198/1998/QĐ-TTg về việc thành lập Khu công nghệ cao Hoà Lạc tại Tỉnh Hà Tây,phê duyệt Quy hoạch tổng thể và Dự án đầu tư bước 1, giai đoạn 1 Khu Công nghệcao Hoà Lạc, và Quyết định số 98
Trang 11.1.2 Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế mới (nền kinh tế tri thức) của
Mỹ- đại diện nổi bật của các nước tiên tiến
8
1.2 Giới thiệu về công nghệ cao và khu công nghệ cao 11
1.2.3 Tầm quan trọng của Công nghệ cao đối với các nước đang
2.1.3 Mục tiêu phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam 28
2.3 các văn bản pháp lý có liên quan tới công nghệ cao và khu công nghệ cao 37 2.3.1 Các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp 37 2.3.2 Các văn bản pháp luật điều chỉnh gián tiếp 45
Chương 3
Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích
ưu đãi đối với khu công nghệ cao
Trang 2Nam giai đoạn 2000-2025
3.3 Chính sách khuyến khích phát triển kcnc việt nam 62
3.3.2 Tạo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong sản xuất kinh
doanh cho mọi loại hình doanh nghiệp hoạt động trong KCNC
67
Trang 3Lời nói đầu
Đặc điểm thế giới hiện nay, khi Việt Nam bước vào hiện đại hoá, công nghiệp hoá,khác với đặc điểm của thế giới trong giai đoạn trước đây khi các nước công nghiệpmới (NICs) bắt đầu đi vào công nghiệp hoá Đó là xu thế toàn cầu hoá và cuộc cáchmạng công nghệ trên toàn thế giới Toàn cầu hoá tạo ra một thế giới thông thoáng,phi quốc gia hoá đời sống kinh tế Cách mạng công nghệ đứng sau thúc đẩy toàncầu hoá thành hiện thực và làm thay đổi tính chất của khoa học và kết cấu của côngnghiệp, kinh tế và xã hội của từng nước Trong bối cảnh nh vậy Khoa học côngnghệ cần được tiếp cận tốt hơn và có hiệu quả hơn Việt Nam đang trong quá trìnhhội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới (APEC, AFTA, WTO, ) Điều đó đòihỏi nước ta phải phát triển nhanh vì phát triển càng chậm thì càng tụt hậu và mấtthời cơ Đồng thời, không có công nghệ cao thì sẽ không có sản phẩm chất lượngcao và sẽ không thể thích ứng với hội nhập quốc tế
Trước thực tế trên, Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương đưa nền kinh tế đất nướcphát triển nhanh trong giai đoạn 1991-2000 và tiếp tục phát huy sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn tiếp theo trong những năm đầu của thế kỷ 21.Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) cũng chỉ rõ Việt Nam phảitiếp tục phát huy sức mạnh của sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước
để đưa nền kinh tế Việt Nam theo kịp và hội nhập được với nền kinh tế trong khuvực và thế giới Muốn vậy, Công nghệ phải là mũi nhọn để Việt Nam phát triểntheo hướng đi tắt đón đầu Trước hết, cần phải cụ thể hoá, làm sáng tỏ và giải đápcho được vấn đề đi tắt đón đầu nh thế nào, việc đi tắt đón đầu về công nghệ, cácsản phẩm mũi nhọn của Việt Nam, sử dụng thế mạnh của con người và trí tuệ ViệtNam
Nhận thức được vai trò quan trọng của Công nghệ cao đối với sự phát triển của nềnkinh tế nước nhà và sự cần thiết phải xây dựng Khu công nghệ cao ở Việt Nam,ngày 12 tháng 10 năm 1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
Trang 4198/1998/QĐ-TTg về việc thành lập Khu công nghệ cao Hoà Lạc tại Tỉnh Hà Tây,phê duyệt Quy hoạch tổng thể và Dự án đầu tư bước 1, giai đoạn 1 Khu Công nghệcao Hoà Lạc, và Quyết định số 98/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2001 vềviệc triển khai đầu tư và xây dựng cơ sở hạng tầng Khu công nghệ cao Hoà lạc.Đây sẽ là sự phát triển sáng tạo các mô hình Khu công nghệ cao trên thế giới vàphù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta, là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy
sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá của nước nhà
Tuy nhiên, điểm xuất phát của Việt Nam về trình độ phát triển thấp hơn so với cácnước khác khi xây dựng Khu công nghệ cao Vì vậy muốn tiếp cận nhanh chóngvới công nghệ tiên tiến, chúng ta cần phải tạo ra được một môi trường đầu tư thậthấp dẫn để thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư Trước hết, chúng ta cần có mộtkhung pháp lý rõ ràng, ổn định, chính sách khuyến khích và ưu đãi cho việc pháttriển Công nghệ cao, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực
có độ rủi ro cao nhưng giá trị lợi nhuận cũng rất lớn như các Khu Công nghệ cao
Từ khi thực hiện chính sách mở của nền kinh tế trong 15 năm qua, Việt Nam đãthành công trong việc xây dựng được mô hình các Khu công nghiệp, Khu chế xuất,đóng góp một phần rất quan trọng cho việc tăng trưởng nền kinh tế nước nhà Tuynhiên, Khu công nghệ cao là mô hình rất mới mẻ mà nền kinh tế Việt Nam đanghướng tới Để Khu công nghệ cao Hoà Lạc có thể khởi động được, có khả năng thuhút đầu tư, vấn đề đặt ra là làm thế nào để chúng ta xây dựng được hành lang pháp
lý chặt chẽ và đặc biệt là hệ thống chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc biệt để tạođiều kiện cho Khu công nghệ cao phát huy tác dụng
Trước thực trạng đó, được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Khoa Kinh tế Ngoạithương - Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“ Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu công nghệ cao ở Việt Nam".7
Nội dung của đề tài gồm các phần chính nh sau:
Chương 1 - Giới thiệu về Công nghệ cao và Khu công nghệ cao
Trang 5Chương 2- Thực trạng khoa học - công nghệ Việt Nam và việc xây dựngKhu công nghệ cao ở Việt Nam.
Chương 3 - Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đốivới Khu công nghệ cao
Do thời gian hạn hẹp và khả năng nghiên cứu của một sinh viên còn nhiều hạn chế,nội dung của đề tài chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu về Công nghệ cao, các mô hìnhKhu công nghệ cao trên thế giới đồng thời nghiên cứu các Chính sách của Đảng vàNhà nước Việt Nam trong việc khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực Khu côngnghệ cao - một mô hình phát triển kinh tế rất mới mẻ này
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn./
Trang 6Chương 1
Khái niệm về khoa học - công nghệ,
công nghệ cao
1.1 vài nét về khoa học - công nghệ thế giới
Chóng ta đang sống trong thế kỷ 21, kỷ nguyên của khoa học công nghệ với nhữngthành tựu vượt bậc của công nghệ thông tin, ngành góp phần tạo cơ sở vật chất cho
sự tích hợp các quá trình kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế,quan hệ xã hội - Siêu xa lộ thông tin là một bộ phận kết cấu hạ tầng cơ bản của xãhội, trong đó việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các ngành nghề, các lĩnhvực, ở mọi nơi, mọi lúc giúp cho khoảng cách địa lý ngày càng thu hẹp lại
Bên cạnh đó, Công nghệ sinh học cũng đang trở thành chìa khoá cho sự phát triểntrong tương lai Các nghiên cứu về kỹ thuật sinh học phân tử đang dẫn chúng ta đếngần một khả năng mới - rô bốt sinh học - một công cụ “sống” giúp con người điềuhành thế giới tương lai Kỹ thuật gen với phân tích cấu trúc di truyền cho phépchúng ta hiểu cơ chế hình thành các giống loài sinh vật, duy trì trên trái đất môitrường sinh thái tối ưu cho chính con người Việc phát hiện các loại gen, các chuỗigen, khả năng phân tích và thay thế nhân bản gen sẽ đẩy nhanh tiến bộ công nghệ.Các kết quả này được ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau như trong lĩnh vựcNông nghiệp, Y học, thiết kế di truyền và sẽ đưa con người tiến tới khả năng chinhphục các thế lực siêu nhiên
Trong thời đại công nghiệp, loài người có nền văn minh công nghiệp, xã hội côngnghiệp, kinh tế vật dụng và tài nguyên thiên nhiên Do tác động của Khoa học côngnghệ hiện đại, loài người đang ở thời đại thông tin với nền văn minh thông tin, xãhội thông tin, kinh tế trí thức và tài nguyên thông tin trí tuệ Tất cả các yếu tố đótạo nên một thế giới mới trong đó người ta thường nói đến cụm từ "Nền kinh tế trí
Trang 7thức" Vậy chúng ta hãy tìm hiều những đặc trưng và các yếu tố cấu thành nên
"Nền kinh tế trí thức"
1.1.1 Đặc trưng chủ yếu của thời đại văn minh trí tuệ
Trong nền văn minh trí tuệ, tri thức Khoa học và Công nghệ là nguồn lực điềukhiển sự hưng thịnh của các quốc gia Khác với nguồn lực truyền thống, Tri thứcKhoa học và Công nghệ có khả năng tái sinh và tự sinh sản, do đó sự phát triển củanhân loại là vô tận
Nền kinh tế của thời đại văn minh trí tuệ còn được gọi là “nền kinh tế trí thức” hoặc
“nền kinh tế thông tin” có 4 đặc trưng chủ yếu sau:
1- Nền kinh tế siêu tượng trưng: mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh đượctin học hoá mức độ cao; các giá trị được phi vật chất hoá; tiền điện tử; thịtrường chứng khoán điện tử
2- Toàn cầu hoá nền kinh tế: từng bước thống nhất thị trường quốc tế thôngqua Tổ chức thương mại thế giới WTO với tổng giá trị thương mại hàng nămtrên 3000 tỷ USD Liên kết tài chính toàn cầu đang diễn ra với tốc độ lớn,với lượng tiền tệ lưu thông hàng ngày gấp 26 lần giá trị buôn bán trên thếgiới Dòng đầu tư nhanh cùng với toàn cầu hoá đầu tư, kinh doanh của cáccông ty xuyên quốc gia và đa quốc gia
3- Nền công nghiệp mới thân môi trường ra đời - nền công nghiệp sinh thái:Trong nền công nghiệp này, thông tin và các yếu tố tri thức là các yếu tố đầuvào của hệ thống sản xuất, quản lý, kinh doanh, vừa là của cải và vừa là công
cụ để tạo ra của cải Đặc trưng của nền công nghiệp sinh thái là tiêu tốn Ýtnguyên vật liệu, tiết kiệm năng lượng, sản sinh Ýt phế thải góp phần bảo vệmôi trường sinh thái và được phân bổ trên các vùng của quốc gia, thu hẹpkhoảng cách phát triển giữa các vùng
Trang 84- Người tri thức đóng vai trò chiếc máy trong nền văn minh mới Ngày nay,người tri thức là động lực chính tạo nên sự phát triển và phồn vinh của xãhội.
