Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của WTO 1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT - tiền thân của tổ chức thương mạ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế tất của thời đại ngày nay là toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Bất kỳmột quốc gia, một địa phương, một doanh nghiệp hay ngành nghề nào, không phânbiệt lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, muốn tồn tại và phát triển đều phải chấp nhận và tíchcực tham gia vào xu thế mới này Bởi toàn cầu hóa tuy còn nhiều nhược điểm, nhưlàm cho cạnh tranh ngày càng gay gắt, chưa bảo đảm sự công bằng giữa nước giàu vànước nghèo Nhưng nó có ưu điểm rất lớn làm cho nền kinh tế thế giới phát triển năngđộng và vững chắc hơn Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho giao thương giữa các quốcgia,các khu vực trên thế giới phát triển mạnh mẽ Đó cũng chính là nguyên nhân dẫnđến sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới WTO Khi là thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới WTO, các nước sẽ tạo dựng cho mình một vị trí trong tiếntrình quốc tế hóa toàn cầu về kinh tế
Hơn nữa, việc mở rộng tự do thương mại giữa các quốc gia trên thế giới cũnggóp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế toàn cầu Tự do hoá thương mại là việc cần phảilàm đối với tất cả các nước trong điều kiện hội nhập kinh tế Tổ chức thương mại thếgiới WTO với vai trò của mình đã tạo điều kiện cho các nước mở rộng tự do thươngmại, hàng hóa lưu thông nhiều, nhanh chóng, và dễ dàng hơn giữa các quốc gia vớinhau
Qua đó, việc tìm hiểu về tổ chức thương mại thế giới WTO thông qua các hiệpđịnh: hiệp định về thương mại hàng hóa GATT, hiệp định về thương mại dịch vụGATS, hiệp định về sở hữu trí tuệ TRIPS và hiệp định về quan hệ đầu tư TRIMS sẽgiúp chúng ta đánh giá được vai trò của WTO trong việc mở rộng tự do thương mạigiữa các nước trên thế giới, đặc biệt là về thương mại mậu biên hiện nay
Đề tài của nhóm sẽ giới thiệu với người đọc những thông tin cần thiết và bổ ích
về tổ chức thương mại thế giới WTO, tìm hiểu về website của tổ chức này và vai tròcủa WTO trong việc mở rộng tự do hóa thương mại giữa các quốc gia trên thế giới
Trang 2Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của WTO
1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - tiền thân của tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm khôi phục sự phát triển kinh tế vàthương mại, hơn 50 nước trên thế giới đã tham gia vào các cuộc đàm phán với mụctiêu tạo lập một tổ chức mới điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế Ban đầu,các nước dự kiến thành lập tổ chức thương mại quốc tế (ITO) với tư cách là một tổchức chuyên môn thuộc liên hiệp quốc Dự thảo hiến chương thành lập ITO khôngnhững chỉ điều chỉnh các quy tắc thương mại quốc tế mà còn mở rộng ra cả các quyđịnh về công ăn việc làm, các hành vi hạn chế thương mại, đầu tư và dịch vụ quốc tế
Trước khi hiến chương này được thông qua, 23 trong số hơn 50 nước tham gia
đã quyết định tiến hành đàm phán để giảm và ràng buộc thuế quan ngay trong năm
1946 Trong vòng đàm phán đầu tiên, các nước đã đưa ra được 45.000 nhân nhượngthuế quan có ảnh hưởng đến khối lượng thương mại giá trị khoảng 10 tỷ USD, tức làkhoảng 1/5 tổng giá trị thương mại thế giới Các nước cũng nhất trí áp dụng ngay lậptức và "tạm thời" một số quy tắc thương mại trong Dự thảo hiến chương ITO nhằmbảo vệ giá trị của các nhân nhượng nói trên Kết quả là các quy định thương mại vàcác nhân nhượng thuế quan được đưa vào hiệp định chung về thuế quan và thươngmại (GATT) Ngày 30-10-1947, 23 nước đã ký nghị định thư về việc áp dụng tạm thờihiệp định GATT (PPA) Theo đó, các nhân nhượng thuế quan có hiệu lực từ 30-6-1948
Trong thời gian đó, hiến chương ITO vẫn tiếp tục được thảo luận Cuối cùng,tháng 3-1948, hiến chương ITO đã được thông qua tại hội nghị về thương mại và việclàm của liên hiệp quốc tại Havana Tuy nhiên, quốc hội của một số nước đã không phêchuẩn hiến chương này Đặc biệt là quốc hội Hoa Kỳ rất phản đối hiến chươngHavana, mặc dù Chính phủ Hoa Kỳ đã đóng vai trò rất tích cực trong việc thiết lậpITO Tháng 12-1950, chính phủ Hoa Kỳ chính thức thông báo sẽ không vận độngquốc hội thông qua hiến chương Havana nữa, do vậy trên thực tế, hiến chương nàykhông còn tác dụng Do vậy, mặc dù chỉ là tạm thời nhưng GATT đã trở thành công
cụ đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế từ năm 1948 cho đến tận năm
1995 khi tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời.Trong 47 năm tồn tại, thông qua 8vòng đàm phán, GATT đã có những đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy tiến trìnhthuận lợi hoá và tự do hoá thương mại quốc tế Việc giảm thuế liên tục đã thúc đẩytăng trưởng thương mại thế giới đạt mức trung bình khoảng 8%/năm trong suốt nhữngnăm 50 và 60 Nếu như trong 5 vòng đàm phán đầu tiên, GATT chủ yếu tập trung vàođàm phán giảm thuế quan thì tới vòng đàm phán Kenedy, nội dung đàm phán mở rộng
Trang 3dần sang các lĩnh vực khác Vòng đàm phán cuối cùng - Vòng Uruguay - đã mở rộngnội dung sang hầu hết các lĩnh vực thương mại và liên quan đến thương mại bao gồm:thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và kết quả là cho rađời một tổ chức thay thế cho GATT, đó là WTO Quy mô của GATT cũng khôngngừng được mở rộng Cho tới trước khi WTO được thành lập vào ngày 1/1/1995,GATT đã có 124 bên ký kết và đang tiếp nhận 25 đơn xin gia nhập
1.1.2 Sự ra đời của WTO
Mặc dù đã đạt được những thành công lớn, nhưng đến cuối những năm 80, đầu
90, trước những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và sự phát triển củakhoa học-kỹ thuật, GATT bắt đầu tỏ ra có những bất cập, không theo kịp tình hình:
- Thứ nhất, những thành công của GATT trong việc giảm và ràng buộc thuếquan ở mức thấp cộng với một loạt các cuộc suy thoái kinh tế trong những năm 70 và
80 đã thúc đẩy các nước tạo ra các loại hình bảo hộ phi quan thuế khác nhau để đốiphó với hàng nhập khẩu hoặc ký kết các thoả thuận song phương dàn xếp thị trường,đồng thời làm nảy sinh nhiều hình thức hỗ trợ và trợ cấp mới Những biến đổi này cónguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị mà việc giảm thuế quan mang lại chothương mại quốc tế Trong khi đó, phạm vi của GATT không cho phép đề cập mộtcách cụ thể và sâu rộng đến các vấn đề này
- Thứ hai, đến những năm 80, GATT đã không còn thích ứng với thực tiễnthương mại thế giới Khi GATT được thành lập năm 1948, hiệp định này chủ yếu điềutiết thương mại hàng hoá hữu hình Từ đó tới nay, thương mại quốc tế đã phát triểnnhanh chóng, mở rộng sang cả các lĩnh vực thương mại dịch vụ như ngân hàng, bảohiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tư vấn Các loại hìnhthương mại dịch vụ này, cùng với các vấn đề trong đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trítuệ liên quan đến thương mại đã phát triển nhanh chóng và trở thành một bộ phậnquan trọng của thương mại quốc tế
- Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá, GATT còn có những
lỗ hổng cần phải được cải thiện Ví dụ, trong nông nghiệp và hàng dệt may, các cốgắng tự do hoá thương mại đã không đạt được thành công lớn Kết quả là còn rấtnhiều ngoại lệ với các quy tắc chung trong hai lĩnh vực thương mại này
- Thứ tư, về mặt cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng tỏ
ra không thích ứng với tình hình thế giới GATT chỉ là một hiệp định, việc tham giamang tính chất tuỳ ý Thương mại quốc tế ở những năm 80 và 90 đòi hỏi phải có một
tổ chức thường trực, có nền tảng pháp lý vững chắc để đảm bảo thực thi các hiệp định,quy định chung của thương mại quốc tế Về hệ thống giải quyết tranh chấp, GATT chưa có một cơ chế điều tiết thủ tục tố tụng chặt chẽ, không đưa ra một thời gian biểunhất định, do đó, các vụ việc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ bị bế tắc Để thúc đẩy
Trang 4hoạt động thương mại quốc tế một cách hiệu quả, rõ ràng hệ thống này cần phải đượcđổi mới.
