‐ Khai sai loại hình XK như XKD hoặc XĐT/KD, XSX hay XĐT/SX… ‐ Khai sai SB đi, hay sai SB đến,… ‐ Trong quá trình khai báo nếu phát hiện sai xót, có thể khai thay đổi bổ sung, nếu như kh
Trang 2CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT RỦI RO TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA XNK ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG
Rủi ro chủ quan hoàn toàn có thể hạn chế, cũng như khắc phục, tùy thuộc ý thuật kỹ luật của nhân viên và khả năng quản lý của các bên liên quan.
Trang 32 Rủi ro khách quan
Là tất cả những rủi ro phát sinh do khách quan bên ngoài trong suốt quá trình giao nhận hàng hóa.
CHƯƠNG II : NHỮNG RỦI RO TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA XNK ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG & BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO
I Quy trình giao hàng hóa XK bằng đường hàng không, những rủi ro phát sinh
và giải pháp hạn chế, khắc phục.
1 Quy trình giao hàng hóa XK
Sơ đồ quy trình giao hàng hóa XK
Trang 4
(3b) Chuẩn bị hồ sơ xin các
Chứng từ cần thiết khác (nếu có):
Giấy phép XK, kiểm tra Văn Hóa phẩm, kiểm tra VSATTP, kiểm tra chất lượng, kiểm dịch
Trang 52 Những rủi ro phát sinh trong quá trình giao hàng hóa XK & giải pháp khắc phục, hạn chế.
‐ Book phương tiện không đúng, không chất lượng, có thể gây chậm trễ hoặc
hư hỏng thất thoát hàng hóa.
‐ Hàng hóa XK, phải đóng gói, dán shipping mark cẩn thận, ghi chú xếp dỡ đầy đủ…nếu thiếu hoặc sai xót sẽ gây tổn thất hàng hóa, dẫn đến phải bồi thường cho đối tác.
‐ Có nhiều trường hợp đóng gói không cẩn thận, khi đến trạm cân, đo hàng hóa, phát hiện kiện hàng không đủ điều kiện phải gia cố và không phải lúc nào cũng có thể gia cố được, và chi phí khá cao.
VD : …
(3) + (4)Chuẩn bị hồ sơ và khai báo HQ,
‐ Là khâu quan trọng nhất, và thường xảy ra sai xót nhất. Tất cả thông tin trên TKHQ nếu sai xót đều gây ra hậu quả nghiêm trọng tùy theo mức độ,
và gây chậm trễ tiến độ giao hàng.
Trang 6‐ Sai xót thường gặp như sai số & ngày Contract, số & ngày Invoice, sai tên hàng, ký mã hiệu, số lượng, đơn vị tính, trị giá, số kiện, số kg, … thường là lấy thông tin của lô hàng cũ, hoặc lô hàng khác.
‐ Khai sai loại hình XK như XKD hoặc XĐT/KD, XSX hay XĐT/SX…
‐ Khai sai SB đi, hay sai SB đến,…
‐ Trong quá trình khai báo nếu phát hiện sai xót, có thể khai thay đổi bổ sung, nếu như không phát hiện sai xót, đến khi trình hồ sơ giấy bị HQ phát hiện thì quay về khai báo lại sẽ tốn nhiều thời gian hơn.
‐ Ngoài ra, có nhiều trường hợp không thể khai thay đổi bổ sung, chỉ có thể được khai thay đổi bổ sung với những trường hợp được cho phép trong TT128/BTC có hiệu lực từ cuối năm 2013.
‐ Chuẩn bị chứng từ để xin Giấy phép hay các chứng thư khác đều gây chậm trễ và thiệt hại.
(5)Trình hồ sơ giấy cho HQ kiểm tra,
‐ Phải đầy đủ, chính xác, sắp xếp theo thứ tự quy định, nếu thực hiện không xác có thể gây chậm trễ.
‐ Kiểm hàng, cũng như khâu trình hồ sơ giấy cho HQ, đòi hỏi khả năng nghiệp vụ và kinh nghiệm của nhân viên giao nhận hiện trường, vì HQ có quyền chất vấn hay chuyển luồng TKHQ từ Xanh, Vàng sang Đỏ (nhưng không có chiều ngược lại) nếu thấy hàng hóa cần kiểm tra thực tế. Điều này tùy thuộc rất nhiều vào khả năng ứng biến và kinh nghiệm hiện trường của nhân viên giao nhận.