Trong nền văn minh mới, bậc thang giá trị mới đã hình thành -Tri thức và Công nghệ Khách hàng có thể mua những sản phẩm (máy tính, phần mềm, ) mà họ có
thể không hiểu gì về nó, nhưng vẫn rất hữu hiệu cho công việc, với một giá trị đặcthù có thể tới 90-99% giá thành phải trả cho chất xám, phần còn lại 1-10% dànhcho các chi phí về nguyên vật liệu và nhân công
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế mới (nền kinh tế tri thức) của Mỹ - đại diệnnổi bật của các nước tiên tiến:
1.Nền kinh tế mới lấy tri thức làm cơ sở.
Nó là hình thái kinh tế bắt nguồn từ khoa học kỹ thuật mới và những tinh hoa trítuệ của nhân loại Trong nền kinh tế cũ, sản xuất, phân phối, tiêu thụ là lấy vật chấtlàm nội dung chủ yếu, yếu tố sản xuất chủ yếu là vốn, nguồn tài nguyên thiên nhiên
và sức lao động, Trong nền kinh tế mới, tri thức lại là nội dung chủ yếu của sảnxuất, phân phối và tiêu thụ, tri thức và sức lao động có tri thức là yếu tố sản xuấtquan trọng nhất Một nhà quản lý Mỹ cho rằng: chức năng chủ yếu của nền kinh tếhiện đại là sự sản xuất và phân phối “tri thức và thông tin”, chứ không phải là sảnxuất và phân phối “vật chất” Tri thức còn là nguồn động lực cho sự tăng trưởngkinh tế, những cống hiến của tri thức ngày càng lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế
Ở Mỹ, mỗi năm các khoản chi cho việc ra đời tri thức và công tác truyền thôngchiếm khoảng 20% GDP của họ, trong đó giáo dục chiếm 10%, các khoản cho bồidưỡng đào tạo và giáo dục chiếm 5%, chi cho việc nghiên cứu và khai thác chiếm3-5% Trong nền kinh tế mới, sự tăng trưởng kinh tế chuyển từ loại hình tiêu haotài nguyên sang loại hình khai thác tri thức và kỹ thuật Ngày càng nhiều giá trị giatăng của nền kinh tế là do máy vi tính chứ không phải do sức lao động sáng tạo ra.Rất nhiều ngành nghề của nông nghiệp và công nghiệp đang trở thành ngành nghề
Trang 9của công việc tri thức Hiện nay hầu nh 60% công dân Mỹ là công nhân tri thức,80% nghề nghiệp mới là do ngành tập trung tri thức tạo ra Ông John Dure - mộtchuyên gia về tài chính Mỹ nói: “ nền kinh tế cũ là thiết bị vốn, là sự duy trì củanghề nghiệp, nhưng nền kinh tế mới lại là bản quyền tri thức, là sự sáng tạo củanghề nghiệp”.
2.Nền kinh tế lấy thông tin làm chủ đạo.
Mỹ đang chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin Ngànhthông tin, ngành tin học (bao gồm thiết kế, dự trữ, truyền tải và xử lý thông tin), cácngành liên quan và ngành dịch vụ chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân
Mỹ Đặc biệt là 3 ngành thông tin lớn là tính toán (máy tính điện tử, phần mềm),thông tin (điện thoại, vô tuyến, hữu tuyến và vệ tinh), và sự kết hợp với dịch vụ(vui chơi, xuất bản, cung cấp thông tin, ), cho ra đời một ngành truyền thông hoàntoàn mới Từ năm 1996, giá trị sản xuất của ngành truyền thông đã đạt khoảng
1000 tỷ USD, chiếm 14% GDP của Mỹ Hiện nay, ở Mỹ những nhà sản xuất máytính vượt những nhà sản xuất ô tô, những người chế tạo chất bán dẫn nhiều hơncông nhân xây dựng, các nhân viên xử lý thông tin nhiều hơn số công nhân củangành luyện dầu Ngành tin học không chỉ là ngành lớn nhất của Mỹ mà còn làngành tăng trưởng nhanh nhất trong mấy năm gần đây, hàng năm tăng trưởng vớitốc độ hai con số Sản phẩm thông tin và chi phí dịch vụ tăng lên cũng dẫn đầu cáclĩnh vực khác Theo thống kê năm 1999, ở Mỹ chi phí của các “sản phẩm kinh tếcũ” như ôtô, thực phẩm, đồ điện gia dụng bình quân tăng 0,9%, nhưng chi phícủa các “sản phẩm kinh tế mới” như điện thoại, máy tính, dịch vụ tài chính tiền tệ,vui chơi lại tăng bình quân 12% Điều làm cho mọi người chú ý là do sự ứngdụng của kỹ thuật tin học, các ngành kinh tế đã sử dụng công nghệ số hoá, mạngInternet, điện tử, Trong điều kiện nền kinh tế cũ, sự lưu thông thông tin là vậtchất như tiền mặt, cổ phiếu, hoá đơn, biên lai lấy hàng, báo cáo, Trong điều kiệnkinh tế mới, tất cả các hình thức thông tin đều được số hoá, giảm bớt thời gian lưutrữ trên máy tính và được truyền đi với tốc độ ánh sáng trong mạng Những năm
Trang 10được tiêu thụ qua mạng Internet, và được chi trả bằng hình thức trả tiền điện tử.Theo thống kê, ngành thương mại điện tử hàng năm tăng với tốc độ 200% Trongnăm 2000, khoảng 40% hàng hoá bán lẻ của Mỹ được tiêu thụ trên mạng điện tử.
3 Nền kinh tế mới lấy thị trường toàn cầu dẫn đầu.
Kỹ thuật tin học, đặc biệt là Internet làm cho khoảng cách địa lý ngày càng thu nhỏlại Tri thức và thông tin không phân biên giới, tri thức và thông tin là nguồn kinh
tế chủ yếu sẽ làm cho các hoạt động kinh tế vượt biên giới và trở thành hoạt độngmang tính toàn cầu Vốn, sản xuất, quản lý sản phẩm, sức lao động, thông tin và kỹthuật, được lưu thông xuyên quốc gia Mối liên hệ và hợp tác kinh tế mậu dịch và
kỹ thuật giữa các nước và giữa các công ty lớn ngày càng tăng cường và cũng ngàycàng cạnh tranh gay gắt Cạnh tranh cũng được tiến hành trên phạm vi toàn cầu.Hiện nay mạng Internet của Mỹ đã kết nối với khoảng 190 nước và các khu vựctrên thế giới, ngày càng nhiều các công ty, xí nghiệp của Mỹ bị cuốn hút vào lànsóng toàn cầu hoá kinh tế 10 năm trước đây, Mỹ chỉ có khoảng 20% các công ty cóquan hệ kinh doanh trên phạm vi toàn cầu nhưng đến nay thì con số đó đã chiếm tớitrên 60% Mức độ dựa dẫm của nền kinh tế Mỹ đối với mậu dịch đối ngoại đượcnâng cao, mậu dịch xuất nhập khẩu tăng thêm 10% GDP trong giai đoạn 1990-
2000 Đặc biệt là sự cống hiến của ngành xuất khẩu đối với sự tăng trưởng kinh tế
đã vượt ngành xây dựng và ngành gang thép, trở thành ngành trụ cột của sự tăngtrưởng kinh tế trong khoảng thời gian từ 1990-1999, tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩuhàng năm của Mỹ đạt 6.5%, tăng gấp 3 lần tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cùng kỳ
4 Nền kinh tế lấy mạng lưới công ty làm vật dẫn.
Từ những năm 80 đến nay, các công ty mới của Mỹ đã áp dụng các trang thiết bị kỹthuật thông tin tiên tiến và tiến hành tổ chức xây dựng lại cơ cấu công ty, làm chocác công ty thực hiện mạng lưới hoá kinh doanh
- Công ty trở thành mạng lưới do các đơn vị nhỏ tạo nên Sau khi hệ thốngthông tin trí tuệ lợi dụng mạng lưới thông tin tổng hợp trong công ty kết hợptất cả các hoạt động kinh doanh sản xuất thành một khối thống nhất, phối
Trang 11hợp toàn bộ quá trình sản xuất và phân bố công việc giữa các khu vực và cácđơn vị trên toàn thế giới.
