1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN VẬN TẢI – BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

35 634 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

‐ Khai sai loại hình XK như XKD hoặc XĐT/KD, XSX hay XĐT/SX… ‐ Khai sai SB đi, hay sai SB đến,… ‐ Trong quá trình khai báo nếu phát hiện sai xót, có thể khai thay đổi bổ sung, nếu như kh

Trang 2

CHƯƠNG  I  :  KHÁI  QUÁT  RỦI  RO  TRONG  GIAO  NHẬN  HÀNG  HÓA  XNK  ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 

Rủi ro chủ quan hoàn toàn có thể hạn chế, cũng như khắc phục, tùy thuộc ý thuật kỹ luật của nhân viên và khả năng quản lý của các bên liên quan. 

Trang 3

2 Rủi ro khách quan 

Là tất cả những rủi ro phát sinh do khách quan bên ngoài trong suốt quá trình giao nhận hàng hóa. 

CHƯƠNG  II  :  NHỮNG  RỦI  RO  TRONG  GIAO  NHẬN  HÀNG  HÓA  XNK  ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG & BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO 

I Quy trình giao hàng hóa XK bằng đường hàng không, những rủi ro phát sinh 

và giải pháp hạn chế, khắc phục. 

1 Quy trình giao hàng hóa XK   

Sơ đồ quy trình giao hàng hóa XK 

   

Trang 4

   

(3b) Chuẩn bị hồ sơ xin các 

Chứng từ cần thiết khác (nếu có):  

Giấy phép XK, kiểm tra Văn Hóa  phẩm, kiểm tra VSATTP, kiểm  tra chất lượng,  kiểm dịch 

Trang 5

2 Những rủi ro phát sinh trong quá trình giao hàng hóa XK & giải pháp khắc phục, hạn  chế. 

‐ Book phương tiện không đúng, không chất lượng, có thể gây chậm trễ hoặc 

hư hỏng thất thoát hàng hóa. 

‐ Hàng hóa XK, phải đóng gói, dán shipping mark cẩn thận, ghi chú xếp dỡ  đầy đủ…nếu thiếu hoặc sai xót sẽ gây tổn thất hàng hóa, dẫn đến phải bồi thường cho đối tác. 

‐ Có nhiều trường hợp đóng gói không cẩn thận, khi đến trạm cân, đo hàng hóa, phát hiện kiện hàng không đủ điều kiện phải gia cố và không phải lúc nào cũng có thể gia cố được, và chi phí khá cao. 

VD : …  

(3) + (4)Chuẩn bị hồ sơ và khai báo HQ, 

‐ Là  khâu  quan  trọng  nhất,  và  thường  xảy  ra  sai  xót  nhất.  Tất  cả  thông  tin trên TKHQ nếu sai xót đều gây ra hậu quả nghiêm trọng tùy theo mức độ, 

và gây chậm trễ tiến độ giao hàng.  

Trang 6

‐ Sai xót thường gặp như sai số & ngày  Contract, số & ngày Invoice, sai tên hàng, ký mã hiệu, số lượng, đơn vị tính, trị giá, số kiện, số kg, … thường là lấy thông tin của lô hàng cũ, hoặc lô hàng khác. 

‐ Khai sai loại hình XK như XKD hoặc XĐT/KD, XSX hay XĐT/SX… 

‐ Khai sai SB đi, hay sai SB đến,… 

‐ Trong  quá  trình  khai  báo  nếu  phát  hiện  sai  xót,  có  thể  khai  thay  đổi  bổ sung, nếu như không phát hiện sai xót, đến khi trình hồ sơ giấy bị HQ phát hiện thì quay về khai báo lại sẽ tốn nhiều thời gian hơn. 

‐ Ngoài ra, có nhiều trường hợp không thể khai thay đổi bổ sung, chỉ có thể được  khai  thay  đổi  bổ  sung  với  những  trường  hợp  được  cho  phép  trong TT128/BTC có hiệu lực từ cuối năm 2013. 

‐ Chuẩn bị chứng từ để xin Giấy phép hay các chứng thư khác đều gây chậm trễ và thiệt hại. 