(6) Giao chứng từ, hàng hóa cho người chuyên chở/đại lý chuyên chở,
‐ Xem như đã hoàn thành nhiệm vụ, tuy nhiên hàng hóa cần phải qua qua trạm cân và thanh lý HQ thì mới xem như an toàn. Cho nên nhân viên giao nhận hiện trường phải chờ hàng hóa thanh lý HQ xong, nhận TKHQ từ phía nhà nhà chuyên chở/đại lý chuyên chở, đề phòng hàng có lệch kg, bao
bì không điều kiện, thì còn thời gian xử lý.
‐ Hiện tại, ở nước ta XK được khuyến khích nên thủ tục có phần nhanh chóng và ưu tiên hơn hàng NK, tuy nhiên do đặc thù hàng Air hạn chế về
Trang 7‐ Từ khâu chuẩn bị chứng từ khai báo HQ và các chứng từ cần thiết khác, phải kiểm tra thật chặt chẽ, kiểm tra chéo thông tin với nhau, đảm bảo thông tin trên TKHQ và các chứng từ liên khác hoàn toàn chính xác, đúng
và đủ, trường hợp thiếu khả năng hoặc chưa đủ kinh nghiệm trong xử lý chứng từ, có thể xin ý kiến cấp trên, tránh trường hợp sai lại càng sai.
‐ Khâu đóng gói hàng hóa phải đảm bảo đóng gói tốt, cân đo chính xác, cẩn thận, tránh trường hợp ước chứng kích thước và trọng lượng hàng dẫn đến khai hàng lệch trọng lượng thực tế, đồng thời ảnh hưởng đến việc sắp xếp phương tiện vận chuyển.
Mặc dù, không có quy định cụ thể nào cho phép lệch trọng lượng, nhưng chênh lệch khoảng dưới 10% thì hàng hóa có thể được chấp nhận ở khâu thanh lý HQ.
‐ Trong suốt quá trình khai báo hàng ở Sân bay, nhân viên phụ trách XNK phải theo dõi, đảm báo hàng hóa đúng tiến độ và kịp thời xử lý nếu có trục trặc phát sinh, nhân viên hiện trường cũng phải cập nhật thông tin thường xuyên, và báo cáo kịp thời những khó khăn mà ở hiện trường không thể xứ
Trang 8(2b) Chuẩn bị hồ sơ xin các Chứng từ cần thiết khác (nếu có):
Giấy phép NK, kiểm tra Văn Hóa phẩm, kiểm tra VSATTP, kiểm tra chất lượng, kiểm dịch
di lý hàng về kiểm hàng ở HQ mở TK
Trang 92 Những rủi ro phát sinh trong quá trình giao hàng hóa NK & giải pháp hạn chế, khắc phục.
(2) Nhận bộ chứng tư gồm Bill, INV, PList để chuẩn bị hồ sơ khai báo HQ.
‐ Nếu không kiểm tra chứng từ với HĐNT, có thể khai sai thông tin do với thực tế hàng, vì đôi khai hàng về thực tế ít hơn HĐ, hoặc nhà XK gửi hàng thêm mà không thông báo. Do đó không kiểm tra kỹ thông tin khi khai hàng đôi khi DN bị vi phạm khi kiểm tra hàng thực tế.
‐ Nếu Bill hàng hóa có sai xót cần chỉnh sửa nhưng không phát hiện kịp thời,
và khai HQ trước khi chỉnh manifest (gồm cả hàng đường biển) sẽ bị phát rất nặng, ảnh hưởng đến quyền lợi của DN sau này, như ân hạn miễn kiễm hàng, ân hạn ưu đãi thuế,…
‐ Chuẩn bị hồ sơ để xin Giấp phép hoặc các chứng thư khác nếu không cẩn thận, sai xót hay thiếu thông tin cũng gây ra chậm trễ.
VD : Hàng về 110 cái, nhưng khi chuẩn bị hồ sơ xin Giấy phép tự động chỉ
có 101 cái, khi nhận được GP tự động sẽ không nhận được hàng.
Trang 10
(3) Khai HQ qua mạng
‐ Nếu khai không chính xác những thông tin trên TKHQ sẽ gây khó khăn, chậm trễ khi nhận hàng, đôi khi lại gây ảnh hưởng đến thanh toán cho lô hàng.
VD :…
‐ Sân bay TSN hiện có hai kho nhận hàng NK là kho TCS & kho SCSC, nếu khai sai mã kho nhận hàng thì bắt buộc phải khai thay đổi bổ sung, và đợi
duyệt TK bổ sung phải mất ít nhất 1 ngày.
‐ Đối với hàng nhập kinh doanh, nếu khai không đủ thông tin hàng hóa như nhãn hiệu, công suất, model,…nói chung là những thông tin gây ảnh hưởng đến giá cả của hàng hóa, hay khai không chính xác mã HS, HQ sẽ yêu cầu
khai bổ sung, và tiến độ nhận hàng sẽ chậm lại ít nhất 1 ngày.