- Các khâu trong quá trình kinh doanh công ty nối mạng liên hệ với nhau,thực hiện phương pháp quản lý chặt chẽ từ đầu đến cuối từ việc thiết kế sảnphẩm, gia công, chế tạo, tiêu thụ, dịch vụ sau khi bán, và xử lý cuối cùng
- Xây dựng mạng lưới cơ cấu quản lý, làm cho nó có sự liên hệ trực tiếp giữalãnh đạo và nhân viên, giảm bớt khâu trung gian, đạt mục đích tinh giản và
sử dụng có hiệu quả cao nguồn nhân lực
- Xây dựng mạng lưới giữa các công ty khác nhau, làm cho sự phối hợp vàhợp tác ngày càng thuận lợi hơn, cung cấp hàng và chuyển giao hàng hoángày càng thích hợp hơn
- Thực hiện mạng lưới hoá giữa công ty và các nhân viên Nhân viên khôngnhất thiết phải làm việc tại văn phòng, nhân viên quản lý cũng có thể thôngqua sử dụng các công cụ thông tin cầm tay để dù bất cứ ở đâu và bất cứ thờigian nào cũng vẫn có thể điều hành công việc được
- Giữa công ty và khách hàng có thể liên hệ với nhau, giao lưu thông quamạng, công ty biết được ý định của khách hàng, tiến hành việc kinh doanh vàcác dịch vụ để làm hài lòng các khách hàng
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của nền kinh tế của Mỹ, đại diện nổi bật củacác nước tiến tiến Hiện nay, Mỹ được coi là một trong những quốc gia phát triểnkhoa học - công nghệ và ứng dụng Công nghệ cao hàng đầu trên thế giới
1.2 giới thiệu về công nghệ cao và khu công nghệ cao
1.2.1 một sè quan niệm
Theo các tài liệu của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường Việt Nam, các kháiniệm về Công nghệ, Công nghệ cao và Khu công nghệ cao được hiểu nh sau:
Trang 121 Công nghệ là gì?
Định nghĩa: Công nghệ được hiểu là những ứng dụng tri thức khoa học để
giải quyết một nhiệm vụ được đặt ra, hoặc một hệ thống giải pháp sử dụngtrong quá trình thực hiện một mục tiêu cụ thể
Kết cấu công nghệ: gồm 4 yếu tố:
- Thiết bị kỹ thuật ( Technoware)
- Nhân lực ( Humanware)
- Thông tin (Informware)
- Tổ chức, quản lý ( Orgaware)
Đặc tính của công nghệ:
- Mang tính hệ thống - không thể chia cắt ra từng giải pháp;
- Có tính sinh thể - nh một cơ thể sống, phải được nuôi dưỡng;
- Mang thông tin - Sở hữu, bảo vệ, định giá, cập nhật,
Nguồn cung cấp công nghệ:
- Cải tiến, đổi mới công nghệ truyền thống;
- Nghiên cứu triển khai công nghệ mới;
- Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào;
Khoa học là không biên giới, là của chung nhân loại Công nghệ là tài sản riêng củamỗi quốc gia, có thể mua bán được Về mặt pháp lý, tuỳ từng nước, tuỳ từng thời
kỳ, công nghệ có thể bị hạn chế trong thương mại để bảo vệ quyền lợi quốc gia
2 Công nghệ cao:
Định nghĩa: Là ngành công nghệ ứng dụng những thành tựu của nghiên cứu
khoa học tiên tiến nhất; hoặc công nghệ lâu đời nhưng có cải tiến quan trọnglàm cho năng suất tăng vọt
Trang 13Một chiến lược công nghệ bao gồm các phương diện: Lựa chọn công nghệ; Phát triển và thiết kế sản phẩm; Nguồn cung cấp công nghệ; Quản lý việc nghiên cứu và triển khai, cung cấp vốn.
Bản chất một chiến lược công nghệ là chiến lược kinh doanh Các chiến lược côngnghệ thường có:
- Leader - Người chỉ huy: Chỉ để cho các nước lớn mạnh, tiên tiến, mạnh nh
Mỹ, Nga, Nhật
- Follower - Theo sát: Thường cho các nước phát triển
- Extender- chấp nhận, mở rộng: Được các nước phát triển sử dụng để nângcao năng lực công nghệ và phát triển kinh tế của nước mình
- Exploiter- Lợi dụng, khai thác: dành cho các nước đang phát triển
3 Khu công nghệ cao: (High- Technology Park)
Trong mỗi Khu công nghệ cao nói chung phải bao gồm đủ 3 thành phần cơ bản:
- Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển (R & D);
- Tổ chức đào tạo;
- Cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ cao
Hiện nay ở hầu hết các nước tiên tiến, Khu Công nghệ cao được coi là “khu Khoahọc- Công nghệ đặc biệt”, tập trung các đơn vị nghiên cứu- triển khai khoa học vàcông nghệ; các cơ sở đào tạo; bồi dưỡng nhân lực; các doanh nghiệp công nghệcao, doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị dịch vụ liên quan; córanh giới xác định
Mục tiêu chung của Khu công nghệ cao là thu hút công nghệ cao của nước ngoài;thích ứng và đồng hoá công nghệ cao; hỗ trợ và chuyển giao công nghệ cao; nghiêncứu sáng tạo và sản xuất công nghệ cao; thương mại hoá công nghệ cao và gópphần phát triển công nghệ cao của đất nước
Trang 14Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau áp dụng các mô hình Khu công nghệ caokhác nhau Việc lựa chọn cho quốc gia mình một mô hình Khu công nghệ cao phùhợp không phải là vấn đề đơn giản mà còn phụ thuộc vào điều kiện khoa học côngnghệ và nền kinh tế của quốc gia đó
1.2.2 sự phát triển của kcnc trên thế giới
1 Các mô hình khu Công nghệ cao trên thế giới
Có nhiều cách phân loại các loại hình khu Công nghệ cao trên thế giới, nhưng đềuthống nhất đặc điểm của nó là: liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học côngnghệ và sản xuất kinh doanh Hiện nay trên thế giới có khoảng 800 khu được xếpvào loại Khu Công nghệ cao Nếu phân chia theo mức độ hoạt động Nghiên cứu-Triển khai (R & D) có thể chia ra thành 5 loại sau đây:
- Công viên khoa học truyền thống: (Traditional Science Park - TSP):
Công viên khoa học truyền thống thường có mối quan hệ chặt chẽ với mộttrường (Viện) đại học có chức năng nghiên cứu là chủ yếu Nó thường đượcthành lập để thúc đẩy quá trình Nghiên cứu-triển khai, biến các kết quảnghiên cứu ứng dụng thành các công nghệ sản xuất
Công viên khoa học truyền thống Stanford (Mỹ) và Cambrige (Anh) lànhững ví dụ điển hình và nổi tiếng nhất của mô hình này ở Phương Tây.Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, mô hình ở Óc và Công viên khoa
học truyền thống ở Singapore gần với loại này nhất Đặc điểm của Công viên
khoa học truyền thống là tỷ trọng của hoạt động nghiên cứu và triển khai rất cao.
Công viên khoa học truyền thống Ýt dựa vào đầu tư, phát triển các công tylớn mà chủ yếu dựa vào thế mạnh của các trường Đại học có quan hệ với nó
để đầu tư, phát triển Những người sáng lập ra mô hình này thường là những
Trang 15người đã từng là giáo sư của trường Đại học có quan hệ với khu Công nghệcao.
- Thành phố khoa học (Science City- SC)
Thành phè khoa học được khởi đầu từ nước Nhật Ngày nay nó là mô hìnhphát triển tiếp theo của các Công viên khoa học Tại đây thường tạo ra mộtcộng đồng dân cư liên quan đến khoa học và công nghệ, bằng cách cung cấpmôi trường sinh hoạt và làm việc hoàn chỉnh Như vậy ngoài mục đích pháttriển khoa học và công nghệ còn có mục tiêu phát triển vùng Đặc biệtkhuyến khích phát triển các ngành công nghiệp dựa trên cơ sở công nghệ vàchuyển giao công nghệ từ trong Khu Công nghệ cao ra bên ngoài, nhất là tớinhững vùng xa trung tâm phát triển, nhằm trải đều lợi Ých mang lại phát
triển kinh tế cho toàn quốc gia Đặc điểm của Thành phố khoa học là kết hợp
chặt chẽ phát triển nghiên cứu- triển khai và sản xuất, tạo ra vùng công nghệ mới.
Tiêu biểu cho loại hình này là khu Tskuba (Nhật Bản) có trên 11.000 nhànghiên cứu và Deaduk Science City (Hàn Quốc) Ngoài ra Đài Loan,Singapore và Óc cũng có những kế hoạch phát triển các Khu Công nghệ caohiện có của mình theo mô hình này Sự thành công của mô hình này phụthuộc vào sự hiện diện của các viện nghiên cứu, đào tạo đủ mạnh và chủ chốtthuộc quản lý của chính phủ để thu hút đầu tư vào Thành phố Khoa học
- Công viên đổi mới công nghệ ( Technology Innovation Park - TIP)
Đây là loại hình Khu Công nghệ cao được thiết kế chủ yếu dành cho cácdoanh nghiệp lớn nhằm thu hút đầu tư từ bên ngoài Mối liên kết của Côngviên đổi mới công nghệ với các Viện nghiên cứu thường lỏng lẻo, chủ yếu là
do bản thân các doanh nghiệp đã khá mạnh và thường chỉ liên kết với một sốViện nghiên cứu với những mục đích nhất định
Quy mô của Công viên đổi mới công nghệ (TIP) đảm bảo cho các doanh
Trang 16và một số hoạt động có liên quan khác Đặc điểm của Công viên đổi mới
công nghệ là sản xuất hàng hoá có trình độ kỹ thuật cao gắn liền với việc phát triển nghiên cứu - triển khai của chính doanh nghiệp sản xuất.
Hai điển hình nổi tiếng của mô hình này là Reseach Triangle (Mỹ) với diệntích 2.700 ha, sử dụng 32.000 nhân viên và khu Hsinchu Science Park (ĐàiLoan) với diện tích 580 ha, sử dụng gần 23.000 nhân viên
- Trung tâm công nghệ (Technology Center - TC):
Khu công nghệ cao này đôi khi còn được gọi là lò ủ doanh nghiệp(Incubator) Phần lớn các Trung tâm công nghệ nằm trong các thành phố lớn,trong đó tập trung chủ yếu các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập bằng cáchcung cấp các trợ giúp hoặc tư vấn các vấn đề triển khai sản xuất và kinhdoanh để giúp các doanh nghiệp này tồn tại và phát triển
Loại hình Trung tâm công nghệ (TC) cũng có mối liên hệ chặt chẽ với cácViện nghiên cứu hay Trường Đại học nào đó, nhưng nó cũng có thể đứngđộc lập hay nằm trong Khu công nghệ cao lớn hơn
Trung tâm công nghệ công nghiệp Hồng Kông tiêu biểu cho loại hình này
Đa số các Công viên khoa học của Đức cũng thuộc mô hình này, với diệntích thường dưới 1 ha
- Công viên khoa học chuyên biệt (Special Science Park - SSP):
Ngoài 4 mô hình Khu công nghệ cao nói trên, còn có một loại hình khác, đó
là Khu Công viên khoa học chuyên biệt - SSP Thực ra mô hình này thuộcloại Công viên khoa học, nhưng các hoạt động của nó chỉ tập trung vào mộtlĩnh vực chuyên ngành, một lĩnh vực công nghệ, một ngành công nghiệp haymột thị trường sản phẩm nhất định
Khu công nghệ y học của Singapore, Khu công nghệ phần mềm tại Bombay(Ên Độ) thuộc loại hình Công viên khoa học chuyên biệt Các khu này chủ
Trang 17yếu hình thành từ cố gắng của các doanh nghiệp của một ngành công nghiệphơn là được xây dựng theo một chương trình định trước.