(5)Trình hồ sơ giấy cho HQ kiểm tra, 

‐   Phải đầy đủ, chính xác, sắp xếp theo thứ tự quy định, nếu thực hiện không  xác có thể gây chậm trễ. 

‐   Kiểm  hàng,  cũng  như  khâu  trình  hồ  sơ  giấy  cho  HQ,  đòi  hỏi  khả  năng nghiệp vụ và kinh nghiệm của nhân viên giao nhận hiện trường, vì HQ có quyền  chất  vấn  hay  chuyển  luồng  TKHQ  từ  Xanh,  Vàng  sang  Đỏ  (nhưng không có chiều ngược lại) nếu thấy hàng hóa cần kiểm tra thực tế. Điều này tùy thuộc rất nhiều vào khả năng ứng biến và kinh nghiệm hiện trường của nhân viên giao nhận. 

(6) Giao chứng từ, hàng hóa cho người chuyên chở/đại lý chuyên chở, 

‐   Xem  như  đã  hoàn  thành  nhiệm  vụ,  tuy  nhiên  hàng  hóa  cần  phải  qua  qua trạm cân và thanh lý HQ thì mới xem như an toàn. Cho nên nhân viên giao nhận  hiện  trường  phải  chờ  hàng  hóa  thanh  lý  HQ  xong,  nhận  TKHQ  từ phía nhà nhà chuyên chở/đại lý chuyên chở, đề phòng hàng có lệch kg, bao 

bì không điều kiện,  thì còn thời gian xử lý. 

‐   Hiện  tại,  ở  nước  ta  XK  được  khuyến  khích  nên  thủ  tục  có  phần  nhanh chóng và ưu tiên hơn hàng NK, tuy nhiên do đặc thù hàng Air hạn chế về 

Trang 7

‐   Từ  khâu  chuẩn  bị  chứng  từ  khai  báo  HQ  và  các  chứng  từ  cần  thiết  khác, phải  kiểm  tra  thật  chặt  chẽ,  kiểm  tra  chéo  thông  tin  với  nhau,  đảm  bảo thông tin trên TKHQ và các chứng từ liên khác hoàn toàn chính xác, đúng 

và đủ, trường hợp thiếu khả năng hoặc chưa đủ kinh nghiệm trong xử lý chứng từ, có thể xin ý kiến cấp trên, tránh trường hợp sai lại càng sai. 

‐   Khâu đóng gói hàng hóa phải đảm bảo đóng gói tốt, cân đo chính xác, cẩn thận, tránh trường hợp ước chứng kích thước và trọng lượng hàng dẫn đến khai hàng lệch trọng lượng thực tế, đồng thời ảnh hưởng đến việc sắp xếp phương tiện vận chuyển. 

 Mặc dù, không có quy định cụ thể nào cho phép lệch trọng lượng, nhưng chênh  lệch  khoảng  dưới  10%  thì  hàng  hóa  có  thể  được  chấp  nhận  ở  khâu thanh lý HQ. 

‐ Trong suốt quá trình khai báo hàng ở Sân bay, nhân viên  phụ trách XNK phải theo dõi, đảm báo hàng hóa đúng tiến độ và kịp thời xử lý nếu có trục trặc phát sinh, nhân viên hiện trường cũng phải cập nhật thông tin thường xuyên, và báo cáo kịp thời những khó khăn mà ở hiện trường không thể xứ 

Trang 8

(2b) Chuẩn bị hồ sơ xin các  Chứng từ cần thiết khác (nếu có):  

Giấy phép NK, kiểm tra Văn Hóa  phẩm, kiểm tra VSATTP, kiểm  tra chất lượng,  kiểm dịch 

di lý hàng về kiểm  hàng ở HQ mở TK 

Trang 9

2 Những rủi ro phát sinh trong quá trình giao hàng hóa NK & giải pháp hạn chế, khắc  phục. 

(2) Nhận bộ chứng tư gồm Bill, INV, PList để chuẩn bị hồ sơ khai báo HQ.   