‐ Theo TT128 năm 2013 có cho phép DN tham khao ý kiến HQ trước khi khai báo về tên hàng mã HS, tuy nhiên thủ tục này mất hơn một tháng, cho nên
hiếm khi DN nào chọn giải pháp này.
(4) Khi nhận bộ chứng từ gốc, Bill
‐ Nếu không kiểm tra thông tin trên Giấy ủy quyền, có thể không nhận được hàng mà phải quay lại yêu cầu nhà chuyên chở/đại lý chuyên chở chỉnh sửa.
(5) Trình hồ sơ giấy cho HQ
‐ Hiện nay, toàn quốc đã áp dụng phần mềm khai báo HQ điện tử E‐cus4, mạng sẽ tự động duyệt TK, phân luồng. Có những chứng từ mà khi phản hồi trên phần mềm không yêu cầu, nhưng khi trình hồ sơ giấy sẽ phải xuất trình. Nếu DN không biết trước hoặc thiếu kinh nghiệm, sẽ phải bị từ chối
hồ sơ và phải quay về chuẩn bị.
Trang 11VD2 : Theo QĐ 50 của Thủ tướng Chính Phủ, một số mặt hàng phải kiểm tra CLNN trước khi mở TK, và phải có kết quả mới thông quan hàng theo điều 27 của TT 128, nếu DN không nắm rõ quy định, sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để chuẩn bị chứng từ.
cũ, hay một số hàng hóa phải dán nhãn năng lượng, để hỗ trợ chính sách vĩ mô của nhà nước. Do đó nhà NK cần cập nhật thông tin thường xuyên, để không bị ách tắt trong khâu khai báo HQ, nhằm hạn chế phát sinh phí cho DN.
‐ Số lượng : 2 tấm = 2 Kiện = 100.00 kgs (GW)
Trang 12‐ Hàng xuất theo điều kiện Exw Tp. Hồ Chí Minh, không thanh toán.
Do đó, nhà chuyên chở ở VN ‐ Forwarder B ‐ sẽ làm tất cả thủ tục để giao hàng đến nhà NK ở Korea. Lô hàng này được khai HQ theo loại hình Phi Mậu dịch, hàng mẫu. Trước khi chuẩn bị hồ sơ khai báo HQ, Forwarder B liên hệ công ty A để lấy thông tin, chi tiết để chuẩn bị TKHQ, và yêu cầu Giấy phép XK của lô hàng này. Công ty A cho rằng đây chỉ là lô hàng mẫu nên không cần phải trình Giấy phép.
Forwarder B trình hồ sơ khai HQ ở HQ SB Tân Sơn Nhất, và được yêu cầu bổ sung Giấy Phép. Forwarder B phản hồi thông tin cho Công ty A và nhận được sự phàn nàn về nghiệp vụ khai báo HQ của Forwarder B không chuyên nghiệp vì Cty A đã từng xuất hàng rất nhiều lần mà không xảy ra những phát sinh thế này.
Trong khi đó, đối tác của Forwarder B ở Korea, không ngừng hối thúc giao hàng càng sớm càng tốt. Forwarder B viết mail cập nhật thông tin cho cho đối tác bên Korea tình trạng thực tế của lô hàng.
Có lẽ, nhận được thông tin yêu cầu của nhà NK phía Korea, nên cty A đồng ý cung cấp Giấy phép XK (sao y công chứng).
Do lô hàng rất gấp nên Forwarder B cho nhân viên nhận chứng từ rồi giao ngay cho giao nhận hiện trường ờ SB, chưa kịp kiểm tra hồ sơ.
Giấy phép XK được bổ sung cũng không đủ điều kiện để XK, HQ Sân bay TSN yêu cầu bổ sung hóa đơn GTGT mua nguyên liệu của lô hàng XK nêu trên (bản photo sao
y công ty A và bản chính đối chiếu).
Nhận được thông tin phản hồi của Forwarder B, nhưng công ty A không thể cung cấp kịp thời hóa đơn GTGT bản chính, vì chứng từ này đang ở nhà máy ở Bình Thuận, không đáp ứng được tiến độ giao hàng.
Forwarder B tiếp tục cập nhật thông tin cho đối tác của mình bên Korea, trong khi chờ đợi thông tin của Cty A.
Trong lúc công ty A đang loay hoay tìm cách gửi hóa đơn GTGT bản gốc vào Tp. HCM thì đối tác bên Korea đã quyết định hủy lô hàng này.