Lợi thế của mô hình này là dễ dàng cung cấp các phương tiện dùng chung,nên có thể giảm được chi phí Tuy nhiên một bất lợi lớn nhất của nó là bị phụthuộc vào nhu cầu của một phân khúc thị trường rất hẹp Vì vậy, mô hìnhCông viên khoa học chuyên biệt thường chỉ phát triển ở các khu được cungcấp cơ sở hạ tầng tốt để giúp giảm chi phí hoặc ở những khu vực có nhu cầuriêng biệt
Việc phân loại các Khu Công nghệ cao trên thế giới cũng không phân biệt rõ ràngtheo 5 loại trên đây Ở châu Âu, nhiều khu Công nghệ cao là sự giao thoa giữanhiều loại hình khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất và hoạt của từng Khucông nghệ cao khác nhau Ví dụ:
Một sè Khu công nghệ cao ở Châu Âu
2 Xu hướng phát triển khoa học - công nghệ trên thế giới
Việc sản xuất ra các kiến thức và làm chủ các công nghệ đóng vai trò ngày cànglớn trong sự thành đạt của một doanh nghiệp nói riêng và của cả nền công nghiệpnói chung Và ngày nay, sự thành đạt càng phụ thuộc vào năng lực sáng tạo những
Trang 18công nghệ mới; khả năng áp dụng những công nghệ mới nhất và nhanh chóng đổimới chúng Cụ thế trên thế giới hiện nay là:
- Xu hướng toàn cầu hoá:
Với xu hướng toàn cầu hoá thị trường thế giới, các doanh nghiệp buộc phảitheo đuổi xu hướng toàn cầu, khiến cho quá trình mua bán trao đổi côngnghệ cũng được diễn ra trên phạm vi toàn cầu Xu hướng này tạo nên nguy
cơ cuộc xâm lấn công nghệ của các bên vừa hợp tác vừa cạnh tranh ngàycàng diễn ra rõ nét Nếu chậm trễ, công nghệ không chỉ bị trừng phạt bởi giáthành cao hơn mà còn bởi những mất mát to lớn về thị trường, thậm chí cóthể bị loại ra khỏi thị trường nếu như sự lạc hậu không được khắc phục
- Chu kỳ sản phẩm ngắn:
Trong vòng 2 thập kỷ vừa qua, chu kỳ sống (life circle) của sản phẩm ngànhcông nghiệp năng động nhất bị rút ngắn lại Trong lĩnh vực tin học, hơn mộtnửa sản phẩm có chu kỳ sống dưới 4 năm Còn trong lĩnh vực dược phẩm thìthời gian đó là 10 năm Sự rút ngắn này cùng với sự gia tăng cạnh tranh trênthị trường đã dẫn đến việc đầu tư lớn vào lĩnh vực nghiên cứu - triển khai (R
& D) nhằm tăng nhịp độ cải tiến công nghệ, dẫn đến việc làm tăng giá thànhcủa hoạt động nghiên cứu - triển khai
- Linh hoạt, phi tập trung trong quản lý công nghệ:
thức quản lý mới về công nghệ: thay sự quản lý tập trung bằng hình thứcquản lý phi tập trung, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị độc lập đáp ứngđược đòi hỏi ngày càng lớn về tính linh hoạt và nhanh nhẹn trong việc tung
ra những sản phẩm mới
Phi tập trung hoá cũng được thể hiện ở các chi nhánh Trung tâm nghiên cứu
ở nước ngoài Các Trung tâm này lúc đầu chỉ có mục đích làm cho các sảnphẩm của mình thích hợp với các đặc thù và sự cạnh tranh trên thị trường địa
Trang 19phương Nhưng sau một thời gian ngắn, chúng lại trở thành người cung cấpcông nghệ cho các công ty mẹ.
- Hợp tác:
Trước một thị trường và các ngành công nghiệp mà cạnh tranh mang tínhtoàn cầu, các Hãng buộc phải liên kết với nhau Điều này cho phép họ nắmlấy những cơ hội thuận lợi bằng cách kết hợp khả năng chiến lược của nhiềuHãng Sự hợp tác này làm tăng may mắn thành công của các dự án táo bạohơn và cho phép các công ty có thể chấp nhận mức rủi ro lớn hơn do đã tiếtkiệm được chi phí mà chắc chắn một công ty không thể gánh chịu một mình
Sự phát triển số lượng Khu công nghệ cao trên thế giới tăng khá nhanh Năm 1980trên thế giới chỉ có 18 Khu công nghệ cao thì đến cuối thập kỷ 90 đã có trên 800Khu công nghệ cao các loại:
Mỹ : Có khoảng 115 Làng khoa học
Anh: có 18 Làng khoa học
Đức : có 70 Trung tâm đổi mới công nghệ
Nhật : chương trình xây dựng 16 Thành phố khoa học
Nước đang phát triển như Trung Quốc, nước công nghiệp mới như Singapore đều phát triển Khu công nghệ cao Đặc biệt Thái Lan trong thời gian khủng hoảngtài chính tiền tệ cuối năm 1997 nhưng đến đầu năm 1998 cũng đã quyết định xâydựng Khu công nghệ cao và đặt mục tiêu hoàn thành sau 30 năm
1.2.3 Tầm quan trọng của Công nghệ cao đối với các nước đang phát triển
Trong quá khứ, mục tiêu của chiến tranh là chiếm đoạt lãnh thổ, lao động và tàisản, được thực hiện thông qua các hành động bạo lực Ngày nay, trong cuộc cạnhtranh kinh tế toàn cầu, mục tiêu là thông tin, trí tuệ và công nghệ Vũ lực không còntác dụng nữa Mặt khác, chính mục tiêu tự nó thay đổi rất nhanh chóng theo thờigian Các nước công nghiệp tiên tiến chính là chủ nhân của tri thức và công nghệ
Trang 20cao, đồng thời cũng là những người đi đầu trong lĩnh vực này Bởi vậy, con đườngchiến thắng cho mọi quốc gia chính là con đường học hỏi, tiếp thu kiến thức, làmchủ khoa học và công nghệ để tiếp tục phát triển Giáo dục và đào tạo là nhân tốchủ yếu tạo thế cạnh tranh của các nước khi bước vào thế kỷ 21.
Bối cảnh thế giới tạo ra những lợi thế cho các nước phát triển sau:
- “Siêu xa lộ thông tin” mang lại cho mọi quốc gia cơ hội chia sẻ thông tin,tri thức tích luỹ của toàn nhân loại, thu hẹp được khoảng cách địa lý giữa cácquốc gia cũng như giúp cho khả năng nắm bắt mọi thông tin một cách nhanhnhất
- Chu kỳ công nghệ ngày càng rút ngắn dẫn đến nhu cầu đổi mới liên tục củacác nước phát triển nhằm giữ được vị trí hàng đầu trong công nghệ Bêncạnh đó, các nước phát triển phải tìm mọi cách để thu hồi nhanh vốn đã đầu
tư cho công nghệ và chuyển giao công nghệ Do đó xu hướng chuyển giao,liên kết và uỷ quyền về công nghệ là không tránh khỏi
- Nền “kinh tế tri thức” cho phép các nước đang phát triển đột phá thẳng vàocông nghệ cao mà không đòi hỏi đầu tư quá lớn
- Trong nền văn minh trí tuệ, các nước có thể đi tắt, đón đầu, xâm nhập thẳngvào các công nghệ tiên tiến, từ đó tăng về chất quá trình tích luỹ nhằm pháttriển nền kinh tế của mình, sớm hoà nhập với thế giới hiện đại
- Bằng vai trò đầu kéo nền kinh tế toàn cầu, các nước đang phát triển có thểdùng thị trường nội địa của mình làm đòn bẩy kích thích mạnh mẽ quá trìnhchuyển giao công nghệ và đồng thời tăng tiềm lực kinh tế quốc gia Dự đoánđến năm 2020, các nước đang phát triển sẽ chiếm hai phần ba tổng giá trịnhập khẩu của toàn thế giới
- Vai trò địa lý nâng cao là nhân tố thúc đẩy sự liên kết khu vực và sự hìnhthành các “cực” kinh tế Các nước tiên tiến trong khu vực, với mong muốn
Trang 21hợp tác trên cơ sở lợi Ých chung của khu vực và lợi Ých quốc gia cũng tạonhững cơ hội không nhỏ cho các nước đang phát triển.