Những yếu tố trên, kết hợp với một số nhân tố khác đã thuyết phục các bêntham gia GATT cần phải nỗ lực để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên
Từ năm 1986 đến 1994, hiệp định GATT và các quy định phụ trợ của nó đã được cácnước thảo luận sửa đổi và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trườngthương mại thế giới hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và mộtvài biên bản giải thích khác đã hợp thành GATT 1994 Một số hiệp định riêng biệtđược xây dựng trong các lĩnh vực như nông nghiệp, dệt may, trợ cấp, tự vệ và các lĩnhvực khác cùng với GATT 1994 đã tạo thành các yếu tố của các hiệp định thươngmại đa phương về thương mại hàng hoá Vòng đàm phán Uruguay cũng thông quamột loạt các quy định mới điều chỉnh thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ liênquan đến thương mại Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán lầnnày là cuối vòng đàm phán, các nước đã cho ra tuyên bố Marrakesh thành lập tổ chứcthương mại thế giới WTO bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995
- Phát triển việc sử dụng các nguồn lực của thế giới
- Mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hoá
1.2.2 Chức năng
WTO có năm chức năng cơ bản như sau:
- Tạo thuận lợi cho việc thực thi, quản lý, vận hành và thúc đẩy mục tiêu củacác hiệp định của WTO
Trang 5- Tạo ra diễn đàn đàm phán giữa các thành viên về quan hệ thương mại giữacác nước này về các vấn đề được đề cập đến trong các hiệp định WTO cũng như cácvấn đề mới thuộc thẩm quyền của mình, và tạo khuôn khổ để thực thi kết quả của cáccuộc đàm phán đó.
- Giải quyết tranh chấp giữa các thành viên trên cơ sở quy định và thủ tục giảiquyết tranh chấp
- Thực hiện rà soát chính sách thương mại thông qua cơ chế rà soát chính sáchthương mại
- Nhằm đạt được một sự nhất quán hơn nữa trong việc hoạch định chính sáchthương mại toàn cầu, WTO sẽ hợp tác phối hợp với các tổ chức kinh tế quốc tế nhưIMF, WB
1.2.3 Nguyên tắc hoạt động
WTO hoạt động dựa trên một hệ thống hiệp định tương đối dài và phức tạp dochúng là những văn bản pháp lý điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế.Tuy vậy, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng trên cơ sở năm nguyên tắc cơ bảncủa WTO
1.2.3.1 Thương mại không có sự phân biệt đối xử.
Nguyên tắc này được cụ thể hoá thành nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốcgia:
a Nguyên tắc tối huệ quốc ( Most-favoured-nation – (MFN)):
Theo nguyên tắc MFN, các thành viên WTO không được phép phân biệt đối xửgiữa các nước đối tác thương mại khác nhau Ví dụ, trong thương mại hàng hoá, nếumột thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳmột ưu đãi nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩmtương tự của tất cả các quốc gia thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điềukiện WTO cũng cho phép các thành viên được duy trì một số ngoại lệ của nguyên tắcnày Ví dụ, trong thương mại hàng hoá, các nước được phép dành ưu đãi cao hơn chocác thành viên cùng tham gia các thoả thuận thương mại khu vực Trong thương mạidịch vụ, các nước cũng có thể phân biệt đối xử trong những trường hợp cụ thể Tuynhiên, tất các những ngoại lệ này chỉ được áp dụng với những điều kiện hết sức chặtchẽ
b Đối xử quốc gia (National treatment - NT):
Trong khi nguyên tắc MFN yêu cầu một thành viên không được phép áp dụngđối xử phân biệt giữa các thành viên thì nguyên tắc NT yêu cầu một nước phải đối xửbình đẳng và công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trongnước Cụ thể, bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới (đã trảxong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ được hưởng sự đối xử khôngkém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước NT cũng được mở rộng áp
Trang 6dụng trong lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ Cụ thể, nguyên tắc này được quy địnhtrong Điều 3 - Hiệp định GATT, Điều 17 - Hiệp định GATS và Điều 3 - Hiệp địnhTRIPS
Nguyên tắc MFN và NT lúc đầu chỉ được áp dụng trong lĩnh vực thương mạihàng hoá, sau khi WTO ra đời thì nó được mở rộng cả sang thương mại dịch vụ,quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các lĩnh vực khác, tuy vậy mức độ
áp dụng của các nguyên tắc này trong các lĩnh vực là khác nhau
- Trong thương mại hàng hoá: MFN và NT được áp dụng tương đối toàn diện
và triệt để
- Trong thương mại dịch vụ: MFN và NT cũng được áp dụng với những lĩnhvực mà một thành viên đã cam kết mở cửa thị trường, với những lĩnh vực dịch vụ cònduy trì hạn chế thì việc dành MFN và NT tuỳ thuộc vào kết quả đàm phán các cam kết
- Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: các nguyên tắc trên đã được thể chế hoá cụ thể
và phổ biến trong các công ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ
1.2.3.2 Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán
WTO đảm bảo thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn thông quaquá trình đàm phán hạ thấp các hàng rào thương mại để thúc đẩy buôn bán Để thựchiện nguyên tắc thương mại ngày càng tự do này, WTO đảm nhận chức năng là diễnđàn đàm phán thương mại đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề
tự do hoá thương mại Kể từ năm 1948 đến nay, GATT, mà nay là WTO, đã tiến hành
8 vòng đàm phán để giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan và mở cửa thịtrường Vòng đàm phán thứ 9 (vòng Doha) hiện đang được thực hiện Với mộtchương trình nghị sự rộng, vòng Doha được hy vọng sẽ là một bước đi tích cực nhằm
tự do hoá thương mại toàn cầu một cách toàn diện và sâu sắc hơn nữa
1.2.3.3 Có thể dự đoán: thông qua ràng buộc và minh bạch hoá
Một nguyên tắc cơ bản của WTO là các thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính
ổn định và có thể dự đoán được trong thương mại quốc tế Để đảm bảo nguyên tắcnày, các thành viên WTO có nghĩa vụ phải minh bạch hoá các quy định thương mạicủa mình, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng và ràng buộc chúng (tức là camkết sẽ không thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho thương mại, nếu thay đổi phảiđược thông báo, tham vấn và bù trừ hợp lý) Ví dụ, các nước chỉ có thể tăng thuế quansau khi đã tiến hành đàm phán lại và đã đền bù thoả đáng cho lợi ích các bên bị thiệthại do việc tăng thuế đó Sau Vòng đàm phán Uruguay, 100% các dòng thuế nông
Trang 7nghiệp đã được ràng buộc; đối với hàng công nghiệp, mức độ ràng buộc là 99% đốivới các nước phát triển, 73% với các nước đang phát triển và 98% đối với các nềnkinh tế chuyển đổi
Ngoài ra, WTO cũng tăng cường tính ổn định và dễ dự báo trong thương mạiquốc tế thông qua việc yêu cầu các nước hạn chế sử dụng hạn ngạch và các biện pháphạn chế số lượng khác Nhiều hiệp định của WTO còn yêu cầu các chính phủ phảicông khai các chính sách và thông lệ trong nước hoặc thông báo các chính sách đó vớiWTO Chính sách thương mại của các nước được giám sát thường xuyên bởi cơ chế