‐ Nếu không kiểm tra chứng từ với HĐNT, có thể khai sai thông tin do với thực tế hàng, vì đôi khai hàng về thực tế ít hơn HĐ, hoặc nhà XK gửi hàng thêm  mà  không  thông  báo.  Do  đó  không  kiểm  tra  kỹ  thông  tin  khi  khai hàng đôi khi DN bị vi phạm khi kiểm tra hàng thực tế. 

‐ Nếu Bill hàng hóa có sai xót cần chỉnh sửa nhưng không phát hiện kịp thời, 

và khai HQ trước khi chỉnh manifest (gồm cả hàng đường biển) sẽ bị phát rất nặng, ảnh hưởng đến quyền lợi của DN sau này, như ân hạn miễn kiễm hàng, ân hạn ưu đãi thuế,… 

‐ Chuẩn bị hồ sơ để xin Giấp phép hoặc các chứng thư khác nếu không cẩn thận, sai xót hay thiếu thông tin cũng gây ra chậm trễ. 

VD : Hàng về 110 cái, nhưng khi chuẩn bị hồ sơ xin Giấy phép tự động chỉ 

có 101 cái, khi nhận được GP tự động sẽ không nhận được hàng. 

 

Trang 10

(3) Khai HQ qua mạng 

‐ Nếu  khai  không  chính  xác  những  thông  tin  trên  TKHQ  sẽ  gây  khó  khăn, chậm trễ khi nhận hàng, đôi khi lại gây ảnh hưởng đến thanh toán cho lô hàng. 

VD :… 

 

‐ Sân bay TSN hiện có hai kho nhận hàng NK là kho TCS & kho SCSC, nếu khai sai mã kho nhận hàng thì bắt buộc phải khai thay đổi bổ sung, và đợi 

duyệt TK bổ sung phải mất ít nhất 1 ngày. 

‐ Đối với hàng nhập kinh doanh, nếu khai không đủ thông tin hàng hóa như nhãn hiệu, công suất, model,…nói chung là những thông tin gây ảnh hưởng đến giá cả của hàng hóa, hay khai không chính xác mã HS, HQ sẽ yêu cầu 

khai bổ sung, và tiến độ nhận hàng sẽ chậm lại ít nhất 1 ngày. 

‐ Theo TT128 năm 2013 có cho phép DN tham khao ý kiến HQ trước khi khai báo về tên hàng mã HS, tuy nhiên thủ tục này mất hơn một tháng, cho nên 

hiếm khi DN nào chọn giải pháp này. 

(4) Khi nhận bộ chứng từ gốc, Bill 

‐ Nếu không kiểm tra thông tin trên Giấy ủy quyền, có thể không nhận được hàng  mà  phải  quay  lại  yêu  cầu  nhà  chuyên  chở/đại  lý  chuyên  chở  chỉnh sửa. 

(5) Trình hồ sơ giấy cho HQ 

‐ Hiện  nay,  toàn  quốc  đã  áp  dụng  phần  mềm  khai  báo  HQ  điện  tử  E‐cus4, mạng sẽ tự động duyệt TK, phân luồng. Có những chứng từ mà khi phản hồi trên phần mềm không yêu cầu, nhưng khi trình hồ sơ giấy sẽ phải xuất trình. Nếu DN không biết trước hoặc thiếu kinh nghiệm, sẽ phải bị từ chối 

hồ sơ và phải quay về chuẩn bị. 

Trang 11

VD2 : Theo QĐ 50 của Thủ tướng Chính Phủ, một số mặt hàng phải kiểm tra CLNN trước khi mở TK, và phải có kết quả mới thông quan hàng theo điều 27 của TT 128, nếu DN không nắm rõ quy định, sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để chuẩn bị chứng từ. 

cũ, hay một số hàng hóa phải dán nhãn năng lượng, để hỗ trợ chính sách vĩ mô của nhà nước. Do đó nhà NK cần cập nhật thông tin thường xuyên, để không bị ách tắt trong khâu khai báo HQ, nhằm hạn chế phát sinh phí cho DN. 