Thời gian phát triển để đạt mức độ một nước công nghiệp hoá của các nước đi sau
sẽ rút ngắn đi Nếu như Anh, Pháp phải mất 300 năm để hoàn thành công nghiệphoá, Mỹ mất 100 năm, Liên Xô (cũ) phải mất 50 năm, thì nay các nước côngnghiệp mới chỉ (NICs) cần 30 năm Và trong tương lai, thời gian này có thể rútngắn chi còn 20-25 năm
Số năm để tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính theo đầu người của một nước có thểtăng gấp đôi cũng ngày càng được rút ngắn đi Trong thể kỷ trước, nước Anh cần
58 năm để GDP/đầu người tăng gấp đôi, Mỹ sau 47 năm; trong đầu thế kỷ 20, nướcNhật làm được việc đó trong 39 năm, sau đó là Braxin trong 18 năm, Hàn quốctrong 11 năm, và Trung quốc chỉ trong 10 năm Liệu Việt Nam có đạt được nhưTrung quốc hay không? Và có khả năng làm được việc đó nhanh hơn nữa haykhông? Điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố phát triển khoa họccông nghệ, công nghệ cao và các chính sách khuyến khích phát triển công nghệ cao
ở Việt Nam là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của mục đích
Trang 22chương 2
Thực trạng khoa học - công nghệ việt nam
và khu công nghệ cao việt nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp đã trải qua một thời gian dài bị tàn phá bởichiến tranh nên cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu Từ sau khi nước nhà hoàn toàn độclập năm 1975, mục tiêu "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá" là nội dung thống nhấtgắn bó với nhau trong quá trình phát triển của đất nước Việt Nam Do đó, nhiệm vụcông nghiệp hoá, hiện đại hoá không đơn thuần chỉ phát triển công nghiệp mà sựchuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực mà toàn bộ nền kinh tế theo
hướng Công nghệ tiên tiến, không chỉ đi những bước tuần tự mà còn kế hợp với các
thành tựu trên nhiều lĩnh vực để đi tắt đón đầu, nhanh chóng rát ngắn khoảng cách
và đuổi kịp các nước phát triển Muốn vậy phải đầu tư chiều sâu, thúc đẩy pháttriển công nghệ cao và xây dựng Khu công nghệ cao làm địa điểm tiếp cận côngnghệ cao hiệu quả nhất, đảm bảo cho nền kinh tế đất nước tăng trưởng nhanh vàphát triển bền vững
Để mục tiêu đề ra thu được kết quả tốt đẹp, vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng đượcmột cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ tốt, trình độ công nghệ tiên tiến và lực lượngnghiên cứu khoa học công nghệ được đào tạo ở trình độ cao Vậy chúng ta hãy tìmhiểu về thực trạng nền khoa học công nghệ Việt Nam hiện nay và Khu công nghệcao đầu tiên đang được tiến hành xây dựng ở Việt Nam đã đạt được ở mức độ nào
2.1.hiện trạng khoa học - công nghệ việt nam
2.1.1 thực trạng nền kinh tế việt nam
Trong gần 2 thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã từng bước cải thiện môi trường pháp lý
để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng
từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 với mục tiêu hành động: “Tất cả vì
Trang 23dân giàu; nước mạnh; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Khung pháp lý hiệnhành đã góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế xã hội, đẩy nhanh quá trình hộinhập của Việt Nam với thế giới bên ngoài, đáp ứng nhu cầu khu vực hoá và toàncầu hoá.
Qua 15 năm thực hiện chính sách đổi mới, chúng ta đã thu được những kết quảđáng khích lệ Tốc độ tăng trưởng giữ được ở mức cao, các ngành công nghiệp,nông nghiệp, xuất khẩu đều tăng khá, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủnghoảng kinh tế, tạo đà bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ khi thựchiện chính sách mở cửa nền kinh tế, vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm tới hơn 30%tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Năm 2001 lànăm mà nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, một phần do ảnh hưởng của cácyếu tố chính trị xã hội đem lại nhưng kinh tế Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định vàđạt mức tăng trưởng GDP là 7,3%, mức GDP bình quân đầu người đạt 300USD/năm
Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế nước ta đang đứng trước nhiều thánh thức to lớn
Đó là sự giảm sút nhịp độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu, sức mua xã hội,đầu tư nước ngoài và tình trạng kém an toàn của hệ thống tài chính tiền tệ Một sốchính sách, cơ chế trước đây đã tạo được động lực mạnh mẽ cho sự phát triển thìđến nay có thể không còn phù hợp hoặc không còn đủ sức góp phần nâng cao sứccạnh tranh cho nền kinh tế trong bối cảnh mới
Nền kinh tế Việt Nam đang thực hiện cơ chế thị trường Việc chuyển sang nền kinh
tế thị trường của các nước xuất phát từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung như ởViệt Nam đòi hỏi phải ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, cơ chế quản lý, chính sáchhiện hành của nước ta vẫn chưa thực sự khuyến khích tiết kiệm, điều tiết tiêu dùnghợp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển, các chính sách khuyến khíchđầu tư nước ngoài vẫn chưa thực sự hấp dẫn, chưa tạo được mặt bằng pháp lý vàmôi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiệp; chính sáchthương mại và chính sách bảo hộ chưa có tác động nâng cao hiệu quả phát triển và
Trang 24sức cạnh tranh của nền kinh tế; việc sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô như kếhoạch, tài chính- tiền tệ, đặc biệt là chính sách thuế chưa hướng vào phát huy cácnguồn lực trong nước Nước ta chưa có Khu mậu dich tù do, Cảng tự do, khu vựcdành riêng cho các nhà đầu tư nước ngoài vào hợp tác và làm ăn với nhau Các hìnhthức hợp tác dịch vụ quốc tế như thông tin liên lạc, giao thông vận tải (nhất là bằngđường hàng không), hệ thống tài chính ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấnkinh tế, pháp luật tuy đã được chú ý phát triển trong thời gian qua, nhưng vẫnchưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại
(*) Tốc độ và cơ cấu GDP (%)
Sè Nông, lâm nghiệp
- thuỷ sản Công nghiệp- Xây dựng Dịch vô Sè Nông, lâm nghiệp- thuỷ sản Công nghiệp- Xây dựng Dịch vô
nền kinh tế từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, trong những nămgần đây nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến rõ rệt về cơ cấu Các ngànhnông nghiệp không còn giữ được vị trí hàng đầu nữa mà thay vào đó là các ngànhcông nghiệp, xây dựng và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh và khá ổn định, gópphần không nhỏ vào sự tăng trưởng chung của đất nước Điều đó chứng tỏ mục tiêuCông nghiệp hoá đất nước mà Đảng và Nhà nước ta lựa chọn là đúng đắn và rất cầnthiết Chính vì vậy, mục tiêu Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo hướngphát triển Khoa học công nghệ tiên tiến và tiếp cận Khoa học công nghệ cao trongnhững năm tiếp theo của thế kỷ 21 là cũng là mục tiêu tất yếu
2.1.2 hiện trạng khoa học và công nghệ của việt nam
Trang 251 Lực lượng Khoa học - công nghệ của Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Khoa học - công nghệ và Môi trường Việt Nam, nếu tínhtheo tổng số nhân lực, tính đến cuối năm 2000 Việt Nam có tới 2 triệu người làmcông tác kỹ thuật, 1,3 triệu người có trình độ đại học và cao học, 130.000 người cóhọc vị tiến sĩ hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và tỷ lệ 190/10.000 ngườidân là cán bộ khoa học công nghệ Việt nam có khoảng 30.000 cán bộ tham gia vàohoạt động nghiên cưú - triển khai (R&D), bao gồm cán bộ thư viện, kỹ thuật viên
và đội ngũ cán bộ khác Trong số đó có khoảng 22.000 người đang làm việc tại cácTrung tâm nghiên cứu- triển khai quốc gia, các Viện nghiên cứu trực thuộc Bộ vàcác cơ quan Chính phủ Phần còn lại hiện đang nghiên công tác tại các Trường Đạihọc hoặc Cao đẳng có tham gia các hoạt động nghiên cứu Chỉ có một phần nhỏcán bộ kỹ sư nghiên cứu trực tiếp tại các doanh nghiệp Ngày nay, các kỹ sư phảinhìn thấy vai trò của khoa học, phải làm việc cùng các cán bộ khoa học ở cácTrường đại học và các Viện nghiên cứu về những vấn đề cụ thể và bản thân mỗi kỹ
sư phải là một nhà nghiên cứu (*)
Việc xây dựng tổ chức nói chung cho Nghiên cứu - triển khai (R&D) có thể phânthành 3 bộ phận chính:
- Các phòng thí nghiệm và các đơn vị R&D thuộc các Bộ của Chính phủhoặc dưới sự quản lý của các cơ quan Chính phủ: Khoảng 180 đơn vị có hoạtđộng R&D được xây dựng ở nhiều miền khác nhau trên phạm vị toàn quốc,nhưng phần lớn tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.Trong nền kinh tế kế hoạch hoá của Việt Nam trước đây, nguyên tắc làChính phủ chịu trách nhiệm về thay đổi kỹ thuật và hiện đại hoá côngnghiệp, còn các ngành công nghiệp chỉ thực hiện sản xuất theo đúng kếhoạch đã đề ra Vì vậy, các doanh nghiệp công nghiệp rất hiếm khi xây dùngcho mình năng lực R&D Đến nay, sau nhiều năm thực hiện đổi mới và mởcửa nhưng tình trạng yếu kém về năng lực khoa học của các doanh nghiệpvẫn chưa được cải thiện Hiện nay mới chỉ có Tổng công ty dầu khí quốc
Trang 26doanh Việt Nam là đã lập được 4 phòng thí nghiệm trực thuộc để tiến hànhcông tác R&D Ở những nước công nghiệp phát triển, nhiều đơn vị R&Dđược chuyên môn hoá cao thường được đặt ngay trong các doanh nghiệpcông nghiệp, doanh nghiệp kinh doanh.
