bộ phận của các hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc trongnước và nước ngoài, nhằm phục vụ cho hoạt động kinh tế đối ngoại, cũng như các côngtrình và đối tượng phối hợp với nhau, đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường xung quanh,

sử dụng hợp ló các nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác, đảm bảo thông tin liên lạccủa cơ quan khí tượng thủy văn, quản lí nhà nước, các cơ quan phục vụ xã hội và an ninhquốc phòng… nhằm mục đích phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và vănminh

Phát triển kinh tế vùng bao giờ cũng đi đôi với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nếu việcđầu tư đồng bộ được lên kế hoạch thì nó sẽ giúp cho phát triển kinh tế của vùng một cáchbền vững và hiệu quả.Việc ưu tiên tập trung đầu tư các công trình hạ tầng có tính quyếtđịnh đến sự phát triển kinh tế xã hội sẽ nhanh tạo ra sức bật cho toàn xã hội, thúc đẩy quátrình đô thị hoá; đồng thời phát triển hạ tầng có tính chiến lược lâu dài giúp nền kinh tếphát triển ổn định và bền vững

Phát triển kết cấu hạ tầng gắn liền với phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ quốcphòng an ninh trên địa bàn theo từng giai đoạn, phù hợp với qui mô và tốc độ tăng trưởngcủa nền kinh tế và từng ngành, lĩnh vực sẽ giúp kinh tế vùng phát triển ổn định và an ninh

xã hội được đảm bảo

3.4 Ý nghĩa kết cấu hạ tầng:

Việc quản lý và phát triển kết cấu hạ tầng một cách khoa học và hợp lý có một ýnghĩa đặc biệt quan trọng.Vì kết cấu hạ tầng là cơ sở nền tảng đảm bảo sự phát triển bềnvững của cả một quốc gia.Một quốc gia giàu mạnh, hiện đại và văn minh phải có một kếtcấu hạ tầng vững mạnh, tiện lợi, hiện đại và đầy đủ

Trang 6

- Năng lực thông qua cảng thuỷ nội địa : 96 Triệu tấn

- Năng lực thông qua các cảng biển khoảng : 187 Triệu tấn

- Năng lực thông qua các cảng hàng không khoảng : 63 Triệu tấn

- Công suất thiết kế hệ thống cấp nước đô thị khoảng : 5,5 Triệu m3/ngày

- Công suất thực tế hệ thống cấp nước đô thị khoảng : 4,5 Triệu m3/ngày

- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn đô thị khoảng : 80%

- Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đi lại hai đô thị đặc biệt của vận

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các thành phố là một trong những yếu tố quan trọng thúcđẩy sự phát triển kinh tế xã hội Năm 1999, cả nước chỉ có khoảng 18 triệu người sống ởthành phố, chiếm 23,6% thì đến năm 2002 đã là trên 20 triệu (tương đương 25,1% dânsố) Dự kiến đến năm 2010 là 33% và 2020 là 45% Dân số sống tại đô thị sẽ ngày càngtăng cao trong khi hạ tầng kỹ thuật của tất cả các thành phố vẫn chưa đáp ứng được trongđiều kiện hiện nay

1.1 Giao thông

Đường bộ: Nhiều con đường mới được xây dựng, chất lượng đường đô thị dần tốthơn, các đô thị loại III trở lên đã có hầu hết các tuyến đường chính được rải nhựa Các đôthị lớn như Hà Nội, Tp.HCM, Đà Nẵng, Hải phòng, Cần Thơ có nhiều dự án về giaothông đô thị được triển khai đó là việc cải tạo, nâng cấp và xây mới các trục giao thôngđối ngoại, cửa ô, trục giao thông hướng tâm, các nút giao cắt, đường vành đai đã bướcđầu nâng cao năng lực thông qua tại các đô thị này Giao thông công cộng đã, đang hìnhthành và phát triển tại các đô thị Các thành phố, thị xã như Cần Thơ, Cao Lãnh, VũngTàu, Buôn Ma Thuột, Nha trang, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Sơn La… đã tổ chứccác tuyến giao thông công cộng phục vụ vận chuyển khách và đặc biệt tại hai thành phốlớn như Hà Nội và Tp.HCM, giao thông công cộng đang là phương tiện không thể thiếuđược Hiện nay, hai thành phố này đang triển khai xây dựng giao thông vận tải khối

