1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

toàn văn LUẬN án TIẾN sĩvăn hóa học bản sắc dân tộc trong hội họa miền nam giai đoạn 1954 1975

253 605 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 253
Dung lượng 36,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, TrầnNhững khuynh hướng chủ yếu trong văn học chữ Hán đời Lí, Trần

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN

GIAI ĐOẠN 1954-1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



MÃ THANH CAO

BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG HỘI HỌA MIỀN NAM

GIAI ĐOẠN 1954-1975

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62.31.70.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Dũng

Thành phố Hồ Chí Minh, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án Bản sắc dân tộc trong hội họa miền Nam giai đoạn

1954 – 1975 là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng lắp, sao chép

của bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác giả

khác

Mã Thanh Cao

Trang 4

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

1 BSDT: Bản sắc dân tộc

2 BSVHDT: Bản sắc văn hóa dân tộc

3 BTMT: Bảo tàng Mỹ thuật Thanh phố Hồ Chí Minh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ………

BẢN VIẾT TẮT ………

MỤC LỤC ………

MỞ ĐẦU ………

1 Lý do chọn đề tài ………

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài ………

2.1 Sách, công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về văn hóa 2.2 Sách, công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về hội họa 3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu ………

4.1 Phương pháp nghiên cứu ………

4.2 Nguồn tư liệu ………

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án ………

5.1 Ý nghĩa khoa học ………

5.2 Ý nghĩa thực tiễn………

6 Kết cấu và quy cách trình bày luận án ……….

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN ………

1.1 Dân tộc, bản sắc, bản sắc dân tộc ………

1.1.1 Dân tộc ……….

1.1.2 Bản sắc ………

1.1.3.Bản sắc dân tộc …………………… ………… ………

1.2 Nhận diện bản sắc dân tộc trong hội họa Việt Nam…………

1.2.1 Hội họa ………

1.2.2 Các góc độ nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc trong hội họa Việt Nam 1.3 Định hướng nghiên cứu bản sắc dân tộc trong hội họa miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 .………

1

1

4

4

4

7

7

7

8

9

9

9

9

10

10

10

11

12

21

21

33

46

Trang 6

1.3.1 Tiêu chí nhận diện bản sắc dân tộc qua nội dung

1.3.2 Tiêu chí nhận diện bản sắc dân tộc qua hình thức………

Tiểu kết ……… CHƯƠNG 2: BẢN SẮC DÂN TỘC THỂ HIỆN QUA NỘI DUNG TÁC

PHẨM HỘI HỌA ……… 2.1 Bản sắc dân tộc thể hiện qua nội dung hội họa vùng giải phóng………

2.1.1 Bản sắc dân tộc thể hiện qua chủ đề hội họa vùng giải phóng …………

2.1.2 Bản sắc dân tộc thể hiện qua hình tượng nghệ thuật trong hội họa vùng

giải phóng ………

2.1.3 Những giá trị tư tưởng của hội họa vùng giải phóng ………

2.2.1 Bản sắc dân tộc thể hiện qua chủ đề tác phẩm vùng tạm chiếm…………

2.2.2 Bản sắc dân tộc thể hiện qua hình tượng nghệ thuật trong hội họa vùng

tạm chiếm ………

2.2.3 Những giá trị tư tưởng của hội họa vùng tạm chiếm ………

Tiểu kết ……… CHƯƠNG 3: BẢN SẮC DÂN TỘC THỂ HIỆN QUA HÌNH THỨC TÁC PHẨM HỘI HỌA ……… …

3.1 Bản sắc dân tộc thể hiện qua hình thức của hội họa vùng giải phóng

3.1.1 Bản sắc dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ và xu hướng sáng tác hội họa

vùng giải phóng ………

3.1.2 Bản sắc dân tộc thể hiện qua chất liệu hội họa vùng giải phóng ………

3.2 Bản sắc dân tộc thể hiện qua hình thức của hội họa vùng tạm chiếm

3.2.1 Bản sắc dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ và xu hướng sáng tác hội họa

Trang 7

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA ……… 180

Trang 8

Những hạn chế trong công tác sáng tác và nghiên cứu phê bình mỹ thuật cũng đang là vấn đề cần được quan tâm, phân tích đánh giá và tìm hướng khắc phục Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của văn hóa nói chung và nghệ thuật nói riêng luôn được chú trọng trong các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, nhất là trong Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII Khi tiến hành đường lối đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh”, trong những năm qua, Đảng ta luôn chú trọng đến việc phát triển văn hóa nghệ thuật, Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VII khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Chúng ta đã có những bước phát triển mới trong lĩnh vực văn hóa nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng Các loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc được gìn giữ và phát huy, các di sản văn hóa được chú trọng bảo tồn, đội ngũ sáng tác ngày càng đông hơn và “có thêm nhiều tác phẩm có giá trị về đề tài cách mạng, về công cuộc đổi mới” [61, tr.43] Trong công tác nghiên cứu, lý luận phê bình văn hóa nghệ thuật cũng “đã đạt được những kết quả tích cực, khẳng định mạnh mẽ văn nghệ cách mạng và kháng chiến, đẩy lùi một bước những quan điểm sai trái” [61, tr.43-44]

Mặc dù đã đạt được những thành tựu như thế, nhưng vẫn còn những hạn chế trong sáng tác và nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật Sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, chiến thắng hào hùng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng như những thành quả đáng tự hào trong công cuộc đổi mới, nhưng cho đến nay chúng ta “có rất ít tác phẩm đạt đỉnh cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc và thành quả đổi mới” [61, tr.44]

Trang 9

Trong một bộ phận công chúng xuất hiện “tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo thị hiếu và lối sống thực dụng” [61, tr.46] Nguy hiểm hơn nữa có những lúc còn “nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn hóa cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn xã hội với thái độ bi quan, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục

tư tưởng và thẩm mỹ của văn học nghệ thuật bị suy giảm” [48, tr.48]

Nghiên cứu mỹ thuật nói chung và hội họa nói riêng là một trong những đề tài đang được nhiều người yêu nghệ thuật, nhiều cơ quan chức năng quan tâm, đặc biệt trong giới mỹ thuật Hội họa Việt Nam thế kỷ XX đã bước sang một giai đoạn mới với những thành tựu quan trọng, từ việc thành lập các trung tâm đào tạo nghệ sĩ chính quy, tiếp thu những kiến thức khoa học của hội họa phương Tây, duy trì, phát huy những loại hình, chất liệu của nghệ thuật truyền thống; đến những nét mới trong mục đích, yêu cầu, nội dung và phong cách thể hiện Hội họa đã được hình thành, phát triển qua các giai đoạn gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc

và phản ánh sinh động đời sống xã hội Trong giai đoạn từ 1954 – 1975, hội họa Việt Nam phát triển khá đặc biệt, gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả dân tộc; khi miền Bắc vừa xây dựng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội vừa là hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, còn ở miền Nam là thời kỳ đấu tranh gian khổ trên nhiều mặt trận: quân sự, chính trị, văn hóa…

Riêng hội họa ở miền Nam nói chung và Nam bộ nói riêng, do điều kiện lịch sử đặc biệt, nên có những nét đặc trưng riêng với dòng hội họa Cách mạng ở vùng Giải phóng vừa có giá trị mỹ thuật, vừa có giá trị lịch sử và giá trị nhân văn Còn hội họa

ở vùng tạm chiếm, chủ yếu ở Sài Gòn, do hoàn cảnh cụ thể nên không tránh khỏi những tác phẩm đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, mang tính phản cảm, song dòng chủ lưu của hội họa khu vực này vẫn mang BSDT thể hiện ở tinh thần yêu nước, ý chí tự lập tự cường, tính nhân đạo, lòng nhân ái khoan dung, lối sống giản dị, cần cù sáng tạo Vì vậy, nghiên cứu hội họa giai đoạn này có thể góp phần xóa đi những quan điểm chưa xác đáng về nghệ thuật tạo hình miền Nam nói chung và Nam

bộ nói riêng trong giai đoạn này Các công trình nghiên cứu mang tính khoa học có thể góp phần khẳng định và phát huy giá trị di sản văn hóa nghệ thuật thời kỳ này,

Trang 10

đồng thời giúp cho các bảo tàng, đặc biệt là Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (BTMT) trong công tác sưu tầm, trưng bày giới thiệu với công chúng về các giá trị của hội họa Nam bộ giai đoạn 1954 - 1975

Hội họa Việt Nam thế kỷ XX đã có những bước phát triển quan trọng, luôn gắn với từng giai đoạn lịch sử của dân tộc, phản ánh đời sống xã hội một cách sinh động, phát huy những giá trị truyền thống của nghệ thuật dân tộc và tiếp thu những cái mới, tiến bộ của nền hội họa thế giới Song cho đến nay, việc nghiên cứu, đánh giá về hội họa thế kỷ XX, đặc biệt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ chưa thực sự tương xứng với tầm vóc của nó Hơn nữa, khi đánh giá về những tác phẩm hội họa được sáng tác tại vùng tạm chiếm, nhất là Sài Gòn giai đoạn 1954 – 1975, có ý kiến chưa khách quan

vì cho rằng hội họa ở khu vực này bị ảnh hưởng nặng nề của hội họa phương Tây, mang tính chất thực dân, không thể so sánh với hội họa ở miền Bắc về chất lượng nghệ thuật, nội dung không sát với đời sống thực tế, không quan tâm đến vấn đề dân tộc

BTMT là một trong những nơi rất chú trọng đến việc sưu tầm những tác phẩm hội họa giai đoạn này, nhất là những tác phẩm ra đời ở mảnh đất phương Nam trong những năm tháng chiến tranh ác liệt Bởi đây là một nét riêng và cũng là thế mạnh của bảo tàng mỹ thuật duy nhất của khu vực phía Nam với chức năng sưu tầm, nghiên cứu, lưu giữ bảo quản và trưng bày giới thiệu những di sản nghệ thuật tạo hình của khu vực Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận Nhưng công việc làm hồ sơ, cung cấp thông tin, tư liệu về tác giả, tác phẩm còn gặp rất nhiều khó khăn vì còn quá ít công trình nghiên cứu về hội họa giai đoạn này

Xuất phát từ những yêu cầu trên, đặc biệt là những yêu cầu về việc khẳng định giá trị của hội họa Nam bộ giai đoạn 1954-1975; cũng như khuyến khích sự đầu tư sáng tác những tác phẩm hội họa có giá trị tương xứng mang đậm BSDT nên chúng

tôi chọn vấn đề “Bản sắc dân tộc trong hội họa miền Nam giai đoạn 1954-1975” làm

đề tài luận án của mình

Trang 11

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề BSDT trong hội họa Việt Nam đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, bài viết về văn hóa cũng như các công trình nghiên cứu về mỹ thuật