- Các trường Đại học thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học là một tronghai nhiệm vụ chính (đào tạo và nghiên cứu khoa học) Tuy nhiên, chỉ có cácTrường đại học cấp Quốc gia như Đại học tổng hợp Hà Nội và TP Hồ ChíMinh, Đại học Bách khoa Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, Đại học nông nghiệp
1 Hà Nội, Đại học kinh tế quốc dân, Đại học sư phạm 1 Hà nội và một số Bộmôn và khoa trong các trường đại học khác mới thật sự có đội ngũ cán bộkhoa học, thư viện, thiết bị và các nguồn lực khác để thực hiện các nhiệm vụnghiên cứu quan trọng và tiến hành triển khai thử nghiệm Việc huy động hệthống các trường Đại học vào hoạt động nghiên cứu còn hạn chế và kém hiệuquả do nhiều nguyên nhân
- Các tổ chức nghiên cứu quốc gia không trực thuộc các Bộ hoặc cơ quanChính phủ: Các tổ chức này được thiết kế để phục vụ mạng lưới quốc gia vềkhoa học và công nghệ, đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng Chínhphủ Trong số những tổ chức này, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Côngnghệ Quốc gia là có qui mô lớn nhất, với hai chi nhánh đặt tại Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh và một số cơ sở đặt tại một số tỉnh khác Trung tâm này tiếnhành nghiên cứu cơ bản chủ yếu thuộc hai lĩnh vực là Toán học và Vật lý lýthuyết Ngoài ra còn có Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia
có cơ cấu tổ chức cơ bản tương tự, song số lượng cán bộ nghiên cứu chỉ bằngmột nửa Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia
Chức năng chủ yếu của ba loại bộ phận R&D nói trên có khác nhau Các phòng thínghiệm và các đơn vị R&D trực thuộc các Bộ chủ yếu nghiên cứu ứng dụng vàthực nghiệm, các Trường Đại học là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước,trong đó có nhân lực cho công tác nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học;
Trang 27còn Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia chịu trách nhiệm chính
về các công trình nghiên cứu có trình độ cao
2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của và trình độ Khoa học công nghệ Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, trong nền côngnghiệp của Việt Nam, tỷ lệ cơ giới hoá chỉ đạt khoảng 50%, thiết bị máy móc lạchậu, không đồng bộ và quá cũ kỹ Chu kỳ đổi mới thiết bị - ngay cả ngành hiện đạinhất - cũng phải 10-12 năm Trong khi đó, ở các nước tiên tiến thường thay thiết bịtrong vòng 2-5 năm Chúng ta hy vọng đổi mới thiết bị công nghệ thông qua đầu tưnước ngoài và đã có hiệu quả Song hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm củacác công ty liên doanh chỉ đạt khoảng 20%
Việt Nam là nước nông nghiệp, tuy vậy tỉ lệ cơ khí hoá trong nông nghiệp cũng chỉđạt khoảng 15% nên năng suất lao động rất thấp Diện tích trồng trọt trên đầu ngườithuộc loại thấp nhất trên thế giới Trong những năm gần đây, với nhiều nỗ lực phấnđấu, Việt Nam đã vươn lên xuất khẩu 2-3 triệu tấn gạo và đã trở thành nước xuấtkhẩu gạo lớn thứ 3 trên thế giới sau Mỹ và Thái Lan Tuy nhiên, sản lượng gạo vẫnchưa đạt được mức độ an toàn lương thực và chất lượng nông sản vẫn chưa cao.Năng lượng được sản xuất với giá thành cao và chưa đáp ứng đủ nhu cầu Tổn thấtnăng lượng trong cả mạng lưới trên 20% là quá cao so với các nước khác trong khuvực Chi phí sản xuất có khi lên tới 60% giá thành là do hệ thống thiết bị cũ và hiệuquả sử dụng thấp Một số doanh nghiệp khi đầu tư vào Việt nam đã phải tự xâydựng nhà máy điện riêng để đảm bảo sản xuất như Amata, Nomura, Việt nam-Singapore, Hiệp phước
Cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, hệ thống đường giao thông chưa phát triển Hệ thốngcảng đa số không tiếp nhận được tàu biển có tải trọng lớn, khả năng bốc dỡ hàngcòn hạn chế Những năm gần đây, Chính phủ đã chú trọng đầu tư vào việc nâng cấp
hạ tầng cơ sở như xây dựng hệ thống đường bộ nối liền các khu vực trọng điểmvới các thành phố lớn, Sân bay, Cảng biển
Trang 28Tuy nhiên trong những năm gần đây, chúng ta có tiến bộ vượt bậc về lĩnh vực côngnghệ tin Màng lưới bưu chính viễn thông phát triển rất nhanh chóng với tốc độtruyền thông đường xa đạt 34Mbit/s Công nghệ tin học đã thực sự thâm nhập vàođời sống xã hội Một số mô hình đã được triển khai đánh dấu bước phát triển mớicủa ngành công nghệ thông tin Việt Nam như Công viên phần mềm Quang Trungtại TP Hồ Chí Minh đã chính thức đi vào hoạt động giai đoạn 1 từ tháng 3 năm
2001 và đã có tới 68 đơn vị đăng ký hoạt động trong đó có 8 công ty nước ngoài và
4 đơn vị đào tạo Ngoài ra còn có dự án Làng công nghệ phần mềm ảo với mức đầu
tư 7 triệu USD đang chờ Chính phủ cho phép hoạt động thí điểm
Năng lực trí tuệ quốc gia bị suy giảm, đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn quá thấp,dẫn đến chất lượng đào tạo bị xuống cấp Đầu tư cho Khoa học và công nghệ chỉkhoảng 2% tổng chi ngân sách nhà nước Đầu tư cho nâng cấp hạ tầng cơ sở vậtchất và trang thiết bị cho các yêu cầu R&D chỉ chiếm 20-24% tổng chi cho khoahọc công nghệ từ ngân sách nhà nước Việt Nam có quan hệ về Khoa học và côngnghệ với hơn 70 nước trên thế giới Trong khi đó đội ngũ tri thức được đào tạo từtrước chưa kịp khai thác triệt để dẫn đến chảy máu chất xám và bổ sung không kịp.Các doanh nghiệp nước ngoài sử dụng nhiều tri thức Việt Nam đào tạo do họ trảlương cao hơn mà không mất thời gian và chi phí cho công tác đào tạo
2.1.3 mục tiêu phát triển khoa học công nghệ của việt nam
Việc xác định mục tiêu phát triển khoa học công nghệ cao giữ vai trò quan trọngtrong việc thực hiện chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Chính sách khuyến khích phát triển công nghệ cao
là một trong những nhiệm vụ và giải pháp phát triển khoa học và công nghệ đượcxuất phát từ những yêu cầu sau:
-Thực trạng lực lượng khoa học và công nghệ của Việt Nam còn nhỏ bé vàlạc hậu, không đồng bộ Đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ cònquá thấp so với nhu cầu, sử dụng còn dàn trải, hiệu quả còn hạn chế Chúng
ta còn thiếu các biện pháp và cơ chế để huy động các cơ sở sản xuất, các
Trang 29doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này, chưa xây dựng được các tập thể khoahọc mạnh, chưa có sự kết hợp hữu cơ giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học và
cơ sở đào tạo, cơ sở sản xuất Việc quản lý nhập khẩu công nghệ của ta còn
để xảy ra tình trạng nhập khẩu công nghệ và thiết bị lạc hậu, giá đắt gây hậuquả tiêu cực lâu dài Nếu Chính phủ không kịp thời ban hành các chính sáchkhuyến khích phát triển khoa học và công nghệ, trong đó có công nghệ caothì sẽ khó huy động được vốn đầu tư, chất xám phát triển khoa học và côngnghệ, khó nâng cao được trách nhiệm và hiệu quả sử dụng công nghệ
- Khoa học và công nghệ trực tiếp tác động đến tiến trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá vì: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi cănbản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế
- Xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức laođộng cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại,dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạonăng suất lao động cao”
- Việt Nam đang trong quá trình từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực
và thế giới Đó là đòi hỏi khách quan, xuất phát từ xu thế khu vực hoá vàtoàn cầu hoá phát triển ngày càng nhanh theo từng mức độ khác nhau: Thànhtựu cách mạng khoa học và công nghệ và xu thế quốc tế hoá làm cho tínhtuỳ thuộc vào nhau, trước hết là về kinh tế, ngày càng tăng lên Quá trìnhgiao lưu, thâm nhập quốc tế rất sôi động Tiền vốn, kỹ thuật, thông tin, hànghoá đối với nhiều nước hầu như không bị cản trở bởi biên giới quốc gia,không gian và thời gian được thu hẹp lại Làn sóng khu vực hoá diễn ra dồndập khắp nới trên thế giới Hiện tượng liên kết châu lục thông qua các diễnđàn APEC, “ Chương trình nghị sự xuyên Đại Tây Dương”, Hội nghịBarcelona với tuyên bố thành lập khu vực Tự do mậu dịch ven Địa TrungHải giữa Liên minh Châu Âu (EU) và Bắc Phi, Hội nghị ASEM giữa Á vàÂu"
Trang 30Xu hướng tự do hoá thương mại và đầu tư phát triển mạnh; Hội nghị cấp Bộ trưởngWTO thoả thuận giảm giảm dần và năm 2000 xoá bỏ thuế quan đối với thiết bịcông nghệ thông tin và viễn thông Hội nghị cấp cao APEC lần thứ V tháng 11 năm
1997 tại Canada đã kết nạp thêm ba thành viên mới là Việt Nam, Nga và Peru.ASEAN đẩy nhanh thực hiện khu vực mậu dịch tự do AFTA
Để hội nhập nhanh với thế giới, hạn chế thua thiệt khi tham gia các tổ chức thế giới
và khu vực, Việt Nam phải đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, nhằm tănghàm lượng quốc gia của sản phẩm sản xuất tại Việt Nam, đảm bảo sức cạnh tranhcủa hàng hoá Việt Nam trên trường quốc tế, mà trước hết là các nước trong khuvực Việt Nam phải đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các ngành sảnxuất và dịch vụ chủ yếu, đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với lĩnh vực sản xuấtthen chốt có tác động đến nhiều ngành khác, các lĩnh vực sản xuất sản phẩm xuấtkhẩu, các lĩnh vự đầu tư mới, xây dựng hạ tầng truyền thông, tin học quốc gia; ứngdụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyểnbiến rõ rệt về năng suất, chất lượng hiệu quả; Phát triển mạng lưới thông tin quốctế; Phát triển công nghệ sinh học nhằm tạo ra và nhân nhanh các giống cây trồng,vật nuôi mới; chế biến nông, lâm, thuỷ sản; Phát triển ngành Y học và chăm sócsức khoẻ cộng đồng, sản xuất các loại vắc xin và kháng huyết thanh, các chế phẩmđoán bệnh nhanh và chính xác; Phát triển công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường;Phát triển công nghệ vật liệu, nghiên cứu và chế tạo một số vật liệu mới có hiệuquả cao, phát triển các loại vật liệu có độ bền lớn và chịu được khí hậu nhiệt đớikhắc nghiệt; Phát triển kỹ thuật tự động hoá đồng bộ ở một số nhà máy then chốt,ứng dụng công nghệ tự động hoá ở các khâu quyết định đến chất lượng sản phẩm Việc phát triển khoa học và công nghệ trong những năm tới đã được xác định: Tăngđầu tư và áp dụng một số chính sách, biện pháp thúc đẩy việc ứng dụng công nghệmới, điều quan trọng là tạo ra được một môi trường thuận lợi cùng các điều kiệnphù hợp thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tự thânphát triển Đặt nền kinh tế trong môi trường cạnh tranh lành mạnh và sôi độngkhiến các đơn vị sản xuất kinh doanh phải tìm đến khoa học và công nghệ; nhận rõ
Trang 31tính đích thực của kết quả nghiên cứu khoa học - công nghệ là sản phẩm có giá trịcao, phải được trả giá tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại và phải được bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ Trên sơ sở đó, đổi mới cơ chế hoạt động khoa học hiện cònmang nặng tính chất hành chính, chuyển mạnh sang cơ chế nhận đề tài nghiên cứuthông qua đặt hàng và đấu thầu, kể cả các đề tài mà Nhà nước cấp kinh phí Trướcmắt cần đặc biết coi trọng khoa học ứng dụng, trong khi vẫn chú ý đúng mức tớikhoa học cơ bản Thu nhập của các tổ chức và cán bộ làm công tác khoa học phụthuộc vào hiệu quả đạt được nhờ ứng dụng kết quả nghiên cứu, không phân phốibình quân, không hạn chế mức độ tối đa Cơ chế mới thúc đẩy việc hợp lý hoá tổchức nghiên cứu khoa học và công nghệ với các doanh nghiệp
Trước thực trạng trên, để việc tiếp cận Công nghệ cao đảm bảo thành công, Nhànước cần phải quan tâm đầu tư hơn nữa về hạ tầng cơ sở kỹ thuật, đặc biệt chútrọng tới công tác đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ Khoa học và côngnghệ trong nước là nhu cầu đòi hỏi thiết thực và cấp bách Chỉ khi chóng ta làm tốtcác công tác trên thì việc xây dựng Khu công nghệ cao, tiếp cận Công nghệ caochắc chắn sẽ thành công và đạt được hiệu quả cao
2.2 khu công nghệ cao ở việt nam.