‐ Số lượng : 2 tấm  = 2 Kiện = 100.00 kgs (GW) 

Trang 12

‐ Hàng xuất theo  điều kiện Exw Tp. Hồ Chí Minh, không thanh toán. 

Do đó, nhà chuyên chở ở VN ‐ Forwarder B ‐ sẽ làm tất cả thủ tục để giao hàng đến nhà NK ở Korea. Lô hàng này được khai HQ theo loại hình Phi Mậu dịch, hàng mẫu. Trước khi chuẩn bị hồ sơ khai báo HQ, Forwarder B liên hệ công ty A để lấy thông tin, chi tiết để chuẩn bị TKHQ, và yêu cầu Giấy phép XK của lô hàng này. Công ty A cho rằng đây chỉ là lô hàng mẫu nên không cần phải trình Giấy phép. 

Forwarder B trình hồ sơ khai HQ ở HQ SB Tân Sơn Nhất, và được yêu cầu bổ sung Giấy  Phép.  Forwarder  B  phản  hồi  thông  tin  cho  Công  ty  A  và  nhận  được  sự  phàn nàn về nghiệp vụ khai báo HQ của Forwarder B không chuyên nghiệp vì Cty A đã từng xuất hàng rất nhiều lần mà không xảy ra những phát sinh thế này.  

Trong  khi  đó,  đối  tác  của  Forwarder  B  ở  Korea,  không  ngừng  hối  thúc  giao  hàng càng  sớm  càng  tốt.  Forwarder  B  viết  mail  cập  nhật  thông  tin  cho  cho  đối  tác  bên Korea tình trạng thực tế của lô hàng.  

Có lẽ, nhận được thông tin yêu cầu của nhà NK phía Korea, nên cty A đồng ý cung cấp Giấy phép XK (sao y công chứng).  

Do lô hàng rất gấp nên Forwarder B cho nhân viên nhận chứng từ rồi giao ngay cho giao nhận hiện trường ờ SB, chưa kịp kiểm tra hồ sơ. 

Giấy phép XK được bổ sung cũng không đủ điều kiện để XK, HQ Sân bay TSN yêu cầu bổ sung hóa đơn GTGT mua nguyên liệu của lô hàng XK nêu trên (bản photo sao 

y công ty A và bản chính đối chiếu). 

Nhận  được  thông  tin  phản  hồi  của  Forwarder  B,  nhưng  công  ty  A không  thể  cung cấp  kịp  thời  hóa  đơn  GTGT  bản  chính,  vì  chứng  từ  này  đang  ở  nhà  máy  ở  Bình Thuận, không đáp ứng được tiến độ giao hàng. 

Forwarder B tiếp tục cập nhật thông tin cho đối tác của mình bên Korea, trong khi chờ đợi thông tin của Cty A. 

Trong  lúc  công  ty  A  đang  loay  hoay  tìm  cách  gửi  hóa  đơn  GTGT  bản  gốc  vào  Tp. HCM thì đối tác bên Korea đã quyết định hủy lô hàng này. 

Về phí Forwarder B :  

Trang 13

đi lại do Forwarder B chịu, vì hàng hóa vẫn chưa vận chuyển ra SB. Tuy nhiên, họ bị phàn nàn rất nhiều từ phía đối tác bên Korea, uy tín của họ ít nhiều đã bị ảnh hưởng. Sau này, nếu đối tác bên Korea muốn hợp tác với Forwarder B, đặc biệt cho những lô hàng mục tiêu, hay những lô hàng lớn, họ sẽ phải cân nhắc rất nhiều. 

Ngoài ra, Forwarder B còn bị Airline phàn nàn vì liên tục book chỗ nhưng lại hủy do không hoàn thành kịp thủ tục HQ. Nếu trong tương lai, nếu Forwarder B cần giữ chỗ cho những lô hàng thật sự gấp thì Airline cũng khó mà tin tưởng để dành chổ cho Forwarder B trong những lúc hàng hóa vào mùa cao điểm. 

Nguyên nhân là do ban đầu, BP Operation của Forwarder B báo giá thủ tục không tham khảo ý kiến của BP Logictics nên Forwarder B không có ghi chú những chứng 

từ cần thiết khi làm thủ tục HQ xuất khẩu mặt hàng này. 