2.1 Sách, công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về văn hóa

Tác giả Đào Duy Anh trong cuốn sách “Việt Nam văn hóa sử cương” (Thiên

thứ tư, mục XI Nghệ thuật), đã viết: “Nghệ thuật Việt Nam đã nhờ ảnh hưởng của Tàu và tinh thần dân tộc mà gây dựng ra một lối đặc biệt” [1, tr 317] Vào đầu thế kỷ

XX, “lối đặc biệt” đó đã tiếp tục được phát huy bởi chương trình đào tạo của Trường

Mỹ thuật Đông Dương, đã “dung hợp tự nhiên với truyền thống, khiến học sinh phải quan sát và biểu hiện tự nhiên thêm những nguyên tắc mỹ học phổ thông của loài người, và phát triển những tinh thần đặc biệt của nghệ thuật Việt Nam và Đông phương, khiến học sinh lĩnh hội lấy cái đẹp của nghệ thuật xưa và hiểu rằng nó vốn

có quan hệ mật thiết với nhau” [1, tr 326] Như vậy, tác giả đã nhận định một cách khách quan khi cho rằng nghệ thuật Việt Nam không chỉ bảo tồn những giá trị mà còn tiếp thu những tinh hoa của các nền nghệ thuật khác

Tác giả Chu Quang Trứ, người đã có nhiều năm nghiên cứu về các di sản văn

hóa nghệ thuật cổ Việt Nam, trong cuốn sách “Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật”

(mục Qua mỹ thuật, thử tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc) đã cho rằng mỹ thuật Việt Nam là “mảng khá phong phú và đặc biệt là trung thực nhất, đều là nguyên bản, hoàn toàn tin cậy và càng quý là về thời gian bám sát tiến trình lịch sử dân tộc, phản ánh sinh động tính cách văn hóa Việt Nam” [112, tr.103]

2.2 Sách, công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về hội họa

Về mỹ thuật hội họa hiện đại Việt Nam cũng đã có một số nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật quan tâm trong thời gian vừa qua

Họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân là người có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về mỹ thuật hiện đại Việt Nam, tiêu biểu nhất là công

trình “Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20”, xuất bản năm 2010 Trong công trình mang

tính tổng hợp cả lý luận, lịch sử và phê bình mỹ thuật này, tác giả Nguyễn Quân đã giành một phần của chương 3 để nói về sự nỗ lực cách tân, hòa nhập với thế giới của

mỹ thuật đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 và phương pháp hiện thực xã hội chủ

Trang 12

nghĩa ở mỹ thuật vùng giải phóng Trong mối quan hệ với lịch sử Việt Nam, ông cho rằng: “Mỹ thuật Việt Nam là đứa con đĩnh ngộ của lịch sử ấy Nó cũng là dòng chảy soi bóng chân thực nhất diễn trình lịch sử ấy” [90, tr.4]

Tác giả Huỳnh Hữu Ủy là một trong những người quan tâm nhiều đến mỹ thuật Sài Gòn trước năm 1975 ở góc độ lịch sử mỹ thuật và mỹ học Trong cuốn sách

“Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại” (phần về mỹ thuật Sài Gòn 1954-1975), tác

giả đã cố gắng bám sát các sự kiện, cung cấp thông tin về một số khuynh hướng nghệ thuật, một số họa sĩ có vị trí quan trọng trong hội họa và cung cấp một số hình ảnh tác phẩm tiêu biểu

Trong cuốn sách “Nghệ -thuật Việt-Nam hiện đại”, tác giả Nguyễn Văn

Phương đã giới thiệu hình ảnh chọn lọc những tác phẩm hội họa và điêu khắc của mỹ thuật Sài Gòn trước năm 1975 Ở phần Dẫn từ (Lời Giới thiệu), tác giả khái lược các

xu hướng mỹ thuật phương Tây và sự du nhập của một số xu hướng nghệ thuật Sài Gòn trước năm 1975

Nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Bội Trân đã bảo vệ luận án tiến sĩ tại Úc về

mỹ thuật Việt Nam sau năm 1925, trong đó bao gồm mỹ thuật giai đoạn 1954-1975

với đề tài “Thẩm mỹ Việt Nam sau năm 1925” (Vietnamese Aesthetics from 1925

onwards) Tác giả luận án cho rằng, trong quá trình tiếp xúc với nghệ thuật thế giới,

mỹ thuật Việt Nam đã thay đổi bằng cách tiếp thu có chọn lọc những yếu tố ngoại lai

để phát triển và hội nhập Tác giả Bội Trân khẳng định sự tác động đáng kể của kiến trúc, hội họa, điêu khắc và trang phục đối với sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam Tác giả luận án đã giành chương 4 (38 trang) để tìm hiểu, đánh giá về môi trường xã hội, môi trường văn chương, kiến trúc, hội họa, điêu khắc và trang phục ở miền Nam, trong đó tập trung ở mối tương tác và những ảnh hưởng của nghệ thuật thế giới đối với nghệ thuật miền Nam giai đoạn từ 1954 đến 1975

Trong công trình “Mỹ thuật đô thị Sài Gòn – Gia Định từ 1900 đến 1975”, với

điều kiện thuận lợi, tác giả Uyên Huy (Huỳnh Văn Mười) đã tập hợp được nhiều thông tin có giá trị liên quan đến các sự kiện lịch sử và đời sống mỹ thuật tại Sài Gòn

từ năm 1900 đến năm 1975 Tác giả Uyên Huy mong muốn mỹ thuật miền Nam giai

đoạn này được đánh giá một cách khách quan và trung thực

Trang 13

Nhà xuất bản Mỹ thuật là đơn vị lần lượt in các ấn phẩm về lịch sử mỹ thuật

hiên đại Việt Nam như: “Tác giả tác phẩm Mỹ thuật Việt Nam”, “Các họa sĩ Trường

Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương”, “50 năm tranh tượng về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng”, “Tranh lụa Việt Nam”, “Tranh sơn dầu Việt Nam”,

“Tranh sơn mài Việt Nam”, “Tranh khắc gỗ Việt Nam” Đây là những vựng tập hình

ảnh tác phẩm và có bài giới thiệu khái quát về lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại hoặc về một loại chất liệu hội họa

Trong cuốn sách “Mỹ thuật hiện đại Việt Nam” của Viện Mỹ thuật, Trường

Đại học Mỹ thuật Việt Nam, mỹ thuật ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 được đề cập nhưng chỉ giới thiệu chung về lịch sử mỹ thuật giai đoạn này

Ký họa miền Nam đã là đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của người viết năm

2004: “Giá trị lịch sử và giá trị mỹ thuật của ký họa miền Nam tại Bảo tàng Mỹ

thuật Thành phố Hồ Chí Minh” Năm 2011, nhà xuất bản Asia Ink của Anh tại Luân

Đôn đã xuất bản một cuốn sách giới thiệu chung về ký họa chiến trường của Việt Nam Cuốn sách này được bà Cherry Buchana – giám đốc điều hành của nhà xuất bản Asia Ink bắt đầu chuẩn bị từ 2002, khi đến Thành phố Hồ Chí Minh Như vậy, những gì đã làm được còn quá khiêm tốn so với giá trị thực của những ký họa chiến trường

Tại Sài Gòn, trước năm 1975, các bài viết về mỹ thuật thường được in trong

một số báo, tạp chí như: “Tạp chí Bách Khoa”, “Ánh đèn dầu”, “Tạp chí Văn

hóa”… Trong “Tạp chí Bách Khoa” tại Sài Gòn, trước năm 1975 thường có các bài

chuyên sâu của tác giả Đoàn Thêm, sau này gom in thành sách “Tìm hiểu hội họa”

năm 1962, tại số 3 Nguyễn Siêu, Sài Gòn Tác giả phân tích các xu hướng, điều kiện phát triển, một số loại hình hội họa và hướng dẫn phân tích một số tác phẩm của các họa sĩ, bày tỏ quan niệm về nội dung hội họa, quan hệ giữa họa sĩ và công chúng… Những ký họa chiến trường miền Nam trong những năm chống Mỹ đã gây tiếng vang lớn ngay khi lần đầu tiên xuất hiện và triển lãm tại Hà Nội năm 1967, sau

đó trưng bày ở một số nước xã hội chủ nghĩa Các ký họa được in thành các bộ có lời giới thiệu chung với khoảng 400 từ Sau triển lãm đã xuất hiện một số bài viết đăng

trên tạp chí và một số báo như “Ký họa miền Nam” của Thái Hanh đăng trên báo

Trang 14

Văn nghệ ngày 14/10/1996, “Ký họa chiến trường” của Thu Thủy đăng trên báo Nhân dân ngày 2/4/2000, “Một thuở hào hùng của tranh ký họa” của Hồng Chinh Hiền đăng trên Tạp chí Mỹ thuật 4-2002, “Tranh ký họa kháng chiến” của Đặng Thế

Minh đăng trên tạp chí Mỹ thuật số 8 năm 2002

Sau năm 1975 có một số bài viết về hội họa miền Nam trong các báo, một số Tạp chí Mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Viện Mỹ thuật, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật của Viện Văn hóa… Mảng hội họa miền Nam nói chung và Nam bộ nói riêng giai đoạn 1954-1975 hiện chưa được nghiên cứu sâu và ít được đề cập hay đề cập chưa đủ, thiếu khách quan, với những nhận xét thiên lệch trong một số sách, tư liệu về lịch sử mỹ thuật Việt Nam Vấn đề này chưa trở thành đối tượng trình bày trong một công trình chuyên biệt nào nhìn từ góc độ văn hóa cũng như mỹ thuật

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu những tác phẩm để làm rõ BSDT trong hội họa Nam bộ giai đoạn 1954 – 1975, khẳng định những giá trị tinh thần và những tác động của những giá trị đó đến đời sống xã hội trong quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai

Đối tượng nghiên cứu của luận án là BSDT trong hội họa được thể hiện qua nội dung và hình thức các tác phẩm ra đời tại Nam bộ giai đoạn 1954 – 1975

Phạm vi nghiên cứu của luận án là những tác phẩm hội họa giai đoạn

1954-1975 được sáng tác tại Nam bộ, cụ thể là ở vùng giải phóng và vùng tạm chiếm Do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, nên trong luận án này chúng tôi chỉ tập trung ở các tác phẩm được sáng tác bởi các họa sĩ được đào tạo trong trường lớp, mà không đề cập đến mảng mỹ thuật dân gian

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chúng tôi vận dụng trong luận án gồm:

Trang 15

- Phương pháp so sánh: so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa những tác phẩm cùng thể loại của các họa sĩ Việt Nam và thế giới, họa sĩ miền Bắc và miền Nam, họa sĩ vùng tạm chiếm và vùng giải phóng để làm nổi bật BSDT trong hội họa Nam bộ giai đoạn 1954 – 1975