Xác định được vai trò quan trọng của Khoa học công nghệ có ảnh hưởng rất lớnđến sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, mục tiêu của Chính phủ Việt Nam làxây dựng Khu công nghệ cao để tiếp cận khoa học công nghệ trình độ cao theohướng đi tắt đón đầu, rút ngắn tối đa thời gian để theo kịp các nước tiến tiến trênthế giới Trước hết chúng ta hãy đi sâu vào tìm hiểu xem mét Khu công nghệ caophải bao gồm các yếu tố gì và sự cần thiết phải xây dựng Khu công nghệ cao ở ViệtNam Theo các tài liệu Báo cáo nghiêm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộmang mã số 02-CNC-06 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường kết hợp vớiBan quản lý các Khu công nghiệp Việt Nam, Khu công nghệ cao Việt Nam sẽ baogồm các yếu tố sau:
Trang 322.2.1.công nghệ cao - yếu tố phát triển dài hạn
Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế Việt Nam trong 10 năm tiếp theo từ
2001-2010 là đưa Việt Nam nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng nước nghèo, từng bướchội nhập được với nền kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới Với mứctăng dân số trung bình 1.8% năm, tổng sản phẩm quốc nội GDP là 30-35 tỷ USD và
tỷ lệ tích luỹ đạt 25-30% Tỷ trọng của các ngành kinh tế về cơ bản là cơ cấu kinh
tế của một nước công nghiệp: nông nghiệp 20-25% GDP, công nghiệp 35%, dịch
vụ 40-45% Tổng kim ngạch xuất khẩu phải đạt 45-50 tỷ USD
Để đạt được các mục tiêu nêu trên phải có các giải pháp phát triển đúng đắn, trong
đó có ưu tiên phát triển Công nghệ cao Bởi lẽ Công nghệ cao cho phép giải quyết
các vấn đề then chốt: tăng trưởng kinh tế và cho phép rút ngắn khoảng cách tụt
hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới; thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá và công nghiệp hoá; sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và nâng cao, phát huy, khai thác triệt để, sử dụng có hiệu quả tiềm năng và trí tuệ của con người Việt nam; giữ vững ổn định và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia; nâng cao chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí; giải quyết được vấn đề môi trường; hội nhập được với thế giới.
Công nghệ có thể đạt được bằng nhiều cách, nhưng đối với các nước kém phát triểnthì tiếp cận Công nghệ cao là cách tiếp cận thông minh nhất và hiệu quả nhất vớinền Công nghệ tiên tiến trên thế giới Tiếp cận công nghệ cao cho phép tăng cườngnăng lực công nghệ nội sinh và do đó tạo khả năng làm chủ công nghệ thực sự.Cách tiếp cận công nghệ cao của các nước đi trước thông qua nhiều hình thức: nhậpkhẩu công nghệ; nhận hỗ trợ công nghệ; tiếp thu và chuyển giao công nghệ; bắtchước công nghệ và nuôi dưỡng chủ thể sản sinh công nghệ Cũng có thể tiếp cậncông nghệ cao thông qua các phát minh sáng chế trong nước từ tổ chức Khoa học
và Công nghệ của Nhà nước, doanh nghiệp nội địa và cá nhân
Tuy nhiên, để tiếp cận Công nghệ cao cần xác định:
- Chiến lược đào tạo đội ngũ tri thức công nghệ;
Trang 33- Danh mục các công nghệ định hướng;
- Xây dựng cơ chế thu hút các nguồn tài lực cho công nghệ và tạo môitrường thuận lợi cho việc phát triển công nghệ cao
- Chính sách ưu đãi khuyến khích tạo môi trường hấp dẫn cho việc sáng tạo
và phát triển công nghệ cao
2.2.2 khu công nghệ cao là địa điểm tiếp cận công nghệ cao
Khu Công nghệ cao là khu vực mà ở đó có mật độ trí thức rất cao, đồng thời có đủđiều kiện vật chất và tinh thần để khép kín qui trình sản sinh và tiếp thu công nghệ,điều mà không phải bất kỳ nơi nào cũng làm được Sản phẩm của các Khu côngnghệ cao là các công nghệ cao hoặc sản phẩm sản xuất theo công nghệ cao
Môi trường đặc biệt dành cho Công nghệ cao là Khu Công nghệ cao Tại đó: một quốc gia được sử dụng vốn của các Công ty đa quốc gia cho việc đổi mới và phát triển công nghệ cao; tiếp thu, phát triển, tăng cường năng lực công nghệ quốc gia
và đào tạo trí thức công nghệ; kiểm nghiệm hiệu quả chuyển giao công nghệ Khu Công nghệ cao còn có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế các khu vực lân cận.
Giá trị Khu Công nghệ cao không chỉ giới hạn ở lợi Ých quốc gia Những chủ thểkhác tham gia phát triển Khu Công nghệ cao có thể đạt được những mục tiêu riêngcuả mình Các doanh nghiệp trong nước vào đây để đổi mới công nghệ thông quanhập khẩu hoặc chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm đủ sức cạnh tranhquốc tế, tiếp thu công nghệ cao và huấn luyện đội ngũ cán bộ Doanh nghiệp nướcngoài vào Khu Công nghệ cao nhằm sử dụng lao động trình độ cao, sản xuất sảnphẩm cạnh tranh khu vực và tìm kiếm điều kiện ưu đãi để tăng sức cạnh tranh quốc
tế, thực hiện chuyển giao công nghệ, kiểm nghiệm các công nghệ mới và khai tháccác điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà quản lý Đội ngũ trí thức và công nhân taynghề cao tìm thấy ở đây một môi trường tốt để làm việc và sáng tạo, có điều kiệntiếp xúc với các ý tưởng và công nghệ cao của thế giới, được bồi dưỡng và nâng
Trang 34làm việc tại đây coi Khu Công nghệ cao là môi trường thuận lợi để tìm kiếm vàkiểm nghiệm các ý tưởng sáng tạo công nghệ, nơi đây có thể thực hiện được ýtưởng nhân đạo.