rà soát chính sách thương mại của WTO
1.2.3.4 Thúc đẩy cạnh tranh công bằng.
Mặc dù đôi khi được mô tả là tổ chức về "thương mại tự do", song hệ thốngWTO trên thực tế vẫn cho phép áp dụng thuế quan và một số hình thức bảo hộ khác
Do vậy, có thể nói rằng, WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnhtranh tự do, công bằng và không bị bóp méo Tất cả các hiệp định của WTO như Hiệpđịnh về nông nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ đều nhằm mục tiêu tạo một môitrường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các quốc gia
1.2.3.5 Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế
Với 3/4 số thành viên của mình là các nước đang phát triển và các nền kinh tếchuyển đổi, một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển
và cải cách kinh tế, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các quốcgia này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thươngmại đa phương Thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển,các nền kinh tế chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực thi cáchiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nước này
1.2.4 Cơ cấu tổ chức của WTO
WTO có một cơ cấu gồm 3 cấp
- Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định (decision-makingpower) bao gồm hội nghị bộ trưởng, đại hội đồng WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp
và cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại
- Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại
đa phương, bao gồm hội đồng GATT, hội đồng GATS, và hội đồng TRIPS;
- Cuối cùng là cơ quan thực hiện chức năng hành chính - thư ký là tổng giámđốc và ban thư ký WTO
1.2.4.1 Hội nghị bộ trưởng, đại hội đồng WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp và
cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại
Hội nghị bộ trưởng WTO: là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của WTOhọp ít nhất 2 năm một lần, thành viên là đại diện cấp bộ trưởng của tất cả các thànhviên Điều IV 1 Hiệp định thành lập WTO quy định hội nghị bộ trưởng WTO thực
Trang 8hiện tất cả các chức năng của WTO và có quyền quyết định mọi hành động cần thiết
để thực hiện những chức năng đó Hội nghị bộ trưởng WTO cũng có quyền quyết định
về tất cả các vấn đề trong khuôn khổ bất kỳ một hiệp định đa phương nào của WTO
Đại hội đồng WTO: trong thời gian giữa các khoá họp của hội nghị bộ trưởngWTO, các chức năng của hội nghị bộ trưởng WTO do đại hội đồng (General-Council)đảm nhiệm Đại hội đồng WTO hoạt động trên cơ sở thường trực tại trụ sở của WTO
ở Geneva, Thuỵ sỹ Thành viên của đại hội đồng WTO là đại diện ở cấp đại sứ củachính phủ tất cả các thành viên Đa số các nước đang phát triển thường cử luôn đại sứ,Trưởng đại diện bên cạnh liên hợp quốc tại Geneva làm đại sứ tại WTO; các nướcphát triển, đặc biệt là các cường quốc thương mại hàng đầu như Mỹ, EU đều cử đại sứriêng về WTO tại Geneva Các uỷ ban báo cáo lên đại hội đồng WTO
Đại hội đồng có quyền thành lập các uỷ ban giúp việc và báo cáo trực tiếp lênđại hội đồng là : Uỷ ban về thương mại và phát triển; Uỷ ban về các hạn chế cán cânthanh toán; Uỷ ban về ngân sách, tài chính và quản trị; Uỷ ban về các hiệp địnhthương mại khu vực Ba ủy ban đầu được thành lập theo hiệp định về thành lập WTO,
ủy ban cuối cùng được thành lập vào tháng 2-1996 theo quyết định của đại hội đồngWTO
-Ngoài ra còn có hai ủy ban là “Uỷ ban về hàng không dân dụng” và “Uỷ ban
về mua sắm chính phủ” được thành lập theo quyết định của vòng Tokyo và có sốthành viên hạn chế (chỉ những nước ký kết các “bộ luật” có liên quan của VòngTokyo mới được tham gia), vẫn tiếp tục hoạt động trong khuôn khổ của WTO Nhưngnhững ủy ban này không phải báo cáo (report) mà chỉ có nghĩa vụ thông báo (notify)thường xuyên về hoạt động của họ lên đại hội đồng WTO
Cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại:Điều IV Hai hiệp định WTO quy định, ngoài các việc thực hiện các chức năng củahội nghị bộ trưởng WTO trong thời gian giữa hai khoá họp Đại hội đồng WTO cònthực hiện những chức năng khác được trao trực tiếp theo các hiệp định thương mại đaphương, trong đó quan trọng nhất là chức năng giải quyết tranh chấp và chức năngkiểm điểm chính sách thương mại Chính vì vậy mà đại hội đồng WTO cũng đồngthời là “cơ quan giải quyết tranh chấp” (DSB-Dispute Settlement Body) khi thực hiệncác chức năng giải quyết tranh chấp và là “cơ quan kiểm điểm chính sách thươngmại” (TPRB-Trade Policy Review Body) khi thực hiện chức năng kiểm điểm chínhsách thương mại
1.2.4.2 Các cơ quan thừa hành giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại
đa phương
WTO có 3 hội đồng (Council) được thành lập để giám sát việc thực thi 3 hiệpđịnh thương mại đa phương là: hội đồng GATT, hội đồng GATS và hội đồng TRIPS
Trang 9Tất cả các nước thành viên đều có quyền tham gia vào hoạt động của 3 hội đồng này.
Ba hội đồng nói trên báo cáo trực tiếp các công việc của mình lên đại hội đồng WTO
Ngoài ra còn có các cơ quan được các hội đồng của WTO thành lập với tư cách
là cơ cấu trực thuộc (subsidiary bodies) để giúp các hội đồng này trong việc thực hiệncác chức năng kỹ thuật, ví dụ như “Uỷ ban về thâm nhập thị trường”, “Uỷ ban về trợgiá nông nghiệp” và các “Nhóm công tác” (Working group) được thành lập trên cơ sởtạm thời để giải quyết những vấn đề cụ thể, ví dụ như các “Nhóm công tác về việc gianhập WTO” của một số nước
1.2.4.3 Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO
Khác với GATT 1974, WTO có một ban thư ký rất quy mô, bao gồm khoảng
500 viên chức và nhân viên thuộc biên chế chính thức của WTO Đứng đầu ban thư
ký WTO là tổng giám đốc WTO Tổng giám đốc WTO do hội nghị bộ trưởng bổnhiệm với nhiệm kỳ 4 năm Ngoài vai trò điều hành, tổng giám đốc của WTO còn cómột vai trò chính trị rất quan trọng trong hệ thống thương mại đa phương Chính vìvậy mà việc lựa chọn các ứng cử viên vào chức vụ này luôn là một cuộc chạy đua ácliệt giữa các nhân vật chính trị quan trọng, cấp bộ trưởng, phó thủ tướng hoặc tổngthống (Trong số các ứng cử viên vào chức vụ tổng giám đốc đầu tiên của WTO có ôngSalinas, cựu tổng thống Mêhicô)
Quyền hạn và trách nhiệm của tổng giám đốc do hội nghị bộ trưởng quyết định.Biên chế ban thư ký WTO do tổng giám đốc quyết định Tổng giám đốc và thành viênban thư ký WTO có quy chế tương tự như của viên chức các tổ chức quốc tế, hoạtđộng độc lập và chỉ tuân theo các quyết định và tôn chỉ của WTO Họ được hưởng cácquyền ưu đãi, miễn trừ tương tự như viên chức của các tổ chức chuyên môn của liênhợp quốc Cũng như những người tiền nhiệm trước kia trong GATT, tổng giám đốcWTO có vai trò hết sức quan trọng, dẫn dắt các vòng đàm phán thương mại đa biên vàgiải quyết tranh chấp ( Ông Rugiero, Tổng giám đốc sắp mãn nhiệm của WTO đãđóng vai trò trung gian hoà giải rất tích cực và có hiệu quả trong vụ tranh chấp giữa
Mỹ và EU liên quan đến việc áp dụng các đạo luật Helms-Burton và Kennedy năm 1997) Vị trí đặc biệt của tổng giám đốc WTO thể hiện một trongnhững nét đặc trưng trong ngoại giao đa phương ngày nay khi trên thực tế các quanchức lãnh đạo cao cấp của các tổ chức quốc tế ngày càng đóng vai trò “điềuhành” (managing) nhiều hơn là “chấp hành” (executive)
D’Amaton-1.3 Các quy định của WTO
1.3.1 Giới thiệu chung
Có thể nói, WTO là tổ chức quốc tế duy nhất điều chỉnh các quy tắc về thươngmại giữa các quốc gia Cốt lõi của WTO là các hiệp định do các chính phủ thành viênđàm phán và ký kết Các hiệp định này tạo ra nền tảng pháp lý cho việc tiến hành hoạt
Trang 10động thương mại quốc tế, với mục tiêu thúc đẩy giao lưu thương mại hàng hoá, dịch
vụ và hợp tác thương mại ngày càng sâu rộng và hiệu quả hơn
Khi WTO thành lập, mọi kết quả của vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) trởthành văn kiện chính thức của WTO mà bất kỳ một thành viên WTO nào cũng phảitham gia Như vậy, tất cả các thành viên WTO đều tham gia các hiệp định của WTO.Quy định này được gọi là chấp thuận cả gói
Bên cạnh đó, WTO vẫn duy trì các hiệp định nhiều bên từ vòng đàm phánTokyo (1973-1979) các thành viên WTO có thể tham gia hay không tuỳ ý (Hiệp định
về buôn bán máy bay dân dụng, Hiệp định về mua sắm chính phủ)
Các hiệp định và phụ lục của WTO điều chỉnh những lĩnh vực hoặc những vấn
·Các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT)
·Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
·Biện pháp chống phá giá
·Xác định trị giá tính thuế hải quan
·Giám định hàng hoá trước khi xếp hàng
·Quy tắc xuất xứ
·Thủ tục cấp phép nhập khẩu
·Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
·Các biện pháp tự vệ
- Đối với dịch vụ (các phụ lục của GATS)
·Di chuyển của thể nhân
·Vận tải hàng không
·Các dịch vụ tài chính
·Vận tải đường biển
·Viễn thông
- Đối với sở hữu trí tuệ
·Các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại
- Đối với giải quyết tranh chấp
·Các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp
1.3.2 Các quy định cụ thể trong từng lãnh vực
1.3.2.1 Thương mại hàng hoá
a Thương mại hàng công nghiệp
Trang 11Hiệp định chủ chốt điều chỉnh lĩnh vực thương mại hàng công nghiệp củaWTO là GATT 1994.