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành, nhất là phân tích mỹ thuật học để làm cơ sở cho quá trình phân tích, so sánh ở các chương tiếp theo

- Phương pháp thực nghiệm: với thuận lợi về vị trí công tác nên trực tiếp xem, nghiên cứu các bộ sưu tập tranh của BTMT, các trưng bày chuyên đề tại đây trong hơn 20 năm qua

- Phương pháp phỏng vấn sâu: thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu các tác giả

4.2 Nguồn tư liệu

Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các nguồn tư liệu sau:

- Những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam, đặc biệt là những tác phẩm ra đời tại miền Nam trong giai đoạn 1954 -1975 Các tác phẩm này đã được in trong các sách xuất bản trước và sau năm 1975 và trưng bày tại các bảo tàng, phòng tranh hoặc các triển lãm nhóm, cá nhân

- Các sách chuyên khảo, những công trình nghiên cứu, các tạp chí chuyên ngành, các bài viết của các tác giả Việt Nam và nước ngoài về văn hóa, bản sắc văn hóa, nghệ thuật học, mỹ thuật học và lịch sử mỹ thuật

- Những thông tin lưu lại từ các cuộc phỏng vấn sâu do lợi thế là người trực tiếp làm công tác nghiên cứu, sưu tầm nhiều năm tại BTMT, được tiếp xúc với hầu hết các họa sĩ kháng chiến và nhiều cơ hội gặp các tác giả trong những sự kiện tại đơn vị

- Nguồn tư liệu trên mạng internet gồm: các bài viết, video về chuyên ngành văn

hóa học, mỹ thuật học

Trang 16

- Khẳng định vai trò của văn hóa – nghệ thuật trong kháng chiến cũng như xây dựng đất nước

- Luận án góp phần khẳng định sự cần thiết khách quan phải nghiên cứu, gìn giữ

và phát huy những di sản văn hóa nghệ thuật để góp phần gìn giữ BSDT trong thời đại hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần định hướng cho chuyên ngành sáng tác và ngành nghiên cứu phê bình lý luận mỹ thuật

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu có thể góp phần khuyến khích các họa sĩ sáng tác những tác phẩm mỹ thuật vừa mang hơi thở của thời đại vừa chứa đựng những giá trị truyền thống dân tộc trong nội dung cũng như hình thức thể hiện

- Luận án có thể sử dụng như một trong những tài liệu giảng dạy về văn hóa và mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 trong các trường trung học và đại học

- Luận án là một tài liệu có ý nghĩa quan trọng mang tính chất thực tiễn đối với các bảo tàng, đặc biệt đối với BTMT, trong việc nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày, định hướng sưu tầm bổ sung và hoàn thiện Bộ sưu tập mỹ thuật miền Nam giai đoạn 1954-1975 của BTMT

- Luận án là một tài liệu sinh động và hấp dẫn có ý nghĩa quan trọng trong công tác tuyên truyền giáo dục về truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và giáo dục thẩm mỹ

6 Kết cấu và quy cách trình bày luận án

Phần chính văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, hình ảnh

minh họa, luận án được chia làm ba chương với 7 tiết và 17 tiểu tiết

Trang 17

Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người

Tộc người theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành về mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội là ngôn ngữ); có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với các tộc người khác (nói ngắn gọn là ý thức tộc người)

Trong 3 yếu tố: 1/ ngôn ngữ, 2/ lãnh thổ, 3/ ý thức tộc người gắn với tộc danh thì yếu tố thứ ba có vai trò đặc biệt Ý thức tự giác của tộc người gắn với tộc danh không chỉ là là yếu tố cần thiết mà còn là yếu tố đầy đủ để hình thành bản sắc tộc

người Khi có dấu hiệu thay đổi về ý thức tự giác của tộc người thì sẽ xuất hiện dấu hiệu thay đổi thành phần tộc người

Ở góc độ triết học, vấn đề tộc người không chỉ gói gọn trong quá trình thu

thập, phân tích các dữ liệu nhân chủng học một cách trực quan mà còn phải nghiên cứu những nhân tố tự nhiên và lịch sử xã hội để làm rõ quá trình phát sinh của một

tộc người

Tộc người với các hình thái kinh tế - xã hội như một cơ thể xã hội gồm tập thể những con người luôn thống nhất, có tên tự gọi (tên chính trị), chiếm một lãnh thổ nhất định (khởi nguyên là quyền sở hữu đất đai của một cộng đồng) và cùng có những đặc điểm chung về ngôn ngữ và văn hóa

Lịch sử loài người với tính cách là tổng thể lịch sử của các cộng đồng Quá trình hình thành nhà nước trong lịch sử nhân loại khởi đầu từ tộc người đã được Mác

và Ăngghen đề cập trong các tác phẩm của mình Ở đây, có thể diễn giải quá trình đó theo bảng sau:

Trang 18

 Giai cấp (đấu tranh giai cấp)

nước Con người với tính cách là con người hiện thực, là chủ thể lịch sử có quá trình hình thành và phát triển gắn với sự biến đổi của các phương thức sản xuất trong những điều kiện địa lí tự nhiên nhất định Chủ thể lịch sử khẳng định không gian sinh tồn của mình thông qua việc xác định chủ quyền lãnh thổ Quá trình hình thành dân tộc trong lịch sử nhân loại bắt đầu từ mối quan hệ giữa con người với môi trường sống (theo Mác và Ăngghen) được diễn giải theo bảng sau:

 Phân li và hợp nhất các hình thái cộng động người từ các nguyên nhân kinh tế, chính trị, văn hóa

 Dân tộc

Như vậy, “Dân tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi của mình” [41, tr.23]

Khi nghiên cứu dân tộc tính, tác giả công trình này có thiên hướng đi vào bản chất của tộc người để làm rõ tính dân tộc trong hội họa Điều này dễ hiểu bởi đi tìm thuộc tính dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc trong hội họa là điều không dễ, nếu không nói là cực kì phức tạp Hội họa Nam bộ có sự tham gia của nhiều họa sĩ thuộc các tộc người trong khu vực Nam bộ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả tập trung sử dụng những tác phẩm của các tác giả người Việt Vì vậy dân tộc tính được thể hiện trong công trình này chủ yếu là Việt tính Trên định hướng này, khi truy tìm dân tộc tính trong công trình này, chúng tôi tập trung vào tộc người Việt Từ đây trở đi, khái niệm dân tộc (Việt Nam) trong hội họa Nam bộ được hiểu theo tinh thần này

1.1.2 Bản sắc

Thuật ngữ bản sắc được giải thích khá thống nhất trong các từ điển Hán -Việt,

từ điển tiếng Việt Theo đó, bản là gốc, cái thuộc về phần mình, gốc đầu mọi việc;

Trang 19

sắc là màu, vẻ, dung mạo Bản sắc còn có một nghĩa khác là tính chất đặc biệt vốn

có, là: “Tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính” [94, tr 39]

Trong tiếng Anh, identity (bản sắc) có nghĩa là đồng nhất Theo nhà nghiên cứu Graumann, “bản sắc (identity) chủ yếu có ba điều: nhận ra người khác, tự nhận diện chính mình, và phân biệt mình với người khác” [140]

Với những nét nghĩa nêu trên, chắc chắn sẽ đưa đến nhiều cách giải thích khác nhau về cụm từ “bản sắc văn hóa” Dựa vào sách vở và thực tế áp dụng, chúng ta có thể rút ra một số điểm đáng lưu ý từ nội dung của các định nghĩa vừa nêu như sau: Bản sắc gắn với quá trình hình thành và phát triển của đối tượng

Bản sắc thể hiện sự đồng nhất qua hàng loạt sự vật, hiện tượng

Bản sắc chứa đựng những nét riêng để có thể nhận ra diện mạo và bản chất một đối tượng

Bản sắc có xu hướng tiến tới đồng nhất hóa nên không phải là những cái riêng

lẻ, chi tiết, vì vậy, càng khái quát càng dễ tiếp cận bản sắc của một đối tượng

Các nội dung nêu trên được xem là những tiêu chí đủ để xem xét bản sắc của một nền văn hóa

1.1.3 Bản sắc dân tộc

“BSDT không phải một đặc tính có sẵn; có nhiều công trình nghiên cứu đã

chỉ ra rằng BSDT của cá nhân xuất phát trực tiếp từ sự hiện diện của các yếu tố chung trong cuộc sống thường nhật của mọi người: biểu tượng dân tộc, ngôn ngữ, màu sắc dân tộc, lịch sử quốc gia, nhận thức dân tộc, quan hệ ruột thịt, văn hóa, âm nhạc, ẩm thực, truyền thanh truyền hình” [133]

BSDT được thể hiện trên cả hai bình diện vật thể và phi vật thể Tuy nhiên, BSDT không phải là các sự vật hiện tượng cụ thể, cũng không phải là các phương thức về y dược, ẩm thực, âm nhạc, hội họa Do BSDT luôn gắn với chủ thể nhất định nên BSDT chính là “cá tính” của chủ thể văn hóa Tìm kiếm BSDT, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến vai trò của ý thức tộc người Ý thức tộc người có quá trình hình thành phát triển gắn với quá trình sáng tạo, giao lưu, tiếp biến, giữ gìn, phát triển của dân tộc Dân tộc nào có một quá trình hình thành phát triển lâu dài, được nhân loại

thừa nhận về mặt lịch sử, chắc chắn dân tộc đó có đủ “nội lực” để hình thành BSDT

Trang 20

BSDT là những yếu tố ổn định, ít biến đổi nhất Nếu nó biến đổi với biên độ

và tần số cao, theo những chiều hướng trái ngược nhau thì dân tộc đó trở thành không có bản sắc Sự “ổn định, ít biến đổi” này cũng chỉ nằm trong một khoảng không gian và thời gian nhất định Trong thực tế, đa số các dân tộc trên thế giới đã tự

“siêu chỉnh” tính cách qua quá trình giao lưu và tiếp biến Nói là “siêu chỉnh” bởi lẽ, đây là sự vận động nội tại, vận động chậm, quá trình vận động làm xuất hiện những biến đổi rất tinh tế, rất tự nhiên trong quan điểm và tư duy của chủ thể Sự biến đổi dưới hình thức “siêu chỉnh” là biến đổi tích cực Những biến đổi tích cực sẽ giúp chủ thể luôn có diện mạo mới nhưng không đánh mất bản sắc của mình BSDT không thể

là cái bất biến bởi vì đã có không ít nền văn hóa tự đánh mất bản sắc của mình trước khi bị tiêu diệt hoặc bị đồng hóa