Về phí Forwarder B :
Trang 13đi lại do Forwarder B chịu, vì hàng hóa vẫn chưa vận chuyển ra SB. Tuy nhiên, họ bị phàn nàn rất nhiều từ phía đối tác bên Korea, uy tín của họ ít nhiều đã bị ảnh hưởng. Sau này, nếu đối tác bên Korea muốn hợp tác với Forwarder B, đặc biệt cho những lô hàng mục tiêu, hay những lô hàng lớn, họ sẽ phải cân nhắc rất nhiều.
Ngoài ra, Forwarder B còn bị Airline phàn nàn vì liên tục book chỗ nhưng lại hủy do không hoàn thành kịp thủ tục HQ. Nếu trong tương lai, nếu Forwarder B cần giữ chỗ cho những lô hàng thật sự gấp thì Airline cũng khó mà tin tưởng để dành chổ cho Forwarder B trong những lúc hàng hóa vào mùa cao điểm.
Nguyên nhân là do ban đầu, BP Operation của Forwarder B báo giá thủ tục không tham khảo ý kiến của BP Logictics nên Forwarder B không có ghi chú những chứng
từ cần thiết khi làm thủ tục HQ xuất khẩu mặt hàng này.
Theo Thông tư 04/2012/TT‐BXD ngày 20 tháng 09 năm 2012, có quy định rõ ở Điều 5, mục 3,
‐ khoản a : Đối với doanh nghiệp tự khai thác và chế biến khoáng sản hoặc được ủy quyền khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản: Doanh nghiệp phải có bản sao công chứng giấy phép khai thác khoáng sản và giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến khoáng sản. Trường hợp, đơn vị khai thác khoáng sản chưa có nhà máy chế biến phải bổ sung giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến của đơn vị đã được thuê chế biến khoáng sản và hợp đồng thuê chế biến khoáng sản.
‐ khoản b : Đối với doanh nghiệp mua khoáng sản để chế biến xuất khẩu: Doanh nghiệp phải có bản sao công chứng các giấy phép khai thác khoáng sản, hoá đơn thuế giá trị gia tăng và giấy chứng nhận đầu tư dự án chế biến khoáng sản của bên bán .
Về phí Công ty A :
Họ đã đã là nhà XK chuyên nghiệp mặt hàng này, nhưng hhọ không hợp tác với Forwarder B để hoàn thành nhanh chóng thủ tục gửi lô hàng. Nhìn một cách phiến diện, họ không bị tổn thất về mặt tiền bạc nhưng việc gián tiếp làm chậm trễ và không gửi được lô hàng đã làm cho họ mất đi cơ hội kinh doanh, giảm đi uy tín trên thường trường, chưa kể đối tác bên phía Korea là một nhà NK vô cùng tiềm năng
Trang 14‐ Mặt hàng : Áo voan nữ.
‐ Số lượng : 25 kiện = 500.00kg (GW)
‐ Điều kiện xuất hàng FCA TSN Airport
Hàng khai ở HQ Phú Yên, TKHQ luồng vàng, miễn kiểm. Cty A gửi TKHQ và hàng hóa cho Forwarder B để làm thủ tục giao hàng ở Sân Bay TSN.
Khi hàng qua trạm cân thì trọng lượng thực tế hàng hóa là 380.00 kg (GW) lệch 120kg
so với TKHQ (lệch trên 20%). Do đó không thanh lý TKHQ được, nghĩa là hàng hóa không đi được chuyến bay này, dù Forwarder B đã tìm mọi cách.
Cty A phải gửi hàng hóa vào kho, đóng phí lưu kho, chờ bổ sung Biên bản bàn giao
từ HQ Phú Yên & TKHQ bỏ vào phong bì có niêm phong HQ Phú Yên, Biên Bản bàn giao ghi rõ hàng hóa 380.00 kg (GW), và hàng hóa chờ đi chuyến tiếp theo, do TKHQ
ở Phú Yên vẫn còn ghi tay trên mẫu TKHQ điện tử có mã vạch, vẫn xem là TKHQ khai thủ công, bắt buộc phải có Biên Bàn Giao của HQ bàn giao.
Cty A phàn nàn công ty Forwarder B không tư vấn cho họ trước, vì những lô hàng ở cảng họ vẫn là TKHQ ghi tay, nhận hàng ở tất cả các cảng bình thường.
Thực tế, nếu hàng không lệch kg quá nhiều, vẫn có thể yêu cầu HQ Phú Yến fax Biên Bản bàn giao vào HQ sân bay TSN, và bổ sung BBBG gốc sau, nhưng hàng lệch trên 20% nên HQ không giải quyết cho hàng đi.
Trang 17
Trang 18
Trang 23
Trang 24
Trang 26
Trang 29
Trang 31
Trang 33
Trang 35