GATT đưa ra các nguyên tắc cơ bản để tiến hành thương mại hàng hoá giữacác thành viên, đó là nguyên tắc MFN, NT, không hạn chế số lượng, các điều khoản
ưu tiên và ưu đãi dành cho các nước đang và chậm phát triển, các quy tắc về đàmphán, ràng buộc thuế quan và đàm phán lại GATT cũng có các điều khoản cơ bản vềcác vấn đề chống bán phá giá, xác định trị giá hải quan, trợ cấp, tự vệ khẩn cấp tuynhiên những điều khoản này chưa đầy đủ và chi tiết, sau này chúng đã được cụ thểhoá thành các hiệp định riêng biệt
Mục tiêu cơ bản của GATT là tạo cơ sở để không ngừng tiến hành giảm thuếquan và ràng buộc chúng Đến khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, các thành viên
đã đưa ra các cam kết ràng buộc thuế đối với hầu hết các mặt hàng công nghiệp nhậpkhẩu
Sau vòng đàm phán Uruguay, các nước phát triển cam kết tiến hành cắt giảmthuế quan hàng công nghiệp từ 6,3% xuống còn trung bình là 3,8% trong vòng 5 năm,tính từ 1/1/1995 Giá trị hàng hoá nhập khẩu được miễn thuế hoàn toàn vào các nướcnày lên tới 44% (từ 20%) Số lượng dòng thuế nhập khẩu từ tất cả các nước phải chịuthuế suất trên 15% giảm từ 7% xuống còn 5% (riêng đối với các nước đang phát triểnthì mức giảm này là từ 9% xuống 5%) Ngày 26/3/1997, 40 nước chiếm 92% thươngmại thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã nhất trí miễn thuế và các loại phíkhác cho tất cả các sản phẩm công nghệ thông tin nhập khẩu kể từ năm 2000 Sốlượng các dòng thuế được ràng buộc cũng tăng nhanh Các nước phát triển cam kếtràng buộc 99% dòng thuế của họ (từ mức 77%), các nước đang phát triển ràng buộc73% (từ 21%), các nền kinh tế chuyển đổi 98% (từ 73%)
Như vậy, nội dung chủ yếu của GATT là giảm và ràng buộc thuế quan hàngcông nghiệp Các cam kết ràng buộc này là một phần không thể tách rời của hiệp địnhGATT Ngoài các danh mục ràng buộc thuế quan của các thành viên, GATT tạo cơ sở
để tiếp tục tiến hành các cuộc đàm phán giảm thuế hơn nữa trong tương lai Bên cạnh
đó, GATT cũng quy định những thủ tục cần thiết như tham vấn, bồi thường khi mộtnước muốn rút bỏ một ràng buộc thuế quan của mình trong những trường hợp đặcbiệt, cụ thể GATT cũng có các quy định về các vấn đề như định giá tính thuế, hạn chế
số lượng, tự vệ khẩn cấp, trợ cấp, bảo vệ cán cân thanh toán, gia nhập, rút lui, miễntrừ Tuy vậy, trong khuôn khổ của GATT thì các vấn đề này chưa được đề cập chitiết, cụ thể, theo kịp tình hình thương mại quốc tế Vì vậy, sau Vòng đàm phánUruguay, các thành viên đã nhất trí đưa ra các hiệp định cụ thể về các vấn đề này, baogồm:
- Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)
- Hiệp định Thực thi điều VI của GATT 1994 (về chống bán phá giá - AD)
Trang 12- Hiệp định Thực thi điều VII của GATT 1994 (về định giá hải quan - CV).
- Hiệp định về Giám định hàng hoá trước khi xếp hàng xuống tàu (PSI)
- Hiệp định về Quy tắc xuất xứ (ROO)
- Hiệp định về Thủ tục cấp phép nhập khẩu (IL)
- Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM)
- Hiệp định về các Biện pháp tự vệ (SG)
* Hàng dệt và may
Dệt và các sản phẩm từ dệt là một trong những ngành xuất hiện sớm nhất tronglịch sử công nghiệp Trãi qua quá trình phát triển, ngày nay hầu hết những nước cótrình độ công nghiệp cao đều không mở rộng ngành này và trở thành những nướcnhập khẩu sản phẩm dệt may Trong khi đó, tại các nước đang phát triển, đang trongquá trình công nghiệp hoá thì đây là một ngành được quan tâm đầu tư vì không đòihỏi công nghệ phức tạp và giải quyết được việc làm cho nhiều nhân công Nhưng cómột điều bất công là trong khi các nước phát triển kêu gọi tự do hoá thương mại bằngcách dỡ bỏ rào cản đối với hầu hết các sản phẩm thì chính họ lại dựng lên hàng ràokhắt khe để hạn chế nhập khẩu hàng dệt may Với cái gọi là hiệp định đa sợi (MFA),
họ đã buộc các nước đang phát triển muốn xuất khẩu hàng dệt may vào nước họ phảichấp nhận hạn chế xuất khẩu đối với một số loại hàng dệt may nhất định (thườngđược gọi tắt là “cat”) mà thực chất chính là việc ấn định hạn ngạch cho nước xuấtkhẩu Trước sự đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của các nước đang phát triển, vòng đàmphán Uruguay đã mở ra một hiệp định riêng để xử lý vấn đề này, nhằm đưa hàng dệtmay vào khuôn khổ điều chỉnh trong những nguyên tắc chung của GATT Đó chính làhiệp định dệt may (ATC) Hiệp định này chính thức có hiệu lực với sự thành lập củaWTO (1-1-1995) Hiệp định ATC không xoá bỏ hạn chế đối với hàng dệt may ngaylập tức, mà trong một thời gian chuyển tiếp là 10 năm (1995-2005), chia làm 4 giaiđoạn Tỷ lệ tối thiểu các sản phẩm được nhất thể hoá của từng giai đoạn sẽ là 16, 17
và 18% và trước ngày 1 tháng 1 năm 2005, toàn bộ sản phẩm hàng dệt và may sẽ hoàntoàn được hoà nhập vào hệ thống chính sách thương mại đa phương của WTO, cáchạn chế đối với hàng dệt may (chủ yếu dưới dạng hạn ngạch) mới được xoá bỏ hoàntoàn
Như vậy, theo thời hạn trên, khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức củaWTO (11/01/2007) thì chính sách hạn ngạch cho hàng dệt may được áp dụng đối vớiViệt Nam từ nhiều năm nay phải tự động được bãi bỏ Tuy nhiên, ngay sau khi ViệtNam gia nhập WTO, bộ thương mại Hoa Kỳ đã tiến hành thực hiện cơ chế giám sátchống bán phá giá rất chặt chẽ 5 nhóm hàng hàng may mặc của Việt Nam Việc thựchiện cơ chế này thể hiện sự bảo hộ của ngành dệt Hoa Kỳ, bởi vì ngành dệt Hoa Kỳkhông sản xuất những mặt hàng này Điều đó là trái với các quy định và cam kết trongkhuôn khổ WTO và cần phải bãi bỏ
Trang 13b Thương mại hàng nông sản
Khi ra đời, GATT vốn dĩ được áp dụng cho cả các sản phẩm nông nghiệp,nhưng hiệp định này có những kẽ hở Chẳng hạn, nó cho phép các nước được áp dụngmột số biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu và trợ cấp Thương mạitrong lĩnh vực nông nghiệp do đó đã bị bóp méo, đặc biệt là do trợ cấp xuất khẩu.Vòng đàm phán Uruguay đã cho ra đời hiệp định đa phương đầu tiên về lĩnh vực này.Hiệp định Nông nghiệp (AoA) đánh dấu một bước phát triển đáng kể, hướng tới lậplại trật tự và cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp Hiệp định Nôngnghiệp đề cập đến 3 vấn đề chính: (i) Mở cửa thị trường nông nghiệp; (ii) Hỗ trợ trongnước; (iii) Trợ cấp xuất khẩu
(i) Mở cửa thị trường nông nghiệp: thông qua việc thuế quan hoá các biện
pháp phi thuế quan, cắt giảm và ràng buộc thuế quan đối với các mặt hàng nông sản
- Các nước phải bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan áp dụng với sản phẩm nôngnghiệp nhập khẩu
- Các nước được phép thuế hoá khi bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan, nhưng phảiràng buộc mức thuế sau khi đã thuế hoá
- Tiếp đó, các nước cũng phải cắt giảm dần mức thuế quan sau khi đã thuế hoá Yêucầu đặt ra là các nước phát triển phải cắt giảm bình quân 36% mức thuế nhập khẩutrong vòng 6 năm (1995-2000); các nước đang phát triển phải giảm 24% trong vòng
10 năm (1995-2004); các nước chậm phát triển được miễn trừ cam kết giảm thuếnhưng phải thuế hoá các biện pháp phi thuế và cam kết mức thuế trần để đảm bảorằng trong tương lai không tăng thuế lên quá mức trần cam kết đó