Trang 7

lượng lớn như tàu điện ngầm, xe buýt nhanh (BRT) Tuy nhiên, ngoài các điểm tích cựctrên thì hạ tầng kỹ thuật về hệ thống giao thông tại các đô thị Việt Nam vẫn rất yếu vàthiếu Mật độ mạng lưới đường thấp, ước tính tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP HồChí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng chỉ đạt 4-5 km/km2 Tại các đô thị loại 2, 3, con số nàychỉ bằng một nửa Bên cạnh đó, mạng lưới đường này lại phân bố không đều, thiếu sựliên thông Đường phố ngắn, lộ giới hẹp, chất lượng xấu nhưng lại nhiều giao cắt Cácnút giao thông phần lớn là đồng mức, nhỏ hẹp lại không hợp lý nên khiến tình trạng quátải tại các nút càng trầm trọng Diện tích đất dành cho giao thông tĩnh quá thấp dẫn đếnviệc thiếu bãi đỗ xe, điểm trông giữ xe cũng như các bến xe liên tỉnh Ước tính, tỷ lệ đấtdành cho giao thông chưa đến 10% đất xây dựng đô thị trong khi tỷ lệ cần thiết phải là20-25% Chính vì thế mà tình trạng tắc nghẽn giao thông ở các đô thị đang thường xuyênxảy ra và ngày càng nghiêm trọng.

Đường sắt: Việt Nam có tổng chiều dài đường sắt khoảng 2600 km, trong đó tuyếnđường chính nối Hà Nội – TP.HCM dài 1726 km, toàn ngành có 302 đầu máy, 1063 toatàu chở khách và 4986 toa tàu chở hàng

Đường sắt Việt Nam hiện gồm có hai loại đội tàu hỏa là:

 Các loại tàu khách, gồm: tàu liên vận quốc tế, tàu khách tốc hành và tàu nhanh, tàukhách thường và tàu hỗn hợp

 Các loại tàu chở hàng, gồm: tàu chuyên chở nhanh, tàu chuyên chở thường

Hiện nay phần lớn đường sắt Việt Nam (khoảng 2249km) dùng khổ rộng 1,0 m, vàtoàn tuyến đường sắt Bắc Nam dùng khổ 1,0 m Có 180 km dùng khổ 1,435 m là tuyếnđường Hà Nội - cảng Cái Lân dùng cho tàu chở hàng

Đường biển: Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3200km Mặc

dù đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng đón nhận tàu cácnước ra vào nhưng đó chỉ là số ít Phần lớn các cảng biển nước ta không đảm nhận đượcnhững tàu trọng tải lớn nên chi phí cho việc bôc dỡ hàng hóa cao do phải chuyển tải Bêncạnh đó, hệ thống dịch vụ ở các cảng này cũng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển

Đường hàng không: Hiện có gần 20 sân đã được đưa vào khai thác và sử dụng, trong

đó có ba sân bay cấp IV là: Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng Ba sân bay này có chấtlương tương đương với tiêu chuẩn quốc tế

Trang 8

1.2 Hệ thống cấp thoát nước đô thị

Có thể khẳng định rằng: Tại các đô thị của Việt Nam, hệ thống cấp thoát nướcchưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội

Hệ thống cấp nước đô thị hiện nay vẫn còn trì trệ Trong tổng số 689 đô thị trêntoàn quốc hiện vẫn còn gần 400 đô thị nhỏ chưa có hệ thống cấp nước tập trung Tổngcông suất thiết kế của các nhà máy nước sinh hoạt đạt 3,2-3,6 triệu m3/ ngày đêm, côngsuất khai thác chỉ đạt 2,2 triệu m3/ngày đêm Tính đến cuối năm 2009, tổng công suấtthiết kế cấp nước đạt khoảng 5,9 triệu m3/ngày đêm Tỷ lệ cấp nước của dân đô thị đạttrung bình 73% (tỷ lệ này đạt 75-90% tại các đô thị lớn như Hà Nội đạt 88,5% vàTp.HCM đạt 87%) Mức sử dụng nước sạch bình quân đạt 90 lít/người/ngày đêm Đặcbiệt tại các khu đô thị cũ với mạng lưới đường ống cũ và đường kính nhỏ, khó đảm bảophục vụ cấp nước liên tục đặc biệt trong mùa khô hạn Đến nay hầu hết các đô thị tỉnh lỵ(63 tỉnh thành) đều đã và đang có các dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp mở rộng hệ thốngcấp nước Tuy nhiên, việc đầu tư chỉ mới quan tâm đến trạm, nhà máy - hệ thống phânphối gồm cải tạo hệ thống cũ, mở rộng mạng mới chưa được quan tâm đầy đủ nên côngsuất khai thác tại nhiều nhà máy nước mới chỉ đạt khoảng 77% so với công suất thiết kế

- Hệ thống thoát nước: chưa có hệ thống thoát nước thải riêng Phần lớn hệ thống làchung cho thoát nước mưa và cả nước thải, được xây dựng trên địa hình tự nhiên, nước tựchảy và độ dốc thủy lực thấp Bên cạnh đó, các hệ thống thoát nước được đầu tư xâydựng qua nhiều thời kỳ khác nhau, không hoàn chỉnh, đồng bộ, nhiều tuyến cống xuốngcấp nên khả năng tiêu thoát nước thấp Theo đánh giá của các công ty thoát nước, môitrường đô thị tại các địa phương hiện nay, 50% tuyến cống đã bị hư hỏng, 30% tuyếncống cũ bị xuống cấp, chỉ khoảng 20% tuyến cống mới xây dựng là còn tốt Hệ quả tấtyếu là tình trạng úng ngập xảy ra thường xuyên đặc biệt trong những năm gần đây khi tốc

độ xây dựng tăng mạnh Số điểm ngập úng ngày càng nhiều và thời gian úng ngập cũngkéo dài 2-3 tiếng đồng hồ Vấn đề ngập úng đô thị cho đến nay vẫn chưa có giải pháp cótính khả thi để giải quyết Ngoài ra, cho đến nay, chưa đô thị nào có được trạm xử lýnước thải sinh hoạt Nước thải hầu như chưa được xử lý và xả thẳng vào nguồn tiếp nhận.Đặc biệt nước thải từ các KCN gây nên ô nhiễm nặng nề các dòng sông lớn như sôngĐồng Nai, Sài Gòn, Thị Vải, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Cầu…

Trang 9

Tuy nhiên chất lượng chiếu sáng chưa cao, hiệu suất sáng, cường độ sáng, độ rọikhông đảm bảo tiêu chuẩn Tỷ lệ ngõ xóm được chiếu sáng còn rất thấp ngay tại đô thịđặc biệt tỷ lệ này cũng chỉ chiếm khoảng 35 - 40%; các đô thị loại IV, V hầu như tất cảngõ xóm đều không được chiếu sáng Chiếu sáng các công trình kiến trúc, chiếu sángquảng cáo, không gian cây xanh mặt nước… vẫn còn tự phát, manh mún, tuỳ tiện Nguồnsáng (bóng đèn), thiết bị chiếu sáng hiệu suất thấp, tiêu tốn nhiều điện năng vẫn còn sửdụng ở nhiều đô thị.