Theo Thông tư 04/2012/TT‐BXD ngày 20 tháng 09 năm 2012, có quy định rõ ở Điều 5, mục 3, 

‐ khoản a : Đối với doanh nghiệp tự khai thác và chế biến khoáng sản hoặc được ủy  quyền khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản: Doanh nghiệp phải có bản sao  công chứng giấy phép khai thác khoáng sản và giấy chứng nhận đầu tư dự án chế  biến khoáng sản. Trường hợp, đơn vị khai thác khoáng sản chưa có nhà máy chế  biến phải bổ sung giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến của đơn vị đã được thuê  chế biến khoáng sản và hợp đồng thuê chế biến khoáng sản. 

‐ khoản  b  :  Đối  với  doanh  nghiệp  mua  khoáng  sản  để  chế  biến  xuất  khẩu:  Doanh  nghiệp  phải  có  bản  sao  công  chứng  các  giấy  phép  khai  thác  khoáng  sản,  hoá  đơn  thuế giá trị gia tăng và giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến khoáng sản của bên  bán .  

 

Về phí Công ty A :  

Họ  đã  đã  là  nhà  XK  chuyên  nghiệp  mặt  hàng  này,  nhưng  hhọ  không  hợp  tác  với Forwarder B để hoàn thành nhanh chóng thủ tục gửi lô hàng. Nhìn một cách phiến diện,  họ  không  bị  tổn  thất  về  mặt  tiền  bạc  nhưng  việc  gián  tiếp  làm  chậm  trễ  và không gửi được lô hàng đã làm cho họ mất đi cơ hội kinh doanh, giảm đi uy tín trên thường  trường,  chưa  kể  đối  tác  bên  phía  Korea  là  một  nhà  NK  vô  cùng  tiềm  năng 

Trang 14

‐ Mặt hàng : Áo voan nữ. 

‐ Số lượng : 25 kiện = 500.00kg (GW) 

‐ Điều kiện xuất hàng FCA TSN Airport 

Hàng khai ở HQ Phú Yên, TKHQ luồng vàng, miễn kiểm. Cty A gửi TKHQ và hàng hóa cho Forwarder B để làm thủ tục giao hàng ở Sân Bay TSN. 

Khi hàng qua trạm cân thì trọng lượng thực tế hàng hóa là 380.00 kg (GW) lệch 120kg 

so với TKHQ (lệch trên 20%). Do đó không thanh lý TKHQ được, nghĩa là hàng hóa không đi được chuyến bay này, dù Forwarder B đã tìm mọi cách. 

Cty A phải gửi hàng hóa vào kho, đóng phí lưu kho, chờ bổ sung Biên bản bàn giao 

từ HQ Phú Yên & TKHQ bỏ vào phong bì có niêm phong HQ Phú Yên, Biên Bản bàn giao ghi rõ hàng hóa 380.00 kg (GW), và hàng hóa chờ đi chuyến tiếp theo, do TKHQ 

ở Phú Yên vẫn còn ghi tay trên mẫu TKHQ điện tử có mã vạch, vẫn xem là TKHQ khai thủ công, bắt buộc phải có Biên Bàn Giao của HQ bàn giao. 

Cty A phàn nàn công ty Forwarder B không tư vấn cho họ trước, vì những lô hàng ở cảng họ vẫn là TKHQ ghi tay, nhận hàng ở tất cả các cảng bình thường. 

Thực tế, nếu hàng không lệch kg quá nhiều, vẫn có thể yêu cầu HQ Phú Yến fax Biên Bản bàn giao vào HQ sân bay TSN, và bổ sung BBBG gốc sau, nhưng hàng lệch trên 20% nên HQ không giải quyết cho hàng đi. 

 

Trang 17

 

Trang 18

 

Trang 23

 

Trang 24

 

Trang 26

 

Trang 29

   

Trang 31

   

Trang 33

   

Trang 35

 

Ngày đăng: 14/08/2015, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w