Tiếp cận BSDT có thể bằng nhiều cách thức khác nhau Điều này liên quan đến mô hình và phương pháp nghiên cứu Một số mô hình được dùng hiện nay là: mô hình cấu trúc chức năng, mô hình sinh thái học, mô hình sinh vật xã hội học, mô hình cấu trúc – hệ thống, mô hình mâu thuẫn xã hội Thực tế này đã đưa đến hệ quả là

có một số lượng khá lớn định nghĩa về văn hoá và nhiều quan điểm khác nhau về BSDT Dù sử dụng mô hình hay phương pháp nghiên cứu nào thì đối tượng nghiên cứu chính vẫn là con người với tư cách là chủ thể Mọi khác biệt chỉ có thể tìm thấy trong những hình thức “hiện thân” khác nhau của chủ thể Đó có thể là các tầng lớp giai cấp khác nhau trong xã hội, các tập thể sống theo các nghề nghiệp khác nhau, các cư dân trong từng khu vực địa lí tự nhiên khác nhau, các tộc người với những đặc điểm sinh học và di truyền khác nhau

Tiếp cận BSDT ở góc độ dân tộc học phải quan sát tộc người Người ta có thể quan sát tộc người theo những bình diện khác nhau Chẳng hạn như, quan sát các đặc điểm sinh học và di truyền, quan sát sinh hoạt trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên, quan sát ý thức tộc người trong quá trình đối ngoại và đối nội… Qua quan sát, người ta thống kê, rút ra những kết quả thể hiện bản chất của đối tượng Kết quả có thể dưới dạng những nhận xét, đánh giá về bản chất đối tượng

Cách tiếp cận BSDT ở bình diện ý thức tộc người, theo phương pháp logic hướng vào quan sát quan điểm, thái độ của chủ thể trước tác động của hiện thực

Trang 21

khách quan và hiện thực lịch sử cho thấy tính cách tộc người được hình thành từ ý thức của cộng đồng dân tộc trước những biến động phức tạp của hiện thực lịch sử

BSDT chính là ý thức tộc người được tích hợp từ điều kiện sống và hình thức

tồn tại cụ thể của cộng đồng cư dân có chung tộc danh Quá trình này được mô tả

 Bản sắc dân tộc

Quá trình hình thành nhà nước, dân tộc BSDT được nhận diện trên những bình diện nào? Đây là vấn đề không đơn giản, bởi vì BSDT là cái thuộc “phần chìm”, là ý thức của dân tộc được hình thành trong suốt trường kỳ lịch sử Khi lần tìm BSDT, chúng ta chỉ có thể tập trung xem xét những biểu hiện cụ thể về quan điểm, thái độ của chủ thể Những biểu hiện đó không phải do ngẫu nhiên và không có tính mục đích mà thường vận động theo một thiên hướng rõ ràng, gắn với những mối quan hệ cụ thể Ẩn đằng sau những biểu hiện về quan điểm, thái độ là cốt cách, tinh thần của dân tộc

Ý thức tộc người bao hàm sự tự khẳng định của cộng đồng qua trường kỳ lịch

sử gồm cộng đồng ký ức, cộng đồng hiện tại và cả cộng đồng tương lai với những giá trị chính trị, đạo đức cùng khát vọng về sự phát triển Ý thức tộc người vừa hòa nhập

tự nhiên vào đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân vừa có khả năng tạo ra khoảng

cách để xác lập đời sống riêng của tộc người Ý thức tộc người, do vậy, là sản phẩm

văn hóa đồng thời là điểm xuất phát của sáng tạo và gìn giữ văn hóa tộc người (cultural ethnic group) Ý thức tộc người là nhân tố trực tiếp làm nên tinh thần, cốt

cách của dân tộc Mặt khác, BSDT là: “Tất cả những nét đặc sắc của dân tộc tạo thành trong trường kỳ lịch sử, trong cuộc giao lưu văn hóa phức tạp, để kiên định một bản lĩnh mà tồn tại đĩnh đạc, ta mãi là ta, ta ngày càng đậm càng sắc trong trào lưu tiến hóa của loài người” [103, tr 111]

BSDT của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được hình

thành trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước và là sự kết hợp giữa các yếu tố

Trang 22

nội sinh và ngoại sinh Những yếu tố nội sinh là nét riêng độc đáo do chính cha ông chúng ta sáng tạo, xây dựng, bảo tồn qua nhiều giai đoạn lịch sử Các yếu tố ngoại sinh là những gì được tiếp thu một cách chọn lọc, phù hợp với BSDT trong quá trình tiếp xúc với các nền văn hóa khác

Khi nói BSDT trong nghệ thuật hội họa chính là nói một cách ngắn gọn về bản sắc văn hoá dân tộc (BSVHDT) được thể hiện qua nội dung và hình thức tác phẩm Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách sống động toàn bộ cuộc sống con người trong suốt quá trình lịch sử Văn hóa tạo nên một hệ thống các giá trị truyền thống bao gồm thẩm mỹ và lối sống, từ đó từng dân tộc xây dựng nên bản sắc riêng của mình Văn hóa là tất cả những gì con người đã bỏ công sức để tạo ra; nó khác với những gì tồn tại trong tự nhiên ngoài con người

Văn hóa là sản phẩm tinh thần và vật chất của con người, do con người tạo nên Và chính những sản phẩm ấy tạo ra sự khác biệt giữa chủ thể sáng tạo là con người và những động vật khác Nói về khái niệm văn hóa đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra, theo thống kê, đến nay đã có trên 400 định nghĩa bởi những cứ liệu, mục đích và từ góc nhìn khác nhau Ruth Bennedict, nhà nhân học người Mỹ, đã nhận định: “Văn hóa là lối sống mà con người học được chứ không phải là sự kế thừa sinh học” [133]

Năm 1871, nhà dân tộc học người Anh, Edward Burnett Tylor (1832-1917),

trong tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy” đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:

“Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên xã hội” [92, tr.13]

Nghiên cứu văn hóa với tính cách là yếu tố cấu thành tộc người cần phải xem xét trên cả trục đồng đại và lịch đại Với sự liệt kê đầy đủ danh mục các hiện tượng văn hóa của một tộc người cho phép chúng ta có những nhận định sơ bộ về văn hóa tộc người cũng như bản sắc văn hóa tộc người là: “Nói đến những khía cạnh tiêu biểu của tộc người đó tạo nên những nét khác biệt với văn hóa các tộc người khác” [45, tr 346]

Trang 23

Tại Hội nghị quốc tế của UNESCO từ ngày 26/7 đến ngày 06/8/1982, văn hóa được xem là sản phẩm vật chất và tinh thần Sản phẩm ấy được tạo ra bằng trí tuệ và cảm xúc, mang những đặc trưng riêng của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Các thành tố cấu thành văn hóa gồm: “Nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống những giá trị, những tập quán và những tín ngưỡng” [80, tr.7]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn hóa cũng đã đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa về văn hóa Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về văn hóa như sau:

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [53, tr 431]

Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng văn hóa: “Là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà một tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” [56, tr.105]

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [95, tr.27]

Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hiện tượng phổ quát của các tộc người Mặt khác, sự vận động về mặt tinh thần và vật chất của chủ thể văn hóa luôn gắn với không gian thời gian cụ thể Nhờ có quan hệ với tự nhiên và xã hội mà chủ thể văn hóa sáng tạo ra những sản phẩm có giá trị, đồng thời nhờ đó mà chủ thể có thể thể hiện mình trước tự nhiên và xã hội Văn hóa là sự thể hiện mình theo một cách riêng, trong điều kiện lịch sử cụ thể của một chủ thể văn hóa Văn hóa theo hướng này có nghĩa là nét đặc thù về phong cách sống của tộc người Nét đặc thù về

Trang 24

phong cách sống của mỗi tộc người như là phương thức tái hiện những tập hợp tình cảm và lí trí nhằm khẳng định các giá trị chung của cộng đồng tộc người Nói chung, nét đặc thù về phong cách sống là biểu hiện sinh động của văn hóa tộc người

BSVHDT có thể tìm thấy trong những sản phẩm văn hóa nhưng cụ thể và sinh động nhất vẫn là ở trong thái độ ứng xử của chủ thể văn hóa Chính lối sống, cách suy nghĩ, cách giải quyết các quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội đã làm nên tinh thần, cốt cách của từng dân tộc Đây là cơ sở để chúng ta đi bước kế tiếp là: xác định trong một nền văn hóa, cái gì tạo nên bản sắc của nền văn hóa đó? Như đã phân tích, BSVHDT không xuất phát trực tiếp từ môi trường sống và điều kiện sống, lại càng không được quy định bởi không gian, thời gian BSVHDT xuất phát từ chủ thể văn hóa Chính tinh thần, cốt cách dân tộc giữ vai trò quyết định trong việc hình

thành bản sắc của một nền văn hóa BSVHDT, do vậy, là cái định hướng cho mọi

sáng tạo văn hóa, là cái ổn định nhất nhưng không phải là cái bất biến, là cái góp phần làm nên các giá trị tinh thần và vật chất của một dân tộc

Muốn định ra BSVHDT của một dân tộc đòi hỏi người nghiên cứu phải kết hợp nhiều góc nhìn, phối hợp nhiều phương pháp khác nhau

Ở loại hình nghệ thuật hội họa, BSDT được người nghệ sĩ thể hiện ở nội dung

và hình thức các tác phẩm

Về nội dung, BSDT thể hiện qua chủ đề tư tưởng, qua hình tượng nghệ thuật Các hình tượng nghệ thuật – như đã trình bày, thể hiện lối sống, cách suy nghĩ, cách giải quyết các quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội đã làm nên tinh thần, cốt cách của dân tộc

Về hình thức, BSDT thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật và bằng chất liệu hội họa Đó là đường nét, hình họa, màu sắc, bố cục và các vật liệu được sử dụng trong hội họa truyền thống, là những phương thức thể hiện từng được nghệ nhân dân gian

sử dụng Chất liệu nghệ thuật và các phương thức thể hiện mang tính truyền thống là kết tinh sự lựa chọn kỹ lưỡng của nhiều thế hệ nghệ sĩ đi trước trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Giá trị hội họa của một dân tộc thể hiện qua ý thức lưu giữ và phát triển nghệ thuật truyền thống, biết tích hợp những giá trị tinh hoa của dân tộc với tinh hoa nhân loại

Trang 25

Khái niệm BSVHDT đã được một số nhà nghiên cứu đưa ra, trong đó đáng chú ý là quan niệm của các tác giả: Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương, Trần Ngọc Thêm, Phạm Quốc Sử

Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: “Bản sắc văn hóa là những nét văn hóa riêng làm thành hệ giá trị được một dân tộc chấp nhận, được xem như phù hợp và thích hợp, được đem vào vận hành nhằm thỏa mãn nhu cầu sống và phát triển của dân tộc mình trong nền cảnh lịch sử tương ứng” [93, tr.152], nên: “Lịch sử biến đổi

và do đó, văn hóa cũng biến đổi theo, do những điều kiện lịch sử đưa lại” [93,

Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm: “Bản sắc văn hóa của một dân tộc là một hệ thống các giá trị tinh thần ổn định tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên tính đặc thù của dân tộc, khu biệt dân tộc ấy với dân tộc khác” [96, tr.49] và “vẫn có thể được điều chỉnh, biến đổi, nhưng sự thay đổi này rất chậm và khó khăn” [97, tr.47]

Tác giả Phạm Quốc Sử cho rằng: “BSVHDT là những giá trị văn hóa và biểu hiện văn hóa để phân biệt một dân tộc với các dân tộc khác trên thế giới Nghĩa là bản sắc văn hóa không chỉ là kết tinh những giá trị riêng có của một dân tộc, mà còn bao gồm cả những giá trị mang tính khu vực, thế giới, nhưng được thể hiện rất đậm nét ở dân tộc đó” [91]

Tác giả Lê Ngọc Trà chỉ ra các yếu tố tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc

“là toàn bộ những cái vốn có trong bản thân nó, những cái nằm trong bản chất, tạo

Trang 26

thành cốt lõi, diện mạo của nó, những cái mà khi nhắc đến dân tộc ấy, nền văn hóa

ấy, người ta không thể không nói tới” [101, tr.4] Những đặc trưng tạo nên bản sắc văn hóa không phải có duy nhất ở một dân tộc, mà có thể có ở nhiều dân tộc khác nhau, ví dụ như lòng yêu nước, lòng nhân ái khoan dung, tinh thần lạc quan, tính cần

cù lao động Nên, “sự khác nhau về bản sắc giữa các dân tộc là ở chỗ mỗi dân tộc nhấn mạnh những yếu tố khác nhau, ưu tiên những mặt khác nhau và ở từng dân tộc, mỗi mặt, mỗi yếu tố cũng bộc lộ theo kiểu khác nhau” [101, tr.5]

Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng BSVHDT “là một tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc, các giá trị đặc trưng ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn, do vậy muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hóa với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa” [101, tr.5] Ông cho rằng bản sắc văn hóa thì bền vững còn các sắc thái biểu hiện của bản sắc văn hóa thì tương đối cụ thể, bộc

lộ và khả biến hơn

Bản sắc của mỗi dân tộc giúp cho dân tộc đó giữ được tính độc đáo, tính thống nhất và tính nhất quán của mình BSVHDT là hệ giá trị được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống, được chuyển thành các chuẩn mực xã hội và có vai trò định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của cá nhân và cộng đồng từ đời này sang đời khác

Đó là ý thức được biểu hiện qua lối sống, cách suy nghĩ, ứng xử của cộng đồng dân

cư trước hiện thực lịch sử xã hội Bản sắc văn hóa là cái cốt lõi, đặc trưng riêng có của một cộng đồng văn hóa trong lịch sử tồn tại và phát triển, giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác

Bản sắc văn hóa thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống – ý thức của một cộng đồng bao gồm: cội nguồn, cách tư duy, cách sống, cách dựng nước, giữ nước, sáng tạo văn hóa, khoa học, nghệ thuật

Khái niệm bản sắc văn hóa có hai quan hệ cơ bản: quan hệ bên ngoài là dấu hiệu

để phân biệt các cộng đồng với nhau và quan hệ bên trong chỉ tính đồng nhất mà mỗi

cá thể trong cộng đồng phải có

Chúng tôi cho rằng, bản sắc không phải là một cái gì đó mang tính khép kín, cô lập trong không gian hẹp của một dân tộc, tộc người Cái làm nên bản sắc, một mặt là

Trang 27

sự xác nhận diện mạo văn hóa của một dân tộc, nhưng mặt khác, là cái để dân tộc ấy giới thiệu ra bên ngoài trong mối quan hệ giao lưu văn hóa Vì thế, bên cạnh khái niệm bản sắc, trong chiều dài phát triển của lịch sử nhân loại người ta còn biết đến vấn đề khoan dung văn hóa Theo nghĩa rộng, khoan dung hàm chứa ba nội dung cơ bản: sự tôn trọng lẫn nhau, thừa nhận nhau giữa các nền văn hóa; sự giao lưu, học hỏi, tiếp biến; sự cùng tồn tại và chia sẻ, hướng đến những giá trị chung Chẳng phải ngẫu nhiên mà khi tính đến yếu tố “hội tụ”, các nhà tư tưởng của thuyết này đã đặc biệt nhấn mạnh yếu tố “lịch sử loài người trong không gian sinh tồn với những đặc tính Con Người nói chung” để phân tích sự cần thiết phá vỡ tình trạng “cố chấp bản sắc”, hướng đến không gian mở của hệ thống các quan hệ đa chiều và đi đến sự thống nhất về thiết chế xã hội [131, 65]

Trong thời đại ngày nay việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc và giới thiệu

ra bên ngoài là hai nhiệm vụ song song, đều có tầm quan trọng như nhau Chính vì thế Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 khóa VIII nhấn mạnh mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam: “Tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Như vậy, để bản sắc không

bị phai nhạt, cần phát huy những giá trị hàm chứa trong bản sắc, đồng thời tiếp thu, dần dần biến thành giá trị của dân tộc trong hành trình phát triển đất nước Chúng ta

sẽ không ngạc nhiên nếu những sản phẩm văn hóa mang nét riêng của văn hóa Việt, hồn Việt vẫn có thể tìm điểm tương đồng ở sản phẩm văn hóa dân tộc khác Điều này càng minh chứng cho việc luận giải bản sắc văn hóa một cách khoa học và có cơ sở lịch sử, hiện thực, đặt nó trong mối liên hệ phát triển, không ngừng hoàn thiện và làm cho những giá trị văn hóa được kết tinh trong hoạt động của con người, thể hiện tính cách dân tộc trong một thế giới mở như hiện nay

Vấn đề bản sắc văn hóa Việt Nam đã và đang là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Bản sắc văn hoá Việt Nam là ý thức tự giác được tích hợp từ điều kiện sống và hình thức tồn tại cụ thể của các cộng đồng cư dân sống trên lãnh thổ Việt Nam Bản sắc văn hóa Việt Nam được nhận diện bởi các đặc thù: văn hóa và môi trường tự nhiên, văn hóa và môi trường xã hội, BSVHDT cũng thay đổi

Như vậy, vấn đề bản sắc văn hóa đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu với những cách đặt vấn đề, tiếp cận khác nhau, nhưng vẫn có ba điểm chung nhất:

Trang 28

- Bản sắc văn hóa là hệ thống các giá trị đặc trưng, tồn tại ổn định và lâu dài trong truyền thống văn hóa dân tộc

- Bản sắc văn hóa là cái để phân biệt nền văn hóa này với nền văn hóa khác

- Bản sắc văn hóa được duy trì, tái tạo cùng với sự cải biến trong giới hạn để vừa lưu trữ quá khứ vừa phù hợp với hiện tại và tạo nên sức sống của mỗi nền văn

hóa

Cơ sở lí luận về văn hóa, bản sắc văn hóa và BSVHDT giúp chúng tôi có định hướng vững chắc, vì vậy, một mặt vừa tiếp cận đối tượng nghiên cứu được rõ ràng, mặt khác vừa có thể triển khai hệ thống lập luận cho những phần sau của luận án được dễ dàng

1.2 Nhận diện bản sắc dân tộc trong hội họa Việt Nam

1.2.1 Hội họa

Khái niệm hội họa

Hội họa là một loại hình nghệ thuật đã được nhiều người định nghĩa

Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristote đã cho rằng nghệ thuật (hội họa) là sự mô phỏng, sự bắt chước những gì có trong thực tại nhưng không phải là sao chép nguyên

xi, mà có sự thêm, bớt của người sáng tạo [2, tr,26]

Danh họa Leonardo da Vinci, người khám phá ra luật phối khí trong hội họa, nghiên cứu về giải phẫu cơ thể người, nghiên cứu về quang học lại cho rằng hội họa

là một khoa học và cũng là sản phẩm của tự nhiên do con người tạo ra: “Thực tế là, hội họa là một khoa học, là đứa con chân chính của thiên nhiên, vì nó chính là con đẻ của thiên nhiên" [14, tr.94]

Đại văn hào Nga Lev Tolstoy đã suy nghĩ, nghiên cứu trong suốt 15 năm mới

kết thúc cuốn tiểu luận “Nghệ thuật là gì?”, trong đó ông đã viết: “Nghệ thuật gồm

kiến trúc, hội họa, âm nhạc, thơ ca… là những tác phẩm mang nội dung ý tưởng rõ ràng mà tất cả mọi người có thể hiểu” [135]

Lev Tolstoy đã chỉ ra rằng nghệ thuật không chỉ vì cái đẹp thuần túy, mà cái đẹp đồng nghĩa với cái tốt và người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật là có mục đích gửi gắm thông điệp cảm xúc của mình tới mọi người

Trang 29

Khái niệm hội họa và ngôn ngữ của nó được ghi trong “Từ điển Bách khoa nghệ

thuật phổ thông” của Liên Xô như sau: “Hội họa là loại hình nghệ thuật tạo hình sử

dụng màu sắc, hình họa, sự tương phản sáng – tối, bố cục để mô tả sự phong phú của màu sắc, hình khối của sự vật tạo cảm giác về chiều sâu không gian trên mặt phẳng hai chiều” [128, tr.241] và: “Nghệ thuật tạo hình không chỉ phản ánh hình ảnh thời đại, mà còn thể hiện những tư tưởng trong đời sống tinh thần của xã hội đó như tư tưởng triết học, mỹ học, dân tộc học” [128, tr.257]

Trong “Từ điển Mỹ thuật phổ thông” của Nhà xuất bản Mỹ thuật, hội họa được

định nghĩa là: “Nghệ thuật dùng màu sắc, hình mảng, đường nét để diễn đạt cảm xúc của người vẽ trước con người, thiên nhiên, xã hội Hội họa là một ngành của nghệ thuật tạo hình” [55, tr.77]

Tuy nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng vẫn có các điểm tương đồng và thống nhất Tác phẩm hội họa mang tính độc bản, được tạo ra bằng vật chất, tồn tại trong không gian, phản ánh quan niệm về “cái đẹp” và khả năng thể hiện quan niệm đó của từng thời đại Là một loại hình mỹ thuật, bộ phận cấu thành của văn hóa, hội họa, thực hiện chức năng thẩm mỹ, góp phần vào việc duy trì và phát huy BSDT Cùng với văn học, nghệ thuật hội họa là biểu hiện tập trung nhất sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp

Hội họa là loại hình nghệ thuật tạo hình dùng đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục để xây dựng hình tượng nghệ thuật, biểu hiện cuộc sống phong phú và đa dạng trên mặt phẳng được gọi là tác phẩm hội họa hay gọi tắt là tranh

Nguồn gốc hội họa

Về nguồn gốc của mỹ thuật nói chung và hội họa nói riêng đã có những quan điểm khác nhau Nhà triết học Hy Lạp Aristote đã cho rằng nghệ thuật là sự bắt chước và nó ra đời là do bản năng con người thích bắt chước: “Thứ nhất, sự mô phỏng vốn sẵn có ở con người từ thuở nhỏ, và con người khác giống vật chính là ở chỗ họ có tài mô phỏng, nhờ có sự mô phỏng đó mà họ thu nhận được những kiến thức đầu tiên; còn điểm thứ hai là: những sản phẩm của sự mô phỏng mang lại thích thú cho con người” [2, tr.26]

Đại văn hào Nga Lev Tolsoy lại cho rằng sự ra đời của nghệ thuật là do nhu

Trang 30

cầu nội tại của người nghệ sĩ "có ý thức dùng các dấu hiệu bề ngoài đã biết truyền đạt cho những người khác những cảm xúc mình đã trải nghiệm, còn những người khác thì biểu đạt các cảm xúc đó và trăn trở với chúng.” [135, tr.23]

Một quan điểm khác lại cho rằng nghệ thuật ra đời là do nhu cầu vui chơi giải trí của con người Quan điểm này nói lên một trong những chức năng giải trí lành mạnh của nghệ thuật, làm cho con người bị thu hút bởi khoái cảm mà nó mang lại

Trong khi đó, có quan điểm cho rằng sự ra đời của nghệ thuật là do thế lực siêu nhiên chi phối con người vì con người hay cầu mong sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên: “Để biểu hiện "chân dung" của các vị thần mà họ tưởng tượng ra, họ đã vẽ các

vị thần đó hoặc tạo các bức tượng về các vị thần Chính quá trình này đã góp phần hình thành nghệ thuật” [37, tr.11-12]

Mỗi quan điểm nêu trên đã đề cập đến một yếu tố dẫn đến sự ra đời và chức năng của nghệ thuật Song, nghệ thuật ra đời do nhiều yếu tố khác nhau như bản năng của con người thích mô phỏng những hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, nhu cầu nội tại của người nghệ sĩ, nhu cầu giải trí của con người Tác phẩm nghệ thuật mang lại cho người ta sự hiểu biết, sự rung động thăng hoa trước cái đẹp, làm cho đời sống tinh thần phong phú hơn, nên nó có sức thu hút mãnh liệt Nghệ thuật đã phụng sự tôn giáo khi tạo nên hình ảnh các vị thần trong đền thờ ở Hy Lạp, Rôma, trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo, các đền đài, chùa chiền ở Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam… Như vậy, nghệ thuật nói chung và hội họa nói riêng ra đời là do nhu cầu thực

tế của đời sống, nó mô phỏng hiện tượng, sự vật và góp phần vào quá trình phát triển của xã hội loài người

Chủ đề của hội họa

Chủ đề của hội họa là vấn đề chủ yếu được quán triệt trong nội dung tác phẩm, theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định Từ xa xưa, trong nghệ thuật phương Đông và phương Tây, thiên nhiên và con người đã luôn là đối tượng để các họa sĩ khai thác ở nhiều khía cạnh

- Chủ đề thiên nhiên trong hội họa Thế giới và Việt Nam

Trong hội họa phương Tây, những hiện tượng tự nhiên như mưa gió, sấm chớp, bão tố, cảnh sắc thiên nhiên đã mang lại cảm xúc ở nhiều cung bậc khác nhau cho

Trang 31

các họa sĩ Hình ảnh thiên nhiên bắt đầu xuất hiện trong hội họa của Hy Lạp khi các họa sĩ giải thích về hiện tượng các mùa trong năm Tiếc rằng những bức tranh này không còn, mà chỉ được mô tả trong ghi chép của một số sử gia Nhưng đến thế kỷ XIV, họa sĩ Giotto, người thường được coi là ông tổ của hội họa phương Tây, đã chú trọng đến các yếu tố phong cảnh trong các tác phẩm của mình với vai trò của nó là phông hay nền tranh Nhưng khi nghệ thuật Phục hưng ra đời và tồn tại suốt ba thế

kỷ XIV, XV và XVI thì thiên nhiên đã trở thành một trong hai đối tượng chính của hội họa Quan niệm về con người là một phần của tự nhiên và tồn tại trong sự hài hòa với thế giới tự nhiên đã được các họa sĩ Phục Hưng, nhất là thời kỳ Phục hưng Cao trào (khoảng 1500 - 1580) khẳng định trong từng bức tranh Khó có thể tìm thấy bức tranh nào mà không có yếu tố tự nhiên, chí ít cũng là một ô cửa sổ nhìn ra không gian bên ngoài có núi, rừng, ao hồ, sông suối hay một khu vườn Thiên nhiên đã trở thành một phần không thể thiếu và tạo nên vẻ đẹp lý tưởng, thơ mộng trong mỗi bức tranh của Leonard da Vinci, Raphael, Michel Ange hay Titian, Durer Với sự xuất hiện của trường phái nghệ thuật Cổ điển và Dị điển (Baroque) thế kỷ XVII, Hiện thực, Lãng mạn và Ấn tượng ở thế kỷ XIX thì thiên nhiên đã trở thành đối tượng duy nhất trong rất nhiều bức tranh của Nicolas Poussin, Claud Loren, Paul Rubens, Reysdal, Courbet, Delacroix, Claud Monet, Pissaro, Sisley Đó cũng là thời điểm xuất hiện thể loại tranh phong cảnh thuần túy khi hình ảnh con người chỉ là thứ yếu, thậm chí không xuất hiện như trường hợp tranh của họa sĩ Claud Loren Các họa sĩ tranh phong cảnh chỉ quan tâm thể hiện vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên hay hiện tượng tự nhiên

Trong hội họa phương Đông, nhất là hội họa Trung Hoa, Nhật Bản thiên nhiên luôn hiển hiện Tuy nhiên, do quan niệm của người phương Đông, nên thiên nhiên trong tranh phương Đông thường bao la rộng lớn với sức mạnh khôn lường Thiên nhiên trong không gian tranh phương Đông không chỉ đẹp thơ mộng, mà còn dữ dội

và khắc nghiệt Khác với các họa sĩ phương Tây, các họa sĩ phương Đông ít đề cập đến hiện tượng tự nhiên cụ thể, mà thể hiện thiên nhiên mạnh mẽ và vĩnh hằng, còn con người thì bé nhỏ, yếu đuối trong thiên nhiên ấy Nhưng thiên nhiên lại trở thành đối tượng duy nhất trong tác phẩm của các họa sĩ Trung Hoa thế kỷ IV, đặc biệt thế

Trang 32

kỷ VII – XIV Các họa sĩ Ngô Đạo Tử, Lý Tư Huấn, Lý Chiêu Đạo là những danh họa Trung Hoa chuyên về thể loại tranh sơn thủy Các họa sĩ Hokusai, Hiroshighe…

là những họa sĩ nổi tiếng về tranh phong cảnh của Nhật Bản

Thiên nhiên cũng đã là đối tượng trong hội họa Việt Nam Tiếc rằng, do điều kiện tự nhiên và chiến tranh đã làm mất gần hết di sản về hội họa của cha ông Từ thời kỳ Đông Sơn, quan sát các hoa văn trang trí trên trống đồng, thạp đồng hay trên những hoa văn trang trí đồ gốm thời Lý, Trần, Lê, Mạc chúng ta đều dễ dàng nhận thấy sự quan tâm đến yếu tố tự nhiên trong nghệ thuật hội họa Việt Nam Trong tranh dân gian Việt Nam, dù không nhiều nhưng yếu tố thiên nhiên cũng xuất hiện trong các tranh sinh hoạt của người nông dân Sự hình thành và phát triển của mỹ thuật hiện đại đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hội họa Việt Nam về đối tượng nghệ thuật Từ đầu thế kỷ XX đến nay, chúng ta đã có nhiều tác phẩm với chủ đề thiên nhiên của các thế hệ họa sĩ

- Chủ đề con người trong hội họa Thế giới và Việt Nam

Đối tượng chính của hội họa từ cổ tới kim, từ Đông sang Tây vẫn là con người Trong những hình vẽ ở hang động của người nguyên thủy, chúng ta đã thấy hình ảnh con người được vẽ một cách đơn giản nhưng rất sinh động Trong hội họa phương Tây, con người đã là đối tượng chính của nghệ thuật Hy Lạp, La Mã cổ đại Tuy không còn nhiều tác phẩm hội họa, nhưng những gì được thể hiện trên đồ gốm, những tuyệt tác điêu khắc của Hy Lạp, những bức tranh trên tường nhà ở phố cổ Pompei thời La Mã đã chứng minh điều đó Con người xuất hiện với hình ảnh các vị thần trong thần thoại Hy Lạp với tâm tư tình cảm, các trạng thái tâm lý đa dạng của con người Đến nghệ thuật Phục hưng, với tư tưởng nhân văn ngự trị trong từng tác phẩm hội họa, thì con người lại càng được khẳng định vị trí đối tượng số một của nghệ thuật nói chung và hội họa nói riêng Do yếu tố lịch sử xã hội phương Tây nên con người được xuất hiện trong hội họa Phục hưng với những cái tên nhân vật truyền thuyết, tôn giáo Tuy vậy, những đề tài này chỉ là cái cớ để người họa sĩ khám phá và thể hiện hình ảnh con người Bắt đầu từ Phục hưng, con người được thể hiện trong nhiều thể loại hội họa như tranh chân dung, tranh lịch sử, tranh sinh hoạt bình thường, tranh đề tài văn học Thông qua hình ảnh con người trong các tác phẩm hội

Trang 33

họa, chúng ta có thể nhận ra xã hội phương Tây biến chuyển như thế nào và nó tác động lên số phận con người ra sao từ thế kỷ XVII Vì hội họa ngày càng bám sát với thực tế xã hội với những yêu cầu và vai trò thẩm mỹ cũng như giáo dục của nó trong

xã hội Con người đã là đối tượng chính trong sáng tạo của các họa sĩ xu hướng Hiện thực, Lãng mạn và Hậu Ấn tượng thế kỷ XIX ở phương Tây

Tuy di sản hội họa phương Đông còn lại không nhiều, nhưng con người cũng luôn là đối tượng chính, quan trọng nhất của nghệ thuật Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ Các thể loại tranh chân dung, tranh sinh hoạt đời thường đã có từ xưa trong hội họa Trung Hoa Tranh về đề tài Phật giáo Ấn Độ cũng đã thể hiện hình ảnh con người thông qua những nhân vật trong tôn giáo, nhất là các tranh trong chùa hang Anjianta,