1.4 Cây xanh đô thị

Trong thời gian qua, mặc dù công tác phát triển cây xanh đô thị đã được các cấp,các ngành đặc biệt quan tâm Diện tích cây xanh đô thị từng bước tăng dần cả về số lượng

và chất lượng, cây trồng đặc biệt ở các đô thị lớn ngày càng phong phú Tuy nhiên, quakhảo sát và thống kê thì: có thể đánh giá chung như sau:

Tỷ lệ bình quân diện tích đất cây xanh trên đầu người còn thấp, phần lớn dưới10m2/người (Hà Nội đạt 5,54m2/người) Tỷ lệ diện tích đất cây xanh trên diện tích đất tựnhiên đô thị cũng thấp so với các đô thị trong khu vực và trên thế giới Quản lý về câyxanh vẫn còn lỏng lẻo, tình trạng chặt phá cây đặc biệt các cây quý hiếm nằm trong nhómphải được bảo tồn vẫn diễn ra Nhiều đô thị tiến hành công tác cải tạo, nâng cấp và mởrộng đường phố dẫn đến việc chặt hạ hàng loạt cây xanh Nhiều công viên, việc cho phépxây dựng công trình không tuân thủ quy hoạch hoặc không nghiên cứu, xem xét thậntrọng gây bức xúc trong dư luận

2 Kết cấu hạ tầng xã hội:

2.1 Cơ sở hạ tầng về nhà ở

Tình hình nhà ở Việt nam hiện nay là một vấn đề lớn đối với xã hội Trong cácthành phố lớn vấn đề nhà ở càng trở lên bức thiết với sinh viên, những người chưa có thunhập và nhưng người nghèo hoặc có thu nhập thấp Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã cóQuyết định phê duyệt Danh mục các dự án phát triển nhà ở sinh viên tại TP Hà Nội và

TP Hồ Chí Minh bằng nguồn trái phiếu Chính phủ năm 2009 đã được phân bổ cho 2thành phố này trước đó

Cụ thể, TP Hà Nội được phân bổ 625 tỷ đồng để triển khai 10 dự án nhà ở sinhviên (DANOSV), đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho 52.419 sinh viên Tại TP Hồ Chí Minh,

800 tỷ đồng từ nguồn trái phiếu Chính phủ được phân bổ để thực hiện 5 dự án, đáp ứngnhu cầu chỗ ở cho 75.200 sinh viên

Trang 10

Theo ước tính, Hà Nội (cũ) hiện đang thiếu nhà ở nghiêm trọng và cần ít nhất tới 7triệu m2 nhà ở, tương đương 120.000 căn hộ cho các đối tượng có nhu cầu bức xúc vềnhà ở trên địa bàn Các hộ gia đình có thu nhập thấp đang chiếm đa số trong dân cư thànhphố, ít nhất 70% số hộ gia đình ở Hà Nội (trong đó có khoảng 50% số hộ công nhân viênchức) không có khả năng tích lũy từ tiền lương của mình để mua nhà, xây nhà mới chomình nếu không có sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài Theo ước tính của Sở Tài nguyênMôi trường Hà Nội, có tới 10.000 hộ gia đình ở Hà Nội đang thực sự bức xúc về nhà ở vàthành phố cũng chỉ mới có giải pháp cho khoảng 30% trong số này Theo điều tra của tổchức JICA nhu cầu nhà ở cho thuê, thuê mua của các đối tượng là cán bộ, công chức,công nhân là vào khoảng 18.000 căn hộ, trong đó nhà ở cho các hộ có hoàn cảnh khókhăn, bức xúc cần cải thiện điều kiện chỗ ở chiếm 30%.

Trong thời gian tới, cùng với sự gia tăng dân số và tách hộ do kết hôn cũng như donhu cầu nhà cho giải phóng mặt bằng triển khai các dự án đô thị hóa và phát triển kinh tế

và do sự xuống cấp của quỹ nhà hiện có thì nhu cầu về nhà ở sẽ càng trở nên gay gắt

Với giá nhà đất hiện nay, việc sở hữu một căn hộ vẫn là điều không tưởng củaphần lớn người dân ở các đô thị lớn tại Việt Nam