(ii) Hỗ trợ trong nước: là những lợi ích được chính phủ dành cho một hoặc
một số đối tượng mà không trực tiếp gắn với hoạt động hay kết quả xuất khẩu của đốitượng đó Hỗ trợ trong nước được phân làm 3 loại, bao gồm nhóm "hộp vàng", nhóm
"hộp xanh da trời" và "nhóm hộp xanh lá cây"
“Hộp hổ phách” (amber box) : bao gồm các loại hỗ trợ trong nước mang tính bóp méothương mại như trợ giá, trợ cấp trực tiếp liên quan đến sản lượng Loại hỗ trợ này phảicam kết cắt giảm nếu vượt quá 5% giá trị sản lượng của sản phẩm được hỗ trợ đối vớicác nước phát triển và 10% đối với các nước đang phát triển
Một điều khoản đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong nhóm
hỗ trợ này là hỗ trợ khuyến khích phát triển sản xuất gọi là “Chương trình phát triển”
mà các nước đang phát triển được phép áp dụng, bao gồm trợ cấp đầu tư; trợ cấp đầuvào cho nông dân ở các vùng khó khăn; trợ cấp chuyển dịch từ cây thuốc phiện sangcây khác
“Hộp xanh da trời”: (blue box): Là hỗ trợ hộp hỗ phách có điều kiện (amber box withcondition) Các khoản thanh toán trực tiếp trong các chương trình hạn chế sản xuất sẽkhông phải là đối tượng cam kết cắt giảm hỗ trợ trong nước, nếu:
Trang 14·Các khoản thanh toán đó dựa trên cơ sở vùng và sản lượng cố định; hoặc
·Thanh toán bằng hoặc thấp hơn 85% mức sản lượng cơ sở; hoặc
·Chi trả theo số đầu gia súc cố định
Loại hỗ trợ này chủ yếu do các nước phát triển như EU, Nhật, Thuỵ Sỹ vv… áp dụngnhằm hạn chế tình trạng dư thừa nông sản
"Hộp xanh lá cây" (green box): là những hỗ trợ không hoặc rất ít "bóp méo" thươngmại Các loại hỗ trợ này phải được tài trợ bởi chính phủ và không liên quan đến trợgiá Chúng có xu hướng được xây dựng thành các chương trình của Chính phủ vớicác mục tiêu và tiêu chí rõ ràng; Nhóm hỗ trợ này được tự do áp dụng, không phảicam kết cắt giảm Các loại hỗ trợ được xếp trong hộp này gồm: Các dịch vụ chung(nghiên cứu khoa học, đào tạo, khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, cơ sở hạ tầngnông nghiệp); dự trữ quốc gia vì mục đích an ninh lương thực, các khoản trợ cấp đóinghèo, trợ cấp thu nhập cho dân nghèo; chương trình an sinh và bảo hiểm thu nhập;Giảm nhẹ thiên tai; trợ cấp chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; những khoản chi trả trựctiếp trong khuôn khổ chương trình bảo vệ môi trường và hỗ trợ phát triển các vùngv.v
(iii) Trợ cấp xuất khẩu: có thể hiểu một cách đơn giản là những lợi ích gắn
với hoạt động hoặc kết quả xuất khẩu Hiệp định AoA quy định các nước phát triểnphải giảm 36% về giá trị trợ cấp và giảm tối thiểu 21% về khối lượng được nhận trợcấp xuất khẩu trong vòng 6 năm tính từ 1995 Con số này đối với các nước đang pháttriển là 24% và 14% trong vòng 10 năm tính từ 1995 Các nước chậm phát triển không
bị yêu cầu giảm trợ cấp xuất khẩu Số liệu cơ sở để tính toán là sử dụng mức trợ cấpxuất khẩu của giai đoạn 1986 - 1990
1.3.2.2 Thương mại dịch vụ
Hoạt động thương mại dịch vụ giữa các thành viên WTO được điều chỉnh bởihiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) GATS bao gồm:
- Các quy định và nguyên tắc chung được trình bày trong hiệp định chung
- Các phụ lục của GATS và các quyết định cấp bộ trưởng
+ Phụ lục về miễn trừ MFN
+ Phụ lục về di chuyển của thể nhân
+ Phụ lục về dịch vụ Vận tải hàng không
+ Phụ lục về dịch vụ tài chính
+ Phụ lục về vận tải đường biển
+ Phụ lục về viễn thông cơ bản
- Các cam kết của từng nước về các lĩnh vực dịch vụ cụ thể, về áp dụng MFN, NT và
mở cửa thị trường trong các lĩnh vực đó
Hội đồng thương mại dịch vụ giám sát việc thực thi hiệp định GATS
Nội dung cơ bản của hiệp định GATS
Trang 15Hiệp định GATS bao gồm 29 điều khoản, quy định các quy tắc và nghĩa vụ cơbản.GATS điều chỉnh một diện rộng các lĩnh vực dịch vụ gồm 12 ngành và 155 phânngành thông qua bốn phương thức cung cấp:
- Cung cấp qua biên giới: là phương thức theo đó dịch vụ được cung cấp từlãnh thổ của một thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác Ví dụ, vận tảihàng hoá hoặc hành khách từ Trung Quốc sang Việt Nam
- Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: là phương thức theo đó người tiêu dùng của mộtthành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ Ví
dụ, khách du lịch nước ngoài sang Việt Nam tham quan và mua sắm
- Hiện diện thương mại: là phương thức theo đó nhà cung cấp dịch vụ của mộtthành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công
ty liên doanh, chi nhánh v.v…trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch
vụ Ví dụ, ngân hàng Hoa Kỳ thành lập chi nhánh để kinh doanh tại Việt Nam
- Hiện diện thể nhân: là phương thức theo đó thể nhân cung cấp dịch vụ củamột thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ
Ví dụ, các nghệ sĩ, chuyên gia nước ngoài sang Việt Nam hoạt động
Trong bốn phương thức cung cấp dịch vụ kể trên, hiện diện thương mại đượccoi là phương thức được các thành viên quan tâm nhất và cũng có nhiều cam kết chitiết nhất
Các cam kết trong GATS:
- Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN): trong thương mại dịch vụ, đây là nghĩa vụbắt buộc của các thành viên Các nước cam kết dành cho nhau những ưu đãi như nhautrên mọi lĩnh vực dịch vụ Tuy vậy, hiệp định GATS cho phép mỗi thành viên đưa ramột số ngoại lệ của MFN Ví dụ, Indonesia có thể đưa một cam kết về ưu đãi songphương trong hợp tác du lịch ký với Thái Lan vào danh mục ngoại lệ MFN và ưu đãi
đó không được mở rộng cho các thành viên WTO
- Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): NT không được áp dụng một cách tựđộng Sự áp dụng còn tuỳ thuộc vào điều kiện đạt được trong đàm phán Trên cơ sởkết quả các cuộc đàm phán tự do hoá dịch vụ và các cam kết của các thành viên đếnnay, việc áp dụng NT trong thương mại dịch vụ còn rất chừng mực
Cam kết mở cửa thị trường: các cam kết cụ thể của mỗi thành viên trong từngngành, phân ngành dịch vụ được tổng hợp trong một Biểu cam kết Biểu này tuỳ thuộcvào kết quả đàm phán trên cơ sở trao đổi
Nhìn chung, GATS mới đạt được kết quả mức độ về mở cửa thị trường Thànhcông nhất của GATS là đã mở rộng được diện điều chỉnh của hệ thống thương mại đabiên sang lĩnh vực thương mại dịch vụ, đặc biệt là bao trùm cả những khía cạnh nhưđầu tư trực tiếp của nước ngoài, trình độ chuyên môn, sự di chuyển của thể nhân vàcung cấp qua biên giới Những tiền đề đó đã hợp pháp hoá khuôn khổ pháp lý ban đầu
Trang 16chung cho các nước và là xuất phát điểm để các nước tiếp tục đàm phán cụ thể hơn vềlĩnh vực đầy tiềm năng này ở các vòng đàm phán tiếp theo
Sau Vòng đàm phán Uruguay, nhiều cuộc đàm phán về thương mại dịch vụ đãđược tiến hành và đi đến ký kết một số hiệp định và đưa ra cam kết về di chuyển củathể nhân, dịch vụ viễn thông cơ bản, công nghệ thông tin, dịch vụ tài chính v.v Đàmphán về dịch vụ viễn thông cơ bản đã kết thúc vào tháng 2 năm 1997 và đàm phán vềdịch vụ tài chính đã kết thúc vào trung tuần tháng 12 năm 1997 Trong các cuộc đàmphán này, các thành viên đã đạt được phạm vi cam kết rộng hơn Các hiệp định nàyđược coi là những bước tiến lớn trong quá trình tự do hoá thương mại dịch vụ kể từkhi WTO được thành lập