Ấn Độ Điểm khác biệt chính về hình tượng con người trong hội họa phương Đông

và hội họa phương Tây trước thế kỷ XX là: con người trong hội họa phương Đông được mô tả như một phần của tự nhiên, con người nhỏ bé và yếu đuối trước sức mạnh của thiên nhiên Con người dựa theo quy luật của tự nhiên mà vượt qua những khó khăn để sống, chứ không cố cải tạo và chinh phục thiên nhiên Vì vậy hình ảnh con người được mô tả ở trạng thái tương đối ổn định, không phải ở trạng thái thoáng qua, thoáng thấy như trong hội họa phương Tây

Và con người luôn là đối tượng chính của hội họa Việt Nam từ xưa tới nay Trong nghệ thuật thời kỳ Đông Sơn, hình ảnh con người chiếm nhiều nhất trong các hoa văn trang trí trên các đồ đồng Con người trong hoạt động để tồn tại, trong việc bảo tồn nòi giống, trong sinh hoạt cộng đồng, vui chơi giải trí Con người được thể hiện thông qua hình ảnh các vị thần trong nghệ thuật 10 thế kỷ đầu sau công nguyên của nghệ thuật điêu khắc Phù Nam, Champa và nghệ thuật của người Việt thời Lý, Trần, Lê Hình ảnh con người gần như chiếm trọn vẹn trong nghệ thuật dân gian Việt Nam, cụ thể trong kho tàng tranh dân gian Việt Nam, đặc biệt trong mảng tranh về đề tài phê phán, châm biếm đả kích, đề tài sinh hoạt, đề tài lịch sử, văn học Đây chính

là những cứ liệu mang tính thuyết phục nhất khi khẳng định con người luôn là đối tượng chính được họa sĩ Việt Nam nghiên cứu và thể hiện Trong hội họa hiện đại Việt Nam, con người vẫn là đối tượng chính và được khắc họa với sự phong phú, đa

Trang 34

có vị trí và được thể hiện khác nhau Nếu hội họa phương Tây đi vào những vấn đề

cụ thể, chi tiết, mang tính nhất thời thì hội họa phương Đông lại thiên về cái mang tính quy luật, vĩnh hằng Nếu hội họa phương Tây ca ngợi cái đẹp của tự nhiên, những hiện tượng tự nhiên thì hội họa phương Đông lại nhiều khi mượn cảnh để nói

về người Thiên nhiên và con người Việt Nam luôn mang lại xúc cảm cho các thế hệ họa sĩ Việt Nam và mang bản sắc riêng trong các tác phẩm hội họa thông qua nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện

Hình tượng hội họa

Ngay từ thời cổ đại Hy Lạp, nhà triết học Aristote đã đánh giá về tác phẩm nghệ thuật chính là sản phẩm sáng tạo bằng hình tượng và chính các hình tượng đã làm cho mọi người thích thú vì nó mang lại sự hiểu biết cho con người dù ở các tầng lớp khác nhau và mức độ hiểu biết có khác nhau Ông còn chỉ ra rằng: “Vật được miêu tả làm cho thích thú không phải ở bản thân sự mô phỏng, mà là ở chỗ kỹ xảo, hoặc do màu sắc hoặc do một nguyên nhân nào đó” [2, tr.27] Như vậy, sự mô phỏng, theo Aristote, không phải là sự sao chép hay bắt chước một cách máy móc, khô cứng, mà người nghệ sĩ luôn thêm vào hoặc bớt đi để làm tác phẩm nghệ thuật cao hơn tự nhiên bằng sự cách điệu tạo nên sự hài hòa về bố cục, về màu sắc Nghệ thuật không nhằm trình bày cái đã xảy ra, mà người nghệ sĩ muốn tái tạo hiện thực và đề xuất ra một kiểu mẫu tất yếu xảy ra hình tượng và mang tính quy luật

Để xây dựng hình tượng nghệ thuật, họa sĩ đã tùy ý lựa chọn những cái chính

mà anh ta cho là cốt lõi, thêm vào chi tiết phù hợp để nói lên được những ý nghĩa đặc biệt gửi tới người xem Vì vậy, “bất kỳ hình thức nghệ thuật nào khác đều có chung khả năng tổ chức lại thực tại được mọi người nhận thấy như nhau Cái lạc thú chúng đem lại cho ta chủ yếu là do chính thị kiến của chúng ta trở nên sáng sủa hơn, thuần khiết hơn qua cái nhìn của nghệ sĩ, anh ta mời chúng ta chia sẻ nhận thức của mình

và khám phá một lý luận mới và một ý thức mỹ học mới hay một tầm vóc khác của

Trang 35

cái tính yếu trong thực tại thường ngày” [83, tr.19]

Trong “Từ điển Mỹ thuật phổ thông 2012”, hình tượng nghệ thuật đã được định

nghĩa là “hình ảnh các sự vật, trọng tâm là người, vật, phong cảnh thông qua ghi chép thực tế hoặc trí nhớ của họa sĩ Bằng óc sáng tạo và bàn tay khéo léo, họa sĩ tạo ra những hình tượng hội họa trong tranh” [55, tr.73]

Như vậy, bằng nhận thức và sự sáng tạo của mình, họa sĩ gạn lọc từ những hình ảnh nhân vật hoặc khung cảnh thiên nhiên quen thuộc, dễ thấy để xây dựng hình tượng nghệ thuật hội họa Hình tượng có ý nghĩa sâu sắc, đặc trưng và có tác động

mạnh tới người xem

Ngôn ngữ của hội họa

Hội họa có thể hiểu là một bộ môn nghệ thuật tạo hình đặc trưng bởi sự biểu hiện không gian trên mặt phẳng bằng các yếu tố đường nét, màu sắc, mảng, bố cục Không gian được thể hiện trong tranh là không gian ảo và chỉ có thể cảm nhận bằng thị giác, không gian trong hội họa vô cùng đa dạng: có thể hoàn toàn như thực, được giản lược, mang tính ước lệ, được hư cấu mà vẫn gợi sự liên tưởng về thực tế

Ngoài ra, mọi sự vật dù lớn hay nhỏ tồn tại trong không gian đều có một hình dạng nhất định và dưới tác động của ánh sáng, mọi vật lại bộc lộ màu sắc tự thân của

nó Hội họa làm nhiệm vụ phản ánh hình và màu như cuộc sống và vật thể vốn có

Đó cũng chính là đặc trưng ngôn ngữ hội họa Hình và màu còn là những yếu tố tạo hình gắn liền với kênh thị giác của con người cũng như âm thanh gắn liền với kênh thính giác Bởi vậy, tính chất thứ hai, đặc trưng thứ hai của ngôn ngữ hội họa là tính tạo hình trực tiếp và bằng các yếu tố tạo hình Hình và màu sắc: hình được tạo nên bởi đường, nét, mảng khối đậm nhạt

Về vai trò và vị trí của các yếu tố ngôn ngữ hội họa, trong lịch sử mỹ thuật có những quan niệm khác nhau Có những trào lưu nghệ thuật coi trọng hình họa hơn màu sắc như dòng nghệ thuật Tân Cổ điển Pháp, thế kỷ XVIII Những họa sĩ thuộc trường phái này cho rằng trong hội họa, hình là xương sống, là biểu hiện tri thức, trí tuệ, lý trí, còn màu sắc chỉ là yếu tố phụ, yếu tố làm tranh thêm vui mắt mà thôi Ngược lại, cũng có trường phái lại cho rằng cảm xúc của họa sĩ phải được bộc lộ ra bằng nhiều yếu tố tạo hình Thậm chí họ cho rằng màu sắc còn quan trọng hơn hình

Trang 36

họa Đó là chủ trương của các họa sĩ theo trường phái Lãng mạn Pháp thế kỷ XIX

Có nhiều họa sĩ lại đi sâu vào nghiên cứu sự biểu hiện của màu sắc về nhiều mặt Họ nghiên cứu, đi sâu vào cường độ mạnh mẽ, sự tương phản mãnh liệt của màu sắc như họa sĩ Van Gogh, sự huyền diệu, thần bí của màu sắc như Paul Gauguin Tuy vậy, trong thực tế vai trò của đường nét, hình khối, màu sắc trong tác phẩm nghệ thuật hội họa là đồng đều và chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sáng tạo tác

phẩm có giá trị và góp phần tạo nên BSDT trong tác phẩm hội họa

- Đường nét: theo định nghĩa khoa học thì đường nét là tập hợp của những điểm trong chuyển động Các loại đường gồm: đường thẳng, đường cong, đường gãy khúc, đường tròn, đường xoáy ốc Trong hội họa, nghệ sĩ có thể sử dụng một đường cụ thể như đường trục của hình tượng người hay cột điện hoặc sử dụng nhiều đường nét kết hợp để tạo thành một hình tượng người

Trong hội họa, khái niệm đường nét thường cùng song hành, muốn tạo nét phải

có đường, đường làm nên nét Những tập hợp đường trong tranh tạo nên nét vẽ và đường nét làm nên hình trong tranh Đường bao giờ cũng chỉ ra một phương hướng nhất định và chúng gợi lên nhiều cảm xúc thẩm mỹ khác nhau Ví dụ: những đường thẳng đứng và đường nằm ngang tạo sự ổn định, chắc chắn và tĩnh Những đường xiên thường cho cảm giác nghiêng ngả, bấp bênh, không ổn định, có khi gợi cảm giác xao động, lung linh, hay sự hồi tưởng, đường xoắn ốc có thể tạo cảm giác bất

ổn

Những cặp từ: nét thanh – nét thô, nét đậm – nét nhạt; nét gai góc – nét nuột nà; nét cứng – nét mềm biểu lộ sự tương phản về tính chất và diện mạo của nét Khi xây dựng tác phẩm của mình, người nghệ sĩ sẽ chọn và tổ chức nét để diễn tả những hình tượng nhân vật theo đúng ý đồ sáng tác, chủ đề tư tưởng của tác phẩm hay tính cách của nhân vật định vẽ

- Mảng khối: hình là hiệu quả cảm thụ của thị giác đối với vật thể trong không gian dưới tác động của ánh sáng Họa sĩ dùng các yếu tố đường nét, độ đậm nhạt và mảng để tạo ra hình thể trên mặt phẳng tranh Một vật thể bao giờ cũng phải có hình dáng nhất định và chiếm một thể tích nào đó trong không gian ba chiều Hình và khối chính là hai đặc điểm của vật thể Hình là đường viền của một vật thể được thể hiện