2.2 Cơ sở hạ tầng về y tế

Hệ thống tổ chức y tế việt Nam được hình thành từ Trung ương đến tỉnh, huyện,

xã và thôn bản, trong văn bản của Đảng và Nhà nước luôn xác định tổ chức y tế cơ sở có

vị trí chiến lược rất quan trọng trong hệ thống tổ chức y tế quốc gia Y tế cơ sở là đơn vị

y tế gần dân nhất, phát hiện những vấn đề của y tế sớm nhất, giải quyết 80% dân số, phầnlớn trong 15 triệu dân nghèo cũng như diện chính sách sống tập trung vùng nông thôn,những đối tượng này chủ yếu chỉ có khả năng tiếp cận tại tuyến y tế cơ sở; y tế cơ sở còn

là nơi thể hiện sự kiểm nghiệm rõ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về y

tế, là bộ phận quan trọng nhất của ngành y tế, tham gia phát triển kinh tế và ổn định chínhtrị xã hội

Mạng lưới y tế cơ sở đã được duy trì phát triển đáp ứng yêu cầu công tác chăm sócbảo vệ sức khoẻ nhân dân trong nhiều thập kỷ qua đã góp phần to lớn trong sự nghiệpchống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, trong việc khống chế và đẩy lùi nhiều bệnh dịch vàbệnh xã hội

Sau một thời gian triển khai thực hiện Quyết định số 58 TTG, trạm y tế xã đã đượchồi sinh, đang từng bước củng cố và phát triển Với phương châm Nhà nước và nhân dâncùng làm, một số trạm y tế xã được xây dựng mới hoặc nâng cấp đưa tổng số trạm y tế xã

Trang 11

trong cả nước đạt 95,1% Hiện vẫn còn 4,9% số xã chưa có trạm, cán bộ y tế làm việc tạitrụ sở uỷ ban xã hoặc nhờ bên trường học, phấn đấu trong năm 2000 phủ kín 100% số xã

có trạm y tế, về trang thiết bị y tế hiện nay mới có một nửa số trạm y tế xã có tương đối

đủ những dụng cụ thiết yếu để làm việc, về cán bộ y tế xã hiện có 42,522, bình quân 4người/ 1 trạm y tế xã Số xã có bác sĩ công tác đạt 29%, có 15 tỉnh, thành đạt 40% trong

đó có Hà Nội và Cần Thơ đạt 100% Y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh công tác tại xã chiếm82% số xã, có 13 tỉnh đạt 100% công tác tại xã chiếm 82% số xã, có 13 tỉnh đạt 100%

2.3 Cơ sở hạ tầng về giáo dục.

Khoảng 80% giáo viên hiện nay đáp ứng được với đổi mới phương pháp giảngdạy Thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, vấn đề lo nhất không phải làđội ngũ mà là… cơ sở vật chất, trang thiết bị

Mặc dù là địa phương có sự đầu tư lớn nhất cho việc xây dựng cơ sở vật chất,trường lớp, tuy nhiên, do quỹ đất đô thị quá hạn hẹp, ở TPHCM hiện nay vẫn còn không

ít ngôi trường có quy mô cực nhỏ được xây dựng trước giải phóng và không hề lớn lênsau 30 năm Nếu như TPHCM khát sân chơi thì ở các tỉnh khác của khu vực phía Namnhư Tiền Giang, Long An, Vĩnh Long, Cà Mau… lại trong tình trạng “khát” phòng chứcnăng, thiết bị, thí nghiệm

Ở Tiền Giang, tình hình cũng chẳng mấy khả quan, cho dù địa phương này đã cónhững đầu tư tương đối cho cơ sở vật chất Ông Trần Văn Trí, phó giám đốc Sở GD&ĐTphản ánh: “Ở các lớp thay sách yêu cầu có phòng bộ môn, chức năng nhưng hiện tìnhhình các phòng chức năng, trong hệ thống trường học của tỉnh chưa tốt lắm ở bậc THCSchỉ có 58% các trường có phòng thí nghiệm bộ môn Bậc tiểu học nhiều nơi phòng thiết

bị và thư viện vẫn trong tình trạng 2 trong 1!”