Theo quy định của Điều 19, GATS, cuối tháng 2/2000, các thành viên đã nốilại đàm phán tự do hoá thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Hội đồng Thương mạidịch vụ Đến tháng 3/2001, Hội đồng đã hoàn tất việc xây dựng các nguyên tắc và thủtục đàm phán thương mại dịch vụ Tại hội nghị Doha, đàm phán dịch vụ được đưa vàochương trình nghị sự chung và là một bộ phận của cam kết trọn gói
1.3.2 3 Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
Cho đến nay, hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đếnthương mại (TRIPs) của WTO là hiệp định đa phương toàn diện nhất liên quan đếnquyền sở hữu trí tuệ Hiệp định điều chỉnh các đối tượng sở hữu trí tuệ (SHTT) sau :
- Bản quyền và các quyền liên quan
- Nhãn hiệu thương mại
- Chỉ dẫn địa lý
- Kiểu dáng công nghiệp
- Bằng sáng chế
- Thiết kế - bố trí mạch tích hợp
- Bảo vệ thông tin mật
Hiệp định qui định các thành viên phải áp dụng tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu đốivới từng đối tượng sở hữu trí tuệ phù hợp với các công ước liên quan của tổ chức sởhữu trí tuệ thế giới (WIPO), gồm công ước Paris, công ước Berne, công ước Rome,hiệp ước IPIC
Các quy định cơ bản của hiệp định TRIPS có thể chia thành 5 nhóm sau:
-Nhóm 1 gồm các quy định liên quan đến việc thực hiện sự bảo hộ theo nguyêntắc NT và MFN đặc biệt đối với việc cấp bằng độc quyền, xác lập, hưởng, phạm vi,duy trì và thực thi các quyền SHTT
-Nhóm 2 gồm các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu về nội dung bảo hộ, cácquyền kèm theo bằng và thời hạn bảo hộ tối thiểu của 7 loại quyền SHTT sau: phátminh sáng chế (tối thiểu 20 năm kể từ ngày nộp đơn xin cấp bằng - điều 33); bảnquyền và các quyền liên quan (phim: 50 năm, ảnh 25 năm, các loại khác: 50 năm hoặc
Trang 17suốt đời tác giả cộng thêm 50 năm - điều 14:5, phát thanh: 20 năm kể từ ngày cuối củanăm phát thanh - điều 14:5); nhãn hiệu thương mại (7 năm cho mỗi lần đăng ký hoặcđăng ký lại - điều 18); kiểu dáng công nghiệp (ít nhất là 10 năm - điều 26:3); thiết kế -
bố trí mạch tích hợp (10 năm từ ngày đăng ký hoặc sử dụng - điều 38:2 và :3); thôngtin mật kể cả bí mật thương mại (được bảo hộ chống lại việc tiết lộ không được phép
và việc sử dụng không công bằng vì mục đích thương mại - điều 39); chỉ dẫn địa lý(không cho phép đăng ký những nhãn hiệu thương mại gây hiểu lầm về nguồn gốc địa
lý của hàng hoá, ví dụ champagne được hiểu là rượu sản xuất ở Pháp chứ không phảinơi khác - điều 22 và 23)
-Nhóm 3 gồm các quy định về quyền áp dụng các biện pháp thích hợp nhằmngăn chặn chủ sở hữu trí tuệ lạm dụng quyền của mình hoặc có hành động hạn chếthương mại hay chuyển giao công nghệ một cách bất hợp lý
-Nhóm 4 gồm các quy định về bảo đảm việc thực thi sự bảo hộ bằng các quyđịnh về cơ chế tổ chức, thủ tục và đền bù có liên quan đến những việc như chủ sở hữu
có thể được hỗ trợ, trợ giúp tạm thời trong luật dân sự; không để hải quan cho quahàng giả, hàng ăn cướp hoặc vi phạm quyền SHTT, trừng trị những kẻ làm hàng giả
và kẻ cướp trong luật hình sự
-Nhóm 5 gồm các quy định về thời hạn thực hiện việc điều chỉnh luật lệ quốcgia cho phù hợp với các quy định trên là 1 năm đối với các nước phát triển, 5 năm đốivới các nước đang phát triển và đang chuyển đổi, 11 năm đối với các nước kém pháttriển nhất (chậm phát triển)
1.3.2.4 Đầu tư
Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) điềuchỉnh các biện pháp được áp dụng trong lĩnh vực đầu tư nhưng đồng thời liên quanđến thương mại hàng hóa Hiệp định này không điều chỉnh các biện pháp nằm ngoàilĩnh vực thương mại hàng hóa Nội dung cơ bản của TRIMs là các thành viên WTOkhông được áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại không phù hợpvới nguyên tắc đối xử quốc gia và nghĩa vụ loại bỏ các hạn chế định lượng Trong sốrất nhiều các biện pháp đầu tư có tác động bóp méo thương mại, TRIMs không chophép các thành viên áp dụng 5 biện pháp được coi là vi phạm nguyên tắc NT và khônghạn chế số lượng sau đây:
-Yêu cầu các doanh nghiệp phải mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất xứtrong nước hoặc từ một nguồn cung cấp trong nước
-Yêu cầu doanh nghiệp chỉ được mua hoặc sử dụng các sản phẩm nhập khẩutương ứng với số lượng hoặc giá trị hàng hoá mà doanh nghiệp này xuất khẩu
-Yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu tương ứng với số lượng hoặc giá trị sản xuấthàng hoá mà doanh nghiệp xuất khẩu
Trang 18-Yêu cầu doanh nghiệp thu ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầunhập khẩu của mình.
-Yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu hoặc bán một mặt hàng xuất khẩu nhất định,hoặc chỉ được xuất khẩu hàng hoá tương ứng với số lượng và giá trị hàng hoá sản xuấttrong nước của doanh nghiệp
Có 3 điều khoản trong Hiệp định TRIMs quy định sự đối xử đặc biệt và khácbiệt dành cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển Những điều khoảnnày bao gồm 2 loại:
- Sự linh hoạt trong cam kết, thực hiện, và sử dụng các công cụ chính sách(Điều 4)
-Thời gian ân hạn (Điều 5.1 và 5.2): Các nước được hưởng một khoảng thờigian chuyển tiếp để loại bỏ dần dần các biện pháp nêu trên Thời gian chuyển tiếp vớicác nước phát triển là 2 năm, với các nước đang phát triển là 5 năm và các nước chậmphát triển là 7 năm, tính từ ngày 1/1/1995 Đối với các nước chưa phải thành viên và
sẽ gia nhập WTO, thời gian ân hạn được thỏa thuận trên cơ sở đàm phán Như vậy,theo quy định của hiệp định, đến năm 2000, trừ các nước chậm phát triển, các thànhviên còn lại (bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển) đã phải hoàn thànhnghĩa vụ xoá bỏ toàn bộ các biện pháp không phù hợp với TRIMS Tuy nhiên, một sốthành viên sáng lập của WTO đã xin gia hạn áp dụng biện pháp nói trên (Argetina,Chile, Columbia, Mexico, Malaysia, Pakistan, Philippines, Romania ) do gặp khókhăn trong việc xoá bỏ yêu cầu nội địa hoá, cân đối xuất-nhập khẩu, cân đối ngoại tệ.Trong khi đó, một số thành viên gia nhập WTO từ sau năm 1995 (Ecuador, Mông Cổ,Panama, Croatia, Trung Quốc, Đài Loan ) đã cam kết thực hiện Hiệp định mà khôngyêu cầu bất kỳ ngoại lệ nào hoặc chỉ bảo lưu ở mức độ tối thiểu Hơn thế, Trung Quốccam kết thực hiện TRIMs với phạm vi khá rộng như xoá bỏ yêu cầu về xuất khẩu vàđiều kiện chuyển giao công nghệ, cho phép doanh nghiệp tự quyết định thị trường tiêuthụ sản phẩm
1.3.2.5 Cơ chế giải quyết tranh chấp
Trong quan hệ thương mại quốc tế, quyền lợi của các quốc gia thường xuyênmâu thuẫn với nhau, và rất dễ xảy ra tranh chấp Do vậy, hệ thống thương mại đa biên
mà các thành viên WTO nỗ lực xây dựng sẽ không thể tồn tại và hoạt động hiệu quảnếu như thiếu đi cơ chế giải quyết tranh chấp
Cho tới trước Vòng đàm phán Uruguay, việc giải quyết tranh chấp giữa cácnước ký kết GATT dựa vào hai cơ chế chủ yếu: (1) điều khoản XXII - Tham vấn vàXXIII - Bảo vệ các ưu đãi và lợi ích - của GATT, (2) cơ chế giải quyết tranh chấp củamỗi hiệp định đa phương
Cơ chế giải quyết tranh chấp đó vẫn bị coi là có những hạn chế sau:
Trang 19- Các nghị quyết đạt được không giải quyết được những tranh chấp phát sinh,thường dẫn đến việc các bên thương lượng hoà giải là chính.