Vì những lý do trên, Việt Nam đang khẩn trương tiến hành xây dựng Khu côngnghệ cao Tại đây, phương châm “đi tắt, đón đầu” mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
sẽ được thể hiện một cách cụ thể nhất, hiệu quả nhất
2.2.3 xây dựng khu công nghệ cao việt nam
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu rõ: “Xây dựng các KhuCông nghệ cao ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là nơi hội tụ của các cơ quan khoahọc và các doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhằm tạo ra các công nghệ cao vàcác ngành công nghiệp dựa trên công nghệ cao” Vì vây, việc tổ chức thực hiện xâydựng Khu công nghệ cao tại Việt Nam là vô cùng cần thiết và phải triển khai gấprút Tuy nhiên, việc hình thành Khu công nghệ cao đòi hỏi vốn đầu tư lớn cho pháttriển hạ tầng (cả hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ tầng xã hội) cũng như đào tạo nguồnnhân lực cho Khu công nghệ cao Do vậy, cần phải xây dựng một kế hoạch dài hạn,nhằm phát triển đồng bộ các yếu tố hợp thành của Khu công nghệ cao, nhằm tăngcường năng lực công nghệ, chiều sâu nội lực và khả năng cạnh tranh quốc tế củanền kinh tế Việt Nam
Nhận thức được vai trò quan trọng của Công nghệ cao đối với sự phát triển của nềnkinh tế nước nhà và sự cần thiết phải xây dựng các Khu Công nghệ cao ở ViệtNam, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 198/1998/QĐ-TTg ngày 12 tháng
10 năm 1998 về việc thành lập Khu công nghệ cao Hoà Lạc tại Tỉnh Hà Tây, vàQuyết định số 98/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2001 về việc triển khai đầu
tư và xây dựng cơ sở hạng tầng Khu công nghệ cao Hoà lạc Dự kiến vốn đầu tưxây dựng hạ tầng kỹ thuật và giải phóng mặt bằng bước 1, giai đoạn 1 là 96 triệuUSD được bố trí bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và các nguồn vốn hợp phápkhác
Trang 35Việc xây dựng Khu công nghệ cao ở Việt Nam cần phải được xác định rõ các yếu
tố sau:
Mục tiêu Khu công nghệ cao ở Việt Nam:
Khu Công nghệ cao Việt nam sẽ hội tụ đầy đủ các quá trình sau đây:
Việt Nam;
Nam
Chức năng chủ yếu của Khu công nghệ cao:
công nghệ trong nước và quốc tế
hoặc tiếp nhận công nghệ từ các Viện, các phòng thí nghiệm trongKhu công nghệ cao;
Nhiệm vụ chủ yếu khi xây dựng và phát triển Khu công nghệ cao:
yêu cầu của lĩnh vực Công nghệ cao;
nghệ cao cũng như các doanh nghiệp Công nghệ cao;
cao Phát huy nguồn lực hiện có, khai thác triệt để các cơ sở hiện có;
Trang 36 Trong thời gian đầu tập trung thành lập các doanh nghiệp sản xuất cácsản phẩm công nghệ cao thông qua việc chuyển giao công nghệ từ cáccông ty công nghệ cao của nước ngoài;
trung tâm huấn luyện và đào tạo công nghệ
Sản phẩm của Khu công nghệ cao Việt Nam:
Sản phẩm của các Khu Công nghệ cao trước hết là các tài liệu, các qui trình,các kết quả công nghệ được sáng tạo ra từ các Viện nghiên cứu và các Phòngthí nghiệm của Khu, và còn là các sản phẩm thương mại được sinh ra trongquá trình chuyển giao công nghệ hoặc được sản xuất ra từ các doanh nghiệpCông nghệ cao của Khu Về nguyên tắc, những sản phẩm của Khu Côngnghệ cao phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
công nghệ hiện đại, sử dụng những thành tựu Khoa học - Công nghệmới nhất, các sáng chế có liên quan đến Công nghệ cao;
tuệ con người Việt Nam;
tế, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và khu vực, thể hiệnphẩm cấp cao hơn so với các sản phẩm cùng loại Các sản phẩm cótiềm năng phát triển và đổi mới
Xác định được mục đích và tầm quan trọng của Khu công nghệ cao cũng như việcđầu tư xây dựng Khu công nghệ cao Hoà Lạc là một quyết định đúng đắn và rất cầnthiết của Chính phủ Việt Nam Khu Công nghệ cao sẽ là điểm đột phá trong sựnghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam trong những năm tiếptheo của thế kỷ 21
Trang 372.3 các văn bản pháp lý có liên quan tới công nghệ cao và khu công nghệ cao.
Để Khu công nghệ cao ở Việt Nam có thể khởi động được, có khả năng thu hút đầu
tư, đạt được mục đích đề ra, cần phải tạo hành lang pháp lý cho Khu công nghệcao, hệ thống chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc biệt để hình thành các Khu côngnghệ cao, xây dựng nên môi trường đặc biệt hấp dẫn để thu hút đầu tư, tạo điềukiện cho Khu công nghệ cao phát huy tác dụng Tuy nhiên, Khu công nghệ cao làmột mô hình còn mới mẻ mà Việt Nam đang tiến hành ở giai đoạn đầu, các văn bảnpháp lý của Nhà nước về qui định riêng cho Khu công nghệ cao cũng chưa thật sự
cụ thể Dưới đây là những văn bản pháp lý có liên quan chủ yếu điều chỉnh vềCông nghệ cao và Khu công nghệ cao của Việt Nam
2.3.1- Những văn bản điều chỉnh trực tiếp:
Hiến pháp năm 1992
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 xác định:
Khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hộicủa đất nước
Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia; xâydựng nền khoa học, công nghệ tiên tiến; phát triển đồng bộ các ngành khoa học choviệc định ra đường lối, chính sách pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển lựclượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, đảm bảo chất lượng và tốc độ phát triểncủa nền kinh tế; góp phần đảm bảo an ninh quốc gia
Nhà nước đầu tư và khuyến khích tài trợ cho khoa học bằng nhiều nguồn vốn khácnhau, ưu tiên cho những hướng khoa học, công nghệ mũi nhọn; chăm lo đào tạo và
sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nhất là những người có trình độcao, công nhân lành nghề và nghệ nhân; tạo điều kiện để các nhà khoa học sáng tạo
và cống hiến; phát triển nhiều hình thức tổ chức, hoạt động nghiên cứu khoa học,gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ
Trang 38Liên quan chủ yếu đến Khoa học và Công nghệ gồm các chế định về Quyền sở hữucông nghệ và chuyển giao công nghệ được xác định rõ trong Chương III, phần thứ
6 của Bộ Luật này:
Quyền sở hữu công nghiệp:
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu cá nhân, pháp nhân đối với các đốitượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ gồm: sáng chế, giải pháp hữuÝch, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọixuất xứ hàng hoá và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quiđịnh Nhà nước không bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp trái với lợiÝch xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo và các đối tượng khác mà phápluật về sở hữu công nghiệp qui định không được bảo hộ
Quyền sở hữu đối với các đối tượng được xác lập theo văn bản bằng bảo hộ do cơquan nhà nước có thẩm quyền cấp và được bảo hộ trong thời hạn văn bản bảo hộ cóhiệu lực và có thể được gia hạn theo qui định của pháp luật
Chuyển giao công nghệ:
Đối tượng chuyển giao công nghệ gồm: các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặckhông kèm theo máy móc thiết bị mà pháp luật cho phép chuyển giao; bí quyếtkiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ
Trang 39thuật, qui trình công nghệ, phần mềm máy tính, tài liệu thiết kế, công thức, thông
số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo máy mócthiết bị; các dịch vụ kỹ thuật, đào tạo nhân viên kỹ thuật, cung cấp thông tin vềcông nghệ, chuyển giao; các giải pháp hợp lý hoá sản xuất
Trong trường hợp đối tượng chuyển giao công nghệ đã được pháp luật bảo hộ dướidạng đối tượng sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền sửdụng các đối tượng đó phải được thực hiện theo qui định của pháp luật trước khitiến hành chuyển giao công nghệ
Nhà nước đảm bảo lợi Ých hợp pháp của mọi cá nhân, pháp nhân, các chủ thể kháctrong hoạt động chuyển giao công nghệ Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác làchủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ sở hữu bí quyết, kiến thức kỹthuật có quyền chuyển giao sử dụng các đối tượng đó Các trường hợp công nghệkhông đáp ứng được các qui định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành vànhững trường hợp do pháp luật qui định riêng thì không được chuyển giao
Chuyển giao công nghệ thực chất là mua và bán công nghệ, phải được thực hiệnbằng hình thức Hợp đồng chuyển giao công nghệ với nội dung đã được qui địnhtrong Bộ luật dân sự Hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được lập thành vănbản và phải đăng ký hoặc xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hợp đồngchuyển giao công nghệ có thời hạn là 07 năm, kể từ ngày Hợp đồng có hiệu lực.Trong trường hợp cần thiết cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể kéo dài thờihạn của Hợp đồng, nhưng không quá 10 năm
Bên được chuyển giao công nghệ có quyền phát triển công nghệ đã được chuyểngiao mà không cần thông báo cho bên chuyển giao công nghệ biết Trường hợp bênchuyển giao công nghệ quan tâm đến kết quả phát triển công nghệ, thì bên chuyểngiao thoả thuận với bên được chuyển giao, kết quả mới được thực hiện trên nguyêntắc hai bên cùng có lợi
Bên được chuyển giao công nghệ có quyền chuyển giao lại công nghệ cho ngườikhác Bên chuyển giao không có quyền từ chối việc chuyển giao lại, nếu việc
Trang 40chuyển giao đó vì lợi Ých của Nhà nước, lợi Ých công cộng theo quyết định của cơquan Nhà nước có thẩm quyền.
Đối với công nghệ mới, trong Hợp đồng các bên thoả thuận về trách nhiệm thựchiện các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, phương thức và mức trả thùlao cho tác giả tạo ra kết quả nghiên cứu - triển khai công nghệ đó Trường hợp cácbên không thoả thuận về trách nhiệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, thì bênđược chuyển giao kết quả nghiên cứu - triển khai công nghệ mới có quyền nộp đơnyêu cầu bảo hộ kết quả nghiên cứu- triển khai công nghệ mới và phải trả thù laocho tác giả khi sử dụng kết quả nghiên cứu - triển khai công nghệ đó
Luật đầu tư nước ngoài năm 1996
Để mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quảcác nguồn lực trong nước Luật này qui định về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước
ta Điều mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể yên tâm đầu tư vào Khu công nghệcao là điều 01 của Luật này: "Nhà nước khuyến khích đầu tư vào Việt Nam, trênnguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với vốnđầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiệnthuận lợi và qui định thủ tục đơn giản, nhanh chóng cho các nhà đầu tư" Nhà nướckhuyến khích sử dụng công nghệ cao và kỹ thuật hiện đại, bảo vệ môi trường sinhthái, đầu tư nghiên cứu và phát triển Xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở sảnxuất công nghiệp quan trọng
Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của nhà đầu tưnước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanhnghiệp không bị quốc hữu hoá Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghệ, đảm bảoquyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động chuyển giao côngnghệ Trường hợp do thay đổi qui định của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại tớilợi Ých của doanh nghiệp thì nhà nước có biện pháp giải quyết thoả đáng đối vớiquyền lợi của nhà đầu tư