Bàn ghế lạc hậu, không đúng quy cách cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc đổimới phương pháp Ông Trần Trung Dưỡng, trưởng Phòng GD tiểu học, Sở GD&ĐTLong An phản ánh: “Ở Long An hiện chỉ có 22,7% bàn ghế đúng quy cách, vì thế khitriển khai đổi mới phương pháp gặp không ít khó khăn trong thực hiện, đặc biệt trongviệc tổ chức các buổi học theo dạng thảo luận” Không chỉ thiếu sân chơi, phòng chứcnăng, nhiều trường phổ thông hiện còn thiếu trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học Mộtgiáo viên trường chuyên của một tỉnh miền Trung cho biết: “Ngay những phương tiệndạy học thô sơ nhất như Atlas (trong môn Địa lý) cũng không cập nhật Trong kỳ thi HSgiỏi quốc gia vừa qua vẫn dùng Atlas cũ rích từ năm 1992 khiến HS rất khó khăn tronglàm bài”

Trang 12

3 Kết cấu hạ tầng môi trường:

3.1 Hệ thống thoát nước thải :

Trong số 63 đô thị tỉnh lỵ đã có 32 đô thị có các dự án về thoát nước và vệ sinhmôi trường từ nguồn vốn ODA Nhiều dự án lớn được triển khai tại Hà Nội, TP.HCM,

Đà Nẵng, Hải Phòng… bước đầu phát huy có hiệu quả, góp phần làm giảm mức độ ngậpúng tại các đô thị Tuy nhiên, tất cả các đô thị ở Việt Nam chưa có hệ thống thoát nướcthải riêng mà chung cho cả thoát nước mưa và nước thải Các hệ thống thoát nước đượcđầu tư xây dựng qua nhiều thời kỳ khác nhau, không hoàn chỉnh, đồng bộ, nhiều tuyếncống xuống cấp nên khả năng tiêu thoát nước thấp Nước thải hầu như chưa được xử lý

và xả thẳng vào nguồn tiếp nhận Đặc biệt nước thải từ các KCN gây nên ô nhiễm nặng

nề các dòng sông lớn như sông Đồng Nai, Sài Gòn, Thị Vải, sông Đáy, sông Nhuệ, sông

Tô Lịch, sông Cầu

Tình trạng ngập úng đô thị đang là mối quan tâm hàng ngày của các đô thị lớn (hễmưa xuống là ngập) ví dụ, ngập úng (do triều cường và mưa lớn) xảy ra thường xuyên tạiTP.HCM hoặc ngập nặng đã xảy ra tại Hà Nội vào đúng thời gian này năm 2008 Vấn đềngập úng đô thị cho đến nay vẫn chưa có giải pháp có tính khả thi để giải quyết

3.2 Chất thải rắn ngày càng diễn biến phức tạp

Chất thải rắn ở đô thị ngày càng có những diễn biến phức tạp Chất thải từ cácnguồn như sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, GTVT, xây dựng, y tế, làng nghề và sinhhoạt đô thị đang ngày càng tăng nhanh về chủng loại, số lượng và tính độc hại Tổnglượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình đạt 21.000 tấn/ngày Chôn lấp vẫn làhình thức phổ biến với số lượng trung bình 1 bãi chôn lấp đô thị 85% số đô thị từ thị xãtrở lên sử dụng biện pháp chôn lấp không hợp vệ sinh gây ô nhiễm môi trường, tốn nhiềudiện tích đất Vấn đề quản lý chất thải rắn, đặc biệt là xử lý rác, nước rác, tình trạng ônhiễm môi trường đô thị, vùng ven đô thị và môi trường xung quanh các cơ sở xử lý rácđang là mối quan tâm của nhiều địa phương, mặt khác lựa chọn địa điểm để xây dựng cơ

sở xử lý chất thải rắn cũng đang là vấn đề nan giải

3.3 Chất thải nông thôn

Chất thải chăn nuôi, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, chất thải làng nghề là nhữngvấn đề nóng bỏng của môi trường nông thôn hiện nay

Ông Vũ Bình Nguyên, Giám đốc Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường

Hà Nội cho biết, vấn đề chất thải nông thôn từ khi còn "Hà Nội cũ", đã là vấn đề nổi cộm

Ngày đăng: 15/04/2013, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w