- Hệ thống giải quyết tranh chấp không mang tính chất tự động, do vậy bên bịkiện có thể dễ dàng gây khó khăn để ngăn cản một nhóm chuyên trách (Ban Hộithẩm) tiến hành hoạt động của mình
- Thời hạn tiến hành quy trình giải quyết tranh chấp quá dài
- Hệ thống không có cơ chế bảo đảm cho các nghị quyết được thực hiện
Những khiếm khuyết này làm giảm bớt hoặc mất đi những giá trị của tự dohoá thương mại mà hệ thống thương mại đa phương mang lại Vì vậy, trong vòng đàmphán Uruguay, cơ chế giải quyết tranh chấp là một trong 15 nội dung lớn được đưa rađàm phán và đã đạt được một thành công lớn là đưa ra được một cơ chế giải quyếttranh chấp hoàn chỉnh hơn, cho phép các mối quan hệ trong thương mại quốc tế đượcgiải quyết một cách công bằng hơn, hạn chế rất nhiều những hành động đơn phương,độc đoán của những cường quốc thương mại, cho phép nhanh chóng tháo gỡ những bếtắc vốn thường xảy ra và khó giải quyết trước đây Từ đó, hiệu quả của hệ thốngthương mại đa biên thế giới được nâng cao hơn nhiều Các nước đang phát triển, chậmphát triển và ngay cả những nước phát triển tương đối yếu hơn coi đây là một thắnglợi và một lợi ích chính có thể có được từ hệ thống đa biên
Trong kỳ họp thứ hai
của DSB
Thành lập ban hội thẩm(Do cơ quan giải quyết tranh chấp)(Điều 6)
0-20 ngày (thêm 10
ngày nếu tổng giám
đốc được yêu cầu
Giai đoạn rà soát giữa kỳPhần báo cáo mô tả được gửi cho cácbên để đánh giá (Điều 15.1)
Báo cáo giữa kỳ được gửi cho tất cả cácbên xem xét (Điều 15.2)
Họp rà soát vớiban hội thẩm theoyêu cầu (Điều15.2)
Trang 2060 ngày dàng cho báo
cáo của BHT, trừ khi
có kháng nghị
DSB chấp nhận báo cáo của ban hộithẩm bao gồm bất cứ thay đổi báo cáocủa ban hội thẩm nào do ủy ban phúcthẩm thực hiện (Đ.16.1,16.4 và 17.14)
30 ngày dành cho
ủy ban phúc thẩm
rà soát
Thời hạn hợp lý do
các thành viên đề xuất,
hoặc các bên tranh
chấp thoả thuận hoặc
trọng tài phán quyết
(khoảng 15 tháng nếu
trọng tài phán quyết)
Thực thiBáo cáo của bên thua kiện về dự kiếnthực thi với "một thời hạn hợp lý"
Tranh chấp về việcthực thi:
Có thể kiện, baogồm cả tham khảovới ban hội thẩmđầu tiên về việcthực thi (Đ21.5)(90 ngày)
Trong trường hợp không thực thi cácbên đàm phán việc đền bù vì ngừngthực thi đầy đủ (Đ22.2)
30 ngày sau khi "thời
hạn hợp lý kết thúc"
Biện pháp trả đũaNếu không nhất trí được về việc bồithường, DSB cho phép trả đũa việckhông thực thi đầy đủ (Đ22)
Trả đũa chéo:
Trong cùng ngành hàng, các ngành hàngkhác, hiệp định khác (Đ22.3)
Có thể đưa ratrọng tài về mức
độ đình chỉ và cácnguyên tắc trả đũa(Đ.22.6 và 22.7)
BẢNG: QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
Đối tượng của giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ đa biên là tranh chấp vềchính sách thương mại của các thành viên chứ không phải là tranh chấp phát sinh từviệc thực hiện hợp đồng thương mại
Thoả thuận về giải quyết tranh chấp của WTO rất chú trọng giai đoạn thamvấn, nhằm tạo một cơ hội để các bên liên quan tới vấn đề đang tranh chấp có thể tìm
Trang 21kiếm được một giải pháp thoả đáng Tham vấn là thủ tục đầu tiên nhằm tránh khảnăng phải đi đến thủ tục bắt buộc Ngoài ra còn có những bước đi có thể mang tínhchất tự nguyện như yêu cầu tổng giám đốc WTO làm trung gian hoà giải hay thốngnhất đưa ra trọng tài.
Nếu giai đoạn nói trên không đi đến một giải pháp thoả đáng trong thời hạncho phép (60 ngày), một nhóm công tác đặc biệt sẽ được lập ra (trừ khi cơ quanchuyên trách về giải quyết tranh chấp nhất trí tuyên bố không chấp nhận việc này).Nhiệm vụ của nhóm là đánh giá thực tế sự việc và khả năng sử dụng các quy định củathoả thuận, đưa ra những đánh giá thích đáng để cơ quan giải quyết tranh chấp có cơ
sở khuyến nghị Thông thường nhóm đặc trách có ba thành viên, trừ khi các bên liênquan đến tranh chấp đề nghị cần có năm thành viên Các thành viên được lựa chọntrên cơ sở một danh sách các chuyên gia được ban Thư ký WTO giới thiệu Khi cónhiều tranh chấp về cùng một nội dung, có thể giao cho cùng một nhóm đặc nhiệmgiải quyết Nhóm có thẩm quyền chỉ định một nhóm tư vấn làm nhiệm vụ phân tíchnhững vấn đề mang tính chất kỹ thuật hay khoa học
Đặc điểm chung của cơ chế mới về giải quyết tranh chấp là tính thống nhất vàchắc chắn Cơ chế này không những không hạn chế các cơ hội tham vấn và hoà giải
mà còn đảm bảo các cam kết liên quốc gia được thực hiện nghiêm chỉnh Thỏa thuậncũng bao hàm việc loại trừ khả năng các bên giải quyết tranh chấp bằng một cơ chếbên ngoài
Một cơ quan phúc thẩm cũng được thể chế hoá với những thành viên luânphiên đại diện cho các thành viên - đó là ủy ban phúc thẩm Nếu kết quả giải quyếttranh chấp không được thi hành nghiêm túc, bên có quyền lợi bị vi phạm được quyền
áp dụng những biện pháp trả đũa, thậm chí trả đũa chéo nếu những biện pháp trả đũa
áp dụng với cùng một lĩnh vực (thuộc phạm vi điều chỉnh của cùng một hiệp định)không được coi là đạt kết quả mong muốn
1.3.2.6 Rà soát chính sách thương mại
Một trong những chức năng cơ bản của WTO là tiến hành hoạt động rà soátchính sách thương mại của các thành viên Mục tiêu của công việc này là nhằm đảmbảo các thành viên tuân thủ đầy đủ các quy định, luật lệ và các cam kết của các hiệpđịnh thương mại đa phương, tạo được sự minh bạch hơn nữa trong các chính sách vàhành vi thương mại của các thành viên
Cơ quan rà soát chính sách thương mại (TPRB) là cơ quan tiến hành các cuộc
rà soát Việc rà soát chính sách thương mại được tiến hành định kỳ Yếu tố quyết địnhmức độ thường xuyên của việc phải rà soát chính sách thương mại của mỗi nướcchính là ảnh hưởng của nước đó đối với hệ thống thương mại đa phương, được tínhbằng thị phần của họ so với thương mại thế giới trong một giai đoạn cơ sở Bốn nềnkinh tế hàng đầu thế giới là Hoa Kỳ, Nhật, EU và Canada phải tiến hành rà soát 2 năm
Trang 22một lần, 16 nước tiếp theo đó sẽ tiến hành rà soát 4 năm 1 lần, các nước còn lại rà soát
6 năm một lần, thời hạn rà soát còn kéo dài hơn nữa đối với các nước chậm phát triểnnhất
Đối tượng của các cuộc rà soát là chính sách và hành vi thương mại của cácthành viên TPRB sẽ tiến hành việc rà soát dựa trên 2 tài liệu cơ bản sau đây:
-Báo cáo chính thức của nước được rà soát
-Báo cáo do ban thư ký soạn thảo dựa trên những thông tin tự có được vànhững thông tin do các thành viên có liên quan cung cấp
Báo cáo do nước được rà soát thực hiện phải mô tả đầy đủ những chính sách
và tập quán thương mại nước mình áp dụng, dựa trên một mẫu do TPRB đưa ra banthư ký cũng sẵn sàng trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và đặc biệt là cácnước chậm phát triển trong quá trình thực hiện báo cáo này Giữa các kỳ rà soát, nếu
có thay đổi lớn trong chính sách thương mại, các nước sẽ đưa ra báo cáo vắn tắt Hai báo cáo này, cùng với biên bản các cuộc họp rà soát sẽ được đưa ra nhanhchóng sau cuộc rà soát Những báo cáo này sẽ được trình lên hội nghị bộ trưởng Hàng năm, TPRB cho ra một báo cáo tổng quát về những tiến triển trong môitrường thương mại quốc tế Báo cáo này đi kèm với báo cáo hàng năm của tổng giámđốc trình bày những hoạt động chính của WTO và nêu bật những vấn đề chính sáchlớn có ảnh hưởng đến hệ thống thương mại
1.4 Việt Nam và tổ chức thương mại thế giới
1.4.1 Hành trình gia nhập WTO của Việt Nam
04/01/1995 Đơn xin gia nhập WTO của Việt Nam được đại hội đồng tiếp nhận 31/01/1995 Ban xem xét công tác gia nhập của Việt Nam được thành lập với chủ
tịch là ông Eirik Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO
24/08/1995 VN nộp bị vong lục về chế độ ngoại thương Việt Nam và gửi tới ban thư
ký WTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác
1998- 1999 Các phiên hỏi và trả lời với ban xem xét công tác xét duyệt
Đầu năm
2002
VN gửi bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ tới WTO và bắt đầutiến hành đàm phán song phương với một số thành viên trên cơ sở bảnchào ban đầu về thuế quan và dịch vụ
09/10/2004 Việt Nam và EU đạt thỏa thuận về việc VN gia nhập WTO.