Trang 37

trên mặt phẳng còn khối là biểu hiện về thể tích trong không gian ba chiều Khối và không gian ở đây là yếu tố ảo được tạo ra trên mặt phẳng do đậm nhạt Vì vậy, nghệ thuật có những lúc rất giống thực nhưng cũng có khi không giống thực Hội họa không sao chép một cách máy móc, bê nguyên si hiện thực ngoài đời vào tranh, mà chủ yếu là thông qua những đặc điểm về ngoại hình để diễn tả nội tâm, tính cách nhân vật, những điều mà, bằng cảm xúc thẩm mỹ, họa sĩ đã phát hiện ra ở đối tượng

Vì vậy, có thể nhiều họa sĩ cùng đứng trước một phong cảnh, nhưng bằng tình cảm, cảm xúc của từng người, phong cảnh đó sẽ được tái hiện lên tranh khác nhau

- Màu sắc: cùng với đường nét, hình khối thì màu sắc cũng là một đặc trưng của ngôn ngữ hội họa, góp phần tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy và sự hấp dẫn của bức tranh Màu sắc có thể đem lại cho người xem sự lạc quan yêu đời, niềm vui sướng hứng khởi và ngược lại, màu sắc cũng có thể đem đến cho người xem sự sợ hãi, cô đơn, buồn bã hay chán nản Màu sắc không chỉ có nguồn gốc tự nhiên, mà còn có cả nguồn gốc xã hội Điều này là do sự liên tưởng, kinh nghiệm của con người tạo nên trong quá trình hoạt động Ví dụ: màu đỏ cho người ta liên tưởng tới cảm giác ấm nóng, sự hy sinh đổ máu, sự may mắn; hoặc màu xanh cho ta cảm giác sự tươi mát, nhẹ nhàng, hòa bình, hạnh phúc Theo phân tích vật lý, ánh sáng trắng là sự tổng hợp của bảy màu: đỏ – da cam – vàng – lục – lam – chàm – tím Trong đó có ba màu nguyên không được tạo nên bởi pha trộn mà là màu tự nó, đó là đỏ – vàng – lam Với khả năng sáng tạo, người nghệ sĩ có thể pha trộn và tạo ra rất nhiều hòa sắc màu phong phú và sinh động Màu sắc cũng có những tính chất và đặc điểm nhất định Ví dụ: những màu nóng thường gợi cho ta cảm giác ấm áp, sôi nổi, vui vẻ, ngược lại những màu lạnh lại cho ta cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng, êm ái, hoặc lạnh lẽo, u buồn Tuy vậy, trong nghệ thuật hội họa, quan trọng nhất vẫn là sự hài hòa màu sắc trong một bức tranh Màu xanh trong tương quan màu nóng thì lạnh, nhưng đặt nhiều màu xanh cạnh nhau thì có màu xanh này nóng hơn màu xanh kia Màu đỏ đặt cạnh màu vàng gây nên tương phản màu sắc mạnh mẽ Nhưng nếu đặt mảng màu đen vào giữa thì hòa sắc đó sẽ trở nên êm dịu Màu sắc có tiếng nói mạnh mẽ giúp họa sĩ thể hiện

ý đồ, chủ đề của mình rõ ràng hơn và nó cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên BSDT trong tác phẩm hội họa Vậy nên, cùng một bố cục, hình giống nhau,

Trang 38

Chất liệu hội họa

Trong bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng có chất liệu riêng với những đặc thù

để chuyển tải ý tưởng sáng tạo của nghệ sĩ Lịch sử hội họa thế giới đã chứng minh

sự phong phú, đa dạng của nhiều loại chất liệu khác nhau, từ những vật liệu có sẵn trong tự nhiên được sử dụng ở thời tiền sử cho đến những vật liệu được chế tạo bằng công nghệ hiện đại Một số chất liệu chính trong hội họa gồm màu keo (tempera), sơn dầu, bột màu, màu nước, lụa, sơn mài, khắc gỗ

- Các chất liệu vẽ hình

Trong hội họa, để có những bức tranh, họa sĩ phải vẽ nhiều bức vẽ hình bằng đường nét để dựng nên tác phẩm Các bức vẽ hình này có thể là phác thảo, ký họa,

Trang 39

ta các hiệu quả khác nhau

Bút chì than là loại bút chì mà ruột không bằng than chì mà là một loại bột than Nét vẽ của bút chì than không ánh lên và đen bóng như bút chì mà đen mờ khô, xốp Than vẽ được chế tạo bằng cách hầm thành than cành cây hoặc các mẩu gỗ nhỏ các loại cây mềm và đồng chất như dâu, liễu, xoan, dâm bụt Đặc tính của than là đen, xốp, mềm dễ day, di và tẩy xóa

Ngoài các chất liệu trên, họa sĩ còn dùng các chất liệu khác trong việc vẽ hình như mine - loại than được làm bằng cách ép bột than với chất kết dính thành từng thỏi và bút sắt - dùng ngòi bút chấm mực vẽ và mực nho

- Các chất liệu vẽ màu gồm: màu cái, màu nước, màu keo, màu dầu, sơn mài… Màu cái là chất bột màu cơ bản, mịn và dễ hòa tan trong các chất pha màu Ngày xưa, màu cái được chế tạo bằng phương pháp thủ công Màu được nghiền từ các loại khoáng sản như đá, đất, thảo mộc và cả động vật Ngày nay, màu cái được sản xuất trong các nhà máy lớn với phương pháp tổng hợp hóa chất

Màu nước là loại màu được tinh chế trộn với keo hòa tan trong nước Khi vẽ sẽ cho các độ màu trong suốt không có cặn Các hạt màu khi vẽ sẽ không đè lấp lên nhau mà chen vào nhau cho nên vẫn hiện ra đủ

Màu keo (tempera) hay màu thủy noãn (nước + trứng), theo nghĩa rộng, là tất cả các loại màu được vẽ bởi các loại keo động vật

Sơn dầu (màu dầu) là loại màu được trộn với một loại dầu khô dùng làm chất pha màu Dầu khô là loại dầu mà sự khô rắn của nó do quá trình oxy hóa chứ không phải do bay hơi Các loại dầu được dùng trong khi chế tác ra sơn dầu là dầu lanh – dầu gai, dầu cá, dầu cây óc chó, dầu hạt thuốc phiện Đặc tính của sơn dầu là dẻo, mềm, dễ vẽ, khả năng biểu đạt của nó gần như vô tận

Trang 40

Sơn mài là chất sơn được lấy từ cây sơn Nhựa sống được hứng từ cây về, được

ủ qua nhiều ngày, bị mất nước lên men và lắng đọng tạo ra nhiều lớp sơn khác nhau, màu sắc khác nhau Lớp trên cùng có màu sẫm nhất là loại tốt nhất Trải qua nhiều công đoạn ủ, khuấy và trộn thêm phụ gia sẽ tạo ra nhiều màu sơn đẹp phù hợp cho việc thể hiện vẻ đẹp lung linh huyền ảo, thâm trầm trên nền vóc đen

Lụa là chất liệu đặc biệt trong hội họa, bản thân lụa chỉ là nền để vẽ màu lên và

nó không kén chọn loại màu vẽ Trên nền lụa có thể vẽ màu nước, chì, sơn dầu, bột màu, mực nho Nhưng lụa đã tham gia trực tiếp vào bố cục tranh bằng những mảng lụa không được vẽ màu

Chất liệu là phương tiện để chứa đựng ý tưởng sáng tạo Mỗi chất liệu đều có thế mạnh và hạn chế của nó Nên, tìm hiểu và chinh phục một chất liệu luôn là một con đường nhiều chông gai, nhưng cũng mang đến thành công khi lựa chọn của người nghệ sĩ phù hợp Và khi xem những tác phẩm hội họa người xem không phải chỉ thưởng thức vẻ đẹp, hiểu, cảm nhận nội dung tác phẩm mà còn tìm hiểu quá trình hình thành tác phẩm để có thể ghi nhận và chia sẻ với người sáng tạo nghệ thuật Tóm lại, được hình thành và phát triển trong quá trình sống và lao động của con người, bằng ngôn ngữ và phương tiện chuyển tải đặc thù, hội họa luôn phản ánh đời sống của cộng đồng xã hội một cách sinh động Vậy nên, thông qua các tác phẩm hội họa, chúng ta có thể nhận thấy những nét riêng biệt ở khía cạnh nội dung và nghệ thuật góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của một dân tộc

1.2.2 Các góc độ nhận diện bản sắc dân tộc trong hội họa Việt Nam

Để nhận diện được BSDT trong hội họa của nhiều dân tộc trên thế giới, qua nhiều giai đoạn và các xu hướng nghệ thuật khác nhau, chúng ta có một kho tàng đồ

sộ các tác phẩm được bảo tồn cho đến ngày nay trong các bảo tàng, cung điện, nhà thờ, lâu đài và dinh thự Những đặc trưng riêng trong hội họa của mỗi dân tộc ở nội dung và hình thức thể hiện, dù trong cùng một giai đoạn, một xu hướng sáng tác chính là những yếu tố tạo nên sự phong phú, đa dạng, sức hấp dẫn của loại hình nghệ thuật hội họa

Trong hội họa phương Tây, chúng ta có thể nhận thấy những yếu tố tạo nên BSDT được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm hội họa từ thời kỳ Phục hưng Nghệ

Ngày đăng: 14/08/2015, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  71,  Cổ  Tấn  Long  Châu,  Ngoan  cường - toàn văn LUẬN án TIẾN sĩvăn hóa học bản sắc dân tộc trong hội họa miền nam giai đoạn 1954 1975
nh 71, Cổ Tấn Long Châu, Ngoan cường (Trang 208)
Hình  97,  Văn  Đen,  Chuồng  trâu,  Sơn  dầu  (nguồn: - toàn văn LUẬN án TIẾN sĩvăn hóa học bản sắc dân tộc trong hội họa miền nam giai đoạn 1954 1975
nh 97, Văn Đen, Chuồng trâu, Sơn dầu (nguồn: (Trang 218)
Hình  142, Thái Tuấn, Chân dung, Sơn  dầu (nguồn: Nguyễn Quốc Tuấn) - toàn văn LUẬN án TIẾN sĩvăn hóa học bản sắc dân tộc trong hội họa miền nam giai đoạn 1954 1975
nh 142, Thái Tuấn, Chân dung, Sơn dầu (nguồn: Nguyễn Quốc Tuấn) (Trang 232)
Hình 200 Phòng trưng bày các tác phẩm hội họa Nam bộ giai  đoạn 1954 – 1975, Bảo tàng Mỹ thuật TP - toàn văn LUẬN án TIẾN sĩvăn hóa học bản sắc dân tộc trong hội họa miền nam giai đoạn 1954 1975
Hình 200 Phòng trưng bày các tác phẩm hội họa Nam bộ giai đoạn 1954 – 1975, Bảo tàng Mỹ thuật TP (Trang 253)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w