09/06/2005 Việt Nam và Nhật Bản đạt được thỏa thuận cơ bản về vấn đề mở đường
cho Việt Nam gia nhập WTO
12/06/2005
Việt Nam cử một phái đoàn đàm phán hùng hậu sang Wasington trướcthềm chuyến thăm Mỹ chính thức của thủ tướng Phan Văn Khải vớiquyết tâm đi đến kết thúc đàm phán song phương
Trang 2318/07/2005 Việt Nam và Trung Quốc đạt thỏa thuận về việc mở cửa thị trường để
VN gia nhập WTO
31/05/2006 Ký thỏa thuận về việc kết thúc đàm phán song phương với Mỹ - nước
cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương
26/10/2006
Việt Nam hoàn tất đàm phán đa phương tốt đẹp với các nước Cuộc đàmphán trước đó diễn ra rất căng thẳng và tưởng chừng không thể kết thúcđược cho đến phút chót
11/01/2007 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO
1.4.2 Tóm tắt cam kết gia nhập WTO của Việt Nam
1.4.2.1 Những cam kết đa phương
Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và quy định mang tính ràngbuộc của WTO từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên do nước ta đang phát triển ở trình độthấp lại đang trong quá trình chuyển đổi nên ta yêu cầu và được WTO chấp nhận chohưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một số cam kết có liên quan đến thuếtiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinh doanh
Các cam kết chính như sau :
- Kinh tế phi thị trường : Ta chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường
trong 12 năm (không muộn hơn 31/12/2018) Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu tachứng minh được với đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chếthị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với ta Chế độ “phithị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá Các thành viên WTOkhông có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu nước ta dù ta bịcoi là nền kinh tế phi thị trường
- Dệt may: Các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may
đối với ta khi vào WTO, riêng trường hợp ta vi phạm quy định WTO về trợ cấp bịcấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể có biện pháp trả đũa nhất định.Ngoài ra thành viên WTO cũng sẽ không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng dệtmay của ta
- Trợ cấp phi nông nghiệp: Ta đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị
cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa Tuy nhiên vớicác ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta đượcbảo lưu thời gian quá độ là 5 năm( trừ ngành dệt may)
- Trợ cấp nông nghiệp: Ta cam kết sẽ không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối
với nông sản từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên ta bảo lưu quyền được hưởng một sốquy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này Đối vớiloại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm nhìn chung ta duy trì được ở mức khôngquá 10% giá trị sản lượng Ngoài mức này, ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợnữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm
Trang 24Có thể nói, trong nhiều năm tới, ngân sách của nước ta cũng chưa đủ sức để hỗtrợ cho nông nghiệp ở mức này Các loại trợ cấp mang tính chất khuyến nông (như hỗtrợ thủy lợi) là trợ cấp "xanh" hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp được WTOcho phép nên ta được áp dụng không hạn chế.
- Quyền kinh doanh (xuất nhập khẩu hàng hóa): Tuân thủ quy định WTO,
ta đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hànghóa như người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mụcthương mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo chí vàmột số mặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi (nhưgạo và dược phẩm)
Ta đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diệntại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam Quyền xuất khẩu chỉ
là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu
Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài sẽ không được tựđộng tham gia vào hệ thống phân phối trong nước Các cam kết về quyền kinh doanh
sẽ không ảnh hưởng đến quyền của ta trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch
vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo tạp chí
Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia: Các thành viên WTO đồng ý
cho ta thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệtđối với rượu và bia cho phù hợp với quy định WTO Hướng sửa đổi là đối với rượutrên 20 độ cồn ta hoặc sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phầntrăm Đối với bia, ta sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm
- Doanh nghiệp nhà nước/doanh nghiệp thương mại nhà nước: Cam kết
của ta trong lĩnh vực này là nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vàohoạt động doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, nhà nước với tư cách là một cổ đôngđược can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp như các cổ đông khác Tacũng đồng ý cách hiểu mua sắm của doanh nghiệp nhà nước không phải là mua sắmchính phủ
- Tỷ lệ cổ phần thông qua quyết định tại doanh nghiệp: Điều 52 và 104 của
luật doanh nghiệp quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt động củacông ty TNHH và công ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu đại diện ítnhất làng 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận Quy định này có thể vô hiệu hóa quyềncủa bên góp đa số vốn trong liên doanh Do vậy, ta đã xử lý theo hướng cho phép cácbên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong điều lệ công ty
- Một số biện pháp hạn chế nhập khẩu: Ta đồng ý cho nhập khẩu xe máy
phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007 Với thuốc lá điếu và xì gà, ta đồng ý
bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên sẽ chỉ có một doanh
Trang 25nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà Mức thuếnhập khẩu mà ta đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao Với ô tô cũ ta cho
phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm.
- Minh bạch hóa: Ta cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ công bố dự thảo các văn
bản quy phạm pháp luật do quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội và chính phủ banhành để lấy ý kiến nhân dân Thời hạn dành cho việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60ngày Ta cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí hoặctrang tin điện tử của các bộ, ngành
- Một số nội dung khác : Về thuế xuất khẩu, ta chỉ cam kết sẽ giảm thuế xuất
khẩu đối với phế liệu kim loại đen và màu theo lộ trình, không cam kết về thuế xuấtkhẩu của các sản phẩm khác
Ta còn đàm phán một số vấn đề đa phương khác như bảo hộ quyền sở hữu trítuệ, đặc biệt là sử dụng phần mềm hợp pháp trong cơ quan Chính phủ Định giá tínhthuế xuất nhập khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, các biện pháphàng rào kỹ thuật trong thương mại Với nội dung này, ta cam kết tuân thủ các quyđịnh của WTO kể từ khi gia nhập
1.4.2.2 Những cam kết về thương mại hàng hóa
- Mức cam kết chung : Ta đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế
(10.600 dòng) Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4%xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình trong 5-7 năm Mức thuế bình quân đối vớihàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trong 5-7năm Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng5-7 năm
- Mức cam kết cụ thể : Có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ
yếu là các dòng có thuế suất trên 20% Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nềnkinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy vẫn duy trìđược mức bảo hộ nhất định
Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm
cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử Ta đạt được mứcthuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất
là phương tiện vận tải
Ta cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo ngành củaWTO giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp Đây là hiệp định tự nguyện của WTOnhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành Ngành mà ta cam kếttham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế
Ta cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 – 5 năm đối với ngànhthiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo lưuquyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối
Trang 261.4.2.3 Những cam kết về thương mại dịch vụ
Về cam kết mở của thị trường dịch vụ Xét về diện cam kết, trong BTA ta đãcam kết 8 ngành dịch vụ khoảng 65 phân ngành Trong thỏa thuận WTO, ta cam kết
đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110
Về mức độ cam kết, thỏa thuận WTO đi xa hơn BTA nhưng không nhiều Vớihầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phânphối, du lịch ta giữ được mức độ cam kết gần như trong BTA Riêng viễn thông,ngân hàng và chứng khoán, để sớm kết thúc đàm phán, ta đã có một số bước tiếnnhưng nhìn chung không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng pháttriển đã được phê duyệt cho các ngành này
- Cam kết chung cho các ngành dịch vụ: Về cơ bản như BTA Trước hết,
công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừphi điều đó được ta cho phép trong từng ngành cụ thể mà những ngành như thế làkhông nhiều Ngoài ra, công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làmviệc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người ViệtNam
Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trongcác doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa thị trườngngành đó Riêng ngân hàng ta chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài mua tối đa 30% cổphần
- Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí: Ta đồng ý cho phép các doanh nghiệp
nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gianhập để đáp ứng các dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí
Tuy nhiên, ta còn giữ nguyên quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lụcđịa và quyền chỉ định các công ty thăm dò, khai thác tài nguyên Ta cũng bảo lưuđược một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam như dịch
vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ Tất cả cáccông ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quanNhà nước có thẩm quyền
- Dịch vụ viễn thông: Ta có thêm một số nhân nhượng so với BTA nhưng ở
mức độ hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển của ta Cụ thể là cho phép thành lậpliên doanh đa số vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông không gắn với hạtầng mạng, phải thuê mạng do doanh nghiệp Việt Nam nắm quyền kiểm soát và nớilỏng một chút về việc cung cấp dịch vụ qua biên giới để đổi lấy giữ lại hạn chế ápdụng cho viễn thông có gắn với hạ tầng mạng chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm
đa số vốn mới đầu tư hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp vốn đến 49% và cũngchỉ được liên doanh với đối tác Việt Nam đã được